Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

Modun18 ND2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.39 KB, 7 trang )

MODULE 18: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
BDTX - THCS – Năm học 2017-2018
II. NỘI DUNG 2 : Tìm hiểu về phương pháp dạy học gợi mở - vấn đáp
1. Bản chất
- Là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh được thực hiện qua hệ thống câu
hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định.
- Giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh
tư duy từng bước để tìm ra kiến thức mới
- Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp
vấn đáp:
+ Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết
và trả lời dựa vào trí nhớ, khơng cần suy luận. Vấn đáp tái hiện khơng được xem là
phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ
giữa các kiến thức vừa mới học.
+ Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo
viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ
hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương
tiện nghe – nhìn.
+ Vấn đáp tìm tịi (Đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp
xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính
quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáoviên tổ
chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trị với
trị, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tịi, giáo viên giống như
người tổ chức sự tìm tịi, cịn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới.
Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá
trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy.
2. Quy trình thực hiện
- Trước giờ học: xác định nội dung bài dạy, đối tượng học sinh xây dựng hệ thống câu
hỏi cho bài học. Đồng thời cũng dự kiến những tình huống và câu hỏi phụ để gợi ý cho
HS
- Trong giờ học: Sử dụng hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị và thu nhận thông tin phản hồi


từ học sinh
- Sau giờ học: Rút kinh nghiệm về hệ thống câu hỏi đã sử dụng
3. Một số lưu ý
- Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, sát yêu cầu đề bài
- Câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng
- Cùng một nội dung, giáo viên có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi
4. Ví dụ minh họa
Sau khi nghiên cứu xong tính chất vật lí của oxi, giáo viên nêu vấn đề: “Bây giờ
chúng ta chuyển sang nghiên cứu những tính chất hố học của oxi. Làm thế nào để biết
được những tính chất hố học của oxi? Chúng ta cần tìm hiểu những phản ứng hố học
của đơn chất oxi với các đơn chất khác (kim loại, hiđro và phi kim)”.
Sau đó giáo viên lần lượt nêu các câu hỏi giúp học sinh nhớ lại những kiến thức
đã học (ở chương I, II lớp 8) cần thiết cho việc tiếip thu kiến thức mới, đồng thời giúp
học sinh tự quan sát, phán đốn, tự kết luận và qua đó thu được kiến thức mới.
Giáo viên (GV): Muốn nghiên cứu tác dụng của oxi với kim loại, ta tiến hành
phản ứng hoá học giữa oxi với săt (là một kim loại hoạt động trung bình và dễ kiếm).


Hãy quan sát một đinh ghim sắt, hai lọ đựng khí oxi. Khi cho đinh ghim sắt vào lọ khí
oxi, có hiện tượng gì xảy ra ở nhiệt độ thường khơng?
Học sinh (HS): Khơng thấy có dấu hiệu của phản ứng hoá học.
GV: Cắm một mẩu than nhỏ vào đầu đinh ghim, đốt cháy đỏ mẩu than và đốt
nóng đinh ghim rồi đưa chúng vào lọ đựng khí oxi. Các em quan sát thấy gì?
HS: Cục than cháy, sau đó sắt cháy, những tia sáng bắn toé ra, các hạt màu nâu
bám ở thành lọ được khi oxi.
GV: Than cháy toả nhiều nhiệt làm cho sắt nóng lên rồi sắt mới tác dụng với
oxi, các hạt nóng chảy màu nâu là oxi sắt từ, có cơng thức hố học là Fe 3O4. Hãy viết
phương trình phản ứng hố học xảy ra.
HS: 3Fe + 2O2 ® Fe3O4
GV: Fe3O4 là chất hố học trong đó Fe có hố trị II và hố trị III. Hãy nhận xét,

so sánh đầu đinh ghim sắt trước và sau phản ứng? Tại sao có thể khẳng định là sắt đã
có phản ứng hố học với oxi?
HS: Trước khi sắt cháy trong oxi, đầu đinh ghim sắt là nhọn. Sau phản ứng thì ở
đầu đinh ghim sắt có một cục kim loại (thép) nhỏ hình cầu. Có thể khẳng định là sắt đã
có phản ứng với oxi vì sắt cháy trong oxi tạo ra những hạt nóng chảy màu nâu Fe3O4.
GV: Có ục thép nhỏ hình cầu được tạo ra ở đầu đinh ghim vì phản ứng giữa Fe
và O2 toả ra nhiều nhiệt làm cho sắt nóng chảy, có khi sắt nóng chảy đó rơi xuống đáy
lọ. Vì vậy người ta thường để lại một ít nước ở đáy lọ tránh gây vỡ lọ vì nhiệt.
GV: Oxi khơng chỉ tác dụng với sắt mà cịn tác dụng với hầu hết các kim loại.
Sau đây ta xem nó có tác dụng với phi kim khơng, chẳng hạn với lưu huỳnh? Đây là
cốc đựng bột lưu huỳnh (hoặc những cục nhỏ lưu huỳnh). Ở nhiệt độ thường, lưu
huỳnh có phản ứng với oxi khơng?
HS: Khơng thấy có dấu hiệu của phản ứng hoá học.
GV: Đốt cháy lưu huỳnh trong khơng khí. Nhận xét? Sau đó đưa lưu huỳnh đang
cháy vào bình có chứa oxi. Nhận xét và so sánh với hiện tượng lúc đốt lưu huỳnh trong
khơng khí.
HS: Khi đốt ở trong khơng khí lưu huỳnh bị cháy có ngọn lửa xanh mờ. Trong
oxi, lưu huỳnh cháy sáng rực và sinh ra nhiều khói trắng.
GV: Trong khói trắng có chất mới tạo thành là lưu huỳnh đioxit, cịn gọi là khí
sunfurơ, có cơng thức hố học là SO 2, lẫn với một ít lưu huỳnh trioxit SO3. Các em hãy
viết phương trình hố học của phản ứng.
GV: Bây giờ ta nghiên cứu phản ứng của oxi với photpho. Đây là bột photpho
đỏ. Nó có tác dụng với oxi ở nhiệt độ thường không? Đốt cháy photpho đỏ ở trong
khơng khí rồi đưa nó vào bình có chứa oxi. Hãy nhận xét các hiện tượng.
HS: Photpho cháy trong oxi rất mãnh liệt, ngọn lửa sáng rực, sinh ra rất nhiều
khói trắng làm ngạt thở.
GV: Chất khói trắng tạo thành là những hạt nhỏ của chất mới tạo thành
điphotpho pentaoxit, cịn được gọi là anhiđrit photphoric, có cơng thức P 2O5. Hãy viết
phương trình hố học.
GV: Qua những phản ứng hố học của oxi với các chất, các em có nhận xét gì về

khả năng tác dụng hố học của oxi với các kim loại và phi kim? Sản phẩm của phản
ứng là chất gì?
HS: Oxi có thể tác dụng hoá học với nhiều kim loại và phi kim. Sản phẩm của
phản ứng là oxit.


GV: Đúng. Ta có thể kết luận là oxi dễ dàng tham gia phản ứng hoá học với các
chất, do đó oxi là một trong những đơn chất hoạt động hoá học mạnh nhất. Sản phẩm
của phản ứng là oxit.
GV: Hãy cho biết hoá trị của nguyên tố oxi trong các hợp chất hố học?
HS: Hố trị của oxi ln là 2.
GV: Đúng. Hoá trị của nguyên tố oxi trong các hợp chất hố học ln ln là 2.
2. Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
a. Khái niệm
- Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy
luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà cịn khó khăn,
cản trở cần vượt qua.
- Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần:
+Trạng thái xuất phát: không mong muốn
+ Trạng thái đích: Trạng thái mong muốn
+ Sự cản trở
- Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt
tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ
phương tiện (tri thức, kỹ năng…) để giải quyết.
- Dạy học giải quyết vấn đề:
+ Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lý thuyết nhận thức. Giải quyết vấn đề có
vai trị đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người.
„Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề“ (Rubinstein).
+ DHGQVĐ là một QĐ DH nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thơng

qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp
nhận thức.
b. Một số lưu ý
- Tri thức và kĩ năng HS thu được trong quá trình PH&GQVĐ sẽ giúp hình thành
những cấu trúc đặc biệt của tư duy. Nhờ những tri thức đó, tất cả những tri thức khác
sẽ được chủ thể chỉnh đốn lại, cấu trúc lại.
- Tỉ trọng các vấn đề người học PH & GQVĐ so với chương trình tuỳ thuộc vào đặc
điểm của môn học, vào đối tượng HS và hồn cảnh cụ thể. Khơng nên u cầu HS tự
khám phá tất các các tri thức qui định trong chương trình.
Cho HS PH & GQVĐ đối với một bộ phận nội dung học tập, có thể có sự giúp đỡ của
GV với mức độ nhiều ít khác nhau. HS được học không chỉ kết quả mà điều quan
trọng hơn là cả q trình PH & GQVĐ
c. Ví dụ minh họa
Nghiên cứu thí nghiệm: nhơm phản ứng với dung dịch kiềm ở bài “Nhôm” lớp 9
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Nêu vấn đề: Nhơm có đầy đủ tính chất
- Nhóm HS: Thả dây nhơm vào ống
của kim loại nói chung, ngồi ra nhơm có nghiệm đựng dung dịch NaOH, có ống
tính chất gì đặc biệt?
vuốt dẫn khí ra ngồi
Hãy nghiên cứu thí nghiệm nhơm tác
- Quan sát hiện tượng khí thoát ra
dụng với dung dịch NaOH
- Gợi ý: Phản ứng này có gì mâu thuẫn
- Châm lửa đốt, khí cháy, ngọn lửa xanh.
với những điều đã học.
Khí tạo thành là hiđro
- Giải quyết mâu thuẫn: Điều này không
- HS nêu vấn đề: Phản ứng Al với dung

sai và không mâu thuẫn. Đó là do hợp
dịch NaOH có mâu thuẫn với tính chất


chất của nhơm có tính chất đặc biệt, ta sẽ của kim loại đã học khơng? Hay thí
học ở lớp trên
nghiệm sai?
3. Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
a. Khái niệm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, yêu cầu
của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì
ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay
những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân cơng mỗi người
một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, khơng thể
ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ
nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong khơng khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm
việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết
quả làm việc của nhóm trước tồn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân cơng
mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
*Làm việc chung cả lớp :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
* Làm việc theo nhóm
- Phân cơng trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân cơng trình bày kết quả làm việc theo nhóm
* Tổng kết trước lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong
bài
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn
khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói
ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ
đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi
lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học
phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này cịn
gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không
gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải
biết tổ chức hợp lý và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả.
Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy
và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các
thành viên trong tổ chức lao động.Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phịng lạm
dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH
và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.
b. Quy trình thực hiện
Bước 1: Làm việc chung cả lớp:
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.


Bước 2: Làm việc theo nhóm
- Phân cơng trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập
- Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước tồn lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo
c. Ví dụ minh họa
Nhóm HS nghiên cứu tính chất chung của axit thông qua nghiên cứu dung dịch
H2SO4 tác dụng với Cu(OH)2 và NaOH.
Trong hoạt động này, nhóm trưởng phân cơng một thành viên làm thí nghiệm
với bazơ tan, thành viên kia làm thí nghiệm với bazơ khơng tan. Cả nhóm quan sát 2
thí nghiệm. Thư ký ghi chép lại kết quả báo cáo.
Ở thí nghiệm 1, một thành viên nhỏ từ từ dung dịch H2SO4 vào ống nghiệm
đựng Cu(OH)2 cho đến dư. Ở thí nghiệm 2, một thành viên nhỏ từ từ dung dịch
H2SO4 vào ống nghiệm đựng dung dịch NaOH có vài giọt phenolphtalein cho đến dư.
Các thành viên quan sát, trao đổi với nhau về nội dung mô tả hiện tượng xảy ra, xác
định chất tạo thành và viết các PTHH.
Trưởng nhóm hoặc một thành viên báo cáo kết quả trước tập thể lớp, giáo viên
kết luận.
4. Phương pháp trực quan
a. Quy trình thực hiện
- GV treo những đồ dùng trực quan hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các
thiết bị kỹ thuật…Nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của HS.
- GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ… tiến hành làm thí nghiệm,
trình chiếu các thiết bị kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh…
- Yêu cầu HS trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu
nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim
điện ảnh.
- Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi
yêu cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển
tải.
b. Một số lưu ý khi sử dụng PP trực quan:
- Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu GD của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan

tương ứng thích hợp.
- Có PP thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan.
- HS phải quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan. Phát huy tính tích cực của HS khi sử
dụng đồ dùng trực quan.
- Đảm bảo kết hợp lời nói sinh động với việc trình bày các đồ dùng trực quan.
- Tuỳ theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng
khác nhau.
- Cần xác định đúng thời điểm để đưa đồ dùng trực quan.
- Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lí. Cần chuẩn bị câu hỏi/
hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khai thác kiến thức.
c. Ví dụ minh họa


- Để hình thành kiến thức về tác dụng của axit với kim loại, GV cho HS tự tiến hành
các thí nghiệm về phản ứng của kim loại: Na, Zn, Cu với axit HCl. Kết quả thí nghiệm
cho phép HS ghi nhận về tính chất của kim loại tác dụng với axit như sau: Chỉ có
những kim loại đứng trước H trong dãy hoạt động hoá học của kim loại mới đẩy được
H2 ra khỏi dd axit, kim loại càng mạnh càng đẩy nhanh H2 ra khỏi axit và ngược lại
5. Phương pháp dạy học luyện tập và thực hành
a. Bản chất
- Luyện tập, thực hành nhằm củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm các kiến thức lí
thuyết. Trong luyện tập và thực hành, hướng đến việc vận dụng tri thức linh hoạt và
hiệu quả.
b. Quy trình thực hiện
- Xác định tài liệu cho luyện tập và thực hành
- Giới thiệu mơ hình luyện tập hoặc thực hành
- Thực hành hoặc luyện tập sơ bộ
- Thực hành đa dạng
c. Ví dụ minh họa
- Khi ơn tập chương oxit, axit, bazo, muối cần tạo điều kiện để HS quan sát trực tiếp

những chất tiêu biểu của các loại chất ấy, nhận xét những tính chung và riêng của
chúng, nêu lên mối liên hệ giữa các chất tiêu biểu của các loại chất khác nhau
- Khi học bài mới về kim loại kiềm đã biểu diễn thí nghiệm Na tác dụng với nước, khi
ôn tập kiến thức về kim loại kiềm có thể biểu diễn thí nghiệm Kali tác dụng với nước
để so sánh phản ứng của Na với nước
- Sử dụng thí nghiệm vận dụng kiến thức để giải các bài tập thực nghiệm. Ví dụ phân
biệt lọ đựng dd AlCl3 với lọ NaOH mà không dùng thêm chất nào khác
6. Phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy
a. Khái niệm
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra bản đồ tư duy thì bản
đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào
sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm. Ý tưởng
hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý
chính và đều được nối với các ý trung tâm. Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra
xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự. Từ
đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển.
b. Phương thức tạo lập
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình.
Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề khơng rõ ràng.
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngơn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu
sắc về chủ đề.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ
tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ



+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình
ảnh.
+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm khơng gian vẽ và thời
gian.
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh.
Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa.
+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp
2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ. Các
đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tơ đậm hơn.
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong
được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta thay
đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng
thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×