Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Điều chỉnh chính sách thương mại của trung quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (419.7 KB, 18 trang )

Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung
Quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương
mại thế giới (WTO)

Trần Thị Hoàng Ngân

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế TG & Quan hệ KT quốc tế; Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: PGS.TS. Bùi Tất Thắng
Năm bảo vệ: 2008


Abstract: Hệ thống hóa một số vấn đề liên quan đến những quy định về thương mại và
chính sách thương mại trong khuôn khổ WTO. Nghiên cứu những điều chỉnh trong hệ
thống các chính sách thương mại của Trung Quốc từ khi Trung Quốc nộp đơn gia nhập
WTO (1986) đến khi Trung Quốc được kết nạp vào WTO (tháng 11/2001); Phân tích quá
trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc từ sau khi gia nhập WTO (2001)
và đưa ra những kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình điều chỉnh chính sách
thương mại, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Keywords: Chính sách thương mại; Kinh tế đối ngoại; Trung Quốc; WTO


Content
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài luận văn
Vào khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, quá trình toàn cầu hóa bước vào thời kỳ có
những thay đổi mạnh mẽ. Hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước lớn đều đã điều
chỉnh chính sách kinh tế để phù hợp với quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng. Quá trình điều
chỉnh đang tiếp tục sang những năm đầu của thế kỷ XXI. Việc tổ chức lại cơ cấu kinh tế của các
nước đã và đang thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển. Cũng giống như các quốc gia, Trung Quốc


đã có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách thương mại của mình để thích hợp với
những thay đổi đó.
Sự điều chính chính sách thương mại của Trung Quốc phản ánh xu thế chung của kinh tế
thế giới, đó là xu thế toàn cầu hóa kinh tế. Điều này chịu sự tác động của tình hình kinh tế, chính
trị quốc tế và khu vực, đó là: chiến tranh lạnh kết thúc; các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính
diễn ra trong những năm 1990; sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ; nhịp độ toàn
cầu hóa tăng nhanh; chính trị thế giới và quan hệ quốc tế nảy sinh những vấn đề mới… Đảng
Cộng sản Trung Quốc đã xác định: “mục tiêu cải cách thể chế ở Trung Quốc là xây dựng thể chế
thị trường xã hội chủ nghĩa” và hội nhập kinh tế thế giới. Có thể nói, sự điều chỉnh chính sách
thương mại ở Trung Quốc từ sau năm 1986 (thời điểm Trung Quốc nộp đơn xin gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới) là sự tiếp nối công cuộc cải cách mở cửa bắt đầu từ năm 1978. Và
nhờ vậy, Trung Quốc đã có những bước tiến quan trọng mang tính đột phá trong việc điều chỉnh
chính sách kinh tế, bước đầu đã xây dựng được thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và đã
trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới năm 2001. Để phù hợp với
những yêu cầu của WTO, Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách thương mại của mình để
thực thi các cam kết sau khi gia nhập WTO.
Sự điều chỉnh trong chính sách thương mại nhằm đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng
nhanh, giải quyết những thách thức của tiến trình toàn cầu hóa đem lại. Chính điều này đã đem
lại cho Trung Quốc những thành công ngoài dự kiến. Sau 5 năm gia nhập WTO, Trung Quốc
luôn là nước có mức tăng trưởng thương mại nhanh nhất thế giới. Họ trở thành nước có giá trị
thương mại lớn thứ 3 sau Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ; Kim ngạch mậu dịch từ chỗ chiếm
40% GDP trong năm 2001, đến năm 2006 chỉ tiêu này đã chiếm tới 80%
Như vậy, vấn đề đặt ra là Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách của họ như thế nào từ sau
khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới để đạt được những thành công như vậy? Và Việt Nam
học hỏi được những gì từ kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại tạo nên sự phát triển
nhanh của Trung Quốc? Đặc biệt là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
WTO (11/2006) và lộ trình thực thi các cam kết và quy định của WTO đang là vấn đề hoàn toàn
mới, đặt ra các yêu cầu cấp thiết mà chúng ta phải quan tâm. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề
tài: “Điều chỉnh chính sách thƣơng mại của Trung Quốc trƣớc và sau khi gia nhập WTO
và gợi ý cho Việt Nam” có ý nghĩa hết sức quan trọng và là một hướng nghiên cứu mới.

2. Tình hình nghiên cứu
Trung Quốc hiện đang được nhìn nhận như một nền kinh tế tăng trưởng năng động nhất
thế giới. Vì vậy, những nghiên cứu không chỉ của các tác giả Trung Quốc mà cả trên toàn thế
giới về nền kinh tế Trung Quốc nói chung, về sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Trung Quốc
nói riêng là hết sức phong phú. Điển hình là những công trình như:
Ở nƣớc ngoài: Supachai Panitchpakdi và Mark L.Cliford (2002) với: “Trung Quốc và
WTO - Trung Quốc đang thay đổi, thương mại thế giới đang thay đổi”; Anderson K., Huang J.,
and Ianchovichina E (2004): “The impacts of WTO Accession on Chinese Agriculture an Rural
Poverty”. In Battasali, Li, Martin (eds). China and the WTO: Accession, Policy Reform, and
Poverty Reduction Strategies; Changhong Pei (2005), “Analysis of China’s Foreign Trade
Growth and Discussion of Related Policies”, China & World Economy, Vol. 13, No. 2, pp. 26-
38 v.v…
Ở Việt Nam: Cho đến nay, đã có một số công trình viết về sự điều chỉnh chính sách kinh
tế của Trung Quốc như: “Trung Quốc gia nhập WTO. Kinh nghiệm với Việt Nam” (2005), của
TS. Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên) ;“Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - Thời cơ và
thách thức” (2004), của PGS. TSKH. Võ Đại Lược (Chủ biên); Dự án VIE 01/012 của Viện
Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM) và UNDP: “Chính sách phát triển kinh tế -
Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc”; “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc
(giai đoạn 1992-2010)” (2004), của TS. Nguyễn Kim Bảo (Chủ biên) v.v…
Nhìn chung, các công trình trên đã phân tích về các nhân tố đòi hỏi Trung Quốc phải điều
chỉnh chính sách kinh tế và tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với bản thân Trung
Quốc trên các lĩnh vực: cải cách chính sách kinh tế vĩ mô, cơ cấu ngành kinh tế chủ chốt, khu
vực doanh nghiệp, các vấn đề xã hội, hoàn thiện hệ thống luật pháp và tác động đến các nền kinh
tế trên thế giới. Như vậy, theo sự tìm hiểu của tác giả, hầu như chưa có công trình nào nghiên
cứu riêng về sự điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trong quá trình từ sau khi
nước này nộp đơn gia nhập WTO cho đến nay một cách chi tiết, hệ thống. Mặt khác, sau khi Việt
Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới, việc điều chỉnh chính
sách thương mại của chúng ta sao cho phù hợp với tình hình mới là điều mà không chỉ giới
nghiên cứu quan tâm. Do đó, luận văn này được viết với mục đích tìm hiểu những nội dung
chính trong việc điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập

WTO và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình điều chỉnh chính sách thương mại mà Việt
Nam có thể tham khảo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc
trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), luận văn đề xuất một số khuyến
nghị, gợi ý chính sách cho Việt Nam nhằm giảm những tác động bất lợi từ quá trình hội nhập
đem lại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu một số nội dung cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO.
Thứ hai, xem xét quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và
sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Và,
Thứ ba, trên cơ sở đó, đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi ra
nhập WTO.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về quá trình điều chỉnh chính sách thương
mại của Trung Quốc.
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ khi Trung Quốc nộp đơn
gia nhập WTO (1986) đến khi gia nhập WTO (2001); và tư khi gia nhập WTO đến năm 2007.
- Về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu về chính sách thương mại của Trung Quốc Đại lục
chứ không nghiên cứu thêm cả chính sách thương mại của Hồng Kông, Ma Cao…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích quá trình
điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc.
Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp được sử dụng nhằm
làm nổi bật hiệu quả của quá trình điều chỉnh chính sách thương mại ở Trung Quốc trước và sau
khi gia nhập WTO. Tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh để cho biết Trung Quốc đã thành

công đến đâu trong công cuộc điều chỉnh chính sách thương mại và vị trí của quốc gia này trên
thế giới. Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập, xử lý tài liệu như là một
công cụ phân tích số liệu để minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn cũng còn
sử dụng phương pháp chuyên gia tức là tham khảo các ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tế,
đặc biệt là các chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc
trước và sau khi gia nhập WTO, bước đầu đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam.
7. Nội dung và kết cấu của đề tài
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 Chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO.
Chương 2: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO)
Chương 3: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện các cam kết với
WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam.

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THƢƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ
WTO.
Trọng tâm của phần này là hệ thống hóa một số vấn đề liên quan đến những quy định về thương mại và
chính sách thương mại trong khuôn khổ của WTO.
1.1. Vài nét về Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO)
1.1.1. Khái quát về WTO
1.1.1.1. Giới thiệu về WTO
Nói một cách đơn giản, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là nơi đề ra những quy định
điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới. Trước tiên, WTO là
một khuôn khổ để đàm phán. WTO là diễn đàn, nơi các quốc gia thành viên thương lượng giải
quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ. WTO ra đời từ các cuộc
đàm phán và tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán.
WTO là tập hợp những quy định. Nòng cốt của tổ chức là các hiệp định WTO, được phần
lớn các cường quốc thương mại trên thế giới đàm phán và ký kết. Những văn bản này tạo thành

quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế. Đó chủ yếu là những hợp đồng, theo đó chính
phủ các nước cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thỏa
thuận. Mặc dù do các chính phủ đàm phán và ký kết, song mục tiêu của những hợp đồng này là
giúp đỡ các nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ cũng như các nhà sản xuất, nhập khẩu triển khai các
hoạt động của mình, đồng thời vẫn cho phép chính phủ các nước đáp ứng được những mục tiêu
xã hội và môi trường.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 1995, tại
thời điểm đó, tổng số các Bên ký kết GATT là 128 nhưng chỉ có 76 nước trong số này trở thành
Thành viên WTO. Số còn lại sau thời điểm trên mới tham gia WTO (12/1995). Hiện nay đã có
152 nước và vùng lãnh thổ tham gia tổ chức này, chiếm 97% GDP và 85% giá trị thương mại
hàng hóa và 90% giá trị thương mại dịch vụ toàn cầu.
Khác với GATT, trước kia chỉ bao quát thương mại hàng hóa, sau khi thành lập, WTO đã
mở rộng phạm vi điều tiết hoạt động thương mại toàn cầu từ lĩnh vực chủ yếu là thương mại
hàng hoá sang các lĩnh vực khác như thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và
thương mại liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ…WTO thúc đẩy quá trình tự do hoá thương
mại toàn cầu theo các nguyên tắc như: minh bạch hóa chính sách thương mại, đối xử tối huệ
quốc, thương mại không phân biệt đối xử, đối xử quốc gia và mở của thị trường hàng hoá và thị
trường dịch vụ để thương mại toàn cầu phát triển thông qua đàm phán. Mục đích của tổ chức này
là thúc đẩy tự do thương mại nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, nâng cao mức sống
của người dân thông qua việc cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan; xoá bỏ các loại trợ
cấp làm méo mó thương mại; nới lỏng các hạn chế về đầu tư; cho phép các dòng vốn được tự do
di chuyển giữa các quốc gia… WTO cũng như các cơ quan giải quyết các tranh chấp thương mại
làm cho thương mại quốc tế minh bạch hơn và công bằng hơn.
1.1.1.2. Lược sử hình thành và phát triển
Tư tưởng về tự do thương mại do WTO theo đuổi có xuất xứ từ rất lâu. Tại Hội nghị
Bretton Woods, bang New Hamsphire, Hoa Kỳ năm 1944, cùng với sự ra đời của 2 tổ chức tài
chính quốc tế là Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (nay gọi là Ngân hàng Thế giới – World
Bank – WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Money Fund – IMF), một tổ chức chung về lĩnh
vực thương mại cũng được đề xuất thành lập với tên gọi Tổ chức Thương mại Quốc tế (International
Trade Organization - ITO).

Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Việc
làm tại La Havana (Cuba) tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, do không được tất cả các quốc hội của
các nước phê chuẩn nên ITO, với tư cách là một tổ chức đã không thể hình thành. Mặc dầu vậy,
tinh thần cơ bản của Hiến chương ITO về điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại thông qua sự
hình thành định chế thương mại quốc tế Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).
Từ khi ra đời (1-1-1948 với 23 nước tham gia thỏa thuận ban đầu), GATT đóng vai trò là khung
pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm (đến hết năm 1994).
Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương
mại mới. Tại vòng đàm phán thứ 8 của GATT khai mạc ở Punta del Este, Urugoay – Vòng đàm phán
Urugoay, bắt đầu năm 1986 và kết thúc vào năm 1994, các bên tham gia GATT đã nhất trí thành lập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được
WTO kế thừa, quản lý và mở rộng.
1.1.2. Vai trò của WTO
Mặc dầu khó tính toán mức độ đóng góp của WTO, nhưng có thể khẳng định rằng, sau
hơn 10 năm thành lập, WTO đã có những đóng góp đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế, tăng
trưởng thương mại và đầu tư, giải quyết nhiều vụ tranh chấp kinh tế căng thẳng, góp phần ổn
định thế giới.
1.1.2.1. Thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng của kinh tế - thương mại toàn cầu
WTO tạo ra một môi trường chung lành mạnh cho phát triển thương mại toàn cầu và qua
đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế thế giới. Thông qua việc cắt giảm thuế quan, phi
thuế quan, cải cách thể chế thương mại theo hướng minh bạch, không phân biệt đối xử, nhờ đó
thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động trên phạm vi toàn cầu, tạo điều
kiện cho sản phẩm phát triển nhanh hơn.
1.1.2.2. Thể chế hóa khung khổ pháp lý, điều tiết thương mại toàn cầu
Các nguyên tắc và Hiệp định của WTO là luật chơi chung đối với các nước tham gia vào
nền kinh tế toàn cầu. Đây là định chế thương mại quan trọng nhất và có hiệu lực nhất hiện nay.
Sau năm 1995, WTO đã thể chế hoá luật chơi chung của thế giới mà trước đó chưa từng có.
Chính vì vậy, gia nhập WTO là xu thế chung đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các
nền kinh tế chuyển đổi.
Có thể đánh giá thành công lớn nhất của WTO từ khi thành lập đến nay là góp phần duy

trì sự ổn định thế giới. WTO thể chế hoá các quy định điều tiết kinh tế thương mại toàn cầu theo
các nguyên tắc chung do đó tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác và phát triển. WTO giải quyết
vấn đề này thông qua việc giải quyết các xung đột về quyền lợi kinh tế giữa các thành viên làm
hạn chế tối đa khả năng xung đột về quyền lợi kinh tế dẫn tới các xung đột về quân sự.
1.1.2.4. Một số quan điểm khác về vai trò của WTO
Hiện nay vẫn còn một số Tổ chức (như Oxfam, Các tổ chức phi chính phủ - NGOs…) có
quan điểm tương đối khác về mục tiêu và đóng góp của WTO. Họ cho rằng gia nhập WTO hiện
nay của các nước thành viên mới là không công bằng. Một số quan điểm khác cho rằng toàn cầu
hoá hiện nay làm phân hoá sâu sắc hơn chênh lệch giầu nghèo, phân chia lợi ích bất bình đẳng
giữa các nước và các nhóm xã hội, làm nảy sinh các vấn đề khác như ô nhiễm môi trường, xung
đột văn hoá, xã hội…
Tóm lại, mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò và đóng góp của WTO, tuy
nhiên, như Peter Gallagher, tác giả cuốn sách “The first Ten Years of WTO: 1995-2005” nhận
định: “Sau 10 năm thành lập, có thể thấy rõ ràng rằng, nếu không có WTO, thị trường thế giới
sẽ trở nên nhỏ bé hơn, cơ hội thương mại sẽ trở nên ít ỏi hơn, sẽ có ít hơn các quốc gia thành
công từ hội nhập và những nước chậm phát triển sẽ có ít sự lựa chọn hơn cho sự phát triển của
mình”.
1.2.1. Những nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại
Các hiệp định của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lý quy định rất
nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân hàng, viễn thông, thị
trường công, tiêu chuẩn công nghiệp, tính an toàn của sản phẩm, quy định liên quan đến an toàn
vệ sinh của sản phẩm, sở hữu trí tuệ, và còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa… Tuy nhiên, có một số
nguyên tắc đơn giản và cơ bản là kim chỉ nam cho tất cả các lĩnh vực này, và trở thành nền tảng
của hệ thống thương mại đa biên.
1.2.1.1. Thương mại không phân biệt đối xử
 Quy chế tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation): đối xử bình đẳng với các nước
khác.
 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – National Treatment): đối xử bình đẳng giữa sản
phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa.
1.2.1.2. Tự do hóa thương mại: từng bước và bằng con đường đám phán

Một trong những biện pháp hiển nhiên nhất nhằm khuyến khích mậu dịch là giảm bớt các
rào cản thương mại. Các hiệp định của WTO cho phép các quốc gia thành viên từng bước thay
đổi chính sách của mình, thông qua “lộ trình tự do hóa từng bước”.
1.2.1.3. Dễ dự đoán: nhờ ràng buộc cam kết cùng chính sách minh bạch
Đối với WTO, việc các quốc gia thành viên thỏa thuận mở cửa thị trường hàng hóa hay
dịch vụ đồng nghĩa với việc ràng buộc các cam kết. Trong lĩnh vực hàng hóa, ràng buộc cam kết
thể hiện ở mức ấn định mức thuế suất tối đa.
1.2.1.4. Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng
Một số người cho rằng WTO là một thể chế mậu dịch tự do, nhưng điều này không hoàn
toàn chính xác. Hệ thống này cho phép áp dụng thuế nhập khẩu, thậm chí trong một số trường
hợp nhất định, nó còn cho phép áp dụng một số hình thức bảo hộ khác. Như vậy sẽ là chính xác
hơn nếu nói rằng đây là một hệ thống những quy định nhằm đảm bảo cạnh tranh mở, bình đẳng
và không có sai phạm.
1.2.1.5. Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế
Hệ thống của WTO góp phần vào quá trình phát triển của các quốc gia. Tuy nhiên, các
nước đang phát triển cần một thời hạn linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của hệ
thống. Bản thân các hiệp định của WTO ngày nay cũng đều lấy lại những điều lệ của GATT
trước đây, theo đó quy định việc dành một sự trợ giúp đặc biệt và các chính sách thương mại
thuận lợi cho các nước đang phát triển.
1.2.2. Các chính sách thương mại trong WTO
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hoạt động dựa trên các luật lệ và thể hiện qua các
hiệp định đã được đàm phán.
1.2.2.1. Khái quát chung
Các hiệp định của WTO điều chỉnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và sở hữu
trí tuệ. Chúng đề ra những nguyên tắc về tự do hóa và những ngoại lệ được phép áp dụng; nêu lại
cam kết của từng nước về giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác, về mở cửa và duy trì
mở cửa thị trường dịch vụ; quy định thủ tục giải quyết tranh chấp; quy định các nước đang phát
triển phải được đối xử đặc biệt; buộc các chính phủ phải đảm bảo minh bạch trong chính sách
thương mại bằng cách thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các biện pháp được
áp dụng trong nước, song song với các báo cáo định kỳ của Ban thư ký về chính sách thương mại

của các nước.
1.2.2.2. Quy định về Thuế quan
Kết quả quan trọng nhất của Vòng đàm phán Urugoay chính là 22.500 trang danh mục
cam kết của các nước đối với một số loại hàng hóa và dịch vụ cụ thể, nhất là các cam kết giảm
thuế và “xác định mức thuế trần” đối với nhập khẩu hàng hóa. Trong một số trường hợp, thuế
quan được giảm xuống còn không.
1.2.2.3. Quy định về nông nghiệp
Vòng đàm phán Urugoay đã cho ra đời hiệp định đa phương đầu tiên về lĩnh vực nông
nghiệp, bao gồm cam kết tiếp tục cải tổ trên cơ sở tiến hành các cuộc đàm phán mới. Hiệp định
này đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hướng tới lập lại trật tự và cạnh tranh lành mạnh.
Hiệp định về nông nghiệp có mục tiêu cải cách thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp và
củng cố vai trò của thị trường trong việc định hướng thực thi các chính sách. Điều này sẽ giúp
nâng cao khả năng phán đoán và mức độ an toàn cho các nước nhập khẩu cũng như cho các nước
xuất khẩu.
1.2.2.4. Các quy định về tiêu chuẩn, kỹ thuật và an toàn
Điều 20 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) cho phép các nước được
can thiệp vào trao đổi hàng hóa nhằm bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người và động vật
hoặc bảo tồn các loài thực vật, với điều kiện các nước không được phân biệt đối xử và không
được lạm dụng nhằm bảo hộ trá hình. Ngoài ra, WTO có riêng hai hiệp định điều chỉnh mức độ
an toàn của lương thực, sức khỏe và sự an toàn cho các loài động thực vật, cũng như tiêu chuẩn
kỹ thuật đối với một số sản phẩm.
1.2.2.5. Về dệt may
Cũng giống như nông sản, hàng dệt may là một trong những nội dung đàm phán gay gắt
nhất tại WTO cũng như trong hệ thống GATT trước kia. Hiện nay, hàng dệt may đang ở trong
giai đoạn thay đổi căn bản, trải dài trong 10 năm theo một lịch trình đã được đặt ra tại Vòng đàm
phán Urugoay. Hệ thống các hạn ngạch nhập khẩu, từng thống trị buôn bán trong lĩnh vực này từ
đầu những năm 1960, nay đang dần được xóa bỏ.
1.2.2.6. Về dịch vụ
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) là tập hợp đầu tiên và duy nhất những
quy định đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ thế giới. Được đàm phán trong Vòng đàm phán

Urugoay, hiệp định được soạn thảo trong bối cảnh ngành dịch vụ đạt mức tăng trưởng nhanh
chóng trong vòng 30 năm qua và đang có thêm nhiều tiềm năng phát triển nhờ cuộc cách mạng
thông tin.
1.2.2.7. Về sở hữu trí tuệ
Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
(TRIPS) được đàm phán trong Vòng đàm phán Urugoay từ năm 1986 đến năm 1994. Với hiệp định
này, lần đầu tiên những quy định về sở hữu trí tuệ được đưa vào hệ thống thương mại đa biên.
1.2.2.8. Về các biện pháp chống phá giá, trợ cấp, tự vệ
Xác định mức thuế quan trần và áp dụng chúng một cách bình đẳng giữa tất cả các đối tác
thương mại giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của thương mại hàng hóa. Các hiệp định của
WTO khẳng định những nguyên tắc này, nhưng cũng đồng thời cho phép có một số ngoại lệ
trong hoàn cảnh nhất định, đặc biệt là trong ba trường hợp sau:
 Các biện pháp chống bán phá giá
 Trợ cấp và thuế “đối kháng” đặc biệt nhằm vô hiệu hóa tác dụng của trợ cấp
 Các biện pháp khẩn cấp tạm thời hạn chế nhập khẩu nhằm “cứu vãn” các ngành sản xuất
trong nước
1.2.2.9. Về các rào cản phi thuế quan
Có nhiều Hiệp định điều chỉnh những vấn đề kỹ thuật, hành chính hoặc pháp lý gây trở
ngại cho thương mại:
 Cơ chế giấy phép nhập khẩu
 Các quy định về định giá hải quan đối với hàng hóa
 Kiểm hóa trước khi xuất
 Các quy tắc xuất xứ
 Các biện pháp liên quan tới đầu tư
1.2.2.10. Các hiệp định nhiều bên: dành cho một nhóm nhỏ các nước
Tóm lại, kể từ khi ra đời, WTO đã cho thấy vai trò to lớn của mình. Tôn chỉ của WTO là
“nâng cao mức sống, đảm bảo đầy đủ việc làm, nâng cao mạnh mẽ và chắc chắn thu nhập thực tế
và nhu cầu hiệu quả, mở rộng sản xuất, thương mại và dịch vụ, lấy phát triển bền vững làm mục
tiêu, tăng cường sử dụng đầy đủ các nguồn lực của thế giới, bảo vệ và giữ gìn môi trường và
dùng mọi phương thức cần thiết để phù hợp với những trình độ phát triển kinh tế khác nhau, tăng

cường áp dụng hàng loạt biện pháp tương ứng. Đồng thời, phải tích cực nỗ lực để đảm bảo cho
các nước đang phát triển, nhất là các nước chậm phát triển nhất giành được phần tương ứng với
nền kinh tế của mình trong tăng trưởng thương mại quốc tế”. Lịch sử của GATT/WTO là lịch sử
của sự cam kết tự do hóa của các bên ký kết/thành viên của GATT/WTO. GATT từ chỗ chỉ là
một “định chế” với phạm vi điều chỉnh là lĩnh vực thương mại hàng hóa, đến sự ra đời của WTO
với các hiệp định không chỉ có lĩnh vực thương mại hàng hóa mà còn bao gồm cả các lĩnh vực
thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, v.v.
Giờ đây, WTO là khung khổ chưng, mọi thành viên tuân theo quy chế của WTO theo tinh
thần “có đi có lại”. Những nước gia nhập sau ngày càng phải nỗ lực hòa hợp các luật pháp, chính
sách của mình cho phù hợp với WTO. Sau đây, luận văn nghiên cứu trường hợp Trung Quốc
điều chỉnh chính sách thương mại trước và sau khi gia nhập WTO cho phù hợp với nguyên tắc và
luật lệ của WTO.

CHƢƠNG 2: ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC ĐỂ
GIA NHẬP TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO).
Chương 2 tập trung nghiên cứu những điều chỉnh trong hệ thống các chính sách thương
mại của Trung Quốc từ khi Trung Quốc nộp đơn gia nhập WTO (1986) đến khi Trung Quốc
được kết nạp vào WTO (tháng 11/2001).
2.1. Mở rộng quyền hoạt động thƣơng mại và phân cấp quản lý hoạt động thƣơng mại
Nội dung chủ yếu của cuộc cải cách này là nới lỏng quyền kinh doanh ngoại thương,
giảm các hàng rào thuế quan và phi quan thuế, điều chỉnh chính sách quản lý xuất nhập khẩu,
hoàn thiện công tác quản lý vĩ mô của ngoại thương. Qua vài năm cải cách nới rộng quyền kinh
doanh, một cục diện mới đã hình thành với các doanh nghiệp ngoại thương.
2.2. Chính sách tự do hóa thƣơng mại
Từ năm 1992 trở đi, Trung Quốc tăng tốc độ tự do hóa thương mại. Chính sách tự do hóa
thương mại trong thời kỳ này tập trung vào hai lĩnh vực: giảm mạnh thuế quan, giảm hàng rào
phi thuế quan.
2.2.1. Giảm hàng rào thuế quan
Theo yêu cầu của việc gia nhập WTO, Trung Quốc đã quyết định từng bước hạ mức thuế
trong vòng vài năm xuống mức trung bình.

2.2.2. Giảm các hàng rào phi thuế quan
Qua tiến trình tự do hóa thương mại, hệ thống bảo hộ mậu dịch nghiêm ngặt cao độ truyền thống
của Trung Quốc đang thực thi hiện nay đã dần dần bị phá vỡ
2.2.3. Chính sách quản lý nhập khẩu
Theo tinh thần cải cách thể chế ngoại thương, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh quản
lý nhập khẩu bằng quản lý hạn ngạch nhập khẩu, quản lý giấy phép nhập khẩu, quản lý kinh
doanh đối với hàng nhập khẩu.
2.3. Hoàn thiện công tác quản lý vĩ mô đối với ngoại thƣơng
2.3.1. Kiện toàn hệ thống pháp luật
Năm 1994, Trung Quốc đã ban hành “Luật ngoại thương nước CHND Trung Hoa” và
“Điều lệ quản lý hàng hóa nhập khẩu”. Tương ứng với những điều lệ và pháp quy như “Điều lệ
quản lý hàng hóa xuất khẩu”, “Điều lệ chống bán đổ bán tháo” cũng lần lượt ra đời. Sự ban
hành của các pháp quy này sẽ làm cho ngoại thương Trung Quốc triển khai hoạt động theo quy
tắc Thương mại Quốc tế trong điều kiện cạnh tranh quốc tế, bảo đảm cho ngoại thương Trung
Quốc phát triển thuận lợi.
2.3.2. Vấn đề chống phá giá
Năm 1997, Trung Quốc đã ban hành Điều lệ chống bán phá giá và chống trợ cấp hàng
nhập khẩu từ nước ngoài. Điều lệ này gồm 42 điều xem xét việc đánh thuế đối với các mặt hàng
ế thừa và được hưởng trợ cấp của chính phủ nước ngoài nhập khẩu và bán phá giá ở Trung Quốc;
hướng dẫn các công ty trong nước cách thức thưa kiện về những vụ tranh chấp; các biện pháp
“trả đũa” với hành vi phá giá và áp dụng các mức thuế mang tính kỳ thị đối với hàng hoá của
Trung Quốc
2.3.3. Vấn đề chống độc quyền
Chống độc quyền là vấn đề rất quan trọng nhằm thực hiện thương mại công bằng trên cơ
sở cạnh trạnh lành mạnh. Ngay từ đầu thập kỷ 1980, Trung Quốc đã có các chính sách nhằm hạn
chế độc quyền, nhưng phạm vi vẫn còn hạn hẹp
2.3.4. Về mua sắm của chính phủ
Vấn đề thương mại hoá và minh bạch trong mua sắm của chính phủ là một trong những nội
dung quan trọng trong các quy định của WTO. Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến vấn đề này từ giữa thập kỷ
1990 khi áp dụng chế độ đấu thầu công cộng đối với mua sắm hàng hoá của một số cơ quan chính phủ

Như vậy, gia nhập WTO, Trung Quốc sẽ có được một khuôn khổ chính sách rõ ràng để
tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn nữa nền kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

CHƢƠNG 3: ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC ĐỂ
THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỚI WTO VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT
NAM.
Trong phần này, luận văn sẽ tập trung phản ánh về quá trình điều chỉnh chính sách
thương mại của Trung Quốc từ sau khi gia nhập WTO và đưa ra những kinh nghiệm của Trung
Quốc trong quá trình điều chỉnh chính sách thương mại mà Việt Nam có thể tham khảo.
3.1. Những cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc.
Trong khuôn khổ WTO, Trung Quốc đã đưa ra gần 700 cam kết, tập trung vào 7 nhóm
ngành cụ thể như sau: Nông nghiệp; Công nghiệp ô tô; Năng lượng - dầu mỏ; Ngân hàng; Bảo
hiểm; Viễn thông; Các dịch vụ internet và truyền thông. Ngoài ra, Trung Quốc cũng cam kết bãi
bỏ hệ thống quản lý bằng hạn ngạch, thực hiện các thỏa thuận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
ngay sau khi gia nhập WTO.
3.2. Những điều chỉnh trong chính sách thƣơng mại của Trung Quốc sau khi gia nhập
WTO
Gồm có các điều chỉnh sau:
Thứ nhất, điều chỉnh thể chế luật pháp
Thứ hai, thực hiện nhiều biện pháp, chính sách thuế thúc đẩy xuất khẩu hàng có giá trị gia tăng
cao và công nghệ cao
Thứ ha, hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu, khai thác thị trường nước ngoài
Thứ tư, thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao và xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài
Thứ năm, chủ động đối phó với các vấn đề tranh chấp thương mại
3.3. Những kết quả to lớn và toàn diện
Với những chính sách điều chỉnh tích cực và kịp thời trên, về cơ bản, có thể thấy nền
kinh tế Trung Quốc đã chuyển biến một cách mạnh mẽ và theo hướng tích cực. Sau hơn 5 năm
trở thành thành viên của WTO. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này của Trung Quốc
đạt mức cao nhất trong lịch sử, nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô không ngừng được cải thiện đã tạo

ra những động lực mới cho sự phát triển.
3.4. Những thách thức còn tồn tại
Bên cạnh những thành tựu to lớn nêu trên, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với một số thách
thức lớn:
Thứ nhất, phương thức quản lý kinh tế của nhà nước vẫn chưa hoàn toàn thích ứng với tình
hình mới, việc ứng phó của các khu vực và các ngành nghề khác nhau vẫn chưa đồng đều và đủ
mạnh
Thứ hai, nền kinh tế Trung Quốc có nhiều biểu hiện bị quá nóng dù nhà nước đã sử dụng
nhiều biện pháp ngăn chặn và hạ nhiệt
Thứ ba, thương mại quốc tế của Trung Quốc bị đe dọa bởi chính sách bảo hộ thương mại
của các nước và sự vi phạm của bản thân Trung Quốc.
Thứ tư, sức ép mở cửa thị trường đối với nền kinh tế tăng lên trước vòng đàm phán thương
mại đa phương mới trong tình trạng sức cạnh tranh của các ngành nghề còn hạn chế
Thứ năm, kinh tế các vùng miền tiếp tục phát triển không cân bằng
Thứ sáu, vấn đề giải quyết việc làm còn nhiều khó khăn.
3.5. Những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc điều chỉnh chính sách thƣơng mại
trƣớc và sau khi gia nhập WTO
Một là, Thống nhất quan điểm, nâng cao nhận thức về WTO
Hai là, Sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO
Ba là, Thực hiện cắt giảm các hàng rào thương mại theo cam kết
Bốn là, Cải cách thể chế kinh tế thị trường
Năm là, Cải cách chính phủ
Sáu là, Cải cách doanh nghiệp
Bảy là, Áp dụng các biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu
Tám là, Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chín là, Đối phó với các sự cố phát sinh sau khi gia nhập
Mười là, Coi trọng ổn định chính trị, xã hội
Mười một là, Giải quyết các vấn đề an sinh xã hội
3.6. Một số nhận xét, đánh giá và những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo
Tóm lại, Trung Quốc và Việt Nam đều là hai nước đang phát triển. Trung Quốc gia nhập

WTO trước chúng ta 5 năm. Từ kinh nghiệm của Trung Quốc khi gia nhập WTO ta cần làm một
số việc sau:
Một là, cần tổ chức nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, phổ biến kiến thức về WTO
rộng rãi trong người dân, đặc biệt là trong cán bộ liên quan tới kinh tế đối ngoại và các doanh
nghiệp, để hội nhập một cách tự tin, chủ động.
Hai là, không nên ỷ lại vào những thuân lợi của giai đoạn quá độ, mà phải tranh thủ nắm thời
cơ, có chiến lược ứng phó căn bản lâu dài để hạn chế những mặt trái của việc gia nhập WTO và hội
nhập kinh tế quốc tế nói chung.
Ba là, nhà nước cần chú ý nhiều hơn nữa đến việc hoàn thiện pháp luật, cải tiến thủ tục hành
chính, cải tạo “môi trường mềm” cho thương mại và đầu tư quốc tế, tránh tình trạng có tiềm năng lớn
nhưng đắt đỏ, rủi ro cao.
Bốn là, để bảo vệ hàng hóa và các ngành nghề trong nước trước sự cạnh tranh của nước
ngoài, Việt Nam cần tăng cường nghiên cứu luật chống bán phá giá của WTO và của các nước,
ban hành luật chống bán phá giá của nước mình đối với hàng hóa nhập khẩu của nước ngoài. Cần
học tập Trung Quốc trong việc thương thảo và hầu kiện, học hỏi cách làm việc trong WTO,
nhằm khai thác tối đa các quy tắc xét thấy có lợi cho mình.
Năm là, nhanh chóng điều chỉnh chính sách ngành nghề, nâng cao năng lực sản xuất và
sức cạnh tranh của các ngành nghề. Cần chú trọng chuyển đổi cơ cấu, phát triển các sản phẩm có
lợi thế so sánh, xây dựng hệ thống thương hiệu sản phẩm Việt Nam, tích cực đào tạo nhân lực,
mạnh dạn thuê các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao (kể cả từ nước ngoài) đóng góp cho
những ngành nghề có lợi thế nhưng còn yếu kém trong cạnh tranh quốc tế như bảo hiểm, ngân
hàng, chứng khoán, viễn thông.

KẾT LUẬN
Những điều chỉnh trong chính sách thương mại thời kỳ trước và sau khi gia nhập WTO
đến nay đã đưa nền kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trưởng, hiệu quả kinh tế được cải thiện
nhiều nhất từ trước đến nay. Về cơ bản Trung Quốc đã đạt được các tiêu thức điều chỉnh đặt ra.
Nền kinh tế của Trung Quốc đã có sự chuyển biến rõ rệt, chuyển biến về thể chế kinh tế kế hoạch
sang thể chế kinh tế thị trường XHCN, chuyển biến về phương thức tăng trưởng kinh tế từ số
lượng sang chất lượng. Như vậy, có thể kết luận rằng Trung Quốc đã tương đối thành công trong

điều chỉnh chính sách thương mại trước và sau khi gia nhập WTO.
Sở dĩ việc điều chỉnh chính sách thương mại sau khi gia nhập WTO tương đối thành công
là do Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh trong bối cảnh xây dựng được mục tiêu chiến lược lớn
lao “xây dựng thể chế kinh tế thị trường có đặc sắc Trung Quốc”. Do vậy, việc điều chỉnh chính
sách thương mại trước và sau khi gia nhập WTO đã đặt ra yêu cầu mới trước đây chưa từng có.
Trên thực tế, đó là sự chuyển đổi tổng thể về phương thức tăng trưởng kinh tế và xây dựng thể
chế kinh tế mới và điều chỉnh các mâu thuẫn tích lũy lâu dài, mất cân đối trong phát triển kinh tế
suốt quá trình hơn 50 năm qua của Trung Quốc, kể từ ngày nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
được thành lập đến nay.
Với các chính sách điều chỉnh trên, sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc được tăng lên rõ
rệt. Trung Quốc đã có một cơ sở vật chất tương đối hùng hậu, dự trữ lương thực, ngoại tệ dồi
dào, tiềm lực thị trường trong nước to lớn, không gian phát triển tương đối rộng. Kinh tế Trung
Quốc đang đi vào thời kỳ phát triển ổn định. Cải cách thể chế kinh tế đi vào chiều sâu hơn trước,
đảm bảo cho nền kinh tế duy trì tốc độ phát triển nhanh liên tục, đạt chất lượng và sức cạnh tranh
cao. Với sự lớn mạnh của nền kinh tế và đặc biệt sau khi gia nhập WTO, việc điều chỉnh chính
sách của Trung Quốc đã thực sự tác động tới thế giới, khu vực, trong đó có Việt Nam. Bài học
kinh nghiệm quan trọng nhất cho Việt Nam khi Trung Quốc gia nhập WTO là chuẩn bị kỹ lưỡng,
nắm chắc thời cơ thuận lợi do giai đoạn quá độ đem lại, nên đã củng cố được nhiều mối quan hệ
quốc thế , nâng cao được tiềm lực kinh tế và sức cạnh tranh quốc tế cho mình.
Gia nhập WTO là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá
thương mại và lợi ích quốc gia. Hầu hết các nước sau khi gia nhập WTO đều có sự cải thiện về
kinh tế, thương mại và đầu tư ở mức độ khác nhau. Gia nhập WTO sẽ tạo cơ hội cho phát triển
kinh tế, nâng cao thu nhập thông qua tăng trưởng thương mại, thu hút đầu tư, cải cách thể chế.
Việt Nam tận dụng cơ hội này đến đâu, vượt qua các thử thách để biến cơ hội thành hiện thực
hoàn toàn phụ thuộc vào cải cách bên trong, quyết sách của Chính phủ. Vì vậy, để thành công
Việt Nam phải tạo được sự phát triển đúng đắn, đầy đủ một nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, cải cách được hệ thống hành chính, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc, chủ
động nắm bắt thời cơ, thuận lợi do quá trình hội nhập đem lại, thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu kinh tế
và tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế.


References
1. TS. Nguyễn Kim Bảo (chủ biên): “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai
đoạn 1992-2010)”. NXB. KHXH, 2004.
2. Hồ An Cương (Chủ biên): “Trung Quốc – Những chiến lược lớn”. NXB Thông tấn, Hà Nội
2003.
3. GS. Cốc Nguyên Dương (2006), “Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI: Phát triển và hợp
tác”. Nghiên cứu Trung Quốc, số 1 (65).
4. Jonh H. Jackson: “Hệ thống thương mại thế giới – Luật và chính sách về các quan hệ kinh tế
quốc tế”. NXB Thanh niên, 2001.
5. Lý Thành Huân (Chủ biên): “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc 1996-
2050”. NXB Bắc Kinh 1997. Bản dịch của Viện nghiên cứu Tài chính, 1999.
6. Lưu Lực (chủ biên): “Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc”. NXB. KHXH, tháng 1-1999.
7. Lưu Lực: “Toàn cầu hóa kinh tế - Lối thoát của Trung Quốc là ở đâu?” NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội 2002.
8. TSKH. Võ Đại Lược (chủ biên): “Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – Thời
cơ và thách thức”. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội-2004
9. Nguyễn Anh Minh: “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu sau gia nhập WTO của Trung Quốc”. Tạp
chí Những vấn đề KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI, Số 7 (123) – 2006.
10. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa XV Đảng Cộng sản Trung
Quốc. Về một số vấn đề quan trọng của cải cách và phát triển doanh nghiệp quốc hữu. Bản dịch
của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội, 1999.
11. An Nguyên: “Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO”. Tạp chí Ngoại thương, Số 35 ngày
11-20/12/2006.
12. TS. Nguyễn Trần Quế “Phát triển kinh tế ngoài quốc hữu và vấn đề hỗ trợ khu vực doanh
nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh sau khi gia nhập WTO ở Trung Quốc”. Tạp chí Những vấn
đề KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI, Số 7 (123) – 2006; “Sau khi gia nhập WTO Trung
Quốc tiếp tục tăng cường điều chỉnh và cải cách doanh nghiệp nhà nước”. Nghiên cứu Trung
Quốc số 4 (68) – 2006.
13. Đỗ Tiến Sâm, Lê Văn Sang (chủ biên): “Trung Quốc gia nhập WTO và tác động đối với
Đông Nam Á”, NXB. Khoa học xã hội, 2002.

14. PGS.TS. Lê Văn Sang: “Phân tích tình hình kinh tế Trung Quốc 2001-2004 và dự báo khả
năng phát triển 2005-2010. Những gợi ý đối với Việt Nam”. Nghiên cứu Trung Quốc, số 4 (62) –
2005.
15. Phạm Ngọc Thạch: “Trung Quốc với việc thực thi các cam kết với WTO – Một số thách thức đối
với hệ thống pháp luật”. Nghiên cứu Trung Quốc, Số 1 (47) – 2003.
16. PGS. TS. Bùi Tất Thắng: “WTO thường thức”. NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội – 2006.
17. Supachai Panitchpakdi & Mark L.Cliford: “Trung Quốc và WTO - Trung Quốc đang thay
đổi, thương mại thế giới đang thay đổi”. NXB Thế giới, Hà Nội – 2002.
18. TS. Lê Kim Sa: “Tác động kinh tế - xã hội của việc Trung Quốc gia nhập WTO: Tổng quan
một số nghiên cứu”. Tạp chí Những vấn đề KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI, Số 8 (124) –
2006.
19. Lý Kinh Văn: “Kinh tế Trung Quốc bước vào thế kỷ XXI”. NXB. Chính trị quốc gia, 1998.
20. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế: “Tìm hiểu Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO)”. NXB Chính trị quốc gia, 2004.
21. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương và UNDP: “Chính sách phát triển kinh tế - Kinh
nghiệm và bài học của Trung Quốc”. Bộ 3 tập, NXB Giao thông vận tải, 2004.
22. Thời báo Kinh tế Trung Quốc ngày 11-12-2001: “ Một số vấn đề về Trung Quốc sau khi gia
nhập WTO”.
23. Tạp chí Kinh tế Trung Quốc, quyển 29, số 4, tháng 7-8 năm 2002 (Bản điện tử): “Những nỗ
lực thực thi cam kết WTO của Trung Quốc”.
Website:






/>WTO/40048030/159/


×