Tải bản đầy đủ (.doc) (138 trang)

QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TÊ VIỆT NAM ĐÀI LOAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (580.11 KB, 138 trang )

QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - ĐÀI LOAN
Ths. Lờ Vn Tớch

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Ton cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế đang trở
thành một xu thế tất yếu trong tiến trình vận động của thế
giới đơng đại. Hội nhập và hợp tác trở thành động lực quan trọng
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xà hội của mỗi quốc gia.
Trong đó, quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nớc là một bộ phận
không thể thiếu trong tiến trình hội nhập khu vực, quốc tế.
Trong tình hình đó, việc các nớc không ngừng mở rộng
quan hệ với nhau đà trở thành một yêu cầu cấp bách hơn bao
giờ hết và quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan không
nằm ngoài tiến trình vận động đó.
Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan dï chØ míi
diƠn ra sau khi ViƯt Nam thùc hiƯn chính sách đổi mới,
song qua những số liệu công bố của các cơ quan hữu quan
cho thấy Đài Loan đang ngày càng chiếm một vị trí quan
trọng trong tổng số FDI vào Việt Nam. Theo thông báo mới
nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu t ngày 09/04/2007 thì Đài Loan
hiện xÕp thø 3 sau Singapo vµ Hµn Quèc cã vèn đầu t tính
đến ngày 22/02/2007 là gần 29 tỉ USD(chỉ tính những dự
án còn hiệu lực) với 6.992 dự án. Tuy, không đợc gần nhau về
địa lý nhng giữa Việt Nam và Đài Loan lại có nhiều điểm tơng đồng về văn hoá, lịch sử. Đều là những nớc đi lên từ
điểm xuất phát thấp kém của nền nông nghiệp l¹c hËu, Ýt

1


hoặc nhiều chịu ảnh hởng của văn hoá Nho giáo. KĨ tõ khi


ViƯt Nam thùc hiƯn ®êng lèi ®ỉi míi năm 1986, nhất là từ
khi Việt Nam ban hành luật đầu t nớc ngoài cho đến nay,
mối quan hệ hợp tác phi chính phủ giữa Việt Nam - Đài Loan
trên các lĩnh vực phát triển nhanh chóng. Trên lĩnh vực thơng mại, Đài Loan hiện là bạn hàng đứng thứ 5 cđa ViƯt Nam
sau Trung Qc, NhËt B¶n, MÜ, Singapo với kim ngạch thơng
mại đạt gần 6 tỷ USD(2006). Trên lĩnh vực xuất khẩu lao
động, Đài Loan là một trong những lÃnh thổ có số công
nhân lao động Việt Nam đông nhất (năm 2006 là hơn
46.000 ngời).
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Đài Loan đợc mệnh danh
là một trong bốn con rồng châu á, có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển. Vì vậy việc nghiên cứu quá trình hợp tác
kinh tế Việt Nam - Đài Loan sẽ rút ra đợc những bài học cần
thiết về kinh nghiƯm qu¶n lý, tỉ chøc… phơc vơ cho mơc tiêu
CNH-HĐH của Việt Nam. Với Việt Nam, mặc dù trong 20 năm
tiến hành đổi mới đà đạt đợc những thành tùu quan träng vỊ
kinh tÕ-x· héi, ®a níc ta ra khỏi tình trạng của nớc kém phát
triển; đợc bạn bè quốc tế đánh giá là ngôi sao đang lên ở khu
vực châu á. Tuy nhiên, so với các nớc trong khu vực thì chúng
ta cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa mới có thể đuổi kịp họ.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quá trình hợp tác kinh tế Việt
Nam - Đài Loan sẽ gợi mở đợc ít nhiều kinh nghiệm trong xây
dựng và phát triển đất nớc.
Trên ý nghĩa đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về quá
trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan không chỉ có ý

2


nghĩa về mặt khoa học mà đà trở thành một yêu cầu cần
thiết để góp phần thúc đẩy có hiệu quả hơn nữa sự phát

triển chung giữa hai bên. Đó là lý do chúng tôi nghiên cứu đề
tài này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đài Loan trên thực tế là mét qc gia ®éc lËp cã chđ
qun nhng do nhiỊu yếu tố khác nhau, đặc biệt là sự phức
tạp của xu hớng thế giới đa cực trong vài chục năm trở lại
đây đà làm cho quan hệ ngoại giao của Đài Loan với các nớc
khác thờng chỉ là quan hệ phi chính phủ và Việt Nam trong
quan hệ với Đài Loan cũng không nằm ngoài bối cảnh đó.
Chính vì thế mà các công trình nghiên cứu về Đài Loan rất
hạn chế. Có chăng chỉ là những công trình nghiên cứu
mang tính chất khu biệt nào đó mà cha thấy những nghiên
cứu về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Đài Loan. Có thể
phân chia các loại công trình nh sau.
Loại công trình do các tác giả nớc ngoài viết, các tác giả
nớc ngoài chủ yếu là các tác giả ở Đài Loan hoặc các tác giả
Đại lục viết nh: Hứa Cực Đôn (1996), Lịch sử phát triển cận
đại Đài Loan, NXB Tiền Vệ; Trơng Thắng Ngạn (1996), Lịch
sử hình thành và phát triển của Đài Loan, NXB Đại học Không
Trung; Cao Hy Quân và Lý Thành (1994), Bốn mơi năm kinh
nghiệm của Đài Loan, NXB Đà Nẵng dịch và giới thiệu; Trì
Điền - Triết Phu- Hồ Hân(1997), Đài Loan nền kinh tế siêu tốc
và bức tranh cho thế kỷ sau, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội;
Giang Bỉnh Khôn(1995), Kinh tế Đài Loan vấn đề và đối
sách, NXB KHXH Hà Nội Nội dung của các công trình chủ

3


yếu đề cập về đất nớc Đài Loan nói chung, về quá trình phát

triển kinh tế - xà hội, về các biện pháp, cách quản lý để đa Đài
Loan trở thành một nền kinh tế siêu tốc, thành con rồng Mà
cha đề cập gì đến sự phát triển của Đài Loan trong quan hệ
tơng tác với Việt Nam.
Loại công trình do các nhà nghiên cứu trong nớc viết nh:
Nguyễn Huy Quý(1995), Kì tích kinh tế Đài Loan, NXB Chính
trị Quốc gia Hà Nội; Phạm Thái Quốc(1997), Kinh tế Đài Loan
tình hình và chính sách, NXB KHXH Hà Nội; Phùng Thị
Huệ(2000), Quá trình phát triển kinh tế xà hội Đài Loan(19491996), Luận án Tiến sĩ, Trờng ĐHKHXH và Nhân văn; Đỗ Tiến
Sâm(chủ biên) (2006), Đài Loan trớc và sau khi gia nhËp WTO
kinh nghiƯm cho ViƯt Nam, NXB ThÕ Giíi Hµ Nội Nội dung
của các công trình này cũng giống nh nội dung nghiên cứu
của các tác giả nớc ngoài nh đà nói ở trên, phần nghiên cứu chủ
yếu của họ là nói về các chiến lợc phát triển kinh tế - xà hội,
hoặc lý giải nguyên nhân phát triển của Đài Loan chứ cha đề
cập đến quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan.
Các công trình dới dạng bài viết đăng tải trên các tạp
chí nghiên cứu mà chủ yếu nhất là Tạp chí Nghiên cứu Trung
Quốc nh: Dơng Văn Lợi (2002), Quan hệ mậu dịch Việt NamĐài Loan: Mô thức phân công quốc tế. Tạp chí Nghiên cứu
Trung Quốc số 2 và 3; Nguyễn Trần Quế(2003), Vai trò của
Đài Loan trong phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam thời kỳ
đổi mới và triển vọng. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 5;
Nguyễn Liên Hơng(2002), Bớc đầu tìm hiểu lĩnh vực hợp tác
lao động giữa Việt Nam- Đài Loan. Tạp chí Nghiên cứu Trung

4


Quốc số 6; Nguyễn Đình Liêm (1995), Quan hệ kinh tế Việt
Nam-Đài Loan trong bối cảnh chung của chính sách hớng

nam. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3; Hoài Nam (2002),
Triển vọng hợp tác phi chính phủ Việt Nam và lÃnh thổ Đài
Loan. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3 ngoài ra còn một
số bài viết dới dạng các tác phẩm báo chí đăng rải rác trên
các tờ nhật báo ở Việt Nam. Nội dung của các bài viết này đÃ
đề cập đến quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan nhng chỉ đề cập đến quan hệ hợp tác mang tính chất từng
mặt, từng bộ phận ở một vài lĩnh vực chuyên biệt hoặc các
chính sách, định hớng nào đó của hai bên mà cha có công
trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện có hệ
thống quá trình hợp tác kinh tế của Việt Nam và Đài Loan.
Tuy nhiên, những công trình nói trên, dù cách tiếp cận ở
góc độ, quan điểm và mức độ nào cũng đều có tác dụng là
những t liệu tham khảo, bổ sung một cách phong phú và bổ
ích để luận văn đợc hon thnh.
3. Phạm vi nghiên cứu và nguồn t liệu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn Quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan
từ 1990 2006, nghe qua tởng nh đó là đề tài thuộc phạm
trù của chuyên ngành kinh tế, song đây là công trình
nghiên cứu đợc tác giả tiếp cận dới góc độ của khoa học lịch
sử. Chính vì vậy trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
không đi sâu vào các khái niệm, thuật ngữ của kinh tế học,
cũng nh không đề cập đến các quan điểm, lập trờng khác
nhau trong các mối quan hệ chính trị, ngoại giao mµ chØ tËp

5


trung làm nổi bật đối tợng và phạm vi nghiên cứu của mình
là quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan dới giác độ sử

học. Đặc biệt là quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan
từ năm 1990 đến 2006.
Sở dĩ chúng tôi lấy năm 1990 làm mốc xuất phát nghiên
cứu, vì đây là thời điểm Đài Loan bắt đầu có nhiều dự án
đầu t vào thị trờng Việt Nam, là năm mở đầu cđa thËp kû
90, mét thËp kû cã nhiỊu thay ®ỉi và biến động. Hơn nữa,
Năm 1990 là thời điểm sau 5 năm chính phủ Việt Nam thực
hiện đờng lối mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Kể từ đó,
không chỉ với lÃnh thổ Đài Loan mà Việt Nam còn có quan hệ
hợp tác thơng mại và đầu t với nhiều quốc gia và vùng lÃnh
thổ khác trên thế giới. Đối với mốc kết thúc 2006, vì một là,
đây là thời gian gần nhất với thời điểm mà chúng tôi tiến
hành nghiên cứu luận văn này; hai là năm 2006 là năm chẵn
của Việt Nam sau 20 năm đổi mới, chúng ta đà tiến hành
tổng kết nhiều vấn đề về quá trình phát triển kinh tế xÃ
hội. Vấn đề hợp tác với nớc ngoài là một trong những nội dung
quan trọng cần đợc tổng kết và đúc rút, trong đó có quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam - Đài Loan.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tối chú trọng đến
nhiều chính sách kinh tế đối ngoại của cả hai bên cũng nh
kết quả đạt đợc trong hai lĩnh vực chủ yếu là thơng mại và
đầu t. Thông qua quá trình và kết quả của sự hợp tác đó,
chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra đợc những mặt làm đợc và cha
làm đợc do những nguyên nhân chủ quan của cả hai bên. Từ
đó, góp một vài kiến nghị, đề xuất víi nh÷ng ngêi cã chøc

6


trách và các cơ quan hữu quan để có những điều chỉnh

kịp thời bằng những chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô nhằm
đẩy mạnh tốc độ phát triển, nâng cao hiệu quả hợp tác của
hai bên ngày càng đạt đợc những thành tựu to lớn hơn.
3.2. Nguồn t liệu
Phần lớn t liệu phục vụ cho nghiên cứu luận văn là t liệu
bằng tiếng Việt Nam, bao gồm sách dịch của các tác giả nớc
ngoài mà chủ yếu là tác giả ngời Trung Quốc; một số tác giả phơng Tây khác và các tác giả trong nớc viết. Những tác phẩm
này đà đợc công bố hợp pháp trên thị trờng do những nhà xuất
bản có uy tín ấn hành trong khoảng thời gian từ 1990 đến nay.
Loại t liệu thứ hai là những thông tin, bảng biểu do tác
giả trực tiếp lấy đợc trong quá trình tìm kiếm tài liệu do
các cơ quan hữu quan cung cấp nh Cục Đầu t Nớc ngoài - Bộ
Kế hoạch và Đầu t; Tổng cục Thống kê; Văn phòng đại diện
Kinh tế - Văn hoá Đài Bắc tại Hà Nội; Bộ Thơng mại
Loại t liệu thứ ba là các bài viết đăng trên các tạp chí, nhật
báo của Việt Nam; mạng thông tin toàn cầu Trong đó, các bài
viết chủ yếu nhất viết về Đài Loan là ở Tạp chí Nghiên cứu
Trung Quốc của Viện Khoa học- XÃ hội.
Ngoài ra, tác giả còn trực tiếp tiếp cận đợc với một số
doanh nhân Đài Loan đang làm việc tại Việt Nam, một số
ngời Việt Nam trực tiếp làm việc trong các dự án của các nhà
đầu t Đài Loan.
Dù cho những nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc là
cha đầy đủ, song đó là những nguồn t liệu tơng đối

7


phong phú, đáng tin cậy để tác giả hoàn thành luận văn của
mình.

4. Phơng pháp nghiên cứu
Nh đà nói ở phần trên, đề tài này trực tiếp nghiên cứu
đến quan hệ kinh tế, song cách tiếp cận (phơng pháp nghiên
cứu) của chúng tôi không chú trọng nhiều những yếu tố kỹ
thuật của kinh tế học mà cơ bản và chủ yếu nhất là phơng
pháp luận sử học, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của Triết học Mác-Lênin làm nền tảng.
Trong đó tính lịch đại đợc sử dụng nh một dòng mạch chính
để làm nổi bật những vấn đề mà luận văn quan tâm.
Cùng với phơng pháp lịch sử là chủ yếu, chúng tôi còn
kết hợp với các phơng pháp khác nh phơng pháp so sánh,
phân tích, tổng hợp nhằm so sánh sự phát triển của quá
trình hợp tác đó tiến triển theo từng năm, hoặc 5 năm, 10
năm để thấy đợc tốc độ phát triển nhanh, chậm và nguyên
nhân dẫn đến sự nhanh chậm đó là gì. Từ đó đa ra
những kết luận mang giá trị nh là những giải pháp nhằm
khắc phục hoặc tiếp tục phát huy quá trình hợp tác. Đồng
thời thông qua phơng pháp này chúng ta có thể so sánh đợc
quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan có gì khác, nổi
bật, hiệu quả hoặc hạn chế hơn so với quá trình hợp tác kinh
tế giữa ViƯt Nam víi c¸c qc gia, khu vùc kh¸c. Tõ đó có
thể gợi ra những kinh nghiệm về hợp tác kinh tế có thể tham
khảo. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp thống kê

8


để làm nổi bật hơn nữa quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam
- Đài Loan.
5. Những đóng góp của luận văn

Dựng lại bức tranh toàn cảnh có hệ thống về quá trình
hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan từ 1990 đến 2006, trong
đó chủ yếu nhất là quá trình hợp tác thơng mại và đầu t
giữa hai bên.
Từ bức tranh toàn cảnh về quá trình hợp tác, luận văn
muốn góp phần bổ sung những t liệu cần thiết cho việc
nghiên cứu về quá trình hợp tác hợp tác kinh tế Việt Nam
Đài Loan.
Thông qua những số liệu mà luận văn tổng hợp đợc sẽ
nêu lên những thành tựu, hạn chế cũng nh nguyên nhân của
quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan. Đa ra một vài
phân tích dựa trên những phán đoán của mình. Từ đó, tác
giả cũng mạo muội rút ra một số bài học kinh nghiệm nho
nhỏ nhng cần thiết cho việc điều chỉnh chiến lợc hợp tác
kinh tế giữa hai bên để làm sao đẩy mạnh quá trình hợp tác
ngày càng có hiệu quả hơn nh mong muốn của nhân dân
Việt Nam và Đài Loan.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Những nhân tố tác động đến quá trình hợp
tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan.

9


Chơng 2: Quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan
từ 1990 đến 2006.
Chơng 3: Triển vọng và những giải
quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan.


nội dung

10

pháp thúc đẩy


Chơng 1

Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác
kinh tế Việt Nam - Đài Loan
Những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế
kỷ XXI đang chứng kiến những thay đổi cha từng thấy
trong lịch sử nhân loại. Sự phát triển của CNTT đà và đang
từng bớc làm phẳng thế giới, ngoại trừ một vài quốc gia
đang cố núp mình trong những vỏ ốc mỏng mảnh, số còn
lại dờng nh tất cả đang chịu sự tác động nh vũ bÃo của Chủ
nghĩa Toàn cầu. Những tác động đó vừa nh đang mở ra
khả năng vô tận cho sự phát triển của nền sản xuất thế giới,
vừa tạo ra những thách thức không nhỏ cho những quốc gia
cã nỊn kinh tÕ thÊp kÐm, chËm ph¸t triĨn. Thùc tiễn hai mơi
năm đổi mới của Việt Nam đang từng bớc chứng minh con
đờng đổi mới hội nhập là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với
xu thế vận động của nền kinh tế thế giới. Đúng nh nhận
định của nghị quyết đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt
Nam: Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn
ngày càng nhiều nớc tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có
mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh..
Thực tiễn đó đặt ra những đòi hỏi cấp bách đối với

nhân dân ta, đất nớc ta rằng, Việt Nam cần có những cải
cách đột phá hơn nữa để hội nhập vào cộng đồng kinh tế

11


thế giới và quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Đài Loan
không nằm ngoài yêu cầu đó. Nội dung của chơng 1 chúng
tôi phân tích cơ sở hay là những nhân tố tác động đến
quá trình hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan. Từ những cơ
sở đó cho phép chúng ta đa ra những phân tích, tổng hợp
về thành tựu và hạn chế trong sự hợp tác của cả hai bên trên
lĩnh vực kinh tế thơng mại, đầu t ở chơng 2 và chơng 3.
1.1. Tình hình và chính sách phát triển kinh tế
của Việt Nam
1.1.1. Tình hình kinh tế Việt Nam
Ngày 30/4/1975 trở thành một trong những sự kiện
trọng đại nhất của lịch sử dân tộc, kết thúc giai đoạn đất
nớc bị chia cắt lâu dài, đem lại nền hoà bình, độc lập,
thống nhất đất nớc. Đó là cơ hội lớn để nớc ta bắt tay vào
công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc. Tuy nhiên, do
điểm xuất phát thấp, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cộng
với những sai lầm trong các chính sách kinh tế đà làm cho
nền sản xuất đình trệ nghiêm trọng, hàng hoá khan hiếm,
giá cả đắt đỏ, ngân sách tài chính ngày càng lạm phát và
thâm hụt ở mức cao, giá trị sản xuất không đáp ứng kịp
nhu cầu tiêu dùng làm cho đời sống nhân dân gặp nhiều
khó khăn. Thu nhập quốc dân chỉ bằng 80 - 90% chi tiêu
quốc gia [3, 15]. Toàn bộ quỹ tích luỹ và một phần quỹ tiêu
dùng phải dựa vào nguồn viện trợ của nớc ngoài. Nguồn viện

trợ của nớc ngoài chiếm tới 38,2% tổng thu ngân sách và
bằng 61,9% tổng số thu trong nớc. Mặc dù, đến những năm

12


1981-1985 hai số liệu tơng ứng có giảm (22,4% - 28,9%) nhng vẫn cha có đợc sự cải thiện đáng kể nào. Trong khi đó
những bạn hàng truyền thống, những nớc tài trợ chủ yếu cho
nớc ta đang đứng trớc những nguy cơ khủng hoảng nghiêm
trọng. Nớc ta đứng trớc tình thế vô cùng khó khăn.
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ VI đà đa ra chủ trơng đổi mới toàn diện đất nớc trong
đó trọng tâm là đổi mới về t duy, đổi mới về phơng cách
lÃnh đạo, đặc biệt là đổi mới về t duy kinh tế. Chính đờng
lối đúng đắn đó đà cứu nớc ta thoát ra khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế - xà hội, tránh đợc sự sụp đổ không đáng có
đà xảy ra nh các nớc Liên Xô và Đông Âu.
Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới bớc
đầu đà đạt đợc những thành tựu quan trọng, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch mạnh theo hớng xuất khẩu. Tấn dầu thô đầu tiên
đợc khai thác vào năm 1986, đến năm 1989 đà xuất đợc 1,5
triệu tấn. Trớc năm 1989, lợng gạo xuất khẩu không đáng kể
thì đến năm 1989 chúng ta đà xuất khẩu đợc 1,5 triệu tấn,
nâng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lần
đầu tiên đạt gần 2 tỉ USD. Một con số dù cha phải là lớn nhng
cả chục năm trớc đó chúng ta cha hề đạt đợc. Tuy vậy, cho
đến những năm đầu thập kỷ 90, khi bớc vào thực hiện chiến
lợc 10 năm (1991-2000), đất nớc vẫn cha bớc ra khỏi cuộc
khủng hoảng. Nhờ triển khai mạnh mẽ đờng lối đổi mới toàn
diện, năm 1995 hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều đạt đợc kế

hoạch. Đất nớc thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xà hội, tạo
tiền đề đa nớc ta chuyển sang một giai đoạn phát triển mới.

13


Từ năm 1996 đến năm 2000, kinh tế Việt Nam đà đạt
đợc nhịp độ tăng trởng cao. Tốc độ tăng trởng GDP bình
quân từ 1990 đến 2000 là 7,5%. GDP của năm 2000 tăng
gấp 2 lần năm 1990 [11].
Sắp xếp hợp lý sự phát triển của các thành phần kinh tế,
theo đó, kinh tế nhà nớc ngày càng giảm đi (năm 1990 là
12.084, đến tháng 6 năm 2005 còn 2.980 doanh nghiệp có
100% vốn nhà nớc), đóng góp 39% GDP [3, 70].
Kinh tế t nhân ngày càng phát triển, đặc biệt là từ
sau khi luật doanh nghiệp ra đời năm 2000. Đến năm 2005
cả nớc có khoảng 108.300 doanh nghiệp đăng ký, đa tổng
doanh nghiệp đăng ký lên khoảng 150.000, gấp 2 lần so với 9
năm trớc đó. Tổng số vốn đăng ký đạt 302.250 tỉ đồng (tơng đơng 18 tỉ USD), cao hơn số vốn đầu t nớc ngoài
đăng ký cùng thời kỳ, đóng góp 37,7% GDP của cả nớc [3,
71].
Kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài có bớc phát triển quan
trọng. Tính đến ngày 22/2/2007 có 6.992 dự án đầu t trực
tiếp nớc ngoài đợc cấp phép và còn hiệu lực với tổng vốn
đăng ký đạt gần 63 tỷ USD (Cục Đầu t nớc ngoài- Bộ Kế hoạch
và Đầu t). Năm 2005 khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên
7,5% tổng thu ngân sách, 17,1% tổng vốn đầu t xà hội,
35% giá trị sản xuất công nghiệp, thu hút hơn nửa triệu lao
động [3, 71].
Nhờ vào chính sách chuyển dịch theo hớng xuất khẩu

đà làm cho nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này đạt đợc tốc
độ tăng trởng rất cao. Tăng trởng GDP trung bình cho c¶

14


thời kỳ 1991-1995 là 8,77%; năm 1996 là 9,3%. GDP bình
quân đầu ngời đà đạt từ 168 USD năm 1991 lên 310 USD
năm 1996 và 10 năm sau đó GDP bình quân đầu ngời đÃ
tăng hơn gấp đôi với 720 USD năm 2006. Về cơ cấu kinh tế
đà có sự chuyển dịch mạnh theo hớng CNH - HĐH. Từ năm
1988 đến nay, tỷ trọng công

nghiệp và xây dựng trong

GDP tăng nhanh và liên tục (năm 1988 là 21,6% GDP, năm
1995 là 28,8%, năm 2003 là 40%). Từ chỗ trớc năm 1986,
chúng ta cha khai thác đợc dầu đến 2005 chúng ta đà khai
thác đợc 20 triệu tấn/ năm. Tỉ trọng nông nghiệp trong GDP
năm 1988 là 46,3% thì năm 2003 chỉ còn 21,8% và năm
2005 là 20,5% [3, 73].
Trên đây là những thành tựu đạt đợc của đất nớc ta
qua 20 năm đổi mới. Có đợc thắng lợi đó là nhờ vào đờng
lối lÃnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam từ nghị
quyết Đại hội Đảng VI đến Đại hội Đảng X. Nó đà tạo ra sức bật
to lớn, gặt hái đợc những thành công đầy ắp và toàn diện
trong năm 2006.
Năm 2006, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đà thành
công rực rỡ với những quyết sách, chiến lợc đúng hớng, đa
đất nớc trong vòng 5 năm (2006 - 2010) ra khỏi tình trạng

kém phát triển, có thu nhập đạt mức trung bình của thế giới
(theo quy định của Liên hợp quốc năm 2007, một nớc đợc coi
là kém phát triển nếu thu nhập GDP bình quân đầu ngời
cha đạt 850 USD/ngời/năm). Phấn đấu đa nớc ta trở thành
một nớc công nghiệp vào năm 2020. Trong năm 2006, mọi
chỉ tiêu phát triển kinh tế - xà hội đề ra đều đạt và vợt

15


mức, tăng trởng GDP đạt mức 8,17%. Kinh tế đối ngoại đạt
một lúc 3 kỷ lục: Kim nghạch xuất khẩu gần chạm ngỡng 40 tỉ
USD; đầu t nớc ngoài vợt ngỡng 10 tỉ USD và tài trợ nớc ngoài
cũng vợt ngỡng 4 tỉ USD (Báo Nhân dân Xuân Đinh hợi,
2007). Đặc biệt là trên lĩnh vực đối ngoại, có bốn sự kiện
nổi bật là: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thơng mại Thế giới (WTO); tổ chức và chủ trì thành
công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14; đợc Mĩ thông qua
quy chế thơng mại bình thờng vĩnh viễn (PNTR) và đợc Hạ
viện Mĩ rút tên ra khỏi danh sách các nớc đợc quan tâm đặc
biệt về tôn giáo; đợc hầu hết các nớc châu á nhất trí đề cử
làm Uỷ viên không thờng trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
nhiệm kỳ 2008-2009 và tháng 10/2007 đà đợc trúng cử với số
phiếu gần nh tuyệt đối. Cũng đồng thời với tuần lễ cấp cao
APEC là một loạt các nguyên thủ của các quốc gia lớn thăm
chính thức nớc ta nh Mĩ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga Đó là sự
kiện lịch sử lớn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam đồng
thời thể hiện tâm thế ngày càng quan trọng của Việt Nam
trên trờng quốc tế. Có thể khẳng định rằng, những thắng lợi
của năm 2006 đà đa nớc ta đứng trớc những cơ hội vàng

để dân tộc ta, non sông đất nớc ta nhanh chóng vơn ra
biển lớn.
1.1.2. Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế của
Việt Nam
Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nớc ta
đứng trớc một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Cơ chế quản lý
tập trung bao cấp đà làm cho nền sản xuất của đất níc ngµy

16


càng đình trệ, tụt hậu dẫn đến nguy cơ khủng hoảng
nghiêm trọng. Trong tình hình nguy kịch đó, tháng 12 năm
1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đà ®a ra ®êng lèi
®ỉi míi toµn diƯn ®Êt níc. Bao gồm đổi mới t duy, đổi mới
tổ chức cán bộ, phong cách lÃnh đạo, làm việc, đặc biệt Đại
hội nhấn mạnh phải đổi mới t duy, trớc hết là t duy kinh tế.
Với phơng châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng
sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đà đề ra ba chơng trình kinh
tế lớn là lơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu. Xem đó là mũi nhọn phát triển kinh tế trong thời kỳ
mới; Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
xây dựng cơ chế quản lý mới, kích thích phát triển sản xuất
hàng hoá, xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ, chia cắt
thị trờngĐại hội VI đà đánh dấu một bớc ngoặt trong sự
nghiệp xây dựng chđ nghÜa x· héi ë níc ta, t¹o ra bíc đột phá
lớn, toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới, đa nớc ta vợt qua
giai đoạn khó khăn nhất để tiến lên.
Đờng lối đổi mới của Đại hội Đảng VI đà mở ra thời cơ mới
cho đất nớc, bớc đầu héi nhËp vµo nỊn kinh tÕ thÕ giíi. Nã lµ

nỊn tảng, cơ sở cho những bớc đổi mới sâu rộng hơn nữa
đợc đa ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VII, VIII, IX và X.
Trong đó, đại hội Đảng VIII đà khẳng định đờng lối nhất
quán trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là: Thực hiện
nhất quán ®êng lèi ®èi ngo¹i ®éc lËp tù chđ, réng më, đa
phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẳn
sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

17


Những phân tích, tổng kết trong các nghị quyết đại
hội Đảng là nền tảng lý luận vô cùng quan trọng đợc đúc rút
từ thực tiễn 20 năm đổi mới, là ánh sáng soi đờng đa con
thuyền cách mạng Việt Nam tiến nhanh ra biển lớn đúng nh
nghị quyết Đại hội Đảng X khẳng định: Thực hiện nhất
quán đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và
phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa
dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên
các lĩnh vực khác. Việt Nam muốn là bạn, đối tác tin cậy của
các níc trong céng ®ång qc tÕ, tham gia tÝch cùc vào tiến
trình hợp tác quốc tế và khu vực.
Quan điểm chỉ đạo trong nghị quyết các kỳ Đại hội
Đảng là cơ sở quan trọng để nớc ta liên tục đa ra những
điều chỉnh về các chính sách kinh tế phù hợp với sự phát
triển của kinh tế thế giới. Thừa nhận sự phát triển kinh tế
hàng hoá theo quy luật của kinh tế thị trờng, định hớng xÃ
hội chủ nghĩa; cho phép sự tồn tại của các thành phần kinh

tế, trong đó phát triển kinh tế t nhân là chiến lợc kinh tế lâu
dài; ban hành nhiều chính sách, luật pháp nhằm đảm bảo
những hành lang pháp lý nh: luật Đầu t nớc ngoài, luật Doanh
nghiệp, cho phép Đảng viên làm kinh tế t nhân
Nhờ đờng lối đổi mới đúng đắn, Việt Nam đà xác lập
đợc quan hệ ổn định với các nớc lớn và hầu hết tất cả các nớc
đều coi trọng vai trò của Việt Nam ở khu vực Đông Nam á;
đà ký Hiệp định hợp tác với EU (1995); tho¶ thn víi Trung
Qc khung khỉ quan hƯ với mời sáu chữ vàng: Láng giềng

18


hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hớng tới tơng
lai (1999); tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lợc với Nga
(năm 2001); khung khổ quan hệ đối tác tin cậy và ổn định
lâu dài với Nhật Bản (năm 2002); bình thờng hoá quan hệ với
Mĩ, mở ra một thị trờng hợp tác rộng lớn. Khi tuyên bè bá cÊm
vËn cho ViƯt Nam, Tỉng thèng MÜ Bill Clinton đà công bố với
toàn thể nhân dân Mĩ rằng: Giờ đây chúng ta có thể
tiến tới một nền tảng chung. Bất kể những gì chia rẽ chúng
ta trớc đây, chúng ta hÃy xếp vào quá khứ. HÃy để cho giờ
phút này là một thời điểm để hàn gắn và kiến tạo (Thời
báo kinh tế Việt Nam, số 85, 17/7/2000). Đó là thắng lợi lớn
trong chính sách ngoại giao của nhà nớc ta.
Chính chủ trơng đờng lối đổi mới toàn diện và sâu
sắc nh đà kể trên là định hớng quan trọng cho quá trình
hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nớc trên thế giới. Điều này
đà góp phần chi phối mạnh mẽ chiều hớng hợp tác kinh tế
ngày càng phát triển giữa Việt Nam - Đài Loan.

1.2. Tình hình kinh tế và chính sách kinh tế
đối ngoại của Đài Loan
1.2.1. Tình hình kinh tế của Đài Loan
Đài Loan là tên gọi chung của vùng lÃnh thổ bao gồm 86
hòn đảo lớn nhỏ khác nhau với tổng diện tích khoảng 36.000
km2, thuộc vùng biển phía Đông Nam Trung Quốc. Phía Đông
giáp với Thái Bình Dơng, phía Tây đối diện với tỉnh Phúc
Kiến (Trung Quốc) qua eo biển Đài Loan, phía Nam cách
Philippin khoảng 350 km, phía Bắc giáp với biển Hoa Đông,
cách Nhật Bản khoảng 1.070km [19,13].

19


Về mặt hành chính, Đài Loan có 2 thành phố trực thuộc
Viện Hành chính là Đài Bắc và Cao Hùng; 5 thành phố thuộc
tỉnh là Đài Trung, Đài Nam, Cơ Long, Tân Trúc và Gia Nghĩa;
16 huyện là Đài Bắc, Nghi Lan, Đào Viên, Tân Trúc, Miêu Lật,
Đài Trung, Chơng Hoá, Nam Đầu, Vân Lâm, Gia Nghĩa, Đài
Nam, Cao Hùng, Bình Đông, Đài Đông, Hoa Liên và Bành Hồ
[19, 16].
Về mặt lịch sử, cho đến cuối thế kỷ XV Đài Loan thời
cổ đại thuộc đế chế Trung Hoa, nhng từ đầu thế kỷ XVI,
các nớc phơng Tây nh Bồ Đào Nha, Hà Lan, Vơng quốc Anh
bắt đầu dòm ngó và thay nhau xâm chiếm Đài Loan. Sau
cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1895) với Điều ớc MÃ Quan,
Trung Quốc đà cắt nhợng lÃnh thổ Đài Loan cho Nhật Bản và
Nhật Bản thống trị trong gần nửa thế kỷ. Sau Chiến tranh
thế giới thứ hai, Đài Loan trở về Trung Quốc dới quyền cai trị
của Quốc dân Đảng. Đến năm 1949, khi cuộc nội chiến lần

thứ III kết thúc, Quốc dân Đảng thất bại bỏ chạy ra đảo Đài
Loan và chiếm giữ chủ quyền cho đến nay[19, 20].
Về tình hình kinh tế của Đài Loan có thể chia thành các
giai đoạn sau: Từ thời lập quốc năm 1949 đến năm 1962.
Đây là giai đoạn Đài Loan vừa ra khỏi cuộc chiến tranh, để có
thể khôi phục nhanh chóng tình trạng suy thoái về kinh tế xà hội, Đài Loan đà thực hiện nhiều biện pháp cải cách quan
trọng làm hồi sinh toàn bộ nền kinh tế. Từ năm 1949 thực
hiện cuộc cải cách ruộng đất với các bớc giảm tô, phóng lĩnh
đất công, thực hiện ngời cày có ruộng[19, 40 - 41] ngời
nông dân từ chỗ không có một tấc đất để cắm dùi, nay trở
thành những ngời chủ ruộng đất. Sau khi cã ruéng, ngêi d©n

20


hăng hái tham gia lao động sản xuất, năng suất tăng lên
nhanh chóng.
Bên cạnh chính sách cải cách ruộng đất, Đài Loan còn
thực hiện cải cách tiền tệ nhằm tăng tích luỹ ngoại tệ và
tăng tích luỹ xà hội. Từ năm 1952, thực hiện chiến lợc phát
triển kinh tế hớng nội, trong đó chú trọng đến việc quản lý
lơng thực, quản lý chặt chẽ việc sản xuất và tiêu thụ nông
sản; xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nông nghiệp; đẩy
mạnh việc nghiên cứu và phát triển ngành công nghiệp tiến
tới thay thế nhập khẩu. Đẩy mạnh nội địa hoá các mặt hàng
công nghiệp, quản lý chặt chẽ hàng nhập khẩu với những
nguyên tắc cụ thể của quốc gia; cải tiến chế độ thuế thu
nhập; khuyến khích xuất khẩu
Nhờ những chính sách và biện pháp tích cực đó đÃ
làm cho nền kinh tế Đài Loan nhanh chóng hồi phục. Nông

nghiệp liên tục ổn định, phát triển; công nghiệp chiếm tỉ
trọng đáng kể trong toàn bộ nền kinh tế, năm 1953 là
17,7% đến năm 1960 là 24,9%, trong đó công nghiệp chế
biến thực phẩm chiếm 25%[19, 70].
Đến những năm đầu của thập kỷ 60, nền kinh tế Đài
Loan cơ bản đợc phục hồi, tốc độ tăng trởng bình quân
hàng năm đợc duy trì ở mức độ đáng kể. Thập kỷ 50 tăng
trởng kinh tế bình quân hằng năm là 8% và tiếp tục tăng
lên ở những năm 1961- 1964 là 9,8%. Đó là điều kiện quan
trọng để Đài Loan bớc sang giai đoạn phát triển mới, chuyển
từ chiến lợc hớng nội sang chiến lợc kinh tế hớng ngoại và
chiến lợc kinh tế hớng Nam, tham gia tích cực vào quá

21


trình phân công lao động toàn cầu. Trong chiến lợc kinh tế
hớng ngoại của Đài Loan nổi lên các chính sách điều chỉnh
chủ yếu là thu hút đầu t nớc ngoài, đẩy mạnh hoạt động
mậu dịch đối ngoại và điều chỉnh cơ cấu ngành nghề.
Thực hiện chính sách thu hút đầu t nớc ngoài, chính
phủ Đài Loan đặc biệt chú ý đến các doanh nhân Hoa kiều
ở Hồng Kông và các nớc trên thế giới. Đây là lực lợng góp
những viên gạch đầu tiên vào quá trình thu hút vốn đầu t nớc ngoài của Đài Loan. Một lực lợng khác cũng rất quan trọng
đó là các công ty lớn từ các quốc gia có nền công nghiệp tiên
tiến nhất nh Mĩ, Nhật Bản, Tây âu. Để có thể thực hiện đợc
việc thu hút một số lợng lớn các nguồn vốn đầu t nớc ngoài,
Đài Loan đà đẩy mạnh việc xây dựng những khu chế xuất
(KCX) với những u đÃi đặc biệt về thủ tục đầu t, về thuế
xuất khẩu. Từ năm 1966 đến năm 1969, Đài Loan đà xây

dựng đợc 3 KCX là Cao Hùng, Nam Tử, Đài Trung. Cả 3 KCX này
đều đảm bảo hội tụ những yếu tố thuận lợi nhất về giao
thông, thông tin liên lạc, lực lợng lao động, môi trờng văn
hoá đáp ứng đầy đủ trình độ đầu t phát triển của các nớc tiên tiến.
Chính sách thu hút đầu t nớc ngoài đà đem lại những
hiệu quả kinh tế to lớn, giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 4,4% năm
1952 xuống 1,3% vào năm 1973. Tạo công ăn việc làm cho
hàng nghìn lao động mỗi năm. Năm 1974 có 230 nghìn lao
động làm việc trong các công ty nớc ngoài, năm 1978 là 357
nghìn. Hàng năm các KCX thu hút 60 nghìn lao động [19,
62].

22


Đồng thời với chính sách thu hút đầu t nớc ngoài, xây
dựng các KCX, Đài Loan tiếp tục điều chỉnh hoạt động mậu
dịch đối ngoại, khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu. Nhờ
vậy đến năm 1963, tổng kim ngạch xuất khẩu đà tăng gấp 3
lần năm 1952, đạt 320 triệu USD. Đến 1964, lần đầu tiên
sau chiến tranh, ngoại thơng Đài Loan đạt tỷ lệ xuất siêu với
kim nghạch 433 triệu USD [19, 66]. Tỷ lệ dự trữ ngoại tệ
cũng không ngừng tăng lên, năm 1980: 2,2 tỷ USD; năm 1987:
76,7 tỷ USD; năm 1991: 82,4 tỷ USD; năm 2001: 122,2 tỷ
USD [39, 40]. Đây là điều kiện thuận lợi cơ bản thúc đẩy
các doanh nghiệp Đài Loan tìm đờng đầu t ra nớc ngoài.
Song song với chính sách thu hút đầu t nớc ngoài, đẩy
mạnh mậu dịch đối ngoại, Đài Loan còn điều chỉnh cơ cấu
ngành nghề cho phù hợp. Theo đó, tập trung vào những
ngành nghề có giá trị kinh tế cao nh công nghiệp, dịch vụ.

Giảm dần những mặt hàng có giá trị kinh tế thấp nh nông
nghiệp. Nhờ vậy, đến năm 1980 tỷ trọng trong cơ cấu của
các nghành đà có sự thay đổi mạnh mẽ. Nếu nh tỷ trọng
ngành nông nghiệp năm 1952 là 32,2% thì đến năm 1980
là 7,7%, số liệu tơng ứng trong công nghiệp và dịch vụ là
19,7-45,7%; 48,7 - 46,6% [19, 68].

Bảng 2: Giá trị sản lợng các ngành qua một số năm

Đơn vị: %
Năm

Nông
nghiệp

Công
nghiệp

Dịch vụ

1952

32,2

19,7

48,1

23



1960

28,5

26,9

44,6

1965

23,6

30,2

46,2

1968

19,0

34,4

46,5

1970

15,5

36,8


47,7

1975

12,7

39,9

47,4

1980

7,7

45,7

46,6

[19, 70]
Có thể nói, đến những năm đầu của thập kỷ 80, nền
kinh tế Đài Loan đà đạt đợc những thành tựu rực rỡ, đợc
mệnh danh là kỳ tích của nền kinh tế thế giới. Từ chỗ
nhân dân Đài Loan từng phải sống trong hoang mang, lo sợ
về nguy cơ khủng hoảng kinh tế cuối những năm 40 của thế
kỷ XX. Nhờ những chính sách cải cách, điều chỉnh khôn
ngoan của chính quyền Đài Loan đà làm cho nền kinh tế xà hội hồi sinh trở lại, trở thành một con rồng nổi trội ở
châu á. Tốc độ tăng trởng kinh tế đợc duy trì ở mức độ cao
và ổn định từ 7 - 9%; tổng sản phẩm quốc dân năm 1952
mới chỉ đạt 1,67 tỉ USD nhng đến năm 1969 đà tăng gấp 3

lần đạt 4,92 tỉ USD. Năm 1974 là 14,46 tỉ USD, năm 1979 là
33,22 tỉ USD [39, 45]. Sang thập kỷ 80, nền kinh tế Đài Loan
nhanh chóng tăng vọt: năm 1983 tăng gấp 30 lần, đạt 52,42
tỉ USD; năm 1986 tăng gấp 46 lần năm 1952, đạt 75,43 tỉ
USD. Từ năm 1987 giá trị tổng sản phẩm quốc dân luôn đạt
trên 100 tỉ USD, đến năm 2000 GNP đạt xấp xỉ 310 tỉ USD
[39, 45]. Sự tăng trởng mạnh mẽ về kinh tế làm cho đời sống
nhân dân Đài Loan cũng đợc cải thiện nhanh chóng. Thu
nhập bình quân đầu ngời từ 196 USD (1952) lên 203
USD(1955), 1.132 USD (1976); đến năm 1980 là 2.344 USD

24


rồi vọt lên 13.260 USD năm 1996 [39, 46]. Đài Loan đợc xếp
vào hàng các nớc và khu vực có thu nhập quốc dân và thu
nhập bình quân đầu ngời vào loại cao nhất thế giới. Kim
ngạch thơng mại luôn giữ đợc thế xuất siêu từ năm 1976
đến nay.
1.2.2. Chính sách kinh tế đối ngoại của Đài Loan
Kể từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX,
Chính quyền Đài Loan bắt đầu đề ra chiến lợc tăng cờng
triển khai phát triển ra thị trờng quốc tế.
Chính sách đầu tiên phải kể đến là cơng lĩnh kế
hoạch tăng cờng công tác kinh tế thơng mại đối với khu vực
Bắc Mĩ. Mục tiêu của kế hoạch này là nhằm đa ra những
đối sách có hiệu quả, hiệp định mậu dịch tự do đợc ký với
khu vực Bắc Mĩ năm 1995; thúc đẩy quan hệ mậu dịch,
thực hiện tự do hoá mậu dịch kinh tế quốc tế, tạo ra sức
mạnh tổng thể về kinh tế và thơng mại của Đài Loan với các

nớc Bắc Mĩ mà chủ yếu là Hoa Kỳ và Canađa [24, 202].
Tiếp đến là kế hoạch triển khai ra thị trờng Nhật Bản
nhằm cải thiện tình hình nhập siêu với Nhật Bản. Muốn vậy,
phải đẩy mạnh hơn nữa việc tăng cờng xuất khẩu sang Nhật
Bản; khuyến khích các nhà kinh doanh phân tán rộng khắp
ở thị trờng Nhật Bản; gạt bỏ những trở ngại trong việc xuất
khẩu sang Nhật, đào tạo ra những nhân tài đủ sức thuyết
phục để chinh phục đợc thị trờng của Nhật Bản [24, 205].
Thứ ba là tăng cờng thực thi kế hoạch công tác kinh tế
thơng mại với EC. Mục tiêu của kế hoạch này nhằm thích ứng
với tình hình mới khi EC đà trở thành một thị trờng thống

25


×