Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Tài liệu Nghiên cứu sâu về Ấn bản DB2 Advanced Enterprise Server Phần 3: Quản lý tải công việc pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (730.09 KB, 11 trang )

Nghiên cứu sâu về Ấn bản DB2 Advanced Enterprise Server
Phần 3: Quản lý tải công việc
Trình quản lý tải công việc DB2 (WLM)
Các máy chủ cơ sở dữ liệu hiện nay thường xuyên bị tràn ngập một loạt các hoạt động cơ sở dữ
liệu, thường là từ nhiều nguồn khác nhau. WLM của DB2 cho phép bạn giám sát và kiểm soát
việc thực hiện công việc trên một hệ thống cơ sở dữ liệu. Điều này sẽ giúp bạn tối đa hóa hiệu
quả hệ thống và/hoặc lưu lượng, cũng như giúp bạn đạt được các mục tiêu về hiệu năng nghiệp
vụ. WLM là một phần thiết yếu của DB2 AESE của IBM, luôn có mặt và nhận biết bất cứ khi
nào có một cơ sở dữ liệu DB2 đang hoạt động. Tất cả công việc chạy qua WLM, thậm chí là qua
cấu hình mặc định. Một tính năng bổ sung của WLM là theo tùy chọn bạn có thể tích hợp với
việc quản lý tải công việc của hệ điều hành AIX hoặc Linux, cho phép bạn tận dụng các khả
năng của cả hai khi cần thiết.
Trình quản lý tải công việc DB2 (DB2 WLM) có thể:
 cung cấp các chức năng và độ chi tiết mà bạn cần để giám sát và kiểm soát đúng đắn
công việc trong môi trường thực thi DB2 của bạn.
 cho phép bạn phân bổ tài nguyên quan trọng giữa các bộ phận khác nhau của doanh
nghiệp của bạn để giúp đảm bảo các SLA của bạn được đáp ứng.
 cho phép bạn đạt được cách sử dụng tốt hơn các phần cứng hiện có với việc cân bằng tải.
 giúp bạn tự động phát hiện ra và hành động ngay với bất kỳ các câu lệnh có hành vi
không đúng nào trước khi chúng có bất kỳ tác động đáng kể nào đến hệ thống của bạn.
 cho phép bạn tận dụng môi trường quản lý tải công việc của hệ điều hành (AIX và Linux)
để giúp bổ sung các khả năng giám sát và kiểm soát DB2.
Các phần tiếp theo sẽ mô tả khái niệm về nền tảng WLM của DB2 cũng như một số các tính
năng giám sát và các tính năng khác có sẵn thông qua WLM.
Về đầu trang
Các lớp dịch vụ
Một lớp dịch vụ là một trong số các thành phần cơ bản của WLM của DB2. Mục đích của một
lớp dịch vụ là định nghĩa một môi trường thực hiện mà trên đó có thể chạy được công việc của
một máy chủ dữ liệu. Các lớp dịch vụ dùng làm điểm chính của việc phân phối, kiểm soát và
giám sát tài nguyên để thực hiện công việc trong DB2. Tất cả các công việc được gửi đến thông
qua một kết nối người dùng, sẽ thực hiện trong một lớp dịch vụ DB2.


Các định nghĩa lớp dịch vụ, giống như tất cả các định nghĩa đối tượng WLM, được lưu trữ trong
các danh mục DB2 và được đọc vào bộ nhớ khi cơ sở dữ liệu khởi động. Cấu hình WLM được
lưu trữ trong bộ nhớ là giống nhau trên tất cả các phân vùng trong một môi trường DPF (Tính
năng phân vùng cơ sở dữ liệu).
Có 3 lớp dịch vụ mặc định trong DB2:
 SYSDEFAULTUSERCLASS — Tất cả các hoạt động của người dùng chạy trong lớp
dịch vụ này trừ khi các lớp dịch vụ khác được tạo ra đặc biệt.
 SYSDEFAULTMAINTENANCECLASS — Lớp dịch vụ này được sử dụng để dò vết
các yêu cầu DB2 bên trong đang thực hiện các nhiệm vụ quản trị và bảo trì, ví dụ như
làm sạch chỉ mục không đồng bộ, ghi dữ liệu thống kê (runstats) tự động, tái tổ chức tự
động và sao lưu tự động.
 SYSDEFAULTSYSTEMCLASS — Lớp dịch vụ này được sử dụng để dò vết công việc
DB2 bên trong đang thực hiện các nhiệm vụ ở mức hệ thống như các trình làm sạch
trang, các trình tìm nạp trước (prefetcher - một thành phần của trình quản lý bộ nhớ để
tăng tốc độ quá trình khởi động Windows) và các trình viết bản ghi nhật ký.
Có hai kiểu lớp dịch vụ được tổ chức trong một hệ thống phân cấp hai tầng:
 Các siêu lớp dịch vụ là tầng cao hơn dành cho công việc và có thể được coi như là các
thực thể logic cung cấp các thuộc tính phổ biến trên các lớp con dịch vụ.
 Các lớp con dịch vụ là nơi mà các hoạt động thực sự chạy. Một hoặc nhiều lớp con có thể
tồn tại trong một siêu lớp dịch vụ và một lớp con mặc định được tạo tự động cho mỗi siêu
lớp. Lớp con mặc định đó là nơi mà bất kỳ công việc nào được ánh xạ tới siêu lớp (tức là
không được ánh xạ trực tiếp vào một lớp con do người dùng định nghĩa) sẽ chạy.
Có một số cách để định nghĩa quyền ưu tiên và kiểm soát tài nguyên cho các lớp dịch vụ:
 Quyền ưu tiên CPU có thể được kiểm soát theo hai cách: thông qua việc quản lý tải công
việc AIX hoặc Linux; hoặc bằng cách sử dụng quyền ưu tiên của đại lý, có thể được thiết
lập trên tất cả các lớp dịch vụ DB2. Quyền ưu tiên đại lý ảnh hưởng đến việc thiết lập
quyền ưu tiên đại lý tương đối cho các đại lý đang chạy trong lớp dịch vụ.
 Quyền ưu tiên tìm nạp trước gán một mức ưu tiên cho các yêu cầu tìm nạp trước và có
ảnh hưởng đến thứ tự mà máy chủ dữ liệu giải quyết chúng.
 Quyền ưu tiên nhóm bộ đệm ảnh hưởng đến số lượng trang trong nhóm bộ đệm đã được

truy cập bởi các hoạt động trong một lớp dịch vụ cụ thể.
Về đầu trang
Các tải công việc
Một tải công việc xác định công việc đến dựa trên một tập các thuộc tính kết nối do người dùng
định nghĩa. Tất cả các kết nối của người dùng ánh xạ tới một tải công việc DB2 và nếu không tồn
tại các định nghĩa tải công việc do người dùng định nghĩa, kết nối của người dùng sẽ được ánh
xạ tới tải công việc người dùng mặc định (SYSDEFAULTUSERWORKLOAD). Các tải công
việc xác định ai đã gửi công việc đến và sau đó định tuyến công việc tới một lớp dịch vụ DB2 để
thực hiện. Các kết nối được ánh xạ tới một tải công việc cụ thể khi kết nối được thiết lập và các
ánh xạ kết nối được tính toán lại tại ranh giới của đơn vị của công việc khi cần thiết.
Các thuộc tính kết nối có thể được định nghĩa cho một tải công việc là:
 tên ứng dụng — có thể sử dụng các ký tự đại diện (*)
 Mã định danh ủy quyền (người dùng, nhóm, vai trò)
 thông tin máy khách (mã định danh người dùng máy khách, applname của máy khách,
wrkstnname của máy khách, accstr của máy khách) có thể được thiết lập qua sqleseti
hoặc WLM_SET_CLIENT_INFO — có thể sử dụng các ký tự đại diện (*)
 địa chỉ IP
 bất kỳ tổ hợp nào nói trên
Khi một kết nối đi vào hệ thống cơ sở dữ liệu, các thuộc tính của kết nối đó được so sánh với các
thuộc tính định nghĩa tải công việc DB2. Kết nối sẽ được ánh xạ tới định nghĩa tải công việc đầu
tiên được tìm thấy (tìm kiếm theo thứ tự được quy định theo trình tự tính toán) có các thuộc tính
của nó khớp với các thuộc tính kết nối.
Hình 1 cho thấy môi trường WLM của DB2 không có tuỳ chỉnh của người dùng (các thiết lập
mặc định). Tất cả các kết nối người dùng được ánh xạ tới tải công việc người dùng mặc định, mà
sau đó tải này lại ánh xạ trực tiếp tới lớp dịch vụ người dùng mặc định. Tất cả các hoạt động bảo
trì bên trong được ánh xạ trực tiếp tới lớp dịch vụ bảo trì mặc định và tất cả các hoạt động của hệ
thống được ánh xạ trực tiếp đến lớp dịch vụ hệ thống mặc định.

Hình 1. Môi trường WLM DB2 mặc định


Hình 2 cho thấy một môi trường WLM DB2 có tùy chỉnh với các yêu cầu từ các ứng dụng khác
nhau đang được các tải công việc ánh xạ tới các lớp dịch vụ cụ thể. Các kết nối không khớp với
một tải công việc cụ thể do người dùng định nghĩa được ánh xạ tới tải công việc người dùng mặc
định mà sau đó nó ánh xạ hoạt động của mình đến lớp dịch vụ người dùng mặc định.

Hình 2. Môi trường WLM của DB2 có tùy chỉnh

Về đầu trang
Các ngưỡng
Các ngưỡng cung cấp một cách tự động để giám sát và kiểm soát các hoạt động hoặc các kết nối
có thể đang hoạt động xấu hoặc không mong đợi. Mục đích chính của chúng là duy trì tính ổn
định của hệ thống. Có nhiều kiểu ngưỡng khác nhau. Một số giám sát và tác động đến các hoạt
động (ví dụ như một truy vấn hoặc DDL) và một số khác giám sát và tác động đến các kết nối.
Một số là dự phòng trước trong đó chúng phản ứng trước khi công việc thậm chí được khởi động
ví dụ như ngăn không cho chạy một truy vấn có ước tính chi phí (timerons) quá lớn. Các ngưỡng
khác là phản ứng lại và sẽ giám sát và phản ứng dựa vào các khía cạnh khác nhau của công việc
hiện đang thực hiện ví dụ như thời gian dùng cho việc thực hiện hoặc việc tiêu dùng tài nguyên.
Và vẫn còn các ngưỡng khác, các ngưỡng tương tranh, về bản chất là dự phòng trước, giám sát
và phản ứng dựa vào số lượng các kết nối đang hoạt động hoặc các hoạt động đang chạy. Các
ngưỡng cũng có thể được áp dụng tại các miền khác nhau ví dụ như cơ sở dữ liệu, lớp dịch vụ
hoặc tải công việc.
Dưới đây là danh sách của tất cả các ngưỡng WLM hiện có sẵn được nhóm lại dựa theo kiểu của
chúng, cùng với một mô tả ngắn gọn về mỗi ngưỡng.
Các ngưỡng dự phòng trước
Hoạt động
 ESTIMATEDSQLCOST điều khiển kích thước của một hoạt động DML có thể chạy. Tại
thời gian biên dịch, trình tối ưu hóa DB2 tạo ra một chi phí ước tính, sau đó được ngưỡng
này sử dụng để xác định liệu có nên được cho phép chạy hay không, trước khi hoạt động
DML khởi động.
Kết nối (Gộp chung)

 TOTALDBPARTITIONCONNECTIONS kiểm soát số lượng các ứng dụng đang nối đến
cùng một phân vùng (trình điều phối).
 TOTALSCPARTITIONCONNECTIONS kiểm soát số lượng các ứng dụng được gán cho
một lớp dịch vụ cụ thể trên một phân vùng. Đây là một ngưỡng bắt xếp hàng.
Hoạt động (Gộp chung)
 CONCURRENTWORKLOADACTIVITIES kiểm soát số lượng các hoạt động xảy ra
đồng thời có thể chạy, tính theo đầu mỗi tải công việc trên một phân vùng.
 CONCURRENTDBCOORDACTIVITIES kiểm soát số lượng các hoạt động xảy ra đồng
thời có thể chạy trên một cơ sở dữ liệu trên tất cả các phân vùng. Đây là một ngưỡng bắt
xếp hàng và được xem là một trong những ngưỡng mạnh nhất do nó đã được chứng minh
là rất có hiệu quả trong việc kiểm soát tiêu dùng tài nguyên.
Cá thể tải công việc (Gộp chung)
 CONCURRENTWORKLOADOCCURRENCES kiểm soát số cá thể tải công việc của
một tải công việc cụ thể có thể chạy tại một thời điểm. Một cá thể tải công việc là một kết
nối được gắn với một định nghĩa tải công việc. Ví dụ nếu kết nối APPLICATIONA được
ánh xạ tới WORKLOADA, kết nối APPLICATIONA được coi là một cá thể của
WORKLOADA.
Các ngưỡng phản ứng
Hoạt động
 ACTIVITYTOTALTIME kiểm soát tổng thời gian mà một hoạt động có thể dùng để
chạy, bao gồm cả thời gian chờ đợi hoặc xếp hàng bất kỳ.
 SQLROWSRETURNED kiểm soát số lượng các hàng có thể được một hoạt động trả về
cho ứng dụng.
 CPUTIME và CPUTIMEINSC kiểm soát số lượng thời gian CPU mà một hoạt động có
thể tiêu dùng trong suốt vòng đời của nó trên một phân vùng.
 SQLTEMPSPACE kiểm soát số lượng vùng bảng tạm thời của hệ thống mà một hoạt
động có thể tiêu dùng trên một phân vùng.
 SQLROWSREAD và SQLROWSREADINSC kiểm soát số lượng các hàng mà một hoạt
động có thể đọc trong suốt vòng đời của nó trên một phân vùng.
Hoạt động (Gộp chung)

 AGGSQLTEMPSPACE kiểm soát tổng mức tiêu thụ trong sử dụng vùng bảng tạm thời
của hệ thống bởi các hoạt động trong một lớp dịch vụ, tính theo mỗi phân vùng cơ sở dữ
liệu.
Kết nối
 CONNECTIONIDLETIME kiểm soát lượng thời gian mà một kết nối có thể ở trạng thái
chờ.
Các ngưỡng khác
 UOWTOTALTIME UOWTOTALTIME kiểm soát tổng số thời gian mà trình quản lý cơ
sở dữ liệu sẽ cho phép một đơn vị công việc thực hiện.
Các hành động vi phạm ngưỡng
Một hành vi vi phạm ngưỡng xảy ra khi công việc đang chạy trên hệ thống DB2 của bạn làm
chạm tới một giá trị đã quy định cho một ngưỡng (ví dụ, một hoạt động DML với một chi phí
ước tính lớn hơn cái mà ngưỡng ESTIMATEDSQLCOST đã quy định). Bất cứ khi nào một
ngưỡng bị vi phạm, nếu một trình giám sát sự kiện THRESHOLDVIOLATIONS đã được tạo ra
và được kích hoạt, thì một bản ghi có chứa thông tin như tên ngưỡng, đã bị vi phạm khi nào, đã
thực hiện hành động nào và v.v được chèn vào các bảng của trình giám sát sự kiện.
Ngoài ra, khi một ngưỡng bị vi phạm, một trong các hành động sau đây có thể được thực hiện.
(Lưu ý: một số trong các hành động này chỉ áp dụng cho một số kiểu ngưỡng cụ thể).
 Dừng ngăn không cho hoạt động hoặc kết nối tiếp tục chạy. Hành động này sẽ gửi một
sqlcode phủ định trả lại tới ứng dụng, cho biết rằng ngưỡng này đã bị vượt quá.
 Tiếp tục cho phép hoạt động hoặc kết nối tiếp tục chạy. Nếu được sử dụng với trình giám
sát sự kiện THRESHOLDVIOLATION, hành động này có thể có ích khi cố gắng tìm
hiểu để thiết lập các ngưỡng ở những giá trị nào mà không làm ảnh hưởng tiêu cực đến
công việc của bạn. Khi ngưỡng bị vi phạm, hoạt động hoặc kết nối được phép tiếp tục,
nhưng thông tin được thu thập sau đó có thể được phân tích và giúp cung cấp sự hiểu biết
sâu sắc về việc liệu có nên điều chỉnh các giá trị ngưỡng hay không.
 Buộc dừng ứng dụng chỉ có sẵn với ngưỡng UOWTOTALTIME. Khi hành động này
được quy định và ngưỡng này bị vượt quá, hệ thống sẽ buộc phải tắt ứng dụng.
 Ánh xạ lại chỉ có sẵn cho hai ngưỡng "trong lớp dịch vụ" (CPUTIMEINSC và
SQLROWSREADINSC). Hành động này sẽ làm cho hoạt động này được ánh xạ đến một

lớp con dịch vụ trong cùng siêu lớp dịch vụ. Hành động này có thể có ích nếu bạn muốn
giảm ưu tiên của một hoạt động hiện đang thi hành vì nó tiêu dùng quá nhiều CPU hoặc
đọc quá nhiều hàng.
 Thu thập dữ liệu hoạt động cho phép bạn thu thập thông tin bổ sung về hoạt động gây ra
sự vi phạm ngưỡng. Nếu trình giám sát sự kiện ACTIVITY được tạo ra và được kích
hoạt, thông tin như là văn bản câu lệnh, môi trường biên dịch và các giá trị dữ liệu đầu
vào sẽ được thu thập.
Bắt xếp hàng
Có 2 ngưỡng WLM của DB2 (CONCURRENTDBCOORDACTIVITIES và
TOTALSCPARTITIONCONNECTIONS) cung cấp cho bạn khả năng đưa các hoạt động hoặc
kết nối quá mức vào một hàng đợi. Thay vì dừng hoạt động hoặc kết nối và gây ảnh hưởng tiêu
cực đến tải công việc, nó được đưa vào một hàng đợi ở đó nó chờ đến lượt của mình để chạy.
Đối với người dùng cuối, nó chỉ đơn giản xuất hiện như thể hoạt động hoặc kết nối đang chạy. Vì
thế, các ngưỡng bắt xếp hàng thường được sử dụng, đặc biệt là ngưỡng
CONCURRENTDBCOORDACTIVIES.
Về đầu trang
Các tập lớp công việc và các tập hành động công việc
Trong khi các tải công việc cho phép bạn xác định và xử lý công việc khác nhau dựa vào "người
nào" gửi công việc đến (thông qua các thuộc tính kết nối), các tập lớp công việc và các tập hành
động công việc cho phép bạn xác định và xử lý công việc khác nhau dựa trên kiểu công việc
Các lớp công việc sẽ được dùng để xác định các kiểu công việc khác nhau dựa trên các thuộc
tính của công việc. Các tập lớp công việc được tạo nên bởi một hoặc nhiều lớp công việc. Các ví
dụ về các kiểu công việc được công nhận có thể xác định bao gồm READ, WRITE, DML (một
tổ hợp của READ và WRITE) CALL, DDL, LOAD và ALL. Ngoài ra, có thể tiếp tục khoanh
các công việc bởi:
 Chi phí dự kiến (theo timerons) — hợp lệ với các lớp công việc kiểu READ, WRITE,
DML, ALL
 Bản số (phạm vi số lượng các hàng dự kiến được trả về) — hợp lệ với các lớp công việc
kiểu READ, WRITE, DML, ALL
 Tên lược đồ — hợp lệ với các lớp công việc kiểu CALL, ALL

Một khi công việc đã được xác định bằng cách sử dụng các lớp công việc và các tập lớp công
việc, các hành động công việc và các tập hành động công việc có thể được sử dụng để áp đặt
điều gì sẽ xảy ra với công việc đó bằng cách thực hiện một hành động cụ thể trên nó. Một hành
động công việc biểu diễn một hành động có thể được áp dụng cho công việc nằm trong một lớp
công việc. Một tập hành động công việc là một nhóm một hoặc nhiều hành động công việc và có
thể được áp dụng cho các hoạt động trong một siêu lớp dịch vụ, một tải công việc hoặc toàn thể
cơ sở dữ liệu nói chung. Nếu bạn định nghĩa một tập hành động công việc cho một cơ sở dữ liệu
hoặc tải công việc, thì có thể áp dụng một số kiểu hành động cho các hoạt động nằm trong một
lớp công việc, như các ngưỡng hoạt động, ngăn cản việc thực hiện (không cho hoạt động khởi
động), thu thập dữ liệu hoạt động và đếm hoạt động. Nếu bạn định nghĩa tập hành động công
việc cho một siêu lớp dịch vụ, các kiểu hành động khác nhau mà bạn có thể áp dụng cho các hoạt
động bao gồm ánh xạ các hoạt động đến một lớp con dịch vụ, ngăn cản việc thực hiện, thu thập
dữ liệu của hoạt động hoặc gộp nhóm dữ liệu và đếm hoạt động.
Hình 3 cho thấy một trong những ví dụ phổ biến nhất về cách sử dụng tiêu biểu các tập lớp công
việc và các tập hành động công việc. Trong ví dụ này, tất cả các hoạt động DML được ánh xạ tới
siêu lớp dịch vụ "MAIN_SC" sẽ chuyển qua tập hành động công việc của siêu lớp dịch vụ
(SC_WAS) — ngoại trừ những hoạt động thuộc về tải công việc MARKETINGAPP. Vì
MARKETINGAPP ánh xạ công việc của nó trực tiếp tới lớp con dịch vụ MARKETING_SSC,
nó không bị ảnh hưởng bởi tập hành động công việc SC_WAS — và thực sự bỏ qua tập này. Tuy
nhiên, tất cả các hoạt động DML nhỏ đến từ bất kỳ "các ứng dụng phát triển" nào sẽ được ánh xạ
thông qua tập hành động công việc đến lớp con SMALLQUERY_SSC. Tương tự như vậy, tất cả
các hoạt động DML trung bình và lớn sẽ được ánh xạ tương ứng tới lớp con MEDQUERY_SSC
và lớp con LARGEQUERY_SSC. Do ví dụ này đang sử dụng SC_WAS để ánh xạ chỉ các hoạt
động DML, nên bất kỳ kiểu hoạt động khác nào từ "các ứng dụng phát triển" sẽ chạy trong lớp
con dịch vụ mặc định.
Bạn có thể bắt đầu thấy sức mạnh thực sự của việc thiết lập đã mô tả trong Hình 3 khi bạn áp
dụng các ngưỡng tương tranh (ví dụ, CONCURRENTDBCOORDACTIVITIES) cho các lớp
dịch vụ có chứa các hoạt động DML lớn hơn. Bằng cách này, bạn có thể kiểm soát số lượng các
truy vấn trung bình và lớn có thể chạy đồng thời, bắt xếp hàng đợi bất cứ thứ gì vượt quá và dành
nhiều tài nguyên hệ thống hơn cho các truy vấn nhỏ hơn.


Hình 3. Ví dụ ánh xạ tập hành động công việc

Về đầu trang
Tích hợp với WLM của hệ điều hành (AIX, Linux)
WLM của DB2 cung cấp khả năng tùy chọn để tích hợp chặt chẽ các lớp dịch vụ DB2 với một số
các tính năng quản lý tải công việc do hệ điều hành (OS) AIX hoặc Linux (kernel 2.6.26 hoặc
cao hơn) cung cấp. Mỗi lớp dịch vụ DB2 có thể được gắn kết với một lớp dịch vụ đối tác của hệ
điều hành bằng cách chỉ rõ thẻ OUTBOUND CORRELATOR khi tạo hoặc thay đổi một lớp dịch
vụ DB2. Khi sử dụng thẻ đó, DB2 sẽ gắn kết động tất cả các đại lý (các luồng) đang làm việc
trong lớp dịch vụ DB2 với lớp dịch vụ tương đương của hệ điều hành. Điều này cho phép bạn tận
dụng lợi thế của việc kiểm soát tài nguyên CPU và số liệu thống kê quản lý tải công việc do hệ
điều hành cung cấp để giúp bổ sung cho những thứ do WLM của DB2 cung cấp
Về đầu trang
Giám sát
Một giai đoạn thiết yếu của việc quản lý tải công việc là giám sát. Trong WLM của DB2, các khả
năng giám sát cho phép bạn làm những việc như nhận ra các thay đổi về sức khỏe của hệ thống,
truy vấn ngược đến nguồn gốc của các vấn đề và điều chỉnh hệ thống của bạn để cho hiệu quả tối
ưu. Có hai kiểu thông tin giám sát: thời gian thực (những gì hiện đang chạy trong hệ thống) và
lịch sử (những gì đã chạy trong quá khứ). Cần lưu ý rằng cả hai việc giám sát thời gian thực và
giám sát lịch sử được mô tả dưới đây đều có sẵn trong sản phẩm cơ bản của DB2 thông qua cấu
hình WLM mặc định. Tuy nhiên, bạn không thể xác định những gì cần giám sát dựa vào các đối
tượng WLM do người dùng định nghĩa (ví dụ như các lớp dịch vụ, các tải công việc, v.v ) khi
không có giấy phép WLM.
Giám sát thời gian thực bằng cách sử dụng các chức năng bảng
Khi sử dụng các chức năng bảng bắt đầu bằng WLM_ hay MON_, bạn có thể truy cập thông tin
thời gian thực về việc thực hiện công việc trên hệ thống của mình. Chúng có thể cung cấp các số
liệu thống kê để giúp xác định các mẫu sử dụng và phân bổ tài nguyên; xác định các vùng vấn đề
và đưa ra một ý tưởng tổng thể về sức khỏe của một máy chủ cơ sở dữ liệu DB2. Cũng có thể sử
dụng dữ liệu do một số các chức năng bảng này cung cấp làm đầu vào cho các công cụ của bên

thứ ba khác hoặc kết hợp với một kịch bản lệnh bổ sung để phân tích.
Dưới đây là một số ví dụ về các chức năng bảng cho thấy công việc đang chạy trên hệ thống, dữ
liệu được các đối tượng WLM của DB2 tổng hợp hoặc thông tin thống kê về các đối tượng khác
nhau:
 WLM_GET_SERVICE_CLASS_WORKLOAD_OCCURRENCES_V97 trả về một danh
sách các cá thể tải công việc trên các phân vùng cơ sở dữ liệu được giao cho một lớp dịch
vụ.
 WLM_GET_SERVICE_CLASS_WORKLOAD_OCCURRENCES_V97 trả về một danh
sách các cá thể tải công việc trên các phân vùng cơ sở dữ liệu được giao cho một lớp dịch
vụ.
 MON_GET_WORKLOAD trả về các số liệu thống kê của một hoặc nhiều tải công việc.
 MON_GET_SERVICE_SUBCLASS trả về các số liệu thống kê của một hoặc nhiều lớp
con dịch vụ.
 WLM_GET_SERVICE_SUPERCLASS_STATS trả về số liệu thống kê cơ bản cho một
hoặc nhiều siêu lớp dịch vụ.
Giám sát lịch sử bằng cách sử dụng các trình giám sát sự kiện
Giám sát lịch sử là có ích để xem những gì đã xảy ra trên một hệ thống. Các trình giám sát sự
kiện được tạo ra để thu thập thông tin có thể dùng trong tương lai hoặc để phân tích lịch sử. Các
trình giám sát sự kiện không gây ra các sự kiện — chúng là các máy thu thụ động các sự kiện.
Mặc dù có nhiều trình giám sát sự kiện, ở đây có ba trình giám sát sự kiện WLM:
 Trình giám sát sự kiện của hoạt động nắm bắt thông tin chi tiết về các hoạt động riêng lẻ
trong một lớp dịch vụ, tải công việc, lớp công việc hoặc các hoạt động đã vi phạm một
ngưỡng. Số lượng dữ liệu cần nắm bắt có thể cấu hình được. Có thể thu thập thông tin
như là mã nhận dạng WLM, số liệu thống kê thời gian cơ bản, văn bản câu lệnh, môi
trường biên dịch và các giá trị dữ liệu.
 Trình giám sát sự kiện về các vi phạm ngưỡng được sử dụng để nắm bắt thông tin về hoạt
động hoặc kết nối đã làm cho ngưỡng này bị vi phạm. Nó sẽ thu thập thông tin như
ngưỡng đã bị vi phạm, nó đã bị vi phạm khi nào và hành động đã được thực hiện.
 Trình giám sát sự kiện số liệu thống kê được sử dụng để nắm bắt thông tin hoạt động tổng
hợp ví dụ như số lượng các hoạt động đã hoàn thành và thời gian thực hiện trung bình.

Dữ liệu tổng hợp bao gồm các hoành đồ với một số phép đo lường hoạt động ví dụ như
các giá trị trung bình và các độ lệch chuẩn. Ví dụ, các hoành đồ có thể cho biết trong một
khoảng thời gian cụ thể đã cho có bao nhiêu hoạt động đã hoàn thành trong một giây
hoặc ít hơn, có bao nhiêu hoạt động đã hoàn thành trong vòng 5 giây và có bao nhiêu
hoạt động mất nhiều hơn 5 giây.
Các khả năng khác
WLM của DB2 cũng cung cấp nhiều khả năng và chức năng khác.
 Các thủ tục đã lưu sẵn có thể được sử dụng để hủy bỏ một hoạt động, nắm bắt thông tin
chi tiết về một hoạt động, đặt lại số liệu thống kê về các đối tượng WLM của DB2 và
thiết lập thông tin máy khách tại máy chủ dữ liệu.
 Giả định bạn đã thu thập một số thông tin hoạt động, một cặp kịch bản lệnh Perl mẫu sẽ
tạo ra thông tin lịch sử về các bảng, các chỉ mục và các cột nào đã được hoặc không được
truy cập.
 Một kịch bản lệnh Perl mẫu để giúp cho việc di trú dễ dàng từ DB2 Query Patroller
(Trình tuần tra truy vấn DB2) đã lạc hậu sang DB2 WLM.

×