Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi nsnn tại kbnn hoàn kiếm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (606.72 KB, 73 trang )

Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Kho bạc Nhà nước (KBNN) là một trong những cơ quan thực hiện các
chính sách của Nhà nước trong việc điều hành vĩ mô nền kinh tế với chức
năng trung tâm là quản lý quỹ NSNN- là bộ phận cơ bản của tài chính Nhà
nước. KBNN thực hiện cấp phát, thanh toán các khoản kinh phí từ NSNN cho
các đơn vị thụ hưởng NSNN có mở tài khoản tại KBNN, đồng thời quan trọng
hơn là kiểm soát chặt chẽ các khoản chi đó tại KBNN.
Từ khi ban hành Luật ngân sách, quản lý chi NSNN đã có những bước
tiến quan trọng, bước đầu tạo ra những biến đổi sâu sắc cả về nhận thức lý
luận cũng như thực tiễn và đạt được những thành tựu quan trọng: xoá bỏ tình
trạng bao cấp qua ngân sách tăng thu, giảm chi hạn chế đi đến xoá bỏ phát
hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách, dần dần đẩy lùi và kiềm chế lạm phát,
tạo ra bầu không khí mới cho nền kinh tế- xã hội trong nước.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình quản lý
quỹ NSNN nói chung và quản lý NSNN nói riêng còn có nhiều hạn chế, hàng
năm vẫn còn nhiều khoản chi sai mục đích gây thất thoát, lãng phí cho
NSNN. Vấn đề này đang được Đảng và Nhà nước quan tâm ngày càng hoàn
thiện hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của ngành Kho bạc. Vì vậy yêu cầu đổi
mới hoạt động của KBNN trong công tác quản lý, cấp phát thanh toán các
khoản chi NSNN đặt ra hết sức cấp thiết và cấp bách.
Xuất phát từ những hiểu biết như trên và từ thực trạng kiểm soát chi tại
KBNN Hoàn Kiếm, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ trong
KBNN Hoàn Kiếm cộng với sự ủng hộ và hướng dẫn tỉ mỉ và chặt chẽ của cô
giáo Trần Thanh Tú, em xin chọn luận văn: “Một số giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN tại KBNN Hoàn Kiếm” với mục
đích hiểu rõ cơ chế kiểm soát chi NSNN qua KBNN, đánh giá những kết quả
đạt được và hạn chế đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của quá trình này trong công tác quản lý NSNN tại KBNN.
NguyÔn Ngäc Thanh 1 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính


Đối tượng quản lý chủ yếu là công tác quản lý cấp phát, thanh toán các
khoản chi ngân sách Nhà nước qua KBNN trên địa bàn quận Hoàn Kiếm.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp tổng hợp giữa lý
luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề kiểm soát chi, phương pháp thống kê
và phân tích số liệu.
Kết cấu của luận văn: Ngoài lời mở bài, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo. Nội dung chương: của luận văn được kết cấu làm 3 phần
Chương I: Tổng quan về kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho
bạc Nhà nước.
Chương II: Thực trạng công tác kiểm soát chi tại KBNN Hoàn
Kiếm.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi
NSNN tại KBNN Hoàn Kiếm.
Bài luận văn này đã có sự chuẩn bị khá kỹ lưỡng nhưng đây là một đề
tài tương đối khó nên chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn bè để tiếp tục hoàn chỉnh
luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Thanh.
NguyÔn Ngäc Thanh 2 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC.
1.1 Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước.
1.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một hệ thống các mối quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử
dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng
quản lý điều hành nền kinh tế xã hội, đồng thời NSNN thực hiện cân đối các

khoản thu chi.
Ngân sách Nhà nước ra đời và phát triển với tư cách là một phạm trù
gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và tồn tại, phát triển của nền kinh tế
hàng hóa tiền tệ. NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực của Nhà nước.
Điều 1 luật NSNN của nước Việt Nam có nêu rõ: “ NSNN là toàn bộ
các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Do vậy NSNN là công cụ điều khiển vĩ
mô nền kinh tế của Nhà nước, Nhà nước chỉ có thể thực hiện điều khiển nền
kinh tế có hiệu quả khi nền tài chính được đảm bảo.
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm chi Ngân sách Nhà nước.
a) Khái niệm chi Ngân sách Nhà nước.
Từ khái niệm NSNN nêu trên cho thấy chi NSNN là một trong hai nội
dung chủ yếu của NSNN.
Điều 2 luật NSNN ghi rõ: “ Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát
triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo bộ máy hoạt động
của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo qui định của pháp
luật”.
NguyÔn Ngäc Thanh 3 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Như vậy, chi NSNN là tổng thể các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá
trị phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quĩ NSNN theo nguyên tắc
không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội do Nhà
nước đảm nhiệm.
Quá trình chi trả, cấp phát quĩ NSNN được hiểu là quá trình cấp vốn từ
NSNN với đặc trưng là số vốn cung cấp đó có thể được hình thành từ các loại
quĩ khác nhau trước khi chúng được đưa vào sử dụng. Thông thường giữa
thời gian cung cấp và thời gian sử dụng có khoảng cách nhất định.
Tóm lại chi NSNN có thể hiện trong hai quá trình: Quá trình phân phối

và quá trình sử dụng tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ của
Nhà nước.
b) Đặc điểm chi NSNN.
Chi NSNN qua mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi chế độ xã hội, mỗi một cơ
chế kinh tế có cơ cấu và nội dung khác nhau nhưng đều có một đặc điểm
chung sau:
 Chi NSNN phải gắn chặt với bộ máy quản lý Nhà nước và những
nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trước mỗi một
Quốc gia. Vì vậy, bộ máy càng lớn, thực hiện càng nhiều nhiệm vụ thì mức
độ, phạm vi của NSNN càng lớn.
 Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết
định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi NSNN vì cơ quan đó quyết định
các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Ở nước ta Quốc hội
là cơ quan quyền lực cao nhất để quyết định nhiệm vụ cũng như quyết định cơ
cấu chi NSNN.
 Hiệu quả các khoản chi NSNN phải được xem xét toàn diện dựa vào
kế hoạch hoàn thành các mục tiêu kinh tế -xã hội và các khoản chi NSNN
đảm nhiệm.
 Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp.
NguyÔn Ngäc Thanh 4 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
 Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù
kinh tế khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, các phạm trù
thuộc lĩnh vực tiền tệ. Nhận thức rõ mối quan hệ này có ỹ nghĩa quan trọng
trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chính sách Ngân sách với chính sách tiền tệ,
thu nhập trong quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
1.1.3 Phân loại chi:
 Theo tính chất phát sinh.
- Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối sử dụng vốn từ quỹ
NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ

thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.
- Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng một phần
vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng
hoá nhằm đảm bảo các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
 Theo các cấp Ngân sách.
- Chi Ngân sách Trung ương.
- Chi Ngân sách Thành phố.
- Chi Ngân sách Quận- Huyện.
- Chi Ngân sách Xã- Phường.
 Xét theo việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.
- Chi phát triển kinh tế: Đây là một nội dung chi cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn,
chủ yếu tập trung giải quyết những vấn đề mang tính chất vĩ mô. Khoản chi
này không chỉ phục vụ cho từng vùng, từng ngành mà đứng trên giác dộ toàn
bộ nền kinh tế quốc dân nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hay duy
trì sự phát triển ở mức cần thiết. Chi thuộc loại này bao gồm: chi về xây dựng
cơ vản, chi dự trữ, chi cho vốn lưu động, chi tạo lập các quĩ cho vay hỗ trợ
với mức lãi suất ưu đãi như chương trình 120, chương trình 327…
- Chi quản lý hành chính: Khoản chi này được sử dụng để duy trì hoạt động
của bộ máy Nhà nước, dành cho quản lý hành chính Nhà nước đối với các cơ
NguyÔn Ngäc Thanh 5 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và hỗ trợ đối với các tổ chức Đảng, tổ chức
đoàn thể.
- Chi sự nghiệp văn xã: Đây là các khoản chi nhằm mục đích hỗ trợ từ nguồn
vốn NSNN cho các hoạt động cần thiết của xã hội đáp ứng nhu cầu tinh thần
của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí và cải thiện đời sống nhân dân. Đó là
các khoản chi cho giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao, văn hoá nghệ thuật,
thông tấn báo chí, phát thanh truyền hình … Các khoản chi này cũng nhằm
duy trì, xây dựng và phát triển các tổ chức và hoạt động thuộc ngành văn hoá

xã hội.
- Chi an ninh quốc phòng: là các khoản chi nhằm duy trì và tăng cường lực
lượng quốc phòng an ninh để phòng thủ và bảo vệ đất nước bảo vệ trật tự an
ninh xã hội. Các khoản chi này bao gồm: chi cho xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật, chi mua sắm trang thiết bị, vũ khí, đạn dược, chi lương, phụ cấp, sinh
hoạt phí, chi cho hoạt động huấn luyện, dân quân du kích…
- Chi khác của NSNN như chi trả nợ vay, viện trợ , phúc lợi xã hội…
 Theo phương thức chi qua KBNN.
- Chi trên cơ sở dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách nhà nước được lập hàng năm căn cứ và nhiệm vụ
kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh.Do đó các khoản chi trong dự
toán phải được xác định dựa trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và
đảm bảo quốc phòng an ninh.
Đối với chi đầu tư phát triển việc lập dự toán phải căn cứ vào quy
hoạch, chương trình, dự án đầu tư đã có quyết định của cấp có thẩm quyền,
ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai thực hiện các chương
trình, dự án.
Đối với chi thường xuyên việc lập dự toán phải căn cứ vào nguồn thu
từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định.
Đối với chi trả nợ phải căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ của năm lập dự toán
NguyÔn Ngäc Thanh 6 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Chi bằng lệnh chi tiền:
Chi dựa theo hình thức cấp phát trực tiếp cho đối tượng được hưởng,
không bắt buộc nhập vào một tài khoản để KBNN quản lý như hình thức cấp
phát theo hạn mức. Hình thức này thường được sử dụng trong lĩnh vực vốn
đầu tư xây dựng cơ bản, cấp phát vốn lưu động, cấp phát các khoản chi đột
xuất của Nhà nước hoặc các đơn vị không có quan hệ thường xuyên với ngân
sách nhà nước.

 Theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn.
- Chi tích luỹ: là khoản chi gắn liền với tái sản xuất mở rộng và xây dựng cơ
sở vật chất của nền kinh tế, tăng thu nhập quốc dân và tích luỹ tiền tệ trong
nền kinh tế, bao gồm chi xây dựng cơ bản trong lĩnh vực sản xuất vật chất và
phi vật chất, chi vốn lưu động, chi xây dựng quỹ dự trữ vật tư và chi cho dài
hạn đối với kinh tế tập thể.
- Chi tiêu dùng: là các khoản chi phục vụ cho mục đích tiêu dùng: gồm chi sự
nghiệp kinh tế, văn hoá xã hội, một bộ phận chi về quốc phòng và bảo vệ anh
ninh, chi quản lý hành chính và các khoản chi tiêu khác.
1.2 Công tác kiểm soát chi NSNN tại KBNN.
1.2.1 Nguyên tắc chung về kiểm soát chi NSNN.
 Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước,
trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự
toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền qui định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí
NSNN chuẩn chi.
 Tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án… sử dụng kinh phí NSNN
phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài
chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, hạch
toán kế toán và quyết toán NSNN.
 Bộ tài chính, Sở tài chính- Vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc TW,
Phòng tài chính Quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là
NguyÔn Ngäc Thanh 7 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
cơ quan tài chính) có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo hạn mức
kinh phí quí cho các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách. Kiểm tra việc sử
dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán
chi NSNN.
 KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi
và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng qui

định; tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm
quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi
NSNN qua Kho bạc của các đơn vị sử dụng NSNN.
KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán chi trả và thông báo cho các
đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng thời gửi cho cơ quan tài chính đồng cấp giải
quyết trong các trường hợp sau:
- Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt.
- Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính Nhà nước.
- Không đủ các điều kiện chi theo qui định.
 Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo
từng niên độ Ngân sách, từng cấp ngân sách và theo mục lục NSNN. Các
khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật ngày công lao động được qui đổi và
hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày
công lao động do cơ quan có thẩm quyền quyết định.
 Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN các khoản
chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính
hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. KBNN thực hiện việc
thu hồi giảm chi NSNN.
 Việc quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi đầu tư xây dựng cơ
bản, chi đặc biệt ( chi quốc phòng, an ninh), chi của cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài và chi Ngân sách xã, Bộ tài chính có văn bản hướng dẫn
riêng.
NguyÔn Ngäc Thanh 8 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
1.2.2 Cấp phát thanh toán.
1.2.2.1 Điều kiện cấp phát thanh toán.
KBNN chỉ thực hiện cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN khi có
đủ các điều kiện sau:
 Khoản mục đã có trong dự toán chi NSNN năm được duyệt.
Trong trường hợp chưa có dự toán NSNN chính thức được duyệt, việc

cấp phát, thanh toán căn cứ vào kinh phí tạm cấp của cơ quan tài chính.
Trường hợp có các khoản chi đột xuất ngoài dự toán được duyệt nhưng
không thể trì hoãn được, như khắc phục chi hậu quả thiên tai, hoả hoạn…,
việc cấp phát, thanh toán được căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền.
 Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu NSNN do Chính phủ
hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Định mức, tiêu chuẩn chi tiêu là các giới hạn tối đa các mức chi tiêu
cho một mục đích cụ thể của đơn vị sử dụng kinh phí NSNN được cơ quan
chức năng có thẩm quyền ban hành. Định mức, tiêu chuẩn chi là căn cứ quan
trọng để lập kế hoạch dự toán chi NSNN hằng năm và là căn cứ để kiểm soát
chi NSNN.
Những khoản chi đã có định mức tiêu chuẩn thì dự toán ngân sách của
các đơn vị phải tuân theo định mức tiêu chuẩn đó và KBNN căn cứ vào tiêu
chuẩn định mức để kiểm soát. Khi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt thì KBNN căn cứ vào dự toán được cơ quan cấp
trên trực tiếp của đơn vị sử dụng NSNN phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát.
 Đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng cơ quan đơn vị sử
dụng kinh phí NSNN hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi.
Đối với các khoản chi đã được cơ quan tài chính cấp trực tiếp thì lệnh
chuẩn chi là “lệnh chi tiền” của cơ quan tài chính. Cơ quan tài chính có trách
nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoản chi, bảo đảm
các điều kiện cấp phát NSNN theo qui định. KBNN có trách nhiệm thanh
NguyÔn Ngäc Thanh 9 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
toán, chi trả cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN theo nội dung ghi rõ
trong “lệnh chi tiền” của cơ quan tài chính.
 Có đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan.
Tuỳ tính chất của từng khoản chi, các hồ sơ, chứng từ thanh toán bao
gồm:
- Đối với các khoản chi lương và phụ cấp lương:

* Bẳng đăng ký biên chế, quỹ lương được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt.
* Danh sách những người hưởng lương và phụ cấp lương.
* Bảng thanh toán tiền lương tháng trước.
* Bảng tăng giảm biên chế và quĩ tiền lương được cấp có thẩm quyền phê
duyệt (nếu có).
- Đối với học bổng, sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên:
* Bảng đăng ký học bổng, sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên được cấp có
thẩm quyền phê duyệt.
* Bảng thanh toán học bổng, sinh hoạt phí tháng trước.
- Đối với các khoản chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm
việc, sửa chữa nhỏ:
* Dự toán mua sắm, xây dựng, sửa chữa nhỏ hàng quí được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
* Hồ sơ, biên bản đấu thầu đối với việc mua sắm trang thiết bị, phương tiện
làm việc, xây dựng, sửa chữa ( với các trường hợp phải thực hiện đấu thầu
theo qui định).
* Hợp đồng mua bán, hàng hoá, dịch vụ.
* Phiếu báo giá của đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
* Hoá đơn bán hàng vật tư, thiết bị.
* Thông báo giá về xây dựng, sửa chữa của cơ quan có thẩm quyền.
* Các hồ sơ, chứng từ khác có liên quan như séc, uỷ nhiệm chi…
- Đối với các khoản chi thường xuyên khác:
NguyÔn Ngäc Thanh 10 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
* Dự toán chi thường xuyên quý (có chia ra tháng).
* Bảng kê chứng từ chi có chữ ký thủ trưởng, kế toán trưởng đơn vị (hoặc
người được uỷ quyền).
* Báo cáo thanh toán các khoản chi thường xuyên tháng trước theo mục
chi.

1.2.2.2 Phương thức cấp phát thanh toán
Việc cấp phát, thanh toán được thực hiện dưới hai hình thức là cấp tạm
ứng và cấp thanh toán.
 Cấp tạm ứng.
a) Đối tượng cấp tạm ứng:
- Chi hành chính.
- Chi mua sắm tài sản, sửa chữa, xây dựng nhỏ chưa đủ điều kiện cấp
phát, thanh toán trực tiếp hoặc tạm ứng theo hợp đồng.
b) Mức cấp tạm ứng.
Mức cấp tạm ứng tuỳ thuộc vào tính chất của từng khoản chi theo đề
nghị của đơn vị sử dụng kinh phí NSNN; mức cấp tạm ứng tối đa trong quý,
tháng không vượt quá hạn mức chi quý, tháng được cơ quan có thẩm quyền
thông báo theo từng mục chi.
c) Trình tự thủ tục cấp tạm ứng.
 Đơn vị sử dụng kinh phí NSNN lập “giấy đề nghị tạm ứng” gửi
KBNN kèm theo hồ sơ, tài liệu liên quan, cụ thể:
• Đối với các khoản lương, phụ cấp lương: theo quy định đã được
trình bày ở như trên.
• Đối với học bổng, sinh hoạt phí: theo quy định như đã được trình
bày ở trên.
• Đối với chi mua sắm tài sản, xây dựng, sửa chữa nhỏ:
* Dự toán mua sắm, xây dựng, sửa chữa nhỏ hàng quí được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
NguyÔn Ngäc Thanh 11 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
* Hồ sơ, biên bản đấu thầu đối với việc mua sắm trang thiết bị, phương tiện
làm việc, xây dựng, sửa chữa ( với các trường hợp phải thực hiện đấu thầu
theo qui định).
* Hợp đồng mua bán, hàng hoá, dịch vụ.
 Đối với các khoản chi thường xuyên khác:

* Dự toán chi thường xuyên quý (có chia ra tháng).
* Báo cáo thanh toán các khoản chi thường xuyên (theo các mục chi) của
tháng trước đó.
 Các chứng từ khác có liên quan như: giấy rút hạn mức kinh phí, uỷ
nhiệm chi, séc.
 KBNN kiểm tra, kiểm soát các nội dung hồ sơ, tài liệu và làm thủ
tục cấp tạm ứng cho đơn vị.
d) Thanh toán tạm ứng.
- Sau khi đã thực chi, đơn vị có trách nhiệm gửi đến KBNN các hồ sơ,
chứng từ chi có liên quan để thanh toán số đã tạm ứng và làm thủ tục chuyển
từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán
- KBNN kiểm tra, kiểm soát báo cáo thực chi của đơn vị, nếu đủ điều
kiện qui định thì thực hiện cấp phát thanh toán, thu hồi tạm ứng.
+ Nếu số cấp phát thanh toán lớn hơn số tạm ứng, KBNN sẽ giảm trừ
vào số cấp tạm ứng hoặc cấp phát thanh toán đợt sau của mục chi đó.
+ Nếu số cấp thanh toán nhỏ hơn số cấp tạm ứng, KBNN sẽ bổ sung.
- Trường hợp số tạm ứng chưa được thanh toán, các đơn vị có thể được
thanh toán trong tháng sau, quý sau. Tất cả các khoản chi tạm ứng phải được
thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán. Sau thời gian chỉnh lý quyết
toán, các khoản tạm ứng không được thanh toán, KBNN tổng hợp báo cáo cơ
quan tài chính đồng cấp, hoặc báo cáo KBNN cấp trên (đối với các khoản chi
thuộc ngân sách cấp trên), để trừ vào kinh phí cấp phát năm sau, hoặc thu hồi
giảm chi NSNN theo quyết định của cơ quan tài chính.
NguyÔn Ngäc Thanh 12 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
 Cấp phát thanh toán.
a) Đối tượng cấp phát thanh toán bao gồm:
- Lương, phụ cấp lương.
- Học bổng, sinh hoạt phí.
- Các khoản chi đủ điều kiện cấp phát thanh toán trực tiếp.

- Các khoản tạm ứng đủ điều kiện chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát
thanh toán.
b) Mức cấp thanh toán.
Mức cấp thanh toán căn cứ hồ sơ, chứng từ chi theo đề nghị của đơn vị
sử dụng kinh phí NSNN. Mức cấp thanh toán tối đa trong tháng, quý không
vượt quá hạn mức của cơ quan có thẩm quyền thông báo. Mức cấp thanh toán
tối đa trong năm không được vượt quá hạn mức của cơ quan có thẩm quyền
thông báo, trong phạm vi dự toán ngân sách năm đã được duyệt.
c) Trình tự, thủ tục cấp thanh toán.
- Khi có nhu cầu cấp phát thanh toán các đơn vị sử dụng kinh phí
NSNN gửi KBNN các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có liên quan.
- KBNN kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp các hồ sơ, chứng từ
đối chiếu với dự toán và kinh phí của cơ quan có thẩm quyền duyệt cấp. Nếu
đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng
hoá, dịch vụ hoặc chi trả qua đơn vị.
1.2.3 Kiểm soát chi NSNN và các hình thức kiểm soát chi NSNN.
 Kiểm soát chi NSNN là việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các
khoản chi NSNN trên cơ sở các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà
nước qui định. Việc kiểm tra, kiểm soát thực hiện chi trả trực tiếp từ KBNN
các khoản chi NSNN đến từng đối tượng sử dụng sẽ đảm bảo yêu cầu kỷ
cương, quản lý tài chính Nhà nước và sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và
hiệu quả.
NguyÔn Ngäc Thanh 13 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Kiểm soát chi NSNN là một qui trình phức tạp, kiểm soát từ khâu lập
dự toán, phân bổ kinh phí đến cấp phát, thanh toán sử dụng và quyết toán kinh
phí, có liên quan đến tất cả các Bộ, ngành, địa phương và các cấp ngân sách.
Vì vậy, cần phải kiểm tra khẩn trương nhưng cũng phải cân nhắc làm
dần từng bước vững chắc, vừa làm vừa cải tiến qui trình kiểm soát cho phù
hợp để tránh việc quản lý bị buông lỏng hoặc quá khắt khe, máy móc, gây

phiền hà, ách tắc.
 Các hình thức kiểm soát chi NSNN.
- Kiểm soát trước khi chi NSNN.
- Kiểm soát trong quá trình chi NSNN
- Kiểm soát sau khi đã chi NSNN.
Trong đó quan trọng nhất là hình thức kiểm soát trước khi chi NSNN, bởi
vì kiểm soát trước khi chi sẽ ngăn ngừa và loại bỏ được những khoản chi tiêu
không đúng chế độ qui định, không đúng định mức, tiêu chuẩn, đơn giá,
không đúng mục đích đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả, chống lãng phí và
thất thoát tiền vốn, tài sản của Nhà nước.
1.2.4 Qui trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN.
a) Kiểm tra, kiểm soát trước khi cấp phát.
(3)

(4)

(2)
(1)
(5)

NguyÔn Ngäc Thanh 14 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Giám đốc
kho bạc
Bộ phận
kiểm soát
Đơn vị thụ hưởng
Bộ phận kế toán
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
 Khi có nhu cầu chi tiêu, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN lập và gửi
KBNN nơi mở tài khoản giao dịch các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có

liên quan sau:
+ Lệnh chuẩn chi.
+ Séc, uỷ nhiệm chi.
+ Các hồ sơ khác tuỳ theo tính chất của từng khoản chi.
 Bộ phận kiểm soát chi NSNN tiếp nhận hồ sơ, chứng từ chi của các
đơn vị gửi đến và thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi theo đúng
qui định:
- Kiểm tra, đối chiếu các khoản chi với dự toán, bảo đảm các khoản chi phải
có trong dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Kiểm tra, đối chiếu các khoản chi với hạn mức kinh phí được thông báo, bảo
đảm các khoản chi phải có hạn mức kinh phí được cơ quan có thẩm quyền
phân bổ.
- Kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ, chứng từ theo qui định đối với từng khoản
chi.
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, đảm bảo chấp hành đúng các định mức,
chế độ chi tiêu tài chính. Đối với các khoản chi mua chưa có định mức, chế
độ chi tiêu, KBNN kiểm tra, kiểm soát theo dự toán chi của đơn vị được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Kiểm tra, kiểm soát các yếu tố hạch toán, đảm bảo thực hiện đúng mục lục
NSNN qui định.
- Kiểm tra dấu, chữ ký của người chuẩn chi (hoặc người được uỷ quyền), kế
toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền), bảo đảm khớp đúng với mẫu dấu,
chữ ký đã đăng ký tại KBNN.
 Sau khi kiểm tra, kiểm soát hồ sơ, chứng từ của các đơn vị:
- Nếu các khoản chi đủ điều kiện cấp phát thanh toán hoặc cấp tạm ứng thì
trình thủ trưởng KBNN duyệt cấp phát thanh toán hoặc cấp tạm ứng cho đơn
vị.
NguyÔn Ngäc Thanh 15 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Trường hợp các khoản chi chưa đủ điều kiện cấp phát thanh toán hoặc cấp

tạm ứng do hồ sơ, chứng từ chưa đầy đủ hoặc viết sai các yếu tố trên chứng
từ… thì thủ trưởng KBNN trả lại hồ sơ, chứng từ yêu cầu đơn vị hoàn chỉnh
hồ sơ, chứng từ liên quan, theo đúng quy định để KBNN có căn cứ thẩm định
và cấp phát.
- Trường hợp phát hiện các khoản chi tiêu sai chế độ thì thủ trưởng KBNN từ
chối không cấp phát, thanh toán và trả lại hồ sơ, chứng từ chi cho đơn vị,
đồng thời thông báo và giải thích rõ lý do từ chối cho đơn vị, cơ quan tài
chính đồng cấp và KBNN cấp trên (đối với những khoản chi thuộc NSNN cấp
trên) biết để giải quyết.
 Thủ trưởng KBNN xem xét việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát và ý
kiến đề nghị của bộ phận nghiệp vụ kiểm soát chi, để quyết định cấp phát hay
từ chối cấp phát (bao gồm cả cấp tạm ứng và cấp thanh toán).
 Căn cứ vào quyết định phê duyệt của thủ trưởng KBNN, các bộ phận
nghiệp vụ kiểm soát chi và kế toán thanh toán thực hiện như sau:
- Nếu thủ trưởng KBNN quyết định không duyệt cấp phát thanh toán
(hoặc cấp tạm ứng) cho đơn vị thì bộ phận kiểm soát chi có trách nhiệm
trả lại hồ sơ, chứng từ chi cho đơn vị và thông báo rõ lý do từ chối không
cấp phát đồng thời gửi cơ quan tài chính đồng cấp và KBNN cấp trên
(đối với khoản chi thuộc KBNN cấp trên) để giải quyết.
- Nếu thủ trưởng KBNN quyết định phê duyệt cấp phát thanh toán (hoặc
cấp tạm ứng) thì bộ phận kiểm soát chi chuyển quyết định này cho bộ
phận kế toán thanh toán. Bộ phận kế toán thanh toán căn cứ vào quyết
định phê duyệt của thủ trưởng KBNN và các chứng từ kế toán (giấy rút
hạn uỷ mức, uỷ nhiệm chi, séc…) do đơn vị sử dụng kinh phí NSNN lập
để làm thủ tục cấp thanh toán hoặc cấp tạm ứng đồng thời hạch toán tạm
thời hoặc thực chi NSNN theo chế độ qui định.
b) Các nghiệp vụ phải xử lý sau khi kiểm soát và cấp phát.
a) Hạch toán kế toán.
NguyÔn Ngäc Thanh 16 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính

 Chứng từ kế toán.
Chứng từ kế toán hạch toán chi NSNN bao gồm: giấy đề nghị tạm ứng,
thanh toán của đơn vị, bảng kê chứng từ chi, giấy rút hạn mức kinh phí, séc,
uỷ nhiệm chi…
Ba liên giấy đề nghị tạm ứng hoặc đề nghị thanh toán được xử lý như
sau: 1 liên gửi đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, 1 liên lưu bộ phận kế toán
thanh toán, 1 liên lưu bộ phận kiểm soát chi và kèm theo hồ sơ lưu các chứng
từ có liên quan.
 Sổ kế toán.
- Mở sổ theo dõi tình hình tạm ứng và thanh toán các khoản chi NSNN
theo từng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN và sổ xuất nhập hạn mức kinh
phí.
- Mở sổ chi tiết tương ứng với các tài khoản chi NSNN theo từng đơn vị
sử dụng kinh phí NSNN, để theo dõi tình hình tạm ứng, thanh toán các
khoản chi NSNN.
 Báo cáo và quyết toán chi NSNN.
- Điện báo: Hàng ngày các đơn vị KBNN điện báo cho KBNN cấp trên
và cơ quan tài chính đồng cấp số chi NSNN trên địa bàn theo quy định.
- Báo cáo: Hàng tháng, các đơn vị KBNN lập báo cáo chi NSNN theo
mục lục NSNN (nêu rõ số tạm ứng và thực chi NSNN) theo từng cấp Ngân
sách gửi cơ quan tài chính đồng cấp và KBNN cấp trên; KBNN TW tổng hợp
tình hình chi NSNN báo cáo Bộ tài chính.
- Quyết toán: Cuối quý, năm các đơn vị KBNN xác nhận số thực chi
NSNN qua KBNN cho đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trên địa bàn. Cuối
năm, các đơn vị Nhà nước thực hiện quyết toán chi NSNN gửi KBNN cấp
trên theo chế độ hiện hành.
b) Thu hồi, giảm chi NSNN.
Trong quá trình cấp phát, thanh toán sẽ có những khoản chi phải thu
hồi nộp NSNN, căn cứ quyết định thu hồi giảm chi NSNN của cơ quan Nhà
NguyÔn Ngäc Thanh 17 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E

Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
nước có thẩm quyền và giấy nộp tiền vào NSNN của các đơn vị; KBNN làm
thủ tục ghi giảm chi. Các khoản chi từ mục nào thì khi thu hồi được ghi giảm
chi theo đúng mục chi đó của mục lục NSNN. Căn cứ chứng từ có liên quan,
kế toán KBNN khôi phục lại hạn mức kinh phí của đơn vị tương ứng với số
tiền đã thu hồi đó.
1.2.5 Mô hình tổ chức kho bạc Nhà nước của một số nước trên thế giới.
Dưới đây là hai tổ chức kho bạc nhà nước của hai nước có nền tài chính
mạnh đó là Pháp và Mỹ, cơ cấu tổ chức của hai mô hình này rất khác biệt với
nhau tuỳ theo sự quan tâm đặc biệt của Chính Phủ mỗi nước đến công tác
kiểm soát chi ngân sách mà việc tổ chức quản lý chi và kiểm soát chi NSNN
khác nhau, nó phù hợp với hoạt động của bộ máy hành chính cũng như mục
tiêu của mỗi quốc gia.
a) Tổ chức quản lý chi và kiểm soát chi NSNN tại Pháp.
Theo truyền thống, Pháp rất quan tâm tới việc kiểm soát chi tiêu NSNN
nên qui định hệ thống tổ chức quản lý chi và kiểm soát chi NSNN rất phức
tạp. Quá trình chi được thực hiện qua năm giai đoạn riêng biệt và liên tục:
- Giải toả kinh phí.
- Ước chi.
- Thanh toán.
- Chuẩn chi.
- Kiểm thu hồ sơ.
- Xuất quĩ.
Và một hệ thống liên kết chặt chẽ với năm giai đoạn trên, trong đó rõ
nét nhất là kiểm soát ước chi của các kiểm soát viên ước chi đặt tại các bộ và
tỉnh và kiểm soát chi của trung tâm chuẩn chi.
Quá trình chi và kiểm soát chi NSNN được tóm tắt như sau:
Trước khi bắt đầu năm ngân sách, các cơ quan thụ hưởng NSNN phải
căn cứ vào chương trình công tác để lập chương trình xin giải toả kinh phí cả
năm, có phân ra từng quý, theo từng đối tượng chi tiêu phù hợp với khoản

NguyÔn Ngäc Thanh 18 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
kinh phí đã được chuẩn y, gửi đến cơ quan tài chính cùng cấp để được xem
xét, chấp thuận và cấp kinh phí hàng quý, phù hợp với nhu cầu thực tế của cơ
quan, khả năng nguồn thu và tình trạng công quĩ.
Thông báo kinh phí được cấp phát sẽ được gửi đến trung tâm kế toán
một bảng, giữ lại cơ quan tài chính một bảng và một bảng còn lại gửi cho cơ
quan thi hành. Bảng này, trở thành quyền ước chi của cơ quan thi hành theo
đúng luật.
Khi phát sinh nhu cầu chi tiêu để thực hiện công tác, các cơ quan thực
hiện ước chi trong phạm vi các luật lệ hiện hành và trong phạm vi kinh phí đã
được cấp phát. Sau đó hồ sơ ước chi được gửi đến cơ quan kiểm soát ước chi
(tại Bộ và toà hành chính địa phương) để được kiểm nhận hồ sơ ước chi theo
đúng luật lệ hiện hành.
Hồ sơ ước chi đã được chấp nhận là cơ sở để các thể nhân hoặc pháp
nhân có liên quan thực hiện các nhiệm vụ đã ký kết. Sau khi đã hoàn thành
các nhiệm vụ đã cam kết, đơn vị thụ hưởng muốn được trả tiền thì phải gửi
đến thanh toán viên (quản lý viên kinh phí của cơ quan) những giấy tờ chứng
thực những công việc đã hoàn tất để được kiểm tra và chấp nhận thanh toán.
Mặc dù các văn kiện đã được chấp nhận thanh toán, nhưng người cung
cấp hàng hoá, dịch vụ không có quyền đòi Chính phủ phải trả tiền ngay mà
phải có lệnh cho trả tiền cuả cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Tất cả các khoản chi đều đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của đại diện
Nhà nước. Kế toán KBNN bố trí bên cạnh tất cả các Bộ trưởng, Tỉnh trưởng
các cơ quan hành chính, ngoại giao trong nước và ngoài nước. Kế toán
KBNN chỉ được phép chi khi có lệnh của người chuẩn chi. Trong trường hợp
xảy ra xung đột thì toà án kế toán sẽ xử và giải quyết.
Như vậy, tổ chức quản lý chi và kiểm soát chi NSNN của Pháp có 3
đặc điểm cơ bản sau:
 Phân định rõ trong luật ranh giới trách nhiệm, quyền hạn của hai loại

nhân viên độc lập với nhau trong quá trình thực hiện mọi khoản chi. Chuẩn
NguyÔn Ngäc Thanh 19 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
chi viên (thủ tướng, bộ trưởng, tỉnh trưởng…) quyết định các khoản chi và kế
toán viên (các kiểm tra viên tài chính, kế toán viên Nhà nước) thực hiện việc
chi trả công quĩ.
 Chi NSNN không mang tính chất ứng trước mà là số tiền thực chi
cho các vụ việc đã hoàn thành và có chứng từ, bảng kê cụ thể kèm theo (đã
được kiểm tra, kiểm soát bởi kiểm tra viên tài chính và kế toán viên Nhà nước
gồm kiểm soát viên ước chi, trưởng trung tâm chuẩn chi…).
 Mọi khoản chi không đúng qui định đều phải đưa ra toà án kế toán xử
lý, ai vi phạm phải bồi hoàn hoặc biên tịch tài sản cá nhân.
Ngoài ra còn có một hệ thống tổ chức kế toán và kiểm toán Nhà nước
đối lập với cơ quan liên quan đến sự thi hành ngân sách và tiền kiểm để thực
hiện nhiệm vụ hậu kiểm và kiểm soát đột xuất.
b) Tổ chức quản lý chi và kiểm soát chi NSNN tại Mỹ.
Quan niệm về sự thi hành ngân sách với tiến trình càng giản dị càng tốt
để cho công việc của Chính phủ được mau lẹ và dễ dàng mà vẫn kiểm soát
được, đồng thời không đưa đến những việc lạm dụng, bất lương đó là quan
điểm của Mỹ.
Do vậy kiểm soát chi NSNN tại Mỹ khá giản dị. Đặc biệt là tiền kiểm
chi do vụ Ngân sách và Cục Kế toán Trung ương (TW), với thủ tục tiền kiểm
đơn giản và không xét đoán sự thích nghi hay hiệu quả chi tiêu.
Trước khi bắt đầu năm ngân sách, Vụ ngân sách TW gửi cho các cơ
quan những mẫu biểu, gọi là bảng kê phân kỳ, sau đó gửi lại cho Vụ ngân
sách TW. Vụ ngân sách TW thẩm tra, sửa đổi hoặc chấp nhận. Sau khi được
chấp thuận, một bảng gửi đến Cục kế toán TW, một bảng được giữ lại ở Vụ
ngân sách TW và một bảng gửi lại cho cơ quan thi hành. Bảng này trở thành
quyền chi tiêu những kinh phí của cơ quan theo đúng nội dung liệt kê được
Vụ ngân sách TW chấp thuận.

Khi cơ quan muốc chi tiêu, thì cơ quan khởi thảo một văn kiện chi tiêu
và gửi đến Cục kế toán TW để duyệt xem công quĩ có còn không và mục đích
NguyÔn Ngäc Thanh 20 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
của đối tượng chi tiêu có phù hợp không. Nếu trong bảng phân kỳ của cơ
quan còn công quỹ để đài thọ kinh phí đề nghị và mục tiêu phù hợp, Cục kế
toán vào sổ sách số kinh phí cơ quan đề nghị và chuyển văn kiện chi tiêu cho
KBNN. Nếu Cục kế toán xét thấy có những điểm không rõ ràng trong văn
kiện chi tiêu thì văn kiện đó có thể được gửi trả lại cơ quan xin giải thích
thêm hoặc chuyển sách Vụ ngân sách TW xin thẩm tra.
Một khi nhận được các văn kiện chi tiêu do Cục kế toán gửi đến,
nhiệm vụ của KBNN là trả tiền cho người được hưởng. Nhưng trước khi trả
tiền, KBNN lại phải kiểm tra lại tính hợp lý về mặt pháp lý của những văn
kiện. Nếu phải trả bằng tiền mặt thì phải kiểm tra chứng minh nhân dân của
người thụ hưởng.
Kết thúc năm ngân sách, Cục kế toán TW với nhiệm vụ tập trung
những nghiệp vụ kế toán và giữ mọi sổ sách kế toán của Chính phủ, có trách
nhiệm soạn thảo, báo cáo một cách có hệ thống những dữ liệu tài chính ngân
sách và gửi lại cho Vụ ngân sách TW và tổng thống.
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi NSNN qua KBNN.
Do nhận thức được tầm quan trọng của NSNN và chi tiêu NSNN trong
quá trình phát triển kinh tế -xã hội, nên ngay từ đầu vấn đề quản lý và điều
hành NSNN luôn luôn được đặt ra như một nhiệm vụ cơ bản nhưng có ý
nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng của Chính phủ. Nhằm thực hiện thật tốt
nhiệm vụ này cần phải cân nhắc và xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng dến
thực hiện kiểm soát chi NSNN.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện kiểm soát chi NSNN, nhưng
tóm lại có thể phân chia như sau:
1.3.1 Các vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý, cấp phát, thanh toán và
kiểm soát các khoản chi NSNN.

a) Tiêu chuẩn, định mức chi NSNN.
NguyÔn Ngäc Thanh 21 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Định mức, tiêu chuẩn là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi tiêu, là cơ
sở thiết yếu quan trọng để KBNN thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản
chi NSNN.
Tiêu chuẩn, định mức không hợp lý, không sao sát với nội dung chi
NSNN thì việc hợp lý hoá về những khoản lãng phí đương nhiên là sẽ xảy ra
do đó sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát chi của KBNN, kiểm soát chi
không còn ý nghĩa nữa.
b) Chế độ phân cấp quản lý NSNN.
Nội dung cơ bản của chế độ phân cấp quản lý NSNN là việc phân cấp
nguồn thu, khoản chi và tỷ lệ phân bổ các khoản thu cho NSNN TW và địa
phương.
Đây là một trong những căn cứ để KBNN thực hiện chức năng là “trạm
kiểm gác cuối cùng” trong việc cấp phát vốn NSNN.
c) Phương thức cấp phát, thanh toán kinh phí.
Sự lựa chọn phương pháp cấp phát kinh phí đồng nghĩa với việc xác
định nhiệm vụ kiểm soát các điều kiện cơ bản để hình thành một khoản chi
NSNN. Với một phương pháp cấp phát hợp lý, nó tăng tính chủ động chi tiêu
của các đơn vị sử dụng NSNN và giảm thời gian, công sức của các cơ quan
quản lý tham gia vào quá trình cấp phát và nó làm giảm các thủ tục không cần
thiết.
Ví dụ điển hình là phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí còn có
nhiều hạn chế, thiếu sót như cấp phát qua nhiều khâu mà thực chất là nhiều
cấp quản lý ngân sách ( NSTW thường có từ 4-5 cấp quản lý kinh phí ngân
sách) và trong thực tế thường có hiện tượng ban phát ân huệ và tất nhiên thiếu
khách quan trong việc xem xét phân bổ kinh phí cho các đối tượng sử dụng
kinh phí. Đây chính là kẽ hở để đơn vị sử dụng kinh phí NSNN không chú
trọng nâng cao chất lượng dự toán chương trình. Họ không từ một thủ đoạn

nào để làm sao rút được càng nhiều kinh phí càng có lợi cho họ. Và do đó, khi
kiểm soát KBNN phát hiện ra có khi phân phối hạn mức kinh phí lớn hơn dự
NguyÔn Ngäc Thanh 22 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
toán được duyệt, phải điều chỉnh nhiều lần, KBNN không thực hiện chi trả
được.
d) Hệ thống kế toán NSNN.
Kế toán tham gia vào toàn bộ tiến trình ngân sách như vậy có ý nghĩa
quan trọng trong tiến trình thi hành và kiểm soát NSNN.
Quá trình sử dụng công quỹ được chi phối bởi những điều khoản pháp
luật và được thể chế hoá bằng những thủ tục, chỉ tiêu và kiểm soát chi tiêu
chặt chẽ, nhưng nếu không có một hệ thống sổ sách kế toán hoàn hảo thể hiện
qua hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo kế toán đầy đủ, rõ ràng trung thực tất
cả những giao dịch tài chính tiền tệ của Chính phủ thì KBNN khó mà phát
hiện được sự sai lầm về những khoản phí được cấp phát hay quản lý công quỹ
thiếu phân minh, trung thực.
Những kế toán viên và kiểm soát viên ngân sách dùng những dữ kiện
tin tức này để ấn định sự hợp pháp và thích đáng của những chỉ tiêu và sự trả
tiền từ quỹ NSNN, sau đó lập ra báo cáo về sự thi hành ngân sách của từng cơ
quan, có cơ sở để nhận xét, đánh giá những chương trình công tác đã thực
hiện, đồng thời có những biện pháp xử lý thích đáng.
e) Thủ tục chi và quá trình kiểm soát chi NSNN tại KBNN.
Đây chính là cơ sở pháp lý để KBNN tổ chức thực hiện các khâu trong
quá trình kiểm soát chi NSNN. Với thủ tục chi NSNN rườm rà, phức tạp sẽ
gây khó khăn cho cán bộ kiểm soát, giảm thời gian, tiến độ cấp phát thanh
toán các khoản chi NSNN.
1.3.2 Yếu tố chủ quan từ KBNN.
Các tiêu chuẩn, định mức, các qui định thể chế pháp luật là căn cứ để
KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN. Còn chất lượng kiểm soát chi như thế
nào còn phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan của KBNN như:

 Trình độ, nhận thức, trách nhiệm của cán bộ thực hiện trong khâu
kiểm soát chi NSNN.
NguyÔn Ngäc Thanh 23 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
 Hệ thống các chương trình tin học ứng dụng và hệ thống các trang
thiết bị khác…
1.3.3 Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan đến qui trình thực
hiện kiểm soát chi NSNN.
Nhưng tóm lại vấn đề con người vẫn là vấn đề then chốt. Một hệ thống
tổ chức kiểm soát chi NSNN sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn nếu
không phân định và xác lập quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan trong
từng giai đoạn thực hiện kiểm soát chi NSNN một cách rõ ràng minh bạch.
Dù rằng các thủ tục, thể lệ chi tiêu đã được pháp chế hoá đầy đủ và cụ thể cho
từng loại chi nhưng tự nó sẽ không mang lại kết quả mong muốn nếu cơ quan
thi hành không tự ý thức chịu trách nhiệm về những quyết định có liên quan
cũng như sự phối hợp giữa họ lỏng lẻo.
1.3.4 Các nhân tố khác.
Kiểm soát chi NSNN là một quá trình phức tạp, ngoài các nhân tố trên
nó còn chịu tác động của các nhân tố khác như: tình hình kinh tế- xã hội của
địa phương, định hướng phát triển kinh tế- xã hội…
1.4 Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi NSNN.
Cùng với chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập và chính sách ngoại
thương chính sách ngân sách được dùng để tác động vào tổng cầu của xã hội
nhằm hướng đến nền kinh tế đạt được những mục tiêu nhất định như sản
lượng cao, tốc độ phát triển cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp,tỷ lệ lạm phát thấp và
cân bằng cán cân thanh toán. Chính sách Ngân sách bao gồm các biện pháp
liên quan đến mức và cơ cấu thu, chi của Ngân sách. Bằng các biến số thuế,
trợ cấp, đầu tư, chi mua hàng hoá và dịch vụ mà Chính phủ có thể tác động
đến đầu tư và sản lượng, cuối cùng là tác động đến các vấn đề thất nghiệp và
lạm phát.

- Các biện pháp mà Nhà nước áp dụng tất nhiên là đụng chạm đến các quá
trình kinh tế và sau đó chúng sẽ tác động ngược trở lại Ngân sách, căn cứ vào
NguyÔn Ngäc Thanh 24 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
tính chất của tác động người ta có thể sửa đổi các biện pháp đó. Chính sách
Ngân sách nhằm vào những mục tiêu: thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thực hiện
công bằng xã hội, ổn định kinh tế và hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên trong khi nền kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ những khuyết tật
vốn có của nó thì chi NSNN là một hoạt động của Nhà nước có một vai trò vô
cùng quan trọng, nó có tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của đất
nước, thúc đẩy sự phát triển cân đối vững chắc của nền kinh tế khắc phục
những khiếm khiết của thị trường. Mà cụ thể là nó được thể hiện trên các lĩnh
vực sau:
Trong lĩnh vực kinh tế
Trong các công cụ được Nhà nước sử dụng để góp phần xây dựng cơ
cấu kinh tế thì công cụ ngân sách mà đặc biệt là chi NSNN được coi là một
công cụ quan trọng bởi khả năng nguồn vốn của NSNN là rất lớn và phạm vi
tác động của nó là rất rộng. Chính vì vậy có thể nói thông qua chi NSNN sẽ
góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế phát triển theo định hướng của Nhà nước.
Thông qua các khoản chi gián tiếp, đặc biệt là chi cho xây dựng phát triển cơ
sở hạ tầng cũng góp phần tích cực cho việc phát triển kinh tế trên cả vùng
rộng lớn, hình thành cơ sở vật chất của Nhà nước. Từ đó tạo ra những biện
pháp căn bản chống sự cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển phong phú đa dạng, tránh tình trạng độc quyền của một số đơn vị
kinh tế.
Chi NSNN thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển trên tất cả các
lĩnh vực. Chi NSNN là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình phát triển
kinh tế của mỗi nước đặc biệt là trong cơ chế thị trường thì mục tiêu quan
trọng nhất mà các doanh nghiệp quan tâm đó là lợi nhuận và do đó tạo ra sự
cạnh tranh gay gắt từ đó làm tính hiệu quả của nền kinh tế bị ảnh hưởng. Vì

thế muốn nâng cao hiệu quả của nền kinh tế thì tất yếu phải có sự tác động từ
phía Nhà nước và một trong những công cụ hiệu quả nhất là NSNN.
Trên lĩnh vực xã hội.
NguyÔn Ngäc Thanh 25 Tµi chÝnh doanh nghiÖp 44E

×