Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Pháp luật về hạn chế hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.69 MB, 71 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

BAN ĐIỀU HÀNH
CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
*******

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
HỆ CHÍNH QUY
KHĨA 34 (KHĨA HỌC 2009 - 2013)

PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ
HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN
CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
TẠI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện
MSSV
Lớp
Giáo viên hướng dẫn

: ĐẶNG CẨM NHUNG
: 0955050334
: CLC34
: TS. HÀ THỊ THANH BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tơi, có sự hỗ trợ từ Giáo


viên hướng dẫn là Tiến sĩ Hà Thị Thanh Bình. Các nội dung nghiên cứu và kết quả
trong đề tài này là trung thực và đảm bảo tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Những số
liệu đã đưa ra phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu
thập từ các nguồn khác nhau và đã có trích dẫn đầy đủ. Ngồi ra, việc sử dụng một
số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, trong
đề tài cũng đã được trích dẫn và thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm
trước Hội đồng về kết quả khóa luận của mình.

TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 7 năm 2013
Tác giả

Đặng Cẩm Nhung


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC
QUYỀN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC .............................................. 3
1.1. Độc quyền và doanh nghiệp có vị trí độc quyền ...........................................3
1.1.1.

Định nghĩa và các đặc điểm của độc quyền ........................................3

1.1.2.

Phân loại độc quyền ............................................................................5

1.1.3.


Doanh nghiệp có vị trí độc quyền .......................................................7

1.2. Lạm dụng vị trí độc quyền .............................................................................8
1.2.1.

Định nghĩa và đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền .........8

1.2.2.

Các loại hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.......................................10

1.3. Doanh nghiệp nhà nước và vấn đề lạm dụng vị trí độc quyền ....................12
1.3.1.

Khái niệm ..........................................................................................12

1.3.2.

Khả năng tạo lập và duy trì vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà

nước

...........................................................................................................15

II. HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM ..................................................................................................... 19
2.1. Doanh nghiệp có vị trí độc quyền và tiêu chí xác định ...............................20
2.1.1.

Doanh nghiệp có vị trí độc quyền .....................................................20


2.1.2.

Xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền .......................................21

2.2. Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị nghiêm cấm .....................................27
2.2.1.

Hành vi lạm dụng nhằm củng cố, duy trì quyền lực .........................28

2.2.2.

Hành vi lạm dụng nhằm khai thác quyền lực ....................................31

2.3. Biện pháp xử lý đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền ........................36

III. THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI LẠM
DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .................................................................................... 38
3.1. Thực tiễn thi hành chế định chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của
doanh nghiệp nhà nước .........................................................................................38
3.1.1.

Tình trạng độc quyền của doanh nghiệp nhà nước ...........................38


3.1.2.

Thực trạng áp dụng pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng vị


trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước ........................................................42
3.2. Một số kiến nghị góp phần hồn thiện chế định chống hành vi lạm dụng vị
trí độc quyền đối với doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam .................................49
3.2.1.
Đối với quy định trong pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị
trí độc quyền ......................................................................................................50
3.2.2.
Đối với cơ chế thực thi chế định chống hành vi lạm dụng vị trí độc
quyền của doanh nghiệp nhà nước ....................................................................52

KẾT LUẬN ..................................................................................................... 56


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình, doanh nghiệp nhà nước
luôn được xem là thành phần kinh tế chủ đạo, đóng vai trị quan trọng đối với nền
kinh tế Việt Nam. Mặc dù vai trị cũng như vị trí của doanh nghiệp nhà nước qua
từng thời kỳ có thay đổi, nhưng các doanh nghiệp này đã, đang và sẽ là một nhân tố
thiết yếu đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tính
đến thời điểm hiện tại, nhiều doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ các vị trí thống
lĩnh và độc quyền trên thị trường, có sức ảnh hưởng to lớn đối với tồn bộ các khía
cạnh của nền kinh tế - xã hội. Việc sử dụng mơ hình doanh nghiệp nhà nước một
cách hiệu quả, đặc biệt đối với những doanh nghiệp đang chiếm giữ vị trí độc quyền
trên thị trường, sẽ là một hướng đi tốt nhằm điều tiết nền kinh tế, kiềm chế lạm
phát, thực hiện các chính sách ổn định vĩ mô và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu
cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến tình hình nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, bất kỳ một vấn đề nào cũng có mặt trái của nó. Với cơ chế quản lý
còn lỏng lẻo, các doanh nghiệp nhà nước đang lợi dụng sự ưu đãi từ chính quyền và
quyền lực độc quyền sẵn có của mình để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật

nhằm bóp méo, ngăn chặn quá trình cạnh tranh, gây nguy hại cho các doanh nghiệp
khác cũng như người tiêu dùng trên thị trường. Dù vậy, pháp luật cạnh tranh nước
ta vẫn chưa được áp dụng thật sự hiệu quả để có thể ngăn chặn và trừng trị các hành
vi vi phạm này của các doanh nghiệp nhà nước. Vì thế, việc hồn thiện chế định
chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước là một nhu
cầu cấp thiết đối với mục tiêu phát triển nền kinh tế - xã hội bền vững của Đảng và
Nhà nước Việt Nam. Với mong muốn góp một phần sức lực vào công cuộc này, tác
giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về hạn chế hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của
doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua việc phân tích những khái niệm cơ bản, các quy định của pháp luật và
tình hình thực tiễn trên thị trường, tác giả mong muốn đem đến cách nhìn cụ thể
hơn về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước cùng những
vấn đề xung quanh nó. Từ đó, tác giả hy vọng có thể đưa ra những ý kiến đóng góp
hữu ích nhằm hồn thiện, nâng cao tính khả thi và hiệu quả áp dụng trên thực tế của
chế định chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong
pháp luật Việt Nam hiện hành.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên
quan đến hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước theo
pháp luật cạnh tranh.

1


Về phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung đi sâu vào phân tích những vấn
đề lý luận cơ bản, các quy định pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam hiện
nay. Trong từng phần phân tích, tác giả có thể sử dụng các nghiên cứu về quy định
pháp luật của một số quốc gia khác nhưng vẫn chỉ nhằm mục đích bình luận và làm

rõ hơn về các vấn đề trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong khóa luận, tác giả áp dụng phối hợp các phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phân tích, bình luận, so sánh, nhận xét, đánh giá, tổng hợp,
thống kê, liên hệ để nghiên cứu đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu
chuyên sâu về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước.
Hầu hết các bài viết đề cập riêng đến hành vi trên thường là những bài báo, bài phân
tích ngắn khơng đủ sức khái quát các khía cạnh phức tạp của vấn đề. Do đó, tác giả
đã thực hiện đề tài này với mong muốn đưa đến những đánh giá và bình luận tổng
quan về các quy định pháp luật đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh
nghiệp nhà nước, cũng như việc thực thi những quy định trên trong thực tế, hy vọng
rằng đây sẽ là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu
Khóa luận bao gồm 3 chương:
 Chương 1: Lý luận chung về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh
nghiệp nhà nước
 Chương 2: Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền theo pháp luật Việt Nam
 Chương 3: Thực tiễn thi hành và kiến nghị
Do những hạn chế nhất định về mặt thời gian cũng như giới hạn về mặt nhận
thức của người viết, khóa luận khơng thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận
được những nhận xét, đóng góp của Quý Thầy, Cơ và các bạn để giúp khóa luận
ngày một hồn thiện hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Cơ Hà Thị Thanh Bình đã hướng dẫn nhiệt tình
cùng tất cả các bạn đã quan tâm, giúp đỡ và đóng góp thêm những nhận xét có giá
trị, hỗ trợ tác giả hoàn thành đề tài này.

2



LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC
QUYỀN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.1. Độc quyền và doanh nghiệp có vị trí độc quyền
1.1.1. Định nghĩa và các đặc điểm của độc quyền
I.

Cạnh tranh là một trong những quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh tự do thúc đẩy, tạo động lực cho mọi cá nhân, tập thể đầu tư, lao động
nhằm hưởng những thành quả tương xứng với phần đóng góp của mình vào thị
trường. Tuy nhiên, với bản chất là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về
phía mình”1, trong cạnh tranh ln tồn tại cuộc đua tranh quyết liệt giữa các chủ thể
nhằm giành được lợi nhuận cao hơn, thu được các lợi ích đáng kể hơn. Khi đã phát
triển đến một vị thế nhất định, một hoặc một vài chủ thể sẽ có khả năng ngăn cản
các nhà kinh doanh khác gia nhập thị trường, từ đó hạn chế hoặc triệt tiêu yếu tố
cạnh tranh trong lĩnh vực mà mình thống lĩnh. Theo các nhà kinh tế học, khuynh
hướng phát triển tự nhiên của các hình thái thị trường chịu sự điều tiết của cạnh
tranh là đi từ cạnh tranh hoàn hảo đến cạnh tranh khơng hồn hảo rồi đến độc
quyền. Quy luật này của cạnh tranh, theo nhiều người, là “cạnh tranh gieo mầm cho
sự hủy diệt cạnh tranh”2. Như vậy, mục đích cuối cùng của nhiều chủ thể cạnh tranh
là có được khả năng khống chế thị trường, hay cao hơn là chiếm giữ vị trí độc
quyền đối với lĩnh vực mà họ hoạt động.
Độc quyền (Monopoly) là thái cực đối lập với cạnh tranh hoàn hảo, để chỉ về
một trạng thái của thị trường, mà ở đó, một tỉ lệ đáng kể giao dịch của một loại hình
kinh doanh được thực hiện bởi một doanh nghiệp hoặc một thương nhân.3 Cụ thể
hơn, “độc quyền có nghĩa là trên thị trường chỉ có một hoặc một vài chủ thể kinh
doanh cùng chiếm giữ vai trị độc tơn, tồn quyền kinh doanh một hoặc một loại sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó mà khơng có sản phẩm khác giống hoặc
gần giống cùng tham gia trên thị trường.”4 Sự tồn tại tình trạng độc quyền đồng

nghĩa với việc khơng cịn cạnh tranh hoặc khơng có cạnh tranh giữa các chủ thể
kinh doanh trong hoạt động kinh doanh đối với một loại mặt hàng, sản phẩm hay
dịch vụ nhất định.
Từ những định nghĩa trên, nhìn chung, độc quyền có bốn đặc điểm cơ bản:
+ Chủ thể nắm vị trí độc quyền kinh doanh tất cả sản lượng của một loại hàng
hóa, dịch vụ nhất định trên thị trường. Do đó, chủ thể này có thể điều chỉnh được

1

Theo Từ điển kinh doanh của Vương quốc Anh năm 1992, dẫn theo Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về
kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia, tr.19.
2
Trần Hồng Nga (2004), Pháp luật về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền ở Việt
Nam - Thực trạng và so sánh với một số nước, tr.7-8.
3
Theo Oxford Dictionary of Law 7th Edition (2009), Oxford University Press, tr.357.
4
Chủ nhiệm Lê Thị Bích Thọ (2002), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật Cạnh tranh, Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ, tr.268.

3


lượng cung – cầu sản phẩm, trực tiếp kiểm soát giá cả mặt hàng nhằm đạt được lợi
nhuận độc quyền lớn nhất.
+ Sản phẩm kinh doanh có tính chất độc đáo, đặc thù, khó hoặc khơng thể
được thay thế bằng một loại sản phẩm khác. Trong thị trường khơng có bất kì sản
phẩm nào có khả năng cạnh tranh, nên việc thay đổi giá cả hoặc sản lượng của sản
phẩm độc quyền không làm ảnh hưởng đến giá cả và sản lượng của những sản phẩm
khác và ngược lại.

+ Việc gia nhập và rút khỏi thị trường độc quyền là hạn chế hay thậm chí hồn
tồn bị phong tỏa. Đối với vấn đề gia nhập thị trường, một số rào cản được tạo ra có
thể là giấy phép của chính phủ hoặc nhượng quyền thương mại, quyền sở hữu tài
nguyên, bằng sáng chế và bản quyền tác giả, hay nguồn vốn đầu tư lớn, v.v… Đối
với vấn đề rút khỏi thị trường, trong một số thị trường độc quyền về nhu yếu phẩm
như điện, nước hoặc được chính phủ xem xét là điều cần thiết cho xã hội, những
nhà độc quyền có thể bị ngăn chặn khỏi việc từ bỏ thị trường bởi các chính sách và
pháp luật của quốc gia.
+ Thơng tin khơng hồn hảo. Trước hết, cần phải làm rõ, thông tin ở đây là các
thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ trên thị
trường. Như vậy, “thông tin khơng hồn hảo” là chỉ đến trạng thái khơng cân bằng
giữa các chủ thể trong việc tiếp cận, tìm hiểu hoặc nhận thức đầy đủ các thông tin
về nhau và về đối tượng giao dịch. Nguồn thông tin do chủ thể độc quyền nắm giữ
so với các chủ thể kinh doanh khác có ý định gia nhập, hoặc nguồn thơng tin giữa
người bán và người mua là không ngang nhau. Bên độc quyền có những lợi thế về
thơng tin chun ngành đặc thù như bí mật kinh doanh, bản quyền,… và những
thông tin này giúp họ đạt được hoặc củng cố vị trí độc quyền đối với một loại sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ cụ thể.
Các đặc điểm của độc quyền hoàn toàn đối lập với những giả định cơ bản của
cạnh tranh hồn hảo. Nắm giữ vị trí độc quyền ln là mong muốn, mục đích cuối
cùng của nhiều doanh nghiệp và nhà sản xuất. Bởi cạnh tranh luôn tạo ra những
thách thức và rủi ro nguy hiểm đối với sự tồn tại của doanh nghiệp, nên việc đạt
được vị trí độc quyền khơng chỉ giúp doanh nghiệp đảm bảo được chỗ đứng trên thị
trường mà còn giúp họ thu về nhiều lợi nhuận, có sức mạnh chi phối lớn với nền
kinh tế. Do đó, một khi giành được vị trí độc quyền (có thể qua con đường kinh
doanh hiệu quả, hoặc do chính sách của Nhà nước, các bằng sáng chế, quyền sở hữu
công nghiệp,v.v…), doanh nghiệp dễ dàng có động lực muốn duy trì vị thế độc tơn
này cho riêng mình. Chính vì vậy, khi có được vị trí độc quyền, doanh nghiệp độc
quyền sẽ dùng mọi cách để tiêu diệt đối thủ, khống chế thị trường, tạo ra lực cản đối
với cạnh tranh lành mạnh nhằm duy trì quyền lực của mình hoặc khai thác, gây bất

lợi cho khách hàng để tối đa hóa lợi nhuận độc quyền, kiềm chế sự phát triển công
nghệ - kỹ thuật khiến cho nền kinh tế - xã hội trì trệ, kém phát triển.

4


1.1.2. Phân loại độc quyền
Căn cứ theo nguyên nhân hình thành, độc quyền được phân loại theo các
phương thức sau:
+ Độc quyền tự nhiên: Việc hình thành độc quyền nằm ngồi ý thức chủ quan
của các nhà sản xuất. Hình thức này thường tồn tại ở những lĩnh vực đòi hỏi quy mơ
sản xuất và chi phí đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm, chi phí bình qn giảm dần theo
sự gia tăng của sản lượng sản phẩm hoặc trong một vài lĩnh vực đặc thù địi hỏi
cơng nghệ cao mà khơng nhiều doanh nghiệp có thể đáp ứng. Đối với độc quyền tự
nhiên, các chủ thể kinh doanh khác khó có khả năng hoặc khơng thể gia nhập để
cạnh tranh.
+ Độc quyền do sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp hoặc do thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh (Cartel): Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, độc quyền
được hình thành từ việc hai hay nhiều chủ thể kinh doanh cùng một ngành hoặc một
lĩnh vực sáp nhập hoặc hợp nhất với nhau tạo thành một tập đoàn hay một doanh
nghiệp lớn để khống chế thị trường. Trong khi đó, với hình thức Cartel, độc quyền
được xem là kết quả của sự thỏa thuận, thông đồng giữa các chủ thể kinh doanh
trong cùng một ngành, một lĩnh vực về giá, sản lượng, phân chia khách hàng hay
vùng tiêu thụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các bên, đồng thời cũng triệt tiêu tiến
trình cạnh tranh trên thị trường.
+ Độc quyền do các rào cản đang tồn tại trên thị trường: Rào cản này có thể là
những hạn chế mang tính pháp lý, hành chính như quy định của pháp luật, quyết
định hành chính của cơ quan nhà nước; chính sách bảo hộ của chính phủ; sự trung
thành của khách hàng; hoặc từ lợi thế chi phí tuyệt đối của doanh nghiệp đang tồn
tại. Các rào cản này không những làm hình thành vị thế độc quyền của doanh

nghiệp, mà cịn góp phần ngăn chặn các doanh nghiệp tiềm năng gia nhập thị
trường, củng cố vị trí độc quyền của doanh nghiệp đang tồn tại.
+ Độc quyền do hiệu quả kinh tế: Doanh nghiệp đạt được vị trí độc quyền từ
việc kinh doanh có hiệu quả, phạm vi hoạt động phát triển và mở rộng mạnh mẽ,
đầu tư công nghệ kỹ thuật cao, sản phẩm tạo sức thu hút lớn đối với khách hàng,
đặc biệt là với các đối tác của những đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan.
+ Độc quyền nhà nước: Đối với hình thức này, độc quyền được hình thành từ
các quy định của Nhà nước, theo đó, một số doanh nghiệp nhà nước được trao
quyền lực độc quyền trong việc cung cấp một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ
nhất định. Các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước thường là những ngành
nghề, lĩnh vực đặc thù, phục vụ lợi ích cơng cộng hoặc có tầm ảnh hưởng sâu rộng
đến an ninh quốc phịng, kinh tế chính trị quốc gia như khai thác than hay xuất khẩu
dầu thô. Mặc dù độc quyền nhà nước là một trong trong những nguyên nhân chính
dẫn đến việc doanh nghiệp nhà nước nắm vị trí độc quyền trên thị trường liên quan,

5


nhưng có thể khẳng định rằng, đây là hai hiện tượng biệt lập, khơng đồng nhất hồn
tồn với nhau.5
Dựa trên số lượng chủ thể nắm giữ vị trí độc quyền, hình thái độc quyền có thể
tồn tại dưới hai dạng. Thứ nhất, “độc quyền thuần túy” với tình trạng thị trường chỉ
có một doanh nghiệp hoặc một chủ thể duy nhất nắm giữ vai trị độc tơn, bao gồm
hai hình thức độc quyền bán và độc quyền mua. Theo đó, độc quyền bán là cấu trúc
thị trường chỉ có một người bán duy nhất cho một loại sản phẩm mà khơng có
những sản phẩm thay thế gần. Ngược lại, độc quyền mua là một thị trường trong đó
chỉ có một người mua nhưng có rất nhiều người bán. Thứ hai, “độc quyền nhóm”,
hay cịn gọi là độc quyền tập đồn. Trong cấu trúc thị trường này, chỉ có một số
lượng nhỏ chủ thể tham gia kinh doanh, sản xuất và nắm giữ vị trí độc quyền, chi
phối cả thị trường về hàng hóa hoặc dịch vụ. Điều đó có nghĩa là “các chủ thể này

phụ thuộc lẫn nhau và họ ln phải cân nhắc các phản ứng có thể xảy ra của các đối
thủ về những quyết định giá, xúc tiến thương mại và phát triển sản phẩm của
mình.”6 Các doanh nghiệp chiếm thị phần lớn trong thị trường độc quyền tập đồn
được gọi là “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh”. Có thể nói, đây là tiêu chí phân loại
khá quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến ý chí của nhà làm luật khi xây dựng các quy
định điều chỉnh đến hành vi lạm dụng của những doanh nghiệp nắm vị trí độc
quyền. Hiện nay, pháp luật cạnh tranh thế giới đang có hai cách quy định phổ biến
về vị trí độc quyền trên thị trường. Một xem vị trí này chỉ giành cho một chủ thể
kinh doanh duy nhất nắm 100% thị phần như pháp luật cạnh tranh Việt Nam. Một
cho phép nhiều doanh nghiệp cùng giữ vị trí độc quyền, khơng địi hỏi các doanh
nghiệp này phải có toàn bộ thị phần như pháp luật Hoa Kỳ và châu Âu.7 Hơn nữa,
các nhà làm luật châu Âu và Hoa Kỳ cịn xem vị trí độc quyền là một trường hợp
đặc biệt của vị trí thống lĩnh thị trường, và khơng phân định rạch rịi hai khái niệm
trên trong pháp luật cạnh tranh của mình.8 Tư tưởng này khá hợp lý, bởi lẽ, trên
thực tế, hiện tượng độc quyền thuần túy không xảy ra phổ biến và thường chỉ xuất
hiện trong các lĩnh vực độc quyền nhà nước.9 Thêm vào đó, việc chỉ tồn tại duy nhất
một doanh nghiệp độc quyền hay có một số chủ thể kinh doanh độc quyền nhóm
đều đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp đều có khả năng chi phối mạnh mẽ đối
với cung – cầu và giá cả của sản phẩm. Hành vi lạm dụng quyền lực độc quyền của
doanh nghiệp trong cả hai trường hợp trên, cũng như hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh về cơ bản đều có các dạng thức, biểu hiện, cấu thành giống nhau và có thể gây
nên những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế và lợi ích của khách hàng,
5

Xem thêm phần phân tích tại mục 1.3.2.
Đại học Kinh tế quốc dân (2009), Giáo trình Kinh tế học Vi mơ, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội,
tr.185.
7
Brian P. Simpson (2010), “Two Theories of Monopoly and Competition: Implications and Aplications”,
Journal of Applied Business and Economics, Vol 11(2), tr.140. Trần Hoàng Nga (2004), tlđd, tr.20-24.

8
Trần Hoàng Nga (2004), tlđd, tr.20.
9
Brian P. Simpson (2010), tlđd, tr.143.
6

6


người tiêu dùng. Chính vì thế, so với tư tưởng thứ nhất, tư tưởng của các nhà làm
luật Hoa Kỳ và châu Âu được nhiều quốc gia tiếp nhận và áp dụng vào các chế định
pháp luật của mình ngày nay.
1.1.3. Doanh nghiệp có vị trí độc quyền
Vị trí độc quyền là một thuật ngữ nhằm thể hiện vị thế độc tôn mà doanh
nghiệp đang nắm giữ trong một thị trường chỉ có sự xuất hiện của một hoặc một
nhóm chủ thể khơng có đối thủ cạnh tranh. Như vậy, doanh nghiệp có vị trí độc
quyền chính là việc trên thị trường liên quan của sản phẩm cụ thể mà doanh nghiệp
tham gia kinh doanh sản xuất, hiện tượng cạnh tranh không xảy ra và doanh nghiệp
nắm được các quyền lực nhất định, có khả năng tác động và chi phối đến toàn bộ thị
trường, khiến nhiều người (bao gồm cả các đối tác và người tiêu dùng) phải phụ
thuộc vào ý chí của họ.
Xuất phát từ tư tưởng về độc quyền của nhà làm luật khi xây dựng các chế
định cạnh tranh đã phân tích ở phần trên, pháp luật các nước thường sử dụng một
thuật ngữ chung cho cả hai khái niệm “doanh nghiệp có vị trí độc quyền” và “doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường”10. Điển hình là Hoa Kỳ với thuật ngữ “doanh
nghiệp có quyền lực độc quyền”11, trong khi pháp luật Canada, Nhật Bản và châu
Âu sử dụng tên gọi “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường”12. Theo đó, các
thuật ngữ này đều để chỉ việc doanh nghiệp đang nắm giữ một quyền lực lớn trên
thị trường, được gọi là “quyền lực độc quyền” hoặc “quyền lực thị trường”.13 Quyền
lực độc quyền cũng như quyền lực thị trường là “khả năng của một doanh nghiệp

hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại
hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua”,14 hay nói cách khác quyền lực này
chính là khả năng khống chế thị trường của doanh nghiệp. Cá biệt, thuật ngữ “doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường” trong Luật chống độc quyền Nhật Bản, ngoài
việc bao hàm hai khái niệm độc quyền và thống lĩnh thị trường như pháp luật châu
Âu, còn dùng để chỉ đến trường hợp doanh nghiệp bị điều tra có vị thế thị trường tốt
hơn so với bên có quyền và lợi ích liên quan.15 Cụ thể, định nghĩa này được áp dụng
khi đáp ứng các điều kiện sau: (i) thị trường liên quan chỉ bao gồm một vài doanh
nghiệp tham gia mua hoặc bán, và bên có quyền và lợi ích liên quan chỉ là doanh
nghiệp vừa và nhỏ, không thể từ chối các điều kiện do các doanh nghiệp lớn đó đưa
10

Xem thêm tại cuối mục 1.1.2.
http://www.justice.gov/atr/public/reports/236681_chapter1.htm, 11h30 14/07/2013.
12
Điều
102
TFEU

Điều
78
Luật
Cạnh
tranh
Canada.
Nguồn:
http://ec.europa.eu/competition/antitrust/art82/;
http://laws-lois.justice.gc.ca/eng/acts/c-34/,
11h30
14/07/2013.

13
Trần Hoàng Nga (2004), tlđd, tr.20-21.
14
David W. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.682. Thomas G.
Krattenmaker, Robert H. Lande và Steven C. Salop (1987), “Monopoly power and Market power in Antitrust
Law”, Georgetown Law Journal Association, Airlie House Conference on the Antitrust Alternative. Nguồn:
http://www.justice.gov/atr/public/hearings/single_firm/docs/222144.htm, 13h15 14/07/2013.
15
Gerald Paul Mcalinn (2007), Japanese Business Law, Wolters Kluwer, tr.351
11

7


ra; (ii) bên có quyền và lợi ích liên quan buộc phải sắp xếp một hệ thống sản xuất
đặc biệt cho doanh ngiệp cần điều tra; (iii) thị trường có tính phân tầng cao trong
một hệ thống keiretsu16; (iv) bởi vì bản chất của hàng hóa, dịch vụ, việc thay đổi đối
tác kinh doanh là không thể; (v) các doanh nghiệp bị điều tra có ảnh hưởng lớn đối
với thị trường và bên có quyền và lợi ích liên quan chỉ có thể tiến hành việc kinh
doanh của mình khi và chỉ khi tiếp tục giao dịch với các doanh nghiệp này.17 Nhìn
chung, tuy cách quy định về khái niệm “doanh nghiệp vị trí độc quyền” của pháp
luật mỗi nước có khác nhau, nhưng vẫn có những điểm tương đồng nhất định về
quyền lực độc quyền của doanh nghiệp, khả năng ảnh hưởng mà các doanh nghiệp
này có thể gây ra đối với hệ thống giá cả và hoạt động trao đổi, mua bán trên thị
trường liên quan.
Về bản chất, việc doanh nghiệp nắm vị trí độc quyền hoặc có quyền lực mạnh
mẽ chi phối toàn bộ thị trường liên quan không phải là một hiện tượng tiêu cực.
Ngược lại, do luôn là một phần không thể thiếu trong một cấu trúc thị trường độc
quyền, khái niệm trên cũng có những mặt ưu và nhược khá tương đồng với tình
trạng thị trường này.18 Chính vì thế, hầu hết các quốc gia đều không cản trở, ngăn

cấm doanh nghiệp đạt được vị trí độc quyền một cách cơng minh và hợp pháp.19
Thay vào đó, pháp luật các nước sử dụng khái niệm này như một cơ sở quan trọng
để xây dựng, xác định và thực thi cơ chế ngăn chặn, hạn chế hành vi lạm dụng vị trí
độc quyền của doanh nghiệp nhằm đảm bảo thị trường cạnh tranh lành mạnh, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và các doang nghiệp khác. Tóm
lại, việc sở hữu quyền lực độc quyền của một doanh nghiệp sẽ không thể nào bị
nhìn nhận là bất hợp pháp, trừ khi quyền lực này song hành và hỗ trợ cho chủ thể
nắm giữ nó thực hiện các hành vi phản cạnh tranh mà pháp luật nghiêm cấm.20
1.2. Lạm dụng vị trí độc quyền
1.2.1. Định nghĩa và đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền
Lạm dụng vị trí độc quyền là những hành vi của chủ thể độc quyền thực hiện
nhằm củng cố vị trí độc quyền bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị
trường, ngăn chặn doanh nghiệp tiềm năng gia nhập thị trường; hoặc nhằm thu lợi
16

Keiretsu là một phương thức hợp tác kinh doanh đặc trưng của Nhật Bản. Trong một hệ thống keiretsu,
nhiều công ty thành viên sẽ lấy một ngân hàng làm trung tâm. Ngân hàng này vừa là cổ đông lớn, vừa đóng
vai trị cấp tín dụng hoặc đảm bảo tính thanh khoản của các công ty thành viên. Nguồn: Jerzy Grabowiecki
(2006), “Keiretsu groups: Their Role in the Japanese Economy and a Reference Point (or a paradigm) for
Other Countries”, Visiting Research Fellow Monograph Series, Institute of Developing Economies - Japan
External Trade Organization.
17
Gerald Paul Mcalinn (2007), tlđd, tr.351.
18
Sẽ được phân tích rõ hơn ở mục 1.2.1.
19
Pháp luật Hoa Kỳ tuy có ngăn cấm việc hình thành độc quyền (monopolization) nhưng chỉ cấm đối với các
trường hợp độc quyền cưỡng chế (coercive monopoly) từ các doanh nghiệp. Theo đó, pháp luật nước này
ngăn cấm các doanh nghiệp có quyền lực độc quyền trên thị trường thực hiện có chủ đích các hành vi khơng
hợp pháp nhằm chiếm giữ và duy trì vị trí độc quyền đó của mình. Nguồn: United States v. Grinnell Corp.,

384 U.S. 563, 570-71 (1966).
20
Trinko, 540 U.S. at 407. Nguồn: http://www.justice.gov/atr/public/reports/236681_chapter1.htm#N_7_,
4h20 14/07/2013.

8


nhuận độc quyền bằng cách khai thác, bóc lột khách hàng. Với tính chất tiêu cực và
phản cạnh tranh, các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền ln là một trong những bộ
phận khơng thể tách rời trong chính sách và pháp luật của nhiều quốc gia.21
Trước hết, cần phải làm rõ, cũng như bất kì một hiện tượng kinh tế khác, độc
quyền có cả mặt tích cực và tiêu cực. Với tư cách là kết quả, mục đích cuối cùng
của cạnh tranh, độc quyền là động lực khiến các chủ thể cạnh tranh phải cải tiến,
hồn thiện khơng ngừng, thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung các nguồn lực để tạo
ra những ngành kinh tế mạnh mẽ. Trong một vài lĩnh vực, việc tồn tại độc quyền
với qui mô và sản lượng lớn giúp giảm thiểu tỉ lệ chi phí cố định cho một đơn vị sản
phẩm, từ đó tạo ra các sản phẩm chất lượng với mức giá thấp thỏa mãn nhu cầu của
thị trường. Song song đó, khi độc quyền hình thành, thị trường khơng cịn cạnh
tranh. Để gia tăng nguồn lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền có thể sử dụng sức
mạnh thị trường của mình để điều chỉnh giá, kiểm sốt sản lượng, cung – cầu, tiêu
diệt các đối thủ cạnh tranh và đặt người tiêu dùng vào thế chỉ có một sự lựa chọn
duy nhất là buộc phải sử dụng sản phẩm của chính doanh nghiệp. Ngồi ra, thiếu sự
cạnh tranh, doanh nghiệp khơng có động lực để nâng cao, đổi mới công nghệ, cải
tiến kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, nền kinh tế vì thế trở nên kém linh hoạt, trì trệ
và chậm phát triển.
Độc quyền là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường, là kết
quả cuối cùng của quá trình cạnh tranh. Vì vậy, không thể loại bỏ, triệt tiêu hiện
tượng độc quyền trên thị trường mà chỉ có thể hạn chế và kiểm sốt độc quyền. Mặc
dù trên thế giới có nhiều đạo luật kiểm soát độc quyền được ban hành với tên

“Chống độc quyền”22, tuy nhiên, khơng có một quốc gia nào có thể phủ nhận độc
quyền một cách tuyệt đối và xóa bỏ hồn tồn hiện tượng kinh tế này trên thực tế.
Nhà nước ban hành các quy định pháp luật với mục đích kiểm sốt và điều chỉnh
độc quyền, ngăn chặn các bất lợi của độc quyền và giữ lại những mặt tích cực mà
hiện tượng này đem lại. Chính vì thế, chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền
nhằm hạn chế cạnh tranh, trục lợi bất chính của các doanh nghiệp luôn là một trong
những nội dung quy định chủ yếu trong pháp luật cạnh tranh ở các nước.

21

Hầu hết các quốc gia đều có ít nhất một điều luật quy định về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm
trong pháp luật cạnh tranh của mình. Ví dụ: Điều 21 Luật Bảo vệ cạnh tranh của Bulgaria, Điều 12 Luật của
Ukraine Về Bảo vệ cạnh tranh kinh tế, Điều 6 Luật Cạnh tranh Thổ Nhĩ Kỳ, hay Chương III Luật Chống độc
quyền Trung Quốc,…
22
Có thể kể tên một vài quốc gia sử dụng tên “Chống độc quyền” đối với các đạo luật về hạn chế và kiểm
soát độc quyền như Hoa Kỳ với ngành luật Anti-trust, Nhật Bản và Antimonopoly Act (AMA), và đạo luật
Anti-Monopoly Law năm 2007 của Trung Quốc. Ngoài ra, Điều 2 Đạo luật Sherman 1890 về chống độc
quyền của Hoa Kỳ, tuy có ngăn cản doanh nghiệp chủ đích hình thành độc quyền, nhưng vẫn chấp nhận các
trường hợp độc quyền vô tội (innocent monopoly) bao gồm: độc quyền một cách thụ động, và độc quyền do
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn: http://www.antitrustcriminalattorney.com/antitruststatutes/sherman-act/monopolization/ và http://www.justice.gov/atr/public/reports/236681_chapter1.htm,
3h00 10/07/2013.

9


Chế định về chống lạm dụng vị trí độc quyền được xem là “bước phát triển
cao nhất của pháp luật cạnh tranh nói chung” bởi Nhà nước có thể sử dụng nó để
trực tiếp điều chỉnh và ngăn chặn những hành vi tiêu cực từ các chủ thể có quyền
lực thống trị thị trường.23 Và với tư cách là một chế định pháp luật, lạm dụng vị trí

độc quyền có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Chủ thể thực hiện hành vi phải là doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị
trường liên quan. Nếu khơng có được vị trí độc quyền, doanh nghiệp sẽ khơng thể
lạm dụng quyền lực thị trường mà vị trí này đem lại để có thể thực hiện được các
hành vi mà pháp luật cấm. Đồng thời, hành vi mà họ gây ra không đủ sức ảnh
hưởng hay làm tổn hại đến thị trường, quyền và lợi ích hợp pháp của các khách
hàng, đối tác. Ngồi ra, khi nắm giữ được vị trí độc quyền, doanh nghiệp không
phải chịu các rủi ro và thách thức từ phía các đối thủ trên thị trường, khơng cịn phải
chiều lịng khách hàng để tranh giành thị phần. Vì thế, doanh nghiệp dễ dàng có
động cơ thực hiện các hành vi chèn ép, khai thác khách hàng nhằm tăng nguồn thu
và lợi nhuận độc quyền cho chính mình.
+ Mục đích của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là nhằm hạn chế, làm sai
lệch cạnh tranh trên thị trường hoặc tạo ra nguồn lợi khơng chính đáng từ việc bóc
lột, chèn ép khách hàng. Hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp độc quyền có thể
dẫn đến nhiều hậu quả như cấu trúc cạnh tranh của thị trường hoặc tương quan cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp bị biến đổi; lợi ích của người tiêu dùng và xã hội bị
xâm hại nghiêm trọng; nền kinh tế trì trệ, kém phát triển do cán cân cung – cầu
không phản ánh được thực tế thị trường, và thiếu đi động lực cạnh tranh thúc đẩy…
Chính vì những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội này, hành vi lạm dụng
vị trí độc quyền ln là đối tượng ngăn chặn và cấm đoán của nhiều hệ thống pháp
luật trên thế giới.
+ Những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền phải được pháp luật quốc gia quy
định cụ thể và nghiêm cấm thực hiện. Cách thức quy định và phương pháp điều
chỉnh các loại hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sẽ khác nhau tùy theo điều kiện và
hoàn cảnh kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ví dụ như cách xác định hành vi lạm
dụng vị trí độc quyền vi phạm pháp luật theo nguyên tắc khung của Luật Chống độc
quyền của Hoa Kỳ hoặc phương thức liệt kê một danh sách các hành vi cụ thể như
của Luật Cạnh tranh Việt Nam.
1.2.2. Các loại hành vi lạm dụng vị trí độc quyền
Có nhiều cách phân loại hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, nhưng trong khoa

học pháp lý, hành vi này chủ yếu được phân loại dựa trên tính chất, mục đích và đối
tượng tác động khi thực hiện hành vi lạm dụng của chủ thể độc quyền. Theo tiêu chí
này, hành vi lạm dụng vị trí độc quyền có thể chia thành hai loại: nhóm hành vi lạm
23

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp
thương mại, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.179-180.

10


dụng để khai thác quyền lực và nhóm hành vi lạm dụng để duy trì, củng cố quyền
lực.24
+ Nhóm hành vi lạm dụng nhằm khai thác quyền lực (Exploitative abuses):
Những hành vi này, cịn có tên gọi khác là hành vi lạm dụng nhằm bóc lột khách
hàng, được thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận một cách bất
công và gây thiệt hại trực tiếp cho khách hàng. Các khách hàng ở đây, là những đối
tác, người tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trong lĩnh vực
mà doanh nghiệp chiếm vị trí độc quyền. Cịn ở những lĩnh vực khác, họ có thể là
đối thủ cạnh tranh của nhau hoặc có tư cách người bán – người mua đảo ngược lại
so với mối quan hệ trong lĩnh vực độc quyền. Nhóm hành vi này chủ yếu liên quan
đến vấn đề định giá sản phẩm của doanh nghiệp độc quyền, bao gồm các dạng hành
vi áp đặt giá mua giá bán sản phẩm bất hợp lý; ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt
hại cho khách hàng; hoặc việc kìm hãm sự phát triển về công nghệ - kỹ thuật, hạn
chế sản xuất làm biến động cán cân cung – cầu của thị trường, thơng qua đó làm
tăng lợi nhuận độc quyền của doanh nghiệp.
+ Nhóm hành vi lạm dụng nhằm duy trì, củng cố quyền lực (Exclusionary
abuses): Nhóm hành vi này bao gồm nhiều phương thức của doanh nghiệp độc
quyền nhằm hạn chế cạnh tranh, đảm bảo và củng cố quyền lực độc quyền của mình
trên thị trường. Doanh nghiệp độc quyền có thể sử dụng phương thức định giá hủy

diệt (bán sản phẩm dưới giá thành toàn bộ dựa vào khả năng chịu lỗ cao) hoặc tạo ra
các rào cản về giá, về nguồn nguyên vật liệu, nguồn tiêu thụ… nhằm loại bỏ các đối
thủ cũng như những doanh nghiệp tiềm năng có ý định gia nhập thị trường liên
quan. Nhóm hành vi này tác động trực tiếp đến các đối thủ cạnh tranh đang tồn tại
trên thị trường cũng như các doanh nghiệp khác có ý định đầu tư sản xuất trong lĩnh
vực mà doanh nghiệp độc quyền nắm giữ. Tuy các hành vi này có thể khơng mang
lại lợi nhuận trực tiếp cho doanh nghiệp nhưng nó giúp doanh nghiệp củng cố vị trí
độc quyền trên thị trường, giảm sức ép cạnh tranh và hạn chế sự lựa chọn đối tác
giao dịch của khách hàng.
Ngoài ra, một vài nhà phân tích cịn phân loại thêm một nhóm hành vi lạm
dụng mới mang đặc điểm trung hịa hai nhóm hành vi trên - nhóm hành vi lạm dụng
vừa bóc lột khách hàng vừa gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh.25 Những hành vi
thuộc nhóm này, như tên gọi, có khả năng tạo ra các rào cản cạnh tranh đồng thời
gây nên những tổn thất hoặc điều kiện bất lợi cho khách hàng. Đó có thể là hành vi
phân biệt đối xử nhằm tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh; áp đặt các điều kiện
bất hợp lý trong ký kết và thực hiện hợp đồng; hoặc ép buộc khách hàng phải chấp
nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng giao dịch.
24

Nguyễn Như Phát và Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh
về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb. Tư pháp, Hà
Nội, tr.259.
25
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd, tr.188.

11


Sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối vì dù có thực hiện hành vi nào,
doanh nghiệp độc quyền cũng luôn hướng đến mục tiêu cuối cùng là gia tăng doanh

thu và lợi nhuận độc quyền. Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền gây ra
những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh trên thị trường, đến lợi ích của
khơng chỉ khách hàng của doanh nghiệp nói riêng, mà cịn của cả xã hội và nền kinh
tế nói chung. Ngồi ra, tùy vào quy định của từng quốc gia, hành vi lạm dụng vị trí
độc quyền có thể được liệt kê, giải thích hay phân loại theo những cách khác nhau.
1.3. Doanh nghiệp nhà nƣớc và vấn đề lạm dụng vị trí độc quyền
1.3.1. Khái niệm
Doanh nghiệp nhà nước là thuật ngữ chỉ các “tổ chức kinh tế thuộc sở hữu
hoàn toàn hoặc một phần của Nhà nước, được tổ chức dưới hình thức pháp lý nhất
định để tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc cơng ích nhằm đạt mục đích lợi
nhuận hoặc chính sách kinh tế - xã hội.”26
Loại hình doanh nghiệp nhà nước được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế
giới, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt liên quan đến an ninh quốc phòng, cung
ứng dịch vụ cơng cộng hoặc những lĩnh vực địi hỏi nhiều vốn đầu tư và ít lợi nhuận
mà thành phần kinh tế tư nhân không muốn hoặc không thể tham gia. Trong các
lĩnh vực có sự xuất hiện của doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp này thuờng
chiếm vị trí dẫn đầu, đóng một vai trị rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của nền kinh tế quốc gia. Ngồi ra, theo thống kê của Relbanks, tính đến cuối 2012,
ngân hàng và công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới hiện nay là hai doanh nghiệp nhà
nước, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC) và Công ty bảo hiểm nhân thọ
Japan Post Insurance.27 Các doanh nghiệp nhà nước chiếm 80% giá trị của thị
trường chứng khoán Trung Quốc, 62% ở Nga và 38% ở Brazil; đồng thời, họ cũng
chiếm một phần ba tổng số đầu tư FDI trên thế giới trong giai đoạn từ năm 2003
đến năm 2010.28 Vai trò và sự ảnh hưởng của doanh nghiệp nhà nước đối với thị
trường quốc tế là rất quan trọng và vơ cùng đa đạng. Dù có nhiều dạng doanh
nghiệp nhà nước trên thế giới, nhưng đặc điểm chung của loại hình này là các doanh
nghiệp đều có tư cách pháp lý độc lập, do Nhà nước đầu tư vốn, và nắm quyền tổ
chức, quản lý. Tuy nhiên, tùy vào mỗi quốc gia mà cách quy định, tên gọi cũng như
chế độ trách nhiệm đối với doanh nghiệp nhà nước có những điểm khác biệt nhất
định.29


26

Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, tr.219.
http://www.relbanks.com/worlds-top-banks/assets

http://www.relbanks.com/top-insurancecompanies/world, 4h50 14/07/2013.
28
The National Press Club Washington, D.C (2012), SOEs – New Entities, New Realities: The Growth of
State-Owned Enterprises and Their Effects On The Trading System, SOE Presentation, Melbourne, tr.10.
29
Hiện nay, trên thế giới, có nhiều thuật ngữ pháp lý để chỉ về khái niệm “doanh nghiệp nhà nước”. Những
thuật ngữ này được quy định cụ thể trong pháp luật của từng quốc gia. Có thể kể tên một số tên gọi của khái
niệm này như Hoa Kỳ với Public utility; Public undertakings trong Hiệp ước Roma về thành lập Cộng đồng
27

12


Mơ hình doanh nghiệp nhà nước đã được sử dụng ở Việt Nam trong một thời
gian dài dưới tên gọi “xí nghiệp quốc gia” kể từ Sắc lệnh số 104/SL ngày
01/01/1948. Sau đó, Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 được ban hành đã xây dựng
căn bản chế định pháp lý về loại hình doanh nghiệp này. Theo đó, doanh nghiệp nhà
nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn thành
lập và nắm quyền quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động cơng ích nhằm
thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Trong thời kỳ này, doanh
nghiệp nhà nước được phân thành hai loại: doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh
doanh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động cơng ích. Năm 2003, khi Luật doanh
nghiệp nhà nước 1995 được thay thế bởi một đạo luật mới, Luật doanh nghiệp nhà
nước 2003, khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều thay đổi. Doanh nghiệp

nhà nước được định nghĩa là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu tồn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức cơng ty nhà
nước, cơng ty cổ phần, cơng ty trách nhiệm hữu hạn. Phạm vi chủ thể thuộc khái
niệm này không chỉ bao gồm doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, mà cả doanh
nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần hay có phần vốn góp chi phối. Vì vậy, loại
hình doanh nghiệp cũng đa dạng hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và
công ty cổ phần. Bên cạnh đó, Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 cũng khơng xác
định mục đích của doanh nghiệp nhà nước là thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội
do Nhà nước giao, và vì thế khái niệm doanh nghiệp cơng ích khơng cịn được sử
dụng. Tuy nhiên, điểm chung của hai đạo luật năm 1995 và 2003 là việc phân biệt
khái niệm “doanh nghiệp” dựa trên thành phần kinh tế; các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau thì khơng giống nhau về bản chất, về loại hình, nội
dung và chế độ trách nhiệm. Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời thay thế cho Luật
Doanh nghiệp 2000, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 và các quy định về doanh
nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996. Trong đó, khoản 22
Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp
trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.”30 Theo định nghĩa này, doanh
nghiệp nhà nước, trước hết phải là một pháp nhân có đăng ký kinh doanh, có tài sản
riêng, quyền tự chủ kinh doanh và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình.
Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước cũng phải được thành lập và hoạt động dưới các
hình thức do pháp luật quy định, cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần.31 Số
kinh tế châu Âu; State concerns của Ý; Trung Quốc là State-owned enterprises; Anh, Úc, Hồng Kơng thì sử
dụng Statutory corporation, v.v… Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Public_utility, 13h15 12/07/2013.
30
Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
31
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 99/2012/NĐ-CP đã quy định rõ doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam có thể tồn
tại dưới các hình thức là:
“1. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm:

a) Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
b) Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn hai thành viên trở lên.”

13


vốn góp thuộc sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp phải từ 50% trở lên và vì
thế Nhà nước nắm vai trò quyết định trong việc tổ chức, quản lý các hoạt động của
doanh nghiệp đó. Có thể nói, sau gần hai mươi năm phát triển và hoàn thiện, khái
niệm “doanh nghiệp” ở nước ta đã khơng cịn sự phân biệt theo thành phần kinh tế.
Doanh nghiệp nhà nước, cũng như bất kì một loại hình doanh nghiệp nào, đều coi
lợi nhuận là mục tiêu hoạt động, có tư cách độc lập và khả năng tự chịu trách nhiệm
bằng tài sản riêng của mình. Các doanh nghiệp, khơng phân biệt thành phần kinh tế
tư nhân hay nhà nước, đều có các quyền và nghĩa vụ pháp lý ngang nhau và bình
đẳng. Định nghĩa “doanh nghiệp nhà nước” được đưa ra trong các văn bản pháp luật
để nhằm làm rõ sự sở hữu về vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp này.
So sánh với pháp luật Trung Quốc, khái niệm doanh nghiệp nhà nước được
dùng để chỉ các tổ chức kinh tế được thành lập bởi các cơ quan nhà nước trung
ương hoặc địa phương và được quản lý bởi chính phủ.32 Các doanh nghiệp này hồn
tồn được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, quốc gia này cịn
đưa ra thêm thuật ngữ “doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát” để chỉ những doanh
nghiệp do Nhà nước làm nhà đầu tư chủ lực và nắm quyền quản lý.33 Chính vì thế,
theo cách quy định này, doanh nghiệp nhà nước không thể tồn tại dưới hình thức
cơng ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, cơng ty liên doanh, hay cơng ty cổ
phần có nhiều chủ sở hữu. Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” theo pháp
luật Việt Nam bao gồm cả hai hình thức “doanh nghiệp nhà nước” và “doanh
nghiệp do nhà nước kiểm soát” theo pháp luật Trung Quốc. Với xu hướng tư nhân
hóa (privatization) các doanh nghiệp nhà nước trên thế giới hiện nay, cách định
nghĩa của Việt Nam là hoàn toàn hợp lý và khái quát hết được những đặc điểm cơ

bản của loại hình doanh nghiệp đặc biệt này.
Tóm lại, dù với cách gọi tên hay giải thích khác biệt giữa các văn bản pháp
luật trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ bản chất là một pháp nhân được
hình thành bởi Nhà nước nhằm cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở tự
trang trải một phần hoặc tồn bộ chi phí. Chính phủ hoặc một cơ quan nhà nước sẽ
quản lý doanh nghiệp này bằng cách có phần vốn góp, cổ phần hoặc tham gia vào
cơ chế đưa ra các quyết định hoạt động của doanh nghiệp.34 Yếu tố sở hữu của Nhà
nước trong doanh nghiệp là yếu tố đặc biệt quan trọng, phân biệt khái niệm “doanh
nghiệp nhà nước” với thuật ngữ “doanh nghiệp thương mại nhà nước” tại các quy
định của tổ chức WTO. Theo định nghĩa của tổ chức này, “doanh nghiệp thương
mại nhà nước” được hiểu là “doanh nghiệp được Nhà nước dành cho những đặc

32

Junyeop Lee (2009), “State owned enterprises in China: Reviewing the evidence”, OECD Working Group
on Privatisation and Corporate Governance of State Owned Assets, OECD Publishing, tr.5-6.
33
Như trên.
34
John Mary Kauzya (2008), “The question of the Public Enterprise and Africa’s Development Challenge: A
Governance and Leadership Perspective”, Public Enterprises: Unresolved Challenges and New
Opportunities, Ủy ban Các vấn đề kinh tế và xã hội Liên Hiệp Quốc, tr.74.

14


quyền hay độc quyền nhất định trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu”35. Với cách
hiểu như vậy, doanh nghiệp thương mại nhà nước có thể thuộc khu vực kinh tế nhà
nước hoặc ngoài nhà nước.36 Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật Việt
Nam bắt buộc phải có số vốn thuộc chủ sở hữu Nhà nước chiếm hơn 50% vốn điều

lệ của doanh nghiệp.
1.3.2. Khả năng tạo lập và duy trì vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà
nƣớc
Doanh nghiệp nhà nước được hình thành dựa trên vai trị to lớn của nó đối với
nền kinh tế - xã hội của quốc gia. Như đã đề cập ở trên, loại hình doanh nghiệp nhà
nước chủ yếu được áp dụng trong các ngành dịch vụ công cộng, sản xuất các mặt
hàng nhu yếu phẩm hoặc trong các lĩnh vực có chi phí đầu tư lớn, tốc độ thu hồi vốn
chậm mà khơng phải doanh nghiệp tư nhân nào cũng có thể tham gia. Việc hình
thành các doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực này không chỉ tạo nên nguồn
thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo đời sống nhân dân, mà cịn giúp bảo vệ nền
kinh tế - chính trị và an ninh quốc phòng của quốc gia.
So với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà
nước có khả năng tạo lập vị trí độc quyền cao hơn hẳn. Điều này có thể được phân
tích rõ ràng ngay từ nguyên nhân hình thành các doanh nghiệp này.
Thứ nhất, trên thực tế, có một số lĩnh vực mà tình trạng tồn tại và phát triển tối
ưu của nó là độc quyền (độc quyền tự nhiên) như hệ thống phân phối điện, nước
sạch, khí đốt tới các hộ gia đình và cơ sở kinh doanh, sản xuất. Nguyên nhân xuất
phát từ thực tế, đối với những ngành này, quy mơ và chi phí đầu tư cho cơ sở hạ
tầng là rất lớn, tốc độ thu hồi vốn chậm, chi phí bình qn giảm dần theo sự gia tăng
sản lượng sản phẩm. Việc chỉ có một chủ thể duy nhất tiến hành hoạt động kinh
doanh, sản xuất trên quy mô lớn sẽ đảm bảo được giá thành thấp và ổn định cung –
cầu của sản phẩm trên thị trường. Tuy nhiên, nếu vị trí độc quyền trong các lĩnh vực
trên lại cho một nhà cung cấp tư nhân nắm giữ, thì sẽ khó chắc chắn được vấn đề
sản lượng và giá cả của sản phẩm không đi trái với các lợi ích chung của xã hội. Bởi
lẽ, trong khi các doanh nghiệp nhà nước phải chịu sự quản lý chặt chẽ của các cơ
quan chủ quản, Nhà nước khó có một cơ chế nào có khả năng kiểm soát các doanh
nghiệp tư nhân một cách thật sự hiệu quả. Hơn nữa, mục tiêu hoạt động chính của
các doanh nghiệp nhà nước là hỗ trợ các cơ quan quản lý thực thi các chính sách
kinh tế, tạo nguồn lợi cho tồn xã hội. Ngược lại, như mọi hình thức doanh nghiệp
khác, đối với doanh nghiệp tư nhân, mục đích sinh lợi là đích đến cuối cùng cho q

trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Khi nắm được vị trí độc quyền, các
doanh nghiệp này rất dễ thực hiện các hành vi lạm dụng nhằm bóc lột, khai thác
35

Ban Pháp chế - Phịng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam (VCCI) (2009), Cam kết WTO về Doanh
nghiệp Thương mại nhà nước và Doanh nghiệp nhà nước, tr.3.
36
Nguồn: http://www.wto.org/english/tratop_e/statra_e/statra_e.htm, 3h30 10/07/2013.

15


khách hàng để gia tăng lợi nhuận riêng cho mình. Bên cạnh đó, khi các sự cố xảy ra
dẫn đến những khủng hoảng về nguồn cung và chi phí sản xuất tăng cao, Chính phủ
dễ dàng thực hiện các biện pháp hỗ trợ về vốn và nhân lực cho các doanh nghiệp
nhà nước để đảm bảo bình ổn thị trường. Vì thế, Nhà nước lựa chọn việc hình thành
và chỉ cho phép các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các ngành này nhằm
thuận lợi kiểm sốt được tồn bộ thị trường, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng
cũng như tránh tình trạng doanh nghiệp tư nhân lũng đoạn thị trường, gây nguy hại
cho nền kinh tế xã hội.
Thứ hai, đối với những ngành địi hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn và khả năng
thu hồi vốn chậm, có mức độ rủi ro cao hoặc chưa có người tiên phong thực hiện
như các ngành dịch vụ hàng không, hệ thống sân bay,… các doanh nghiệp tư nhân
thường không có động lực hoặc khơng đủ khả năng thực hiện. Doanh nghiệp nhà
nước được thành lập, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước để thực hiện các dự
án thiết yếu, tạo ra hướng đi mới đồng thời gánh chịu những rủi ro lớn cho nền kinh
tế. Nếu trong một thời gian dài, khối doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện, tham
gia vào thị trường, thì doanh nghiệp nhà nước đương nhiên trở thành chủ thể nắm
giữ vị trí độc quyền. Tuy vậy, thực tế cho thấy, đối với những ngành này, khối kinh
tế tư nhân thường khơng có đủ nguồn lực để có thể tham gia cạnh tranh với các

doanh nghiệp nhà nước với nguồn vốn lớn đang tồn tại và chiếm giữ thị trường.
Thứ ba, đối với những lĩnh vực cơng nghiệp trọng yếu mà lợi ích của nó được
san sẻ cho nhiều ngành kinh tế và doanh nghiệp tư nhân khơng thể thu được phí hay
lợi nhuận từ sự lan tỏa này,37 có thể nói, đây khơng phải là thị trường tiềm năng hấp
dẫn nguồn vốn tư nhân tham gia đầu tư kinh doanh sản xuất. Khi doanh nghiệp tư
nhân độc quyền trong lĩnh vực như vậy, họ sẽ khơng dễ dàng san sẻ các lợi ích của
mình cho các chủ thể khác mà khơng có bất kì một sự trả cơng hoặc lợi ích nào để
bù đắp. Điều này có khả năng dẫn đến những bất lợi, nguy hại cho cả nền kinh tế
nếu ngành nghề mà doanh nghiệp tư nhân nắm giữ có ảnh hưởng sâu rộng và liên
quan đến nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng. Ngược lại, một khi phát
triển doanh nghiệp nhà nước thành chủ thể nòng cốt, nắm giữ vai trị độc tơn trong
những lĩnh vực này, Chính phủ có thể tận dụng nguồn lợi ích từ các hoạt động của
doanh nghiệp đem lại, cân bằng cho những hoạt động kinh tế khác của mình, đảm
bảo ổn định thị trường cũng như nguồn thu của quốc gia.
Thứ tư, những khu vực nghèo đói, vùng sâu, vùng xa khó thu hút được sự đầu
tư từ khu vực tư nhân vì chi phí ban đầu cao trong khi lợi nhuận thu được thường
thấp. Tuy Chính phủ có thể thực hiện các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các
doanh nghiệp tư nhân khi họ tham gia kinh doanh tại những khu vực trên, nhưng
37

Ví dụ cụ thể là Hàn Quốc và doanh nghiệp nhà nước POSCO trong lĩnh vực công nghiệp thép. Tuy được
Chính phủ hỗ trợ phát triển và đứng đầu thị trường, POSCO đã không lợi dụng vị thế của mình để bịn rút lợi
nhuận mà thay vào đó chia sẻ các lợi ích của mình cho những ngành khác, góp phần hỗ trợ nền kinh tế của
Hàn Quốc phát triển. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/POSCO , 8h30 02/07/2013.

16


điều này địi hỏi một hệ thống chính sách cụ thể và những cam kết chặt chẽ giữa
Nhà nước với doanh nghiệp. Việc xây dựng hệ thống chính sách này khơng hề đơn

giản và u cầu chi phí bỏ ra rất lớn, tốn nhiều thời gian. Vì thế, doanh nghiệp nhà
nước thường là sự lựa chọn khá hoàn hảo để giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế tại
những khu vực khó khăn. Đặc biệt, đó cũng chính là lý do khiến các doanh nghiệp
tư nhân không chú trọng mở rộng đầu tư vào những vùng này, và doanh nghiệp nhà
nước, do vậy, sẽ nắm giữ vị trí độc quyền trên thị trường liên quan trong khu vực.
Bên cạnh đó, do doanh nghiệp nhà nước thường có nguồn vốn lớn cùng nhiều
sự ưu đãi, hỗ trợ từ Nhà nước và hệ thống ngân hàng, nên các doanh nghiệp này có
nhiều điều kiện thuận lợi hơn để hình thành và duy trì vị trí độc quyền trên thị
trường liên quan. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, khi nhiều lĩnh vực, ngành nghề
độc quyền nhà nước đã được mở cửa rộng rãi với các nhà đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp nhà nước, với cơ chế quản lý yếu kém và phương thức hoạt động khơng hiệu
quả, khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài giàu tiềm lực. Việc duy
trì vị trí độc quyền chỉ dựa vào thị phần có sẵn đối với các doanh nghiệp này là rất
khó khăn. Vì vậy, họ có xu hướng lạm dụng các quyền lực thị trường của mình để
tạo rào cản ngăn chặn các nhà đầu tư khác gia nhập vào thị trường. Hơn nữa, khi
các doanh nghiệp nhà nước đã nắm giữ được vị thế độc tơn này, nếu khơng có một
cơ chế kiểm sốt chặt chẽ, họ vẫn có nguy cơ thực hiện các hành vi lạm dụng vị trí
độc quyền. Thậm chí, hành vi này của họ cịn có khả năng gây ra những ảnh hưởng
tiêu cực và thiệt hại nghiêm trọng với quy mô rộng và mức độ cao hơn hẳn so với
các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Do các doanh nghiệp nhà
nước thường được hình thành trong các lĩnh vực trọng yếu của quốc gia, có ảnh
hưởng lớn đến nền kinh tế và đời sống xã hội như phân phối điện, nước, nhập khẩu
xăng dầu, xuất khẩu dầu thô,… khách hàng bắt buộc phải sử dụng các hàng hóa,
dịch vụ của các doanh nghiệp này để đảm bảo các hoạt động kinh doanh và sinh
hoạt bình thường của mình mà khơng có một sự lựa chọn nào khác. Sự phụ thuộc
này dẫn đến việc doanh nghiệp, vì các mục tiêu lợi nhuận của riêng mình, thực hiện
các hành vi lạm dụng nhằm chèn ép giá, khai thác và bóc lột khách hàng. Trong khi
đó, do sức mạnh chi phối quá lớn của doanh nghiệp đối với thị trường cùng nền
kinh tế, đối tác và người tiêu dùng của doanh nghiệp khó có đủ tự tin để thực hiện
các biện pháp chế tài hợp đồng, khiếu nại hoặc khiếu kiện trực tiếp doanh nghiệp để

bảo vệ các quyền và lợi ích đã bị xâm phạm, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp càng
lộng quyền, càng thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật mà không bị xử lý rõ
ràng và triệt để.
Từ những phân tích trên, có thể thấy mối liên hệ mật thiết giữa doanh nghiệp
nhà nước và vị trí độc quyền thị trường. Mặc dù nền kinh tế thế giới hiện nay là nền
kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hóa, tình trạng độc quyền thuần túy khó
xảy ra, nhưng việc doanh nghiệp nhà nước nắm giữ vị thế độc quyền vẫn có tồn tại

17


trên thị trường, đặc biệt trong những lĩnh vực phân phối điện, nước, đường sắt, viễn
thông… Tuy không phổ biến, doanh nghiệp nhà nước có quyền lực độc quyền có
thể xem là một hiện tượng chung trên thế giới. Bên cạnh đó, cần phải phân biệt hai
khái niệm “doanh nghiệp nhà nước nắm vị trí độc quyền” và “độc quyền nhà nước”.
Trên thế giới, độc quyền nhà nước là “các tổ chức kinh tế có mối quan hệ mật thiết
với nhà nước và được nhà nước cho phép có những đặc quyền nhất định. Những
chủ thể độc quyền này thường là những công ty cung cấp dịch vụ công cộng hoặc
có thể là những cơng ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác.”38 Tại Việt Nam, chưa
có một định nghĩa chính thức về khái niệm này, nhưng có thể hiểu độc quyền nhà
nước là trạng thái thị trường mà ở đó Nhà nước thơng qua các tổ chức do mình nắm
quyền hoặc kiểm soát để độc quyền kinh doanh một hoặc một số ngành nghề nhất
định. Trong một lĩnh vực độc quyền nhà nước, có thể tồn tại một hay nhiều doanh
nghiệp cùng kinh doanh, sản xuất. Mục đích của độc quyền nhà nước là nhằm đảm
bảo cho hoạt động của đất nước được ổn định, thống nhất; đảm bảo tốt hơn nhu cầu
thiết yếu của người dân; tránh manh mún, lũng đoạn của tư nhân, tư bản. Độc quyền
được nghiên cứu trong khóa luận này là độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước
trong một số ngành, lĩnh vực nhất định (độc quyền doanh nghiệp), tức là chỉ có một
doanh nghiệp nhà nước kinh doanh một lĩnh vực, một mặt hàng trên thị trường liên
quan.

Kết luận chƣơng I
Trong chương này, khóa luận đã phân tích những vấn đề lý luận về hành vi
lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước thơng qua việc phân tích các
khái niệm về độc quyền, doanh nghiệp có vị trí độc quyền, lạm dụng vị trí độc
quyền và doanh nghiệp nhà nước. Từ đó, tác giả rút ra mối liên hệ mật thiết giữa
các khái niệm này với nhau qua khả năng tạo lập và duy trì vị trí độc quyền của
doanh nghiệp nhà nước trên thực tế, nhằm tạo tiền đề cho việc phân tích các quy
định của pháp luật Việt Nam về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền ở chương II.

38

Francoise Blum và Anne Logue (1998), State Monopolies under EC Law, Wiley, tr.1.

18


II.

HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM

Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2004 (sau đây gọi là Luật Cạnh tranh)
nêu rõ: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm
cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ cơng ích, doanh nghiệp hoạt
động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước
ngoài hoạt động ở Việt Nam”. Như vậy, theo quy định này, các doanh nghiệp, dù
thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào, đều được pháp luật cạnh tranh Việt Nam điều
chỉnh ngang nhau, không phân biệt đối xử. Chế định chống hành vi lạm dụng vị trí
độc quyền, vì thế, cũng được áp dụng chung cho cả doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và doanh nghiệp nhà nước. Nhìn chung, cách quy

định này của các nhà làm luật Việt Nam là rất hợp lý, phù hợp với thực trạng nền
kinh tế thị trường nước ta hiện nay, cũng như xu hướng của pháp luật cạnh tranh thế
giới. Thứ nhất, việc đưa ra một chế độ pháp lý bình đẳng giữa các chủ thể với nhau
trên thị trường cạnh tranh chung sẽ đảm bảo được tính lành mạnh, cơng bằng của thị
trường. Các doanh nghiệp, không phân biệt quy mô hay thành phần kinh tế, đều
được quy định và đối xử ngang nhau. Điều này góp phần xây dựng và duy trì mơi
trường cạnh tranh bình đẳng, thu hút nguồn vốn nước ngồi đầu tư vào nước ta;
đồng thời, giúp thúc đẩy, nâng cao tính cạnh tranh và tránh tâm lý ỷ lại, dựa dẫm
vào Nhà nước của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Thứ hai, trong bối cảnh
tồn cầu hóa nền kinh tế thế giới, hầu hết các quốc gia đều không đặt ra sự phân biệt
rõ ràng về cách quy định và chế độ pháp lý giữa các doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn nước ngồi trong văn bản pháp luật
cạnh tranh của mình. Trường hợp điển hình nhất có thể kể đến là pháp luật cạnh
tranh của Cộng đồng châu Âu. Theo đó, Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu ghi
nhận, các điều khoản cạnh tranh của Cộng đồng này đều được áp dụng chung cho
các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.39 Thậm chí, các quốc gia
thành viên có thể cũng phải chịu trách nhiệm chung với các doanh nghiệp nhà nước
hoặc những doanh nhiệp tư nhân được họ trao một số quyền lợi đặc biệt khi những
doanh nghiệp này có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.40 Từ đây, có thể thấy
rằng, việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc, công bằng các quy định của pháp luật
cạnh tranh là một yêu cầu thiết yếu được đặt ra cho hầu hết các quốc gia. Trong xu
thế đó, cách quy định này của Luật Cạnh tranh Việt Nam hiện nay là hoàn toàn hợp
lý.
39

OECD (2009), “Roundtable on the Application of Antitrust Law to State-Owned Enterprises – Eupopean
Commission”, Working Party No.3 on Co-operation and Enforcement, OECD Publishing, tr.2
40
Điều 86(1) Hiệp ước Roma về thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu ghi nhận: “Trong trường hợp doanh
nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp được quốc gia thành viên cho phép được hưởng một đặc quyền nhất

định, quốc gia thành viên khơng được ban hành hoặc tiếp tục duy trì hiệu lực của bất lỳ biện pháp nào trái với
các quy định được nêu trong Hiệp ước này, đặc biệt là những quy tắc được quy định tại Điều 12 và Điều 81
đến 90.”

19


Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là
hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao
gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.” Theo đó, lạm dụng vị trí độc quyền
được xem là một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh nếu những hành vi này
gây ra, hoặc đe dọa gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc cạnh tranh trên
thị trường cũng như lợi ích của khách hàng và các chủ thể kinh doanh khác. Trong
pháp luật Việt Nam, chế định về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền được quy định
tại Điều 12, 13, và Điều 14 Luật Cạnh tranh và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số
116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/06/2005 (sau đây gọi là Nghị định 116).
Các quy định trên được áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp bất kể loại hình
và nguồn vốn hình thành doanh nghiệp.
2.1. Doanh nghiệp có vị trí độc quyền và tiêu chí xác định
2.1.1. Doanh nghiệp có vị trí độc quyền
Pháp luật Việt Nam hiện nay khơng định nghĩa thế nào là vị trí độc quyền mà
chỉ có quy định về doanh nghiệp có vị trí độc quyền. Cụ thể, “doanh nghiệp được
coi là có vị trí độc quyền nếu khơng có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa,
dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.”41 Phân tích từ
quy định này của Luật Cạnh tranh, “vị trí độc quyền” là tình trạng mà trên thị
trường không tồn tại bất cứ đối thủ cạnh tranh nào ngồi chủ thể nắm vị trí độc
quyền; và thị phần của doanh nghiệp độc quyền trên thị trường liên quan là 100%.
Bên cạnh khái niệm doanh nghiệp có vị trí độc quyền, Luật Cạnh tranh cịn
đưa ra khái niệm “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường”. Khoản 1 Điều 11

Luật Cạnh tranh quy định: “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường
nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn
chế cạnh tranh một cách đáng kể.” Theo đó, trong thị trường tồn tại các doanh
nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh, hiện tượng cạnh tranh vẫn xảy ra, tuy nhiên các
doanh nghiệp thống lĩnh đạt được sức mạnh chi phối thị trường, có khả năng ảnh
hưởng đến hoạt động cạnh tranh và qua đó tác động tiêu cực đến tiềm lực cạnh
tranh của các đối thủ trên thị trường. Sự phân biệt giữa “doanh nghiệp có vị trí độc
quyền” và “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường” theo pháp luật Việt Nam
chủ yếu dựa trên tỉ lệ thị phần của doanh nghiệp và số lượng đối thủ doanh nghiệp
đang cạnh tranh trên thị trường liên quan. Trong khi đó, như đã phân tích tại chương
I, pháp luật của nhiều nước trên thế giới lại khơng có có sự phân biệt hai khái niệm
này, tiêu biểu nhất là pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật của Cộng đồng châu Âu. Thuật
ngữ “doanh nghiệp có vị trí độc quyền” của Hoa Kỳ và “doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường” của châu Âu đều để chỉ việc doanh nghiệp đang nắm giữ khả

41

Điều 12 Luật Cạnh tranh 2004.

20


năng khống chế thị trường đối với một loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể.42 Dù tên gọi
khác nhau, nhưng về nội dung, hai thuật ngữ trên của pháp luật Hoa Kỳ và châu Âu
đều tương tự nhau và bao hàm cả hai khái niệm “doanh nghiệp có vị trí độc quyền”
và “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường” trong pháp luật Việt Nam.
Sở dĩ có sự khác nhau về khái niệm “vị trí độc quyền” giữa Việt Nam và các
nước, theo Tiến sĩ Trần Hoàng Nga, là do tình trạng các doanh nghiệp nhà nước
nắm vị trí độc quyền được hình thành từ lâu tại Việt Nam đã gây nhiều hậu quả
nghiêm trọng. Cách quy định của Luật Cạnh tranh nhằm nhấn mạnh thái độ nghiêm

khắc, không thiên vị của Nhà nước đối với các doanh nghiệp này.43 Ngồi ra, phân
tích từ các quy định của Luật Cạnh tranh, nhìn chung, nhà làm luật muốn phân định
rõ ràng giữa sáu hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Điều 13 và hai
hành vi lạm dụng của riêng doanh nghiệp có vị trí độc quyền tại Điều 14. Chúng ta
có thể suy đốn cơ sở xây dựng khoản 2 và khoản 3 Điều 14 là tình trạng khơng cân
xứng về vị trí giữa doanh nghiệp độc quyền và khách hàng, đối tác. Theo đó, quyền
lựa chọn của người tiêu dùng và khách hàng sẽ không tồn tại nếu có doanh nghiệp
độc quyền trên thị trường. Hệ quả tất yếu là khách hàng sẽ luôn ở vào tình trạng yếu
thế trong giao dịch do nhu cầu của họ bị lệ thuộc vào khả năng và quyết định cung
ứng của nhà độc quyền. Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia hiện nay, việc
phân tách như vậy chưa thực sự hợp lý.44 Bởi lẽ, trên thực tế, hai hành vi tại Điều
14 có thể xảy ra ở bất kỳ mơi trường kinh doanh nào có khiếm khuyết về cạnh
tranh, nhất là khi có sự tồn tại của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường. Vì vậy,
khả năng xâm hại đến quyền lợi chính đáng của khách hàng hoặc xâm hại đến
nguyên tắc bình đẳng được pháp luật hợp đồng bảo hộ bằng những hành vi trên đều
có thể xảy ra ngay cả khi chỉ tồn tại doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh (chưa đạt đến
mức độ độc quyền) và hồn tồn có thể gây tác động tiêu cực tới cạnh tranh trên thị
trường.
2.1.2. Xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền
Một trong những vấn đề quan trọng trong chế định về chống hành vi lạm dụng
vị trí độc quyền là các căn cứ để xác định được vị trí của doanh nghiệp trên thị
trường. Bởi lẽ, nếu không thể xác định được doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên
thị trường tại thời điểm thực hiện hành vi lạm dụng hay khơng, thì sẽ khơng thể nào
kết luận hành vi đó của họ là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Vị trí độc quyền
của doanh nghiệp là một trong những đặc điểm cơ bản và tiền đề quan trọng để

42

Xem thêm tại mục 1.1.3.
Trần Hoàng Nga (2004), tlđd, tr.62.

44
Cục Quản lý cạnh tranh (2013), Báo cáo Khảo sát doanh nghiệp và phỏng vấn chuyên gia về pháp luật
cạnh tranh Việt Nam, Hà Nội, tr.82. Trong báo cáo này, chỉ có 2/31 chuyên gia được tham khảo ý kiến cho
rằng cách tiếp cận và phân biệt hai hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và doanh nghiệp có vị trí
độc quyền như pháp luật cạnh tranh hiện nay là phù hợp. 29/31 chun gia cịn lại đều khơng đồng ý với việc
phân tách này.
43

21


×