Tải bản đầy đủ (.pdf) (70 trang)

Chính quyền địa phương ở xã – từ thực tiễn tại xã ia yok, huyện ia grai, tỉnh gia lai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (559.86 KB, 70 trang )

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC

Chính quyền địa phương ở xã – từ thực tiễn tại xã
Ia Yok, Huyện Ia Grai, Tỉnh Gia Lai
Mã số đề tài: ĐTSV.2022.38
Chủ nhiệm đề tài: Trương Thị Thảo Trang
Lớp: Thanh tra 19A
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hoàn

Hà Nội , tháng 4 năm 2022
2


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, bằng
sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu và các
giảng viên khoa Pháp luật hành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn TS. Nguyễn Thị Hồn, người đã trực tiếp tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài. Tuy nhiên điều kiện
về năng lực nghiên cứu của bản thân em cịn hạn chế, do vậy cơng trình nghiên cứu
khoa học chắc chắn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn để bài nghiên cứu của em được hoàn
thiện hơn.


Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2022

3


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu đề tài “Chính quyền địa phương ở xã
– từ thực tiễn tại xã Ia Yok, Huyện Ia Grai, Tỉnh Gia Lai” là cơng trình nghiên cứu
được tiến hành độc lập, các kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, các tài liệu
tham khảo có nguồn trích dẫn. Tơi xin cam đoan cơng trình là sản phẩm nghiên cứu
của cá nhân mang tính độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu. Nếu
phát hiện có sự sao chép hoàn toàn kết quả nghiên cứu của đề tài khác, tôi xin chịu
trách nhiệm.

4


DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Uỷ ban nhân dân
CQĐP: Chính quyền địa phương
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
CCB: Cựu chiến binh
UBMTTQVN: Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
VHXH: Văn hoá xã hội
TXCT: Tiếp xúc cử tri
DTTS: Dân tộc thiểu số

5



MỤC LỤC

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định cụ thể về việc phân cấp đơn hành
chính nhà nước bao gồm: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Ngồi ra cịn có đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập để phù hợp với điều kiện của từng
vùng và từng địa phương. Tuy nhiên, có thể nói rằng chính quyền địa phương ở xã
là cấp thấp nhất trong hệ thống bộ máy nhà nước. Bởi đây chính là cấp cơ sở, là cấp
tiếp xúc gần với nhân dân nhất mỗi khi các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà
nước được ban hành. Chính vì vậy, vai trị của chính quyền địa phương cấp xã đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất,
là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xi”.
Là một trong những đơn vị hành chính cấp xã trên cả nước, xã Ia Yok nằm ở
phía đơng bắc của huyện Ia Grai, thuộc địa phận tỉnh Gia Lai. Xã Ia Yok có diện
tích 26,42 km² với dân số năm 2006 là 8.246 người và mật độ dân số đạt 312
người/km². Đây là địa bàn có số lượng dân cư sinh sống thuộc nhiều dân tộc như:
kinh, jarai, bana, ... với nghề nghiệp chủ yếu là thuần nông và trồng cây lâu năm. Vì
tính chất đặc trưng về dân số, trình độ nhận thức, trình độ học vấn, … mà việc tiếp
cận pháp luật, đặc biệt là Luật Tổ chức chính quyền địa phương cho người dân tại
địa phương cũng bị hạn chế. Chưa đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đề ra trong
sự nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, chính quyền địa phương xã Ia Yok đã ln
nỗ lực củng cố và tăng cường bộ máy hành chính. Hoạt động có hiệu quả và thực
hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ để có thể đáp ứng được những yêu cầu phát
triển của địa phương nhằm hoàn thành nghĩa vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân mà nhà nước giao phó.
Nhận thức được tầm quan trọng của chính quyền địa phương ở xã trong hệ
thống hành chính nhà nước cùng những yêu cầu thực tiễn tại địa phương, em xin
7


được lựa chọn đề tài: “Chính quyền địa phương ở xã – từ thực tiễn tại xã Ia Yok,
Huyện Ia Grai, Tỉnh Gia Lai”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính quyền địa phương ở xã là một chủ đề rất thu hút và nhận được sự quan
tâm của Đảng, Nhà nước và các cá nhân có hoạt động liên quan trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, mỗi cơng trình nghiên cứu lại được xem xét, đánh giá theo từng phạm vi,
mức độ khác nhau cụ thể như:
- Tình hình nghiên cứu trong nước:
Tham luận “Cải cách hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam – Cấp
huyện hay cấp xã” của Phan Thị Lan Hương năm 2013. Tham luận đã khái qt được
q trình hình thành của hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam từ năm 1945
đến nay. Làm rõ những yếu điểm trong bộ máy chính quyền địa phương thơng qua
năm thực trạng phổ biến như: chính quyền địa phương thiếu chủ động, sáng tạo trong
quản lý; HĐND chưa thực hiện chức năng giám sát hiệu quả; chưa có sự phân cơng
chức năng, nhiệm vụ rõ ràng giữa cấp huyện và cấp xã; bộ máy cồng kềnh; thiếu
trách nhiệm, lạm quyền, quan liêu, … Vì vậy, tham luận đã kiến nghị không tổ chức
HĐND cấp xã như hiện nay nhưng vẫn duy trì tổ chức UBND cấp xã và UBND cấp
xã sẽ chịu sự giám sát của HĐND cấp huyện; khơng tổ chức HĐND cấp huyện vì
được coi là một cấp trung gian; không tổ chức HĐND ở hai cấp huyện và xã để giảm
bớt chi phí quản lý. Theo nhận định của bản thân em thì tham luận đang tồn tại hại
chế đó là việc khơng tổ chức HĐND ở các xã nông thôn đang làm mất đi vai trò làm
cầu nối quan trọng giữa nhà nước với nhân dân địa phương. Chính vì vậy, cần tiếp
tục xây dựng và củng cố chính quyền địa phương cho phù hợp với điều kiện chính
trị, xã hội ở từng địa phương trên cả nước.

- Danh mục các cơng trình đã nghiên cứu có liên quan:

8


+ Tiểu luận “Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở Việt Nam và giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động” của tác giả Lê Thị Kiều Thuý năm 2012
+ Luận văn thạc sĩ “Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá” của tác giả Thái Xuân Cường năm 2014
+ PGS, TS Vũ Thư (2016), “Một số vấn đề về tổ chức chính quyền địa phương
theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015”, Nhà nước và pháp luật
+ Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính
quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Công Dũng năm 2016 tại
Đại học Luật Hà Nội
+ Luận văn thạc sĩ “Hoạt động của chính quyền xã – Từ thực tiễn huyện Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Nguyễn Văn Sỹ năm 2016 tại Học viện hành chính
Quốc Gia.
+ Luận văn Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã từ thực tiễn tại TP.
Việt Trì, tỉnh Phú Thọ của Thạc sĩ Đỗ Hồng Chuyên năm 2020
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về chính quyền địa phương ở xã
nhằm chỉ ra các vấn đề thực tiễn tại xã Ia Yok, Huyện Ia Grai, Tỉnh Gia Lai. Từ đó,
đưa ra quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo hoạt động của chính quyền địa phương
ở xã Ia Yok.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về chính quyền địa phương ở xã như khái
quát về chính quyền địa phương ở xã; vị trí, vai trị, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ,
quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã; hoạt động của chính quyền địa phương
ở xã.


9


Hai là, chỉ ra thực tiễn quá trình áp dụng Luật tổ chức chính quyền địa phương
ở xã Ia Yok hiện nay như: những điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa
phương cũng như thực tiễn cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn và hoạt động của
chính quyền địa phương tại xã Ia Yok. Từ đó, đánh giá thực tiễn về những mặt đạt
được, mặt hạn chế và nguyên nhân của chính quyền địa phương tại xã Ia Yok.
Ba là, làm rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước
về chính quyền địa phương ở xã. Trên cơ sở các ngun nhân, đề xuất một số nhóm
giải pháp để hồn thiện những mặt hạn chế và phát huy những mặt đặt được để nâng
cao chất lượng cho chính quyền địa phương ở xã hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là chính quyền địa phương ở xã. Bên cạnh đó, phạm vi
nghiên cứu của đề tài là chính quyền địa phương ở xã và các nhóm giải pháp nâng
cao chất lượng cho chính quyền địa phương ở xã hiện nay
+ Không gian: Ở Việt Nam (Cụ thể với xã Ia Yok, huyện Ia Grai, tỉnh Gia
Lai)
+ Thời gian: Chủ yếu từ năm 2019 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng của Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đồng thời dựa trên cơ sở quan điểm, chủ trương, phương hướng và nhiệm vụ
của Đảng, Nhà nước về chính quyền địa phương ở xã.
Phương pháp cụ thể
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp khảo sát thực địa
+ Phương pháp phân tích, đánh giá nội dung
10



6. Giả thuyết khoa học
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019
từ khi triển khai đã đạt được những kết quả nhất định. Cụ thể là sự thay đổi trong
phân cấp hành chính nhằm phù hợp với từng địa phương, từng địa bàn dân cư tồn tại
những tính chất đặc thù riêng. Tuy nhiên, trong bối cảnh các quan hệ xã hội ngày
một thay đổi thì khơng thể tránh khỏi những vấn đề bất cập mới phát sinh gây ảnh
hưởng không nhỏ tới hoạt động của chính quyền địa phương ở xã. Chính vì vậy, đề
tài sẽ làm rõ những vấn đề lý luận về chính quyền địa phương ở xã nhằm chỉ ra các
vấn đề thực tiễn tại xã Ia Yok, Huyện Ia Grai, Tỉnh Gia Lai. Từ đó, đưa ra quan điểm
và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính quyền địa phương ở xã Ia Yok.
7. Đóng góp của đề tài
a. Ý nghĩa lý luận
Một là, đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về chính quyền địa
phương ở xã trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, đề tài chỉ ra thực tiễn áp dụng Luật Tổ chức chính quyền địa phương
tại xã Ia Yok, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Ba là, đề tài đề xuất nhóm giải pháp đảm bảo tổ chức và hoạt động cho chính
quyền địa phương ở xã trong giai đoạn hiện nay.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã làm rõ thực tiễn về chính quyền địa phương ở xã Ia Yok qua việc
xem xét, đánh giá về tổ chức và tình hình hoạt động của chính quyền địa phương ở
xã. Bên cạnh đó, đề tài có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo trong việc
tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như trong các lĩnh vực liên quan đến
chính quyền địa phương ở xã hoặc trở thành tài liệu tham khảo cho những độc giả
quan tâm.
8. Bố cục đề tài
11



Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính quyền địa phương ở xã
Chương 2: Thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính quyền xã Ia Yok
Chương 3: Giải pháp đảm bảo tổ chức, hoat động đối với chính quyền địa phương ở
xã trong giai đoạn hiện nay

12


CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG Ở XÃ
1.1 Khái quát về chính quyền địa phương ở xã
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế
nhà nước, có tư cách quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến, hợp pháp
để quản lý điều hành mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên một
đơn vị hành chính - lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, cách thức,
thủ tục do pháp luật quy định chính vì thế nên đã có rất nhiều khái niệm liên quan
đến chính quyền địa phương được đưa ra, cụ thể như:
Chính quyền địa phương theo Wikipedia được hiểu là “ Một tổ chức hành
chính có tư cách pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật cơng nhận sự tồn tại vì mục
đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia. Các cán bộ chính quyền địa
phương là dân địa phương. Chính quyền địa phương có trách nhiệm cung ứng hàng
hóa cơng cộng (nhiệm vụ chi) cho nhân dân trong địa phương mình và có quyền
thu thuế địa phương (nguồn thu)”[1].
Theo Từ điển Black's Law Dictionary Free Online Legal Dictionary, chính
quyền địa phương (local goverment) là “Chính quyền thành phố, thị xã, quận, hoặc
bang. Cơ quan hành chính đối với khu vực địa lý nhỏ. Bầu các quan chức, thu thuế,
và làm nhiều việc mà chính phủ quốc gia có thể làm theo thẩm quyền[2].

Chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước,
trong đó mỗi cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thơn, đơ thị, hải đảo, đơn vị hành chính
– kinh tế đặc biệt, thực hiện chức năng nhiệm vụ của địa phương theo quy định của
pháp luật, đảm bảo cam kết hài hồ giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích
chung của cả nước [15].
13


Chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước
thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước ở địa
phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (Hội đồng nhân dân) và các cơ quan
khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật (Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân) nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên
cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hồ giữa lợi ích nhân dân địa
phương với lợi ích chung của cả nước[1].
Tuy nhiên, để có cách hiểu đúng và đầy đủ nhất thì trong Luật tổ chức chính
quyền địa phương 2015 đã đưa ra khái niệm về chính quyền địa phương là: “Chính
quyền địa phương ở xã là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân
xã và Ủy ban nhân dân xã”[4].
Trong dự thảo lần 7 của Quốc hội khoá 13 đã đưa ra một khái niệm mới về
Chính quyền địa phương đó là: Chính quyền địa phương là hệ thống các cơ quan
thực hiện quản lý Nhà nước nhằm quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và làm nghĩa
vụ chung với cả nước trên một đơn vị hành chính do nhân dân địa phương bầu ra
hoặc do chính quyền địa phương có thẩm quyền thành lập [3].
Qua đó có thể hiểu chính quyền địa phương ở nước ta là một bộ phận hợp
thành của chính quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại
diện quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra
(HĐND) và các cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các cơ

quan đại diện quyền lực Nhà nước này theo qui định của pháp luật (UBND, các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND …), nhằm
quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập
trung dân chủ và kết hợp hài hịa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích
chung của cả nước.
1.1.1.2 Hội đồng nhân dân
14


Theo trang từ điển Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu của nhân dân, cơ
quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, từ cấp xã tới cấp tỉnh, thuộc nước Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam[7].
Tuy nhiên, để làm rõ khái niệm về Hội đồng nhân dân thì Luật Tổ chức chính
quyền địa phương hiện hành đã quy định “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội
đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách
nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”[11].
Do vậy, có thể thấy rằng Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra
theo con đường bầu cử, là cơ quan đại diện của nhân dân ở đơn vị hành chính bầu ra
mình nhằm thể hiện được ý chí, nguyện vọng của người dân địa phương. Chính vì
vậy, Hội đồng nhân dân đóng vai trị rất quan trọng giữa mối quan hệ của nhà nước
với nhân dân.
Bên cạnh cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là Hội đồng nhân dân thì
Uỷ ban nhân dân cũng là bộ phận khơn thể thiếu của chính quyền địa phương ở xã.
Bởi Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan chấp hành của
HĐND. Vì vậy, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra để khẳng định vai trò của Uỷ
ban nhân dân.
1.1.1.3 Uỷ ban nhân dân
Theo từ điển luật học “Uỷ ban nhân dân là tên gọi của các cơ quan chấp hành
của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”[20.tr538].

Theo trang từ điển Bách khoa tồn thư mở thì “Ủy ban nhân dân là một cơ
quan hành chính nhà nước của hệ thống hành chính Cộng hịa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Đây là cơ quan thực thi pháp luật tại các cấp tỉnh, huyện và xã. Các chức danh
của Ủy ban nhân dân được Hội đồng nhân dân cấp tương ứng bầu ra và có nhiệm kỳ
trùng với nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân”[10].

15


Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì “Ủy ban nhân dân
do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân,
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”[12].
Đây cũng là khái niệm được Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đưa ra.
Như vậy, qua các khái niệm trên có thể thấy rằng UBND cấp xã là cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước
HĐND cấp xã và các cơ quan cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mình. So với Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện thì ủy ban nhân
dân xã có nhiều nét riêng biệt, Uỷ ban nhân dân xã là cấp hành chính gần nhất vì vậy
Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm rất lớn trong việc chuyển tải đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Uỷ ban nhân dân xã cũng có chức năng
quản lí hành chính nhà nước chung trong phạm vi địa giới hành chính cấp xã; bảo
đảm thi hành văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của
Hội đồng nhân dân xã.
1.2 Địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa
phương ở xã
1.2.1 Địa vị pháp lý của chính quyền địa phương ở xã
Địa vị pháp lí hành chính là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính
của các cơ quan hành chính nhà nước. Đây là những khả năng pháp lí quan trọng tạo
đỉều kiện cho các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí hành

chính nhà nước cùa mình. Vì vậy, địa vị pháp lý của chính quyền địa phương có mối
quan hệ mật thiết, gắn kết với địa vị pháp lý của nhà nước. Địa vị pháp lý của cơ
quan nhà nước là một khái niệm pháp lý trong đó phản ánh vị trí của cơ quan trong
tổng thể bộ máy nhà nước theo quy định của pháp luật, thể hiện ở nhiều nội dung
như cấp của cơ quan đó, trình tự thành lập, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, chế
16


độ trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan, … Bên cạnh đó, địa vị pháp lý của chính
quyền địa phương phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản như: hình thức cấu trúc nhà nước,
mơ hình tổ chức chính quyền địa phương, mức độ phân cấp quản lý hành chính nhà
nước, trình độ dân chủ của xã hội, sự phát triển kinh tế của từng địa phương.
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở xã
1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện theo nguyên
tắc sau đây:
Thứ nhất, xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ hai nghìn dân trở xuống được bầu
mười lăm đại biểu;
Thứ hai, xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến dưới ba nghìn
dân được bầu mười chín đại biểu;
Thứ ba, xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ ba nghìn dân đến bốn nghìn dân
được bầu hai mươi mốt đại biểu; có trên bốn nghìn dân thì cứ thêm một nghìn dân
được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi đại biểu;
Thứ tư, xã không thuộc trường hợp quy định của Luật tổ chức chính quyền địa
phường mà có từ năm nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên
năm nghìn dân thì cứ thêm hai nghìn năm trăm dân được bầu thêm một đại biểu,
nhưng tổng số không quá ba mươi đại biểu.
Thứ năm, thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân,
một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng
nhân dân xã. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu Hội đồng nhân dân

hoạt động chuyên trách.
Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội.
Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các
Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng
17


nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban
của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
1.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã
Đầu tiên, chính quyền địa phương ở xã có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc
thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã.
Thứ hai, chính quyền địa phương ở xã có quyền quyết định những vấn đề của
xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
Thứ ba, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp
trên ủy quyền.
Thứ tư, chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả
thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã.
Thứ năm, quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền
làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.
1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở xã
1.2.3.1 Hội đồng nhân dân
Với chức năng là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương thì Hội đồng
nhân dân ở xã được giao một số nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản như:
Một là, ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn
của Hội đồng nhân dân xã.
Hai là, quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh,
phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan

liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ
quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và
lợi ích hợp pháp khác của cơng dân trên địa bàn xã.
18


Ba là, bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ
tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân xã;
bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã.
Bốn là, thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của xã trước
khi trình Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt. Quyết định dự toán thu ngân sách nhà
nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã
trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã. Quyết định chủ
trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền.
Năm là, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc
thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của Thường
trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân
cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
Sáu là, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Hội đồng nhân dân xã bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.
Bảy là, bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân xã và chấp nhận việc đại biểu
Hội đồng nhân dân xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.
Tám là, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy
ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
1.2.3.2 Uỷ ban nhân dân
Uỷ ban nhân dân với vai trị là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
quản lý mọi mặt về đời sống, xã hội nên được giao cho một số nhiệm vụ, quyền hạn
như:

Thứ nhất, xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung như:
ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân
19


dân xã. Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an tồn xã hội, đấu tranh, phịng,
chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham
nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ
chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp
pháp khác của cơng dân trên địa bàn xã. Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong
trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã. Quyết định chủ trương đầu
tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền và tổ chức thực hiện
các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã.
Thứ hai, tổ chức thực hiện ngân sách địa phương.
Thứ ba, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân
cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã.
1.3 Đặc điểm và vai trị của chính quyền địa phương ở xã
1.3.1 Đặc điểm của chính quyền địa phương ở xã
Chính quyền địa phương ở xã là loại chính quyền điển hình và phổ biến ở Việt
Nam. Trong tổng số đơn vị hành chính lãnh cơ sở ở Việt Nam, xã là đơn vị hành
chính chiếm số lượng lớn hơn hẳn. Theo thống kê, hiện có 63 đơn vị hành chính cấp
tỉnh, 713 đơn vị hành chính cấp huyện và 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó
có 9.085 xã. Đặc điểm này là hệ quả tất yếu của nguyên tắc thiết lập bộ máy quản lý
nhà nước theo mơ hình tháp, theo đó, càng ở các cấp thấp hơn thì quy mơ, số lượng
cũng sẽ lớn hơn.
Việc thành lập chính quyền địa phương ở xã xuất phát từ các tiêu chí về diện
tích, dân số (số lượng, mật độ) và yếu tố văn hóa. Trong phạm vi quản lý của một
chính quyền địa phương ở xã, thường có rất ít sự khác biệt về văn hóa giữa các nhóm
dân cư, gắn với quy mơ, mật độ dân số hợp lý, trên một diện tích phù hợp với đặc


20


điểm dân cư, nghề nghiệp. Chính vì vậy mà chính quyền địa phương ở xã của Việt
Nam có đặc điểm sau:
Một là, chính quyền địa phương ở xã là loại chính quyền điển hình và phổ
biến ở Việt Nam. Trong tổng số đơn vị hành chính lãnh cơ sở ở Việt Nam, xã là đơn
vị hành chính chiếm số lượng lớn hơn hẳn. Theo thống kê, hiện có 63 đơn vị hành
chính cấp tỉnh, 713 đơn vị hành chính cấp huyện và 11.162 đơn vị hành chính cấp
xã, trong đó có 9.085 xã .
Đặc điểm này là hệ quả tất yếu của nguyên tắc thiết lập bộ máy quản lý nhà
nước theo mơ hình tháp, theo đó, càng ở các cấp thấp hơn thì quy mơ, số lượng cũng
sẽ lớn hơn. Việc thành lập chính quyền địa phương ở xã xuất phát từ các tiêu chí về
diện tích, dân số (số lượng, mật độ) và yếu tố văn hóa. Trong phạm vi quản lý của
một chính quyền địa phương ở xã, thường có rất ít sự khác biệt về văn hóa giữa các
nhóm dân cư, gắn với quy mơ, mật độ dân số hợp lý, trên một diện tích phù hợp với
đặc điểm dân cư, nghề nghiệp. Do đó, diện tích các đơn vị hành chính xã thường lớn
hơn các đơn vị hành chính cùng cấp ở đơ thị (phường, thị trấn) trong cùng một cấp
chính quyền; mật độ dân số, ngược lại, thường thấp ở vùng nông thôn và cao ở vùng
đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn. Với đặc điểm này, có thể thấy rằng, chính quyền
địa phương ở xã là một đối tượng cần có ưu tiên đặc biệt trong việc cải thiện năng
lực hay chất lượng điều hành, quản lý.
Hai là, chính quyền địa phương ở xã là chính quyền gần với cộng đồng dân
cư nhất, do vậy, tổ chức và hoạt động vừa phải đảm bảo tính hệ thống, nhất quán
vừa phải phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương. Địa bàn xã là nơi vừa diễn
ra hoạt động quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, vừa diễn ra các hoạt động tự
quản của dân, do dân tự tổ chức và tự thực hiện bằng hương ước, lệ tục hoặc những
quy định do người dân tự nguyện thiết lập và thực hiện (là thể chế tự quản trong
phạm vi từng thơn, làng, được cả cộng đồng nhất trí tán thành và mỗi thành viên tự


21


nguyện, tự giác thực hiện). Hương ước này phải phù hợp với pháp luật của nhà nước,
chủ trương đường lối của Đảng, đồng thời thể hiện những sắc thái văn hóa, những
truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư, bên cạnh đó pháp
luật, chính sách của Nhà nước phải được tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh. Đây là
quan hệ pháp lý giữa công dân với nhà nước mà chính quyền địa phương ở xã phải
tổ chức và thực hiện cho các công dân thực hiện bằng thẩm quyền, chức trách của
mình. Như vậy, trong hoạt động của chính quyền địa phương ở xã vừa phải đảm bảo
yêu cầu về tính thống nhất của pháp luật, vừa phải đảm bảo tạo điều kiện để phát
huy tính phong phú, đa dạng dựa trên đặc thù của từng xã.
Ba là, chính quyền địa phương ở xã là chủ thể quan trọng trực tiếp tổ chức
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
đến với nhân dân.Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện này cũng có tính chất phân 15
cấp theo nhiệm vụ, thẩm quyền của chính quyền địa phương ở xã. Ở đây thể hiện rất
rõ nét vai trị của chính quyền địa phương ở xã với tính cách là cấp cuối cùng trong
hệ thống chính quyền, trực tiếp thực hiện các giao dịch, giao tiếp với nhân dân mà
nếu thiếu nó, mọi chủ trương, mọi pháp luật chỉ mang tính chất lý thuyết, khơng thể
triển khai một cách hồn chỉnh trên thực tế.
Bốn là, chính quyền địa phương ở xã có bộ máy đơn giản nhất, có tính chun
mơn hóa không cao, chịu sự tác động từ nhân dân rất lớn. Theo quy định pháp luật
hiện hành, chính quyền địa phương ở xã bao gồm HĐND và UBND. Xét về mặt tổ
chức, HĐND gồm có Thường trực HĐND, các Ban của HĐND (Ban Pháp chế, Ban
Kinh tế - xã hội); UBND xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, 02 Ủy viên UBND,
giúp việc cho UBND gồm có 7 chức danh cơng chức chun mơn: Văn phịng –
thống kê, Trưởng cơng an, Chỉ huy trưởng qn sự, Địa chính – xây dựng – môi
trường, Tư pháp – hộ tịch, Văn hóa – xã hội – lao động – thương binh, Tài chính –
kế tốn. Các chức danh cơng chức chun mơn thường kiêm nhiệm nhiều mảng cơng

việc nên địi hỏi tính chun mơn hóa khơng cao, các nghiệp vụ khơng quá phức tạp
22


so với các công chức công tác trong cùng lĩnh vực ở cấp huyện, cấp tỉnh. Tuy nhiên,
do đặc điểm là cấp chính quyền cuối cùng, thực hiện các giao dịch, giao tiếp với
công dân một cách trực tiếp; bên cạnh đó, hầu hết cán bộ, cơng chức chính quyền
địa phương ở xã đều sinh sống ngay trên địa bàn quản lý nên có q trình tiếp xúc
thường xun với nhân dân ngay cả ngoài giờ làm việc. Do vậy, xét về mặt tâm lý,
đội ngũ công chức chịu ảnh hưởng lớn từ dư luận, các luồng ý kiến, quan điểm của
nhân dân địa phương đó. Từ đó, ít nhiều có ảnh hưởng đến q trình hoạt động, cơng
tác.
Năm là, chính quyền địa phương ở xã chịu nhiều tác động từ quan hệ dịng
họ, làng mạc và văn hóa làng xã có tác động mạnh nhất. Làng xã Việt Nam từ thời
xa xưa đã có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống nhân dân Việt Nam. Ơng Vũ
Đình Hòe – Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho rằng: "Muốn tìm hiểu lịch sử hình
thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, và muốn xây dựng lại
đất nước Việt Nam thì cũng phải bắt đầu bằng việc xây dựng lại cộng đồng làng xã.
Vì khơng có làng xã Việt Nam thì khơng có quốc gia Việt Nam"[24]. Cộng đồng
làng xã trước tiên là tập hợp của những dịng họ. Q trình hình thành và phát triển
của làng Việt Nam là sự chuyển đổi và phát triển từ liên kết hộ gia đình tiến lên là
liên kết họ hàng và các dòng họ với nhau. Tuy nhiên, đặc điểm này tồn tại chủ yếu
ở các xã nơng thơn và rất mờ nhạt ở các chính quyền địa phương ở phường, thị trấn.
Theo xu hướng phát triển phù hợp với mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước
chuyên nghiệp, các tác động mang tính quan hệ dịng họ, làng mạc sẽ giảm nhiều ở
mọi chính quyền địa phương ở xã, dù ở nông thôn hay đơ thị. Nghiên cứu đặc điểm
của chính quyền địa phương ở xã sẽ trực tiếp cung cấp các luận cứ cho việc thiết lập
bộ máy và xây dựng thể chế vận hành bộ máy chính quyền địa phương ở xã nhằm
đạt hiệu quả tốt nhất, hiệu lực cao nhất.
Sáu là sự thống nhất, đơi khi đến mức nhất thể hóa, quá trình lãnh đạo, quản

lý với quá trình trực tiếp triển khai thực hiện trên thực tế các đường lối, chủ trương,
23


chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước. Do phải quản lý một địa bàn lãnh
thổ nhất định với một số thơn/làng có truyền thống tự quản khá cao và chịu sự chế
ước của một số đặc điểm vùng miền, có khi của cả đặc điểm tộc người và tơn giáo,
nên chính quyền xã có vai trị độc lập tương đối. Vì thế, xét về nguyên tắc, trong tổ
chức và hoạt động của chính quyền xã, ln địi hỏi tính chất đa ngành, liên ngành
với một số nét đặc thù và tính độc lập nhất định tùy từng loại hình xã (xã đồng bằng,
xã vùng ven đơ, xã vùng núi, xã vùng đơng dân tộc ít người, xã có nhiều tín đồ các
tơn giáo,...).
1.3.2 Vai trị của chính quyền địa phương
1.3.2.1 Đối với nhân dân
Chính quyền địa phương là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp
và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của
nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trị của chính quyền địa phương thể hiện được
nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước,
của bộ máy nhà nước nói chung. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ
đạo. Tư tưởng cơ bản trong tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó là
vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trị chủ động tích cực của địa
phương.
Chính quyền địa phương cơ sở là chính quyền được tổ chức ra nhằm bảo đảm,
bảo vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân, nhân dân là đối tượng cơ bản để
chính quyền phục vụ. Xét dưới góc độ vai trị của nhà nước thì nhân dân chính là
chủ thể của quyền lực nhà nước. Theo đó, chính quyền địa phương cơ sở phải là
chính quyền do nhân dân tổ chức ra, của nhân dân và hoạt động vì nhân dân. Chính
quyền xã là cầu nối giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã, đại diện cho
nhà nước, để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ

trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước ở xã. Chính quyền xã giữ
24


vai trị quan trọng trong việc thực hiện cơng tác quản lý các vấn đề phát triển xã hội
ở nông thơn vì vậy, tổ chức do nhân dân làm chủ và phải chịu trách nhiệm trước
nhân dân; về hoạt động do cán bộ, công chức tiến hành phải xuất phát trên nền tảng
lợi ích của nhân dân và vì nhân dân để phục vụ.
1.3.2.2 Đối với bộ máy nhà nước
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có tư cách là một bộ phận cấu thành của
bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức
quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền
lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổ Việt Nam.
HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là một bộ phận
cấu thành không thê tách rời với quyền lực Nhà nước thống nhất trong cả nước, vừa
đại diện cho ý chí và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. HĐND ở xã vừa đóng
vai trị là cơ quan nhà nước, vừa là cơ quan dân cử thể hiện quyền tự quản ở địa
phương. Vì vậy mà với tư cách cơ quan quyền lực nhà nước địa phương thì HĐND
ở xã được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực Nhà nước, quyết định
những vấn đề quan trọng ở địa phương, ban hành nghị quyết chứa quy phạm pháp
luật mang tính quyền lực nhà nước bắt buộc đối với UBND cùng cấp và nhân dân ở
tại địa phương đó. Mặt khác, HĐND lại là cơ quan đại diện cho nhân dân do cử tri
địa phương bầu ra chính vì thế mà HĐND phải đại diện nhằm thể hiện tiếng nói, ý
chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương khi đưa ra quyết định của mình.
UBND đóng vai trò hết sức quan trọng khi UBND vừa là cơ quan chấp hành
HĐND, vừa là cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở. UBND ở xã đại diện cho
quyền lực nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh
vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật. Tổ chức và chỉ đạo
việc thi hành pháp luật, Nghị quyết của HĐND cùng cấp. Ngoài ra, với tư cách là cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND ở xã có vai trị trong việc quản lý


25


×