Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

huy động vốn và cho vay tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh thanh hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (14.39 MB, 105 trang )





LUẬN VĂN:

Huy động vốn và cho vay tín dụng tại
quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa
bàn tỉnh Thanh Hoá






Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng, khả năng
nguồn vốn còn hạn hẹp, nhu cầu công ăn việc làm là rất cấp bách. Nỗ lực đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng
về nông - lâm - ngư nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, đưa công nghệ sinh học và các phương pháp tiên tiến vào nông
nghiệp, đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cả thành thị và nông
thôn, tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ…góp phần
tăng trưởng phát triển kinh tế nói chung và nông thôn nói riêng đang là vấn đề bức xúc.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững cần
có vốn. ở nước ta theo các đánh giá của một số chuyên gia kinh tế, vốn đóng góp khoảng
60-70% mức tăng trưởng, còn lại 30-40% là các yếu tố khác. Vì vậy vốn là yếu tố quan
trọng trong chiến lược phát triển, là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là khu
vực nông nghiệp, nông thôn.


Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá hiện nay khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên
75% dân số và hơn 70% lao động xã hội tập trung ở địa bàn nông thôn. Để phục vụ mục
tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách tín dụng Ngân hàng đã được đổi mới
đồng bộ và hữu hiệu. Một trong những chủ trương chính sách đổi mới quan trọng về tín
dụng ở khu vực nông thôn là: “Chủ trương thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân”.
Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân nói chung và quỹ tín dụng cơ sở nói riêng đã khai
thác nguồn vốn tại chỗ, đáp ứng trực tiếp, kịp thời cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời
sống nhân dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông
thôn.
Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy tình trạng khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn
thiếu vốn sản xuất kinh doanh; nạn cho vay nặng lãi, đáp ứng nhu cầu vốn chưa kịp thời.

Việc huy động vốn và cho vay tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân vừa trực tiếp góp
phần khắc phục tình hình thực tế trên, vừa góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên điạ bàn tỉnh Thanh Hoá càng trở nên quan trọng, bức
xúc.
Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: ”Huy động vốn và cho vay tín
dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” làm luận văn tốt
nghiệp cao học thực sự có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) với tư cách một loại hình tổ chức tín dụng hợp
tác xã kiểu mới, đến nay, xét về mặt pháp lý đã được hơn 10 năm. QTDND đã được cơ
quan hữu quan và nhiều người dân quan tâm dưới góc độ khác nhau.
* Về mặt cơ sở pháp lý ra đời, tổ chức và hoạt động của QTDND:
- Pháp lệnh số 38-HĐBT ngày 23/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ): Về tổ chức ngân hàng, HTX, công ty tài chính.
- Nghị định số 178 ngày 29/12/1999 của Chính phủ: Về đảm bảo tiền vay của tổ
chức tín dụng.
- Quyết định số 67-CP ngày 30/3/1999 của Chính phủ: về chính sách cho vay phục
vụ phát triển đất nông nghiệp, nông thôn.

- Chỉ thị 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ chính trị: Về củng cố, hoàn thiện và
phát triển QTDND.
- Quyết định số 135/2000-QĐ/TTg ngày 21/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ:
Về phê duyệt đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển QTDND.
* Một số nghiên cứu của các tác giả:
- Nguyễn Khải (2000), Một số đánh giá về hoạt động của QTDND cơ sở, Tạp chí
Thị trường tài chính - Tiền tệ, số 9.
- Nguyễn Nghĩa (1998), Lý thuyết và thực tiễn vận hành hệ thống QTDND Việt
Nam, Tạp chí Thị trường tài chính - Tiền tệ, số 8.
- Nguyễn Ngọc Oánh (1999), Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện mô hình QTDND
theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và luật Hợp tác xã, Tạp chí Ngân hàng, số
10.

- Lê Phi Phu (1998), Bàn về cấu trúc và chức năng, nhiệm vụ của liên minh
QTDND Việt Nam, Tạp chí Thị trường tài chính - Tiền tệ, số 7.
- Phạm Quang Vinh (2002), Mô hình hợp tác xã tín dụng kiểu mới và tính liên kết
hệ thống, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 290.
- Lê Xuân Đào (2007), Hoàn thiện quản lý QTDND trên địa bàn tỉnh Kon Tum,
Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Những quy định pháp lý và nghiên cứu trên đây đề cập một số nội dung về mô
hình tổ chức và vận hành QTDND, chưa đề cập nhiều về huy động vốn và cho vay tín
dụng QTDND cơ sở. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá chưa có công trình nghiên cứu nào về
đề tài được tác giả lựa chọn trên đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài làm rõ huy động vốn và cho vay tín dụng
tại các QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
* Đề tài có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ nội dung cơ bản về huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở,
ý nghĩa đối với phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu khu vực nông nghiệp, nông thôn.
- Phân tích thực trạng huy động vốn và cho vay tín dụng của QTDND cơ sở đối

với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động vốn và cho vay tín dụng tại các
QTDND cơ sở một cách hiệu quả góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh
Thanh Hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở.
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng và những giải pháp về huy
động vốn và cho vay tín dụng tại các QTDND cơ sở đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn tỉnh, chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
+ Về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hoá
+ Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực tế huy động vốn và cho vay tín dụng tại
QTDND cơ sở trên địa bàn từ năm 1995 trở lại đây.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu về hoạt
động của 40 QTDND cơ sở trên địa bàn; sự chỉ đạo quản lý của Ngân hàng Nhà nước và
các cơ quan hữu quan.
- Thực hiện theo phương pháp thống kê, phương pháp dự báo, phương pháp so
sánh, phân tích và các phương pháp khác theo phép duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử.
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
* Về lý luận: Đề tài khái quát, hệ thống hoá nhứng căn cứ lý luận, thực tiễn về huy
động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
* Về Thực tiễn: Đề tài góp phần đưa ra các giải pháp tăng cường huy động vốn và
cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Thanh Hoá.
* Là một tài liệu tham khảo bổ ích đối với cơ quan hữu quan và những người quan
tâm đối với hoạt động của QTDND cơ sở.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành
3 chương, 7 tiết.
Chương 1
Những nội dung chủ yếu về huy động vốn và cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở
trên địa bàn tỉnh

1.1. Khái quát và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh
1.1.1. Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
* Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
QTDND cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên trong địa bàn tình
nguyện thành lập và hoạt động.ở Việt Nam, theo quy định của nghị định 48/2001/NĐ -

CP ngày 13/08/2001 của Chính phủ, QTDND có mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các
thành viên.
Nội dung của nghị định 48/2001/NĐ-CP nêu rõ: “QTDND là loại hình tổ chức tín
dụng hợp tác, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát
huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của QTDND cơ
sở là phải đảm bảo bủ đắp chi phí và có tích luỹ để phát triển” [9].
* Bản chất của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
QTDND cơ sở là một tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng, với mục tiêu là tương trợ giữa các thành viên. QTDND cơ sở là một hình thức tổ
chức kinh tế, một bộ phận của thành phần kinh tế Tập thể trong nền kinh tế thị trường nhiều
thành phần kinh tế. Nó được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động. Nói cách khác, đó là một tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh
vực tín dụng.
* Đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở

- QTDND cơ sở được xây dựng tại địa bàn xã, phường, liên xã, liên phường, cụm
kinh tế có đủ điều kiện, là một tổ chức không chỉ về kinh tế mà còn là tổ chức xã hội gồm
những người trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ làng xóm gần gũi, huyết tộc,
dòng họ, tự trọng cao. Mỗi quỹ là một đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, là nơi trực tiếp giao dịch với khách hàng và thành viên.
- QTDND cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ
trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Điều đó được hiểu rằng, QTDND cơ
sở không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích tương thân, tương ái mà chỉ là phương
tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực như huy động, cho vay và cung
ứng các dịch vụ ngân hàng khác. Đây là mục tiêu chủ yếu của QTDND cơ sở và là điểm
khác biệt nhất giữa QTDND cơ sở dưới tư cách pháp nhân hợp tác xã với các tổ chức tín
dụng khác. QTDND cơ sở không theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận như các tổ chức
tín dụng khác mà mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi ích thành viên. Mặt khác chủ sở hữu, cổ
đông hay thành viên của các tổ chức tín dụng hoặc các ngân hàng khác thành lập doanh

nghiệp trước tiên là để tìm cách thu về lợi nhuận tối đa cho họ thì QTDND cơ sở được các
thành viên xây dựng để trước tiên cung cấp dịch vụ tín dụng, ngân hàng chứ không phải
trước tiên là tìm cách thu nhiều cổ tức, mặc dù họ cũng là chủ sở hữu. Điều này thể hiện ở
việc thoả mãn đồng thời nhưng trước hết là các nhu cầu của thành viên với tư cách là khách
hàng, người sử dụng các dịch vụ của QTDND cơ sở và sau đó mới đến nhu cầu của thành
viên với tư cách là chủ sở hữu, người góp vốn xây dựng QTDND cơ sở.
- QTDND cơ sở, để thực hiện được mục tiêu trên, phải tạo ra được các dịch vụ tín
dụng, ngân hàng, đáp ứng được các dịch vụ này cho các thành viên và đảm bảo được hoạt
động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, QTDND cơ sở cần định hướng thực hiện
đồng thời ba mục tiêu: hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, an toàn và phải
sinh lời. Các mục tiêu này gắn kết chặt chẽ, có quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ, thúc
đẩy lẫn nhau.
Cho rằng QTDND cơ sở hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận là chưa thoả đáng
mà là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận không phải là tất cả,
không phải là mục tiêu cuối cùng của QTDND cơ sở nhưng nó lại là phương tiện để

QTDND cơ sở đạt được mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ thành viên, vì thế QTDND cơ sở
phải kinh doanh, phải tự hạch toán để đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.
- Quản lý và điều hành hoạt động của QTDND cơ sở phải tuân theo nguyên tắc tự
nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, các thành viên
được tham gia quản lý, dân chủ bàn bạc, đóng góp ý kiến để xác định mục tiêu, phương
hướng hoạt động, chiến lược phát triển và các quyết định cụ thể phù hợp với thực tế của
đơn vị mình.
Hơn nữa phần lớn thành viên của QTDND cơ sở vừa là người gửi tiền, lại vừa là
người đi vay tiền nên việc quyết định về chênh lệch lãi suất cũng phải rất hợp lý, đảm bảo
hài hoà lợi ích của thành viên, bù đắp được chi phí và có tích luỹ. Vì vậy các chi phí dịch vụ
của QTDND cơ sở tiết kiệm hơn, ít rủi ro hơn.
- Cán bộ của QTDND cơ sở là những người ở tại địa phương hoạt động tại chỗ, đã
quen với phong tục tập quán, hiểu rõ về khách hàng, thành viên nắm bắt nhanh được chủ
trương, chính sách đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương đó nên thuận lợi hơn nhiều so với
các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn.

1.1.2. Mô hình tổ chức, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của Quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở
1.1.2.1. Mô hình tổ chức quỹ tín dụng nhân dân, chức năng, nhiệm vụ của quỹ
tín dụng nhân dân cơ sở
Việc hình thành mô hình QTDND cơ sở phải được điều chỉnh theo pháp lệnh “ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính” đồng thời xây dựng mô hình này so với các
Hợp tác xã tín dụng trước đây có điểm khác biệt nổi trội là hoạt động kinh doanh của các
QTDND cơ sở được cấu thành một hệ thống liên kết chặt chẽ QTDND cơ sở qua cấp trung
gian là Quỹ tín dụng khu vực (trước đây) đến QTDND Trung ương. Những năm gần đây, ở
Việt Nam đưa ra ý tưởng đề án thí điểm đặt ra một tổ chức liên kết (Hiệp hội) giống như ở các
nước phát triển: Canada, Cộng hoà liên bang Đức, Pháp. Do vậy ban chỉ đạo thí điểm thành
lập QTDND đã trình chính phủ mô hình hệ thống QTDND theo hai phương án.
* Phương án 1: Hệ thống QTDND thành lập ba cấp, gồm QTDND cơ sở ở xã,
phường, QTDND khu vực ở các tỉnh, thành phố và QTDND Trung ương.

* Phương án 2: Hệ thống QTDND thành lập hai cấp, gồm QTDND cơ sở và
QTDND Trung ương. Thực hiện phương án này QTDND Trung ương có thể mở chi nhánh
tại một số khu vực để giao dịch với QTDND cơ sở [25, tr.15].
Sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai phương án một đề án thí
điểm thành lập QTDND, Thống đốc NHNN đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động
QTDND cơ sở, điều lệ mẫu QTDND cơ sở, quy chế hoạt động của hệ thống QTDND.
Mô hình tổ chức QTDND, chức năng, nhiệm vụ của QTDND cơ sở như sau:
- Thứ nhất: Mô hình tổ chức hệ thống QTDND.
Từ khi thí điểm thành lập QTDND đến tháng 06 năm 2001 mô hình hoạt động
QTDND gồm 03 cấp: Đó là QTDND Trung ương, QTDND khu vực và QTDND cơ sở:
Mô hình như sau:





Quỹ tín dụng nhân dân
Trung ương
Quỹ tín dụng nhân dân
Khu vực
Quỹ tín dụng nhân dân c
ơ
sở









Sơ đồ 1.1: Mô hình Tổ chức hệ thống QTDND
+ Một là, QTDND cơ sở
Là một pháp nhân, hạch toán độc lập, được xây dựng trên địa bàn xã, phường, thị
trấn, liên xã, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện, là nơi trực tiếp giao dịch với
thành viên và khách hàng. Thành viên tự nguyện góp vốn và gia nhập QTDND cơ sở.
Khi QTDND cơ sở góp đủ vốn cổ phần theo quy định được trở thành thành viên của
QTDND khu vực, được hưởng mọi quyền lợi và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ đối với QTDND khu vực.
+ Hai là, Quỹ tín dụng nhân dân khu vực:
Được hình thành theo địa bàn tỉnh, thành phố, hoặc theo vùng kinh tế, thành viên
của QTDND khu vực là các QTDND cơ sở trong địa bàn. QTDND khu vực cũng là một
đơn vị kinh tế, hạch toán độc lập, là nơi điều hoà nguồn vốn giữa QTDND Trung ương
và QTDND cơ sở. Từ tháng 06 năm 2001 QTDND khu vực được chuyển thành chi nhánh
QTDND trực thuộc QTDND Trung ương.
+ Ba là, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương:
Là một tổ chức tín dụng cổ phần hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín
dụng, vốn điều lệ của QTDND Trung ương do các thành viên là QTDND cơ sở góp
(trước đây là QTDND khu vực); các doanh nghiệp Nhà nước, các Ngân hàng thương mại
quốc doanh, và Nhà nước. QTDND Trung ương là tổ chức đầu mối, tương trợ và cung
ứng nguồn vốn cho các QTDND cơ sở hoạt động [12].
- Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của QTDND cơ sở.
QTDND cơ sở có hai chức năng cơ bản:
+ Một là, Thực hiện chức năng huy động vốn.

Điều 20 chương 1 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng hợp tác
là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân, hộ gia
đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo luật nhằm mục tiêu chủ yếu là
tương trợ nhau phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống, khai thác và sử dụng vốn đáp
ứng nhu cầu của mọi thành viên.

Huy động vốn của QTDND cơ sở bao gồm:
. Vốn góp của các thành viên
. Huy động vốn tiết kiệm, nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể.
. Vốn vay từ các dự án: thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối để tham gia
các dự án đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Nhận vốn điều hoà từ QTDND Trung ương (trước năm 2001 là QTDND khu
vực).
Thông qua chức năng này QTDND cơ sở đã góp phần chuyển hoá sử dụng nguồn
vốn, đáp ứng sản xuất và lưu thông hàng hoá trong dân cư.
+ Hai là: Chức năng cho vay.
Sử dụng vốn ở QTDND cơ sở chủ yếu là cho vay thành viên, đây cũng là chức
năng cơ bản của QTDND cơ sở. Với vốn huy động được từ các nguồn, QTDND cơ sở
cho vay hỗ trợ các thành viên là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, trên địa bàn nhằm
góp phần thúc đẩy việc mở rộng, khôi phục ngành nghề, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ đời sống, hạn chế cho vay nặng lãi ở vùng nông nghiệp, nông thôn.
Ngoài hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản trên, QTDND cơ sở còn thực hiện chức
năng tư vấn chăm sóc thành viên.
Phần lớn thành viên QTDND cơ sở là hộ sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp, ở khu vực nông thôn, có nhiều hạn chế nên ngoài nhiệm vụ huy động
vốn và cho vay, thì QTDND cơ sở còn thường xuyên tư vấn cho thành viên như: Phương án,
dự án sản xuất kinh doanh để có hiệu quả, số vốn cần đầu tư, thời gian sử dụng vốn … nhằm
giúp thành viên phát triển kinh doanh và sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế tối đa nhất rủi ro
trong tín dụng.

Mặt khác QTDNDcơ sở quan tâm chăm sóc thành viên lúc khó khăn, hoạn nạn, chia
sẻ với thành viên lúc thiên tai, dịch bệnh… Vì vậy ngày càng tạo nên sự gắn kết thành viên
với QTDND cơ sở và giữa các thành viên với nhau.
1.1.2.2. Mục tiêu nguyên tắc hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Một là: Mục tiêu hoạt động của QTDND cơ sở
- Mục tiêu hoạt động của QTDND cơ sở chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên,

nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, có nghĩa là QTDND cơ
sở thực hiện huy động vốn nhàn dỗi trong dân cư, các nguồn vốn khác hoặc của những
thành viên có điều kiện kinh tế để hỗ trợ cho những thành viên nghèo, thiếu vốn sản xuất,
kinh doanh, rất kịp thời đáp ứng cho mùa vụ, hoặc là những điều kiện sinh hoạt khác
tránh được tình trạng phải đi vay nặng lãi. Hoạt động của QTDND cơ sở phải đảm bảo bù
đắp chi phí và có tích luỹ để phát triển [12].
Hai là: Nguyên tắc hoạt động của QTDND cơ sở
QTDND cơ sở muốn thực hiện được mục tiêu hỗ trợ thành viên thì phải đảm bảo
những nguyên tắc sau:
- Thứ nhất: Nguyên tắc tự nguyện gia nhập và rút khỏi QTDND: Đây là nguyên
tắc rất cơ bản của hoạt động QTDND cơ sở vì chỉ có những gì thành viên tự nguyện làm
mới có cơ sở phát triển và tồn tại lâu dài. Nguyên tắc tự nguyện nói lên thành viên hoàn
toàn tự nguyện khi họ thấy có lợi và nhu cầu của họ được thoả mãn mà không phải bị ép
buộc, cưỡng chế khi xin gia nhập hay rút khỏi thành viên QTDND cơ sở. Họ là người tự
quyết định về việc gia nhập hay rút khỏi QTDND cơ sở. vì chỉ khi tự nguyện hợp tác, tự
nguyện tham gia, các thành viên mới quan tâm, nhiệt tình và hết lòng tâm huyết với
QTDND cơ sở , và như vậy QTDND cơ sở mới có cơ sở vững chắc để tập hợp được sức
mạnh lâu dài về vật chất và tinh thần từ các thành viên cho sự phát triển. Tuy nhiên muốn
họ trở thành thành viên của QTDND cơ sở thì nhiệm vụ của các cơ quan chức năng cấp
uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể phải tuyên truyền làm rõ lợi ích thiết thực về
mô hình hoạt động của QTDND. Phải tích cực tuyên truyền, thuyết phục để họ hiểu được
quyền lợi, nghĩa vụ và lợi ích của họ khi tham gia QTDND cơ sở. Đây cũng chính là thực
hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta.

- Thứ hai: Nguyên tắc quản lý dân chủ và bình đẳng; điều này có nghĩa là các
thành viên được tự mình toàn quyền quản lý, quyết định các vấn đề của QTDND cơ sở
trong khuôn khổ và theo các quy định của pháp luật, mà không chịu bất cứ sự can thiệp,
chi phối hay sự chỉ đạo nào từ bên ngoài. Các thành viên tự quản lý thông qua việc tham
gia và chỉ có họ duy nhất mới được quyền tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất của

QTDND cơ sở, đó là Đại hội thành viên hoặc là Đại hội đại biểu thành viên; tại Đại hội,
thành viên thể hiện quyền và trách nhiệm của mình để lựa chọn, đề cử, ứng cử, bầu cử đề
nghị chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm ban điều hành, ban kiểm
soát của QTDND cơ sở nhằm thực hiện quản lý, điều hành và giám sát hoạt động của
QTDND cơ sở. Tự quản lý ở đây được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng,
mọi thành viên của QTDND cơ sở đều có quyền và trách nhiệm tham gia quản lý và
quyết định như nhau, không phân biệt giầu nghèo, địa vị xã hội … và đặc biệt là không
phân biệt số vốn góp vào QTDND cơ sở. Người góp nhiều cũng như người góp ít đều chỉ
có một quyền biểu quyết ngang nhau. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản trong quản lý
của QTDND cơ sở so với các tổ chức tín dụng khác.
Nguyên tắc tự quản lý dân chủ, bình đẳng đã đề cao sự tham gia, vai trò cá nhân
phát huy tinh thần trách nhiệm của tất cả mọi thành viên vào tập thể để tạo sức mạnh
chung lớn hơn, giúp họ giải quyết các vấn đề đang vướng mắc. Nguyên tắc tự quản lý,
tham gia điều hành và giám sát sẽ góp phần đảm bảo cho QTDND luôn bám sát mục tiêu
tương trợ thành viên.
- Thứ ba: Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Điều này thể hiện các
chủ sở hữu là thành viên phải đóng góp đủ số vốn cần thiết, tối thiểu phải ở mức vốn theo
quy định của Ngân hàng nhà nước, để cho QTDND cơ sở hoạt động, tự chịu trách nhiệm
về sự tồn tại, duy trì hoạt động và kết quả hoạt động của mình, đoàn kết thống nhất cao
cùng chịu trách nhiệm với mọi hoạt động của Quỹ. Thực hiện nghĩa vụ đối với QTDND
cơ sở, sự tự chịu trách nhiệm, không phải là vô hạn mà chỉ tự chịu trách nhiệm bằng số
vốn góp vào QTDND cơ sở và các nghĩa vụ thoả thuận đóng góp bổ sung khác nếu được
quy định trong điều lệ của từng QTDND cơ sở. Như vậy, nếu QTDND cơ sở nào hoạt
động kinh doanh bị thua lỗ thì thành viên không chỉ thiệt thòi trong việc hưởng các dịch
vụ ngân hàng mà còn phải chịu thiệt thòi về tài chính như: Lợi tức vốn góp … cũng như

đối với chủ sở hữu của bất kỳ loại hình kinh tế nào khác. Chính vì vậy nguyên tắc tự chịu
trách nhiệm và cùng có lợi vừa là động lực vừa tạo sức ép đối với các thành viên phải
tham gia tích cực vào công tác quản lý và giám sát hoạt động của QTDND.
- Thứ tư: Nguyên tắc chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát

triển của QTDND cơ sở, có nghĩa là kết thúc năm tài chính, sau khi làm xong nghĩa vụ
nộp thuế Nhà nước, lãi còn lại được phân phối như thế nào cho hợp lý để vừa tăng tích
luỹ mở rộng, và duy trì cho hoạt động vừa đảm bảo lợi ích của thành viên, khuyến khích
thành viên tích cực tham gia xây dựng Quỹ. Mặt khác phải đảm bảo đúng theo quy định
của bộ tài chính về phân phối lợi nhuận của QTDND cơ sở và được đại hội thành viên
quyết định hoặc đại hội đại biểu thành viên.
- Thứ năm: Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng: QTDND cơ sở hoạt động
và phát triển dựa trên sự tập hợp sức mạnh của các thành viên, tự nguyện cùng nhau góp
vốn để thành lập, phát huy sức mạnh nội lực của thành viên với mong muốn là duy trì và
ngày càng phát triển của QTDND cơ sở để thành viên thông qua đó nhận được sự hỗ trợ,
các dịch vụ tín dụng, Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải
thiện đời sống một cách nhanh hơn, tốt hơn. Phần lớn thành viên QTDND cơ sở ở nông
nghiệp, nông thôn, có nhiều khó khăn trong việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại
quốc doanh vì: tài sản thế chấp còn khiêm tốn, đi lại xa…, tham gia vào QTDND cơ sở là
sự cần thiết và có lợi cho thành viên, nên họ có ý thức hợp tác với nhau, tương trợ lẫn
nhau. Như vậy các thành viên QTDND cơ sở sẵn sàng đoàn kết, tương thân, tương ái,
tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong quỹ và trong cộng đồng xã hội, nhờ đó
QTDND đã phát huy được tác dụng tạo ra thế mạnh cho hoạt động của mình phù hợp với
mô hình tổ chức hệ thống QTDND và các nguyên tắc hoạt động trên đây [12].
1.1.3. Hoạt động chủ yếu và vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với
khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn
1.1.3.1. Các hoạt động chính của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Những hoạt động chủ yếu của QTDND cơ sở bao gồm như sau:
- Thứ nhất, huy động vốn: QTDND cơ sở được huy động vốn góp của thành viên
gồm vốn cổ phần xác lập và cổ phần thường xuyên. Đặc điểm của nguồn vốn này là chỉ
huy động của thành viên. Đối với nguồn vốn huy động tiết kiệm, QTDND cơ sở được

nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành viên và người ngoài thành viên
kể cả cá nhân và tổ chức kinh tế kể cả trong địa bàn và ngoài địa bàn.
QTDND cơ sở được vay vốn từ các nguồn vốn dự án của Chính phủ, các tổ chức

phi chính phủ, … Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, được nhận vốn điều hoà
từ Quỹ tín dụng Trung ương và được khai thác các nguồn khác như: Vốn tài trợ của các
tổ chức ,cá nhân trong nước và nước ngoài, các nguồn vốn uỷ thác cho vay…. theo quy
định của ngân hàng Nhà nước.
- Thứ hai, cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Hoạt động cho vay theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn về vốn giữa QTDND
cơ sở với các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi.
Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của QTDND cơ sở, đem
lại nguồn thu nhập chính cho QTDND cơ sở và cũng là hoạt động có rủi ro tiềm ẩn cao
nhất. Có thể nói rằng hoạt động thành công của một QTDND cơ sở tuỳ thuộc vào hoạt
động cho vay. Hoạt động cho vay được an toàn sẽ đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của
tổ chức tín dụng nói riêng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Vì vậy
QTDND cơ sở nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung khi cho vay luôn đặt ra cho
mình mục tiêu là phải đảm bảo an toàn nguồn vốn đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời
của nguồn vốn đó.
Đối với QTDND cơ sở, đối tượng cho vay phải là thành viên của QTDND cơ sở
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Đây là điểm khác biệt nhất so với các tổ chức tín
dụng khác.
- Thứ ba, chăm sóc thành viên:
Khác với các tổ chức tín dụng khác, QTDND cơ sở ra đời là do thành viên tự
nguyện góp vốn và gia nhập, họ vừa là chủ vừa là khách hàng, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, nên giữa QTDND cơ sở với thành viên có mối quan hệ rất khăng khít, gần gủi và
luôn gắn bó với nhau. Vì vậy, QTDND cơ sở thực hiện tốt công tác chăm sóc thành viên:
Thăm hỏi lúc thành viên ốm đau, hoạn nạn, chia sẻ khi thành viên gặp khó khăn, tư vấn
về quản lý kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình… Chính vì vậy cán bộ QTDND cơ sở
ngoài trình độ về chuyên môn, cần phải có trình độ hiểu biết về kiến thức xã hội và các

mặt khác… Đặc biệt là có tâm huyết trong công việc, nhiệt tình, trách nhiệm thì mới đáp
ứng được nhu cầu đặt ra.
- Thứ tư, phân phối lợi nhuận.

Hàng năm QTDND cơ sở phải tổ chức Đại hội thành viên hoặc Đại hội đại biểu
thành viên (Theo điều lệ QTDND cơ sở) để thực hiện công khai dân chủ về kết quả kinh
doanh của năm tài chính. Đại hội quyết định phân phối lợi nhuận, lợi tức vốn góp… trên
cơ sở kết quả kinh doanh và pháp luật quy định.
Ngoài những hoạt động trên thì QTDND cơ sở còn tham gia nhiều hoạt động khác
tại địa phương như: Tham gia hoạt động từ thiện, tham gia đóng góp vào các chương
trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương…
1.1.3.2. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với việc phát triển kinh tế
xã hội trên địa bàn tỉnh
Hơn 20 năm đổi mới của đất nước, mô hình hệ thống QTDND nói chung và
QTDND cơ sở nói riêng tuy còn rất non trẻ và khó khăn nhưng đã bước đầu thể hiện
vai trò của mình trong từng địa phương và cộng đồng xã hội.
- Trước hết đối với địa phương QTDND cơ sở ra đời đã góp phần cung cấp các
dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho thành viên và dân cư trên địa bàn. Bất cứ người dân nào
từ 18 tuổi trở lên không vi phạm pháp luật đều được quyền gia nhập QTDND cơ sở và sẽ
được hưởng các sản phẩm dịch vụ của QTDND cơ sở. Với tư cách vừa là thành viên, vừa
là khách hàng, QTDND cơ sở vừa là người quản lý một phần tài sản của thành viên, vừa
là nhà cung cấp vốn cho người dân trên địa bàn nên đảm bảo tính ổn định và lâu dài, mặt
khác qua hoạt động của QTDND cơ sở, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân, của
thành viên được nâng lên, những đồng vốn nhàn rỗi, vốn tiết kiệm được huy động để đưa
vào đầu tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch vụ tại các địa
phương. Thông qua các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin của QTDND mà
nhận thức của thành viên cũng được nâng lên, các tệ nạn cho vay nặng lãi, hụi họ
được hạn chế đến mức tối đa; ý thức sử dụng vốn; kinh doanh; phát triển sản xuất …
được cải thiện rõ rệt. Tỉnh Thanh Hoá là một minh chứng hiện nay có 42 QTDND với
gần 40.000 thành viên tham gia tương ứng với gần 40.000 hộ gia đình, vì thông
thường mỗi hộ có một người đại diện chủ hộ tham gia thành viên QTDND cơ sở. Bình

quân mỗi QTDND cơ sở trên địa bàn là 883 hộ được hưởng dịch vụ ngân hàng của
QTDND cơ sở. Điều đó sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn, tạo thêm nguồn lực mạnh mẽ

nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Đặc biệt góp phần hổ trợ tích
cực cho địa phương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng trong nông nghiệp, nông
thôn, góp phần tạo điều kiện xoá đói giảm nghèo có hiệu quả trên địa bàn.
Điều đáng chú ý là QTDND cơ sở hoạt động với tư cách như là một doanh nghiệp
trên địa bàn, nên hàng năm hệ thống QTDND cơ sở đã góp một phần đáng kể các khoản
thuế cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế
xã hội ở xã, phường, hỗ trợ đắc lực nhất cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ là
thành viên một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và góp vào tăng trưởng kinh tế. Trong
nhiều năm qua thực tiễn những kết quả đạt được của hệ thống QTDND cơ sở trên địa bàn
đã khẳng định vai trò của hệ thống tín dụng hợp tác đối với địa bàn nông nghiệp, nông
thôn. QTDND cơ sở là một trong những yếu tố kinh tế quan trọng góp phần nâng cao đời
sống, thu nhập của người dân ở vùng nông thôn, tạo công ăn việc làm, đem lại ổn định
trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn.
- Thứ hai, đối với thành viên: Mô hình QTDND cơ sở hình thành và xuất phát
hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, là tổ chức liên
kết hợp tác của các thành viên, cá nhân, hộ gia đình trên cùng địa bàn, khả năng hợp tác
trợ giúp lẫn nhau là rất thuận lợi. Thông qua QTDND cơ sở, các thành viên có thể hỗ trợ
và có điều kiện tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ của thị trường tín dụng, ngân hàng phù
hợp với khả năng điều kiện kinh tế của thành viên. Mặt khác thành viên của QTDND cơ
sở còn được tư vấn, chăm sóc, cung cấp thông tin, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, ngành nghề; và thành viên QTDND cơ sở với tư cách là chủ sở hữu được
chia cổ tức, được quyền tham gia biểu quyết bầu ban điều hành và ban kiểm soát của quỹ,
tham gia quyết định các chính sách và các phương án phát triển kinh doanh của QTDND
cơ sở thông qua đại hội thành viên hoặc đại hội đại biểu thành viên hàng năm.

1.2. Huy động vốn và cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên
địa bàn tỉnh
1.2.1. Huy động vốn tại quỹ tín dụng toàn dân cơ sở trên địa bàn tỉnh
1.2.1.1. Hình thức huy động vốn
Nguồn vốn đối với QTDND cơ sở là đặc biệt quan trọng, nó quyết định và chi

phối các mặt hoạt động của QTDND cơ sở. Vì vậy các QTDND cơ sở luôn tích cực mở
rộng các hình thức huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên. Cơ cấu
nguồn vốn như sau:
- Vốn điều lệ: là nguồn vốn đóng góp của các thành viên bao gồm vốn cổ phần xác
lập và vốn cổ phần thường xuyên.
+ Cổ phần xác lập: là vốn do các thành viên đóng góp khi gia nhập QTDND cơ
sở. Theo điều lệ của QTDND; mệnh giá cổ phần xác lập do đại hội thành viên hoặc đại
hội đại biểu thành viên QTDND cơ sở quy định phù hợp với từng thời điểm và phù hợp
với tình hình thực tế của từng địa phương nhưng không được dưới mức quy định tối thiểu
của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đó (hiện nay mức tối thiểu không dưới 50.000đ/1
cổ phần xác lập). Vốn cổ phần xác lập có nghĩa là xác lập tư cách của thành viên khi bắt
đầu gia nhập QTDND cơ sở và không được hưởng lãi.
+ Cổ phần thường xuyên: là số vốn góp của thành viên tức là của những người đã
góp cổ phần xác lập, để kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cổ phiếu do QTDND cơ sở
phát hành hàng năm, chỉ có những người đã góp vốn xác lập rồi mới được mua cổ phần
thường xuyên. Hàng năm căn cứ vào kế hoạch kinh doanh, QTDND cơ sở thông qua đại
hội thành viên hoặc đại hội đại biểu thành viên để bàn bạc và quyết định mệnh giá cổ
phiếu thường xuyên và số lượng cổ phần được phát hành phù hợp với tốc độ tăng trưởng
nguồn vốn cổ phần của từng QTDND cơ sở, cổ phần thường xuyên và cổ phần xác lập
được chia lợi tức hàng năm theo kết quả kinh doanh của năm tài chính.
- Nguồn vốn huy động tiết kiệm: Đây là một trong những nguồn vốn chủ lực của
QTDND cơ sở, thường chiếm tỉ lệ cao nhất so với các loại nguồn vốn khác bao gồm:
+ Tiền gửi không kỳ hạn
+ Tiền gửi có kỳ hạn
Của cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể . kể cả trong nước và nước ngoài.

- Nguồn vốn huy động khác:
QTDND cơ sở là thành viên của QTDND Trung ương, ngoài những quyền lợi
và nghĩa vụ khác thì QTDND cơ sở được QTDND Trung ương điều hoà vốn bổ sung
cho hoạt động kinh doanh bao gồm các nguồn vốn như sau:

+ Vốn đảm bảo thanh toán: có nghĩa là nguồn vốn cho QTDND cơ sở vay để chi
trả cho khách hàng rút tiền gửi đột xuất trước hạn mà bản thân QTDND cơ sở tại thời
điểm đó chưa có đủ nguồn để chi trả.
+ Nguồn vốn dự án: Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, QTDND cơ sở
tham gia vay vốn các dự án trong nước và nước ngoài.
+ Nguồn vốn thoả thuận: là nguồn vốn QTDND cơ sở nhận vốn điều hoà từ
QTDND Trung ương về cho thành viên vay để phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ
đời sống, nhất là hổ trợ trong giai đoạn mùa vụ của thành viên.
+ Ngoài các nguồn vốn trên thì QTDND cơ sở còn huy động các nguồn vốn khác
như: nhận vốn tài trợ, vốn làm dịch vụ uỷ thác đầu tư của các pháp nhân, thể nhân trong
nước và nước ngoài, …
Khái quát cơ cấu nguồn vốn huy động qua sơ đồ sau:


Sơ đồ 1.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động của QTDND cơ sở
Có kỳ hạn

Vốn đảm
b
ảo thanh
toán

Vốn dự án

Vốn thoả
thu
ận

Vốn từ
tiết kiệm


Cơ cấu
huy động
vốn của
QTDND cơ
s


Nguồn
khác

Vốn điề
l


Không kỳ
h
ạn

Vốn tài
trợ uỷ
thác

Cổ phần
thường
xuyên

Cổ phần
xác lập


1.2.1.2. Ưu, nhược điểm của huy động vốn tại quỹ tín dụng toàn dân cơ sở
So với các hình thức huy động vốn khác (của Ngân hàng thương mại, Công ty tài
chính, …), việc huy động vốn tại QTDND cơ sở có ưu, nhược điểm chủ yếu sau:
* Những ưu điểm của công tác huy động vốn tại QTDND cơ sở:
- Thứ nhất: QTDND cơ sở duy nhất là một tổ chức tín dụng sát dân nhất. Vị trí
hoạt động của các quỹ thường đặt tại trung tâm các xã, phường, nơi tập trung giao lưu
kinh tế xã hội của địa phương đó, đường sá giao thông thuận lợi, gần gũi và sát với dân
cư, rất thuận tiện cho việc đi lại gửi tiền của thành viên và khách hàng. Chính vì vậy
QTDND cơ sở sẽ thu hút được từ những món tiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi rất nhỏ trở lên
(thực tế cho thấy có những món tiết kiệm có mệnh giá 100.000đ).
- Thứ hai: Cán bộ, nhân viên QTDND cơ sở là con em tại địa phương nên rất hiểu
rõ điều kiện, tâm lý, tình cảm của khách hàng, nhất là nắm bắt rất nhanh các nguồn tiền
nhàn rỗi trong dân cư (như là nguồn tiền bán sản phẩm, vật nuôi) và kịp thời động viên
khuyến khích khách hàng, đồng thời thực hiện tốt chính sách khách hàng như lãi suất hợp
lý nhằm khai thác tối đa tiềm năng nguồn vốn nhàn rỗi sẵn có tại địa phương.
- Thứ ba: Phần lớn cấp uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể chính trị xã hội
ở những nơi có QTDND cơ sở hoạt động đã tích cực ủng hộ tuyên truyền trong các hội
nghị, trên các kênh thông tin đại chúng về mô hình hoạt động của QTDND, nên nhân dân
rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đồng thời tin tưởng vào hoạt động QTDND cơ sở
và yên tâm gửi tiền vào Quỹ. Mặt khác hệ thống QTDND cơ sở đã tham gia bảo hiểm
tiền gửi cho khách hàng theo quy định của Nhà nước.
- Thứ tư: Qua quá trình hoạt động hệ thống QTDND không ngừng lớn mạnh và
tăng cường mối liên kết chặt chẽ trong toàn hệ thống nên đáp ứng nhanh nguồn vốn chi
trả thanh toán kịp thời, tuyệt đối không để mất lòng tin đối với khách hàng và thành viên.
Tóm lại, QTDND cơ sở là một tổ chức kinh tế gần như cùng sống, cùng ăn, cùng
ở, cùng hiểu nguyện vọng, ước mong, nỗi niềm và khó khăn của người dân sống tại nông
thôn, gắn bó với nông nghiệp là chính.
* Nhược điểm huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở:
- Thứ nhất: Mặc dù QTDND cơ sở đã rất tích cực và có nhiều thuận lợi trong việc
huy động vốn nhưng kết quả một số QTDND cơ sở còn thấp; đặc biệt là vốn huy động tại


chỗ. Điều này do nhiều nguyên nhân, có những QTDND cơ sở tuyên truyền động viên
nhân dân thực hiện chưa tốt, chưa sâu rộng nên người dân có tiền, nhất là những món tiết
kiệm lớn còn e ngại chưa thực sự tin tưởng yên tâm để gửi tiền vào quỹ.
- Thứ hai: Một số QTDND cơ sở, địa bàn hoạt động có nhiều hạn chế như: vùng
thuần nông điều kiện kinh tế của thành viên và dân cư còn khó khăn, nhu cầu sử dụng
vốn lớn, nhu cầu gửi tiền rất ít.
- Thứ ba: Trong nền kinh tế hội nhập, nhiều Ngân hàng lớn, mạnh ra đời, năng lực
cạnh tranh của QTDND cơ sở còn nhiều hạn chế như về thương hiệu, về các sản phẩm
dịch vụ, về trình độ cán bộ, về công nghệ thông tin, mặt khác dư âm về sự đổ vỡ của hợp
tác xã tín dụng cũ vẫn còn, và một số hạn chế khác nên công tác huy động vốn, nhất là
huy động vốn tại chỗ của một số QTDND cơ sở còn nhiều khó khăn.
1.2.1.3. Lợi thế và bất lợi trong việc huy động vốn tại quỹ tín dụng toàn dân dân
cơ sở trên địa bàn tỉnh
QTDND cơ sở nhiều lợi thế nhưng cũng có nhiều bất lợi trong việc huy động vốn
như sau:
- Đối với vốn góp (vốn điều lệ): Lợi thế của QTDND cơ sở là hàng năm đại hội
thành viên hoặc đại hội đại biểu, dân chủ quyết định mức góp bổ sung vốn điều lệ để phù
hợp với tăng trưởng nguồn vốn, được sự đồng tình, thống nhất của đại hội. Nhưng có bất
lợi ở chỗ thành viên thường tham gia vào QTDND cơ sở với mong muốn được hưởng lợi
từ dịch vụ của quỹ, nhưng thành viên có điều kiện để góp thêm vốn (tức là mua cổ phần
thường xuyên) là rất ít: Thực tế cho thấy ở khu vực nông nghiêp, nông thôn những thành
viên có nguồn vốn ổn định lâu dài để tham gia góp vốn cổ phần thường xuyên cũng
không nhiều nên một số QTDND cơ sở rất khó khăn trong việc hoàn thành kế hoạch nâng
mức vốn điều lệ trong năm.
- Đối với vốn huy động tiết kiệm: QTDND cơ sở có lợi thế gần dân, sát dân, cán bộ
là con em của dân, rất có lợi thế để huy động, nhất là các món nhỏ. Nhưng điều bất lợi là
có những người gửi tiền, nhất là những món gửi lớn, họ muốn bí mật hoàn toàn không
muốn ai biết, nhưng đến với QTDND cơ sở thì lại gặp những người thân quen, mặc dù
các QTDND cơ sở hoàn toàn giữ bí mật số dư, nhưng tâm lý ngư

ời gửi vẫn không muốn.

- Đối với nguồn vốn vay: Nguồn vốn dự án ở khu vực nông nghiệp, nông thôn có
nhiều lợi thế được hưởng các dự án đầu tư của nước ngoài, các dự án của các tổ chức phi
Chính phủ như dự án đầu tư trồng cây ăn quả, dự án hỗ trợ tài chính vi mô, nhưng bất lợi
là trình độ quản lý dự án của QTDND cơ sở, về tham gia vốn đối ứng của thành viên, về
sử dụng vốn còn nhiều bất cập, hạn chế.
Tóm lại: Về công tác huy động vốn tại các QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh có
nhiều thuận lợ,i khó khăn, đồng thời có nhiều lợi thế hơn so với các tổ chức tín dụng
khác, nhưng cũng có những điểm bất lợi trong công tác huy động vốn như đã nêu ở phần
trên.
1.2.2. Cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh
1.2.2.1. Hình thức cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Cho vay là hoạt động quan trọng của QTDND cơ sở, chiếm tỷ trọng cao nhất trong
tổng tài sản, đem lại nguồn thu chính cho QTDND cơ sở và cũng là hoạt động có tiềm ẩn
rủi ro cao nhất, có thể nói thành công hay thất bại của QTDND cơ sở tuỳ thuộc chủ yếu
vào chức năng cho vay.
Cho vay có nghĩa là quan hệ vay mượn về vốn giữa QTDND cơ sở với các cá
nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp là thành viên QTDND cơ sở theo nguyên tắc có hoàn trả
(cả vốn và lãi).
Nội dung cơ bản của khái niệm cho vay là quan hệ vay mượn về vốn giữa hai đối
tác, một đối tác là chủ thể cho vay, còn đối tác khác là người đi vay và có thể hoán đổi vị
trí cho nhau theo từng trường hợp cụ thể. Sự chuyển dịch vốn giữa hai đối tác là sự
chuyển dịch quyền sử dụng vốn tạm thời được xác định bởi thời hạn do hai bên thoả
thuận, hết thời hạn, vốn được hoàn trả lại kèm theo lãi cho đối tác sở hữu vốn đó và quan
hệ giữa các bên vay và cho vay đều bị ràng buộc bởi pháp luật hiện hành [23].
* Hình thức cho vay ở Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
- Thứ nhất, cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Đối với QTDND cơ sở, hình
thức cho vay không có đảm bảo là chủ yếu vì đối tượng vay vốn là thành viên của
QTDND cơ sở, thường cho vay những món nhỏ và là những thành viên có uy tín, có

quan hệ sòng phằng về tài chính.

- Thứ hai, cho vay có đảm bảo: là loại hình cho vay khi QTDND cơ sở cho vay đòi
hỏi người vay (thành viên) phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba,
điểm khác với các tổ chức tín dụng khác là: dù người vay có tài sản cầm cố thế chấp
nhưng quy định bắt buộc người vay đó phải là thành viên của QTDND cơ sở thì mới
được vay vốn.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn của thành viên, QTDND cơ sở cho vay theo
thời hạn như sau:
- Thứ nhất, cho vay ngắn hạn: bao gồm các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng
trở xuống nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn ngắn hạn của thành viên.
- Thứ hai, cho vay trung hạn: bao gồm các khoản cho vay có thời gian từ trên 12
tháng đến 60 tháng, nhằm đáp ứng nhu cầu của thành viên để mua sắm tài sản cố định,
cải tiến thiết bị, những dự án đầu tư sản xuất như là xây dựng trang trại, vườn đồi…
- Thứ ba, cho vay dài hạn: bao gồm các khoản cho vay có thời gian trên 60 tháng,
nhằm đáp ứng nhu cầu của thành viên và có thời hạn thu hồi vốn chậm hơn.
Hiện nay ở QTDND cơ sở hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu vì: ở khu vực
nông nghiệp nông thôn phần lớn nhu cầu vay vốn của thành viên là phát triển sản xuất
chăn nuôi theo tính chất mùa vụ. Còn nhu cầu của một số thành viên đầu tư cho các dự
án, hoặc đầu tư vào tài sản cố định tỉ lệ chưa nhiều. Đặc biệt là cho vay dài hạn ở
QTDND cơ sở còn quá ít. Mặt khác QTDND cơ sở chưa khai thác được nguồn vốn để
đáp ứng đủ nhu cầu vốn trung và dài hạn đối với thành viên.
1.2.2.2. Ưu nhược điểm của cho vay tín dụng tại quỹ tín dụng toàn dân cơ sở
* Hoạt động cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở có những ưu điểm như sau:
- Thứ nhất, quy trình thẩm định cho vay nhanh, thủ tục đơn giản hơn đáp ứng rất
nhanh nhu cầu vay vốn của thành viên: QTDND cơ sở địa bàn hoạt động gần và sát thành
viên, đã cùng sinh hoạt với thành viên nên trên cơ sở đó nắm chắc về tình hình khách
hàng (thành viên), năng lực tài chính, tư cách, mục đích vay vốn, số vốn cần thiết để đầu
tư có hiệu quả, thời gian thu hồi vốn…
- Thứ hai, nguồn vốn tín dụng tại QTDND cơ sở đầu tư cho vay thành viên hiệu

quả sử dụng vốn cao vì: phần lớn là thành viên vay vốn tại QTDND cơ sở những món
vay nhỏ mục đích chủ yếu là phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh nhỏ ở địa bàn

nông thôn, mà tính chất của QTDND cơ sở đáp ứng nguồn vốn nhanh nên thành viên đầu
tư ngay rất kịp thời với tính chất mùa vụ, đảm bảo tăng năng suất vật nuôi, cây trồng
hoặc sử dụng vốn cho nhu cầu phát triển khác đem lại hiệu quả cao.
- Thứ ba, cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở ít rủi ro hơn, tỷ lệ nợ xấu rất thấp
mặc dù thực tế tỷ lệ cho vay không có đảm bảo cao hơn. Điều đó do:
. Công tác thẩm định rất thuận lợi (như đã nêu ở trên phần trên)
. Các món vay thường phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và mục đích sử dụng vốn
nên phát huy được hiệu quả.
. QTDND cơ sở nắm chắc thời gian thu hồi vốn, cơ bản là mùa vụ thu hoạch sản
phẩm cây trồng, vật nuôi, vòng quay vốn kinh doanh….
. Mặc dù phần lớn QTDND cơ sở cho vay bằng hình thức tín chấp tức là chỉ dựa
vào phương án sản xuất kinh doanh và uy tín của bản thân thành viên mà tỉ lệ nợ quá hạn
thấp vì: ngoài khái niệm vay, trả thì họ còn đảm bảo bằng tư cách thành viên của mình, ý
thức trách nhiệm về xây dựng QTDND cơ sở; thực hiện quyền và nghĩa vụ của thành
viên. đây cũng là tính chất ưu việt trong hoạt động tín dụng tại QTDND cơ sở.
- Thứ tư, nguồn vốn tín dụng ở QTDND cơ sở trên địa bàn xã, liên xã, phường,
liên phường tuy chưa nhiều nhưng đã góp phần tạo được công ăn việc làm, đặc biệt khu
vực nông nghiệp, nông thôn, hạn chế nạn cho vay nặng lãi góp phần ổn định tình hình an
ninh trật tự xã hội trên địa bàn.
* Nhược điểm của cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở:
- Thứ nhất, công tác thẩm định trước, trong và sau khi cho vay còn quá đơn giản,
công tác kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, tin tưởng thành viên là chính, nhiều món vay
QTDND cơ sở không đi thẩm định thực tế.
- Thứ hai, một số QTDND cơ sở còn chưa thực hiện đúng nguyên tắc cho vay vì:
xuất phát từ thực tế cán bộ tại QTDND cơ sở mới được đào tạo ngắn ngày, kinh nghiệm
còn ít, trình độ một số cán bộ còn khiêm tốn nên chưa nắm chắc chế độ, nguyên tắc, hoặc
là còn nể nang “Tình làng nghĩa xóm” nên đã dẫn đến một số sai phạm khác nhau trong

công tác cho vay tại QTDND cơ sở.
- Thứ ba, cho vay các món vay nhỏ, lẻ nhiều, chi phí quản lý tăng, …

1.2.2.3. Những thuận lợi và khó khăn trong cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở
* Thuận lợi trong cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở:
- Thứ nhất, QTDND cơ sở chỉ cho vay đối tượng là thành viên nên rất hiểu rõ
khách hàng, rất thuận lợi trong công tác thẩm định xét duyệt cho vay.
- Thứ hai, QTDND cơ sở thường đóng trên địa bàn xã, phường, tổ chức hoạt động
với mục tiêu chính tương trợ thành viên. Vì vậy tính chất cộng đồng rất lớn, cùng nhau
hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh và dịch vụ đời sống của thành viên, góp phần xây
dựng địa phương phát triển được đảng uỷ, các cấp chính quyền địa phương nhiệt tình ủng
hộ, đặc biệt là tuyên truyền đảng viên hội viên tham gia và hỗ trợ trong công tác thu nợ,
chỉ trường hợp cá biệt phải hỗ trợ bằng biện pháp hành chính.
- Thứ ba, đối với thành viên khi tham gia QTDND cơ sở họ cũng đã hiểu đầy đủ
quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên, họ có ý thức trong việc vay và trả nợ cho QTDND
cơ sở nên công tác cho vay đối với QTDND cơ sở có những đặc thù riêng và thuận lợi
trong công tác tín dụng.
* Những khó khăn trong cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở
- Thứ nhất, QTDND cơ sở chủ yếu cho vay các món nhỏ để thành viên phát triển
sản xuất chăn nuôi theo mùa vụ, còn tỉ lệ cho vay dùng vào mục đích kinh doanh dịch vụ
chưa nhiều. Quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch
bệnh liên tiếp xảy ra… hơn nữa về năng lực tài chính của thành viên là hộ nông dân còn
nhiều khó khăn nên việc cho vay tại QTDND cơ sở nhiều lúc gặp không ít khó khăn.
- Thứ hai, đối với những dự án đầu tư có tính chất quy mô lớn hơn thì việc cho
vay tín dụng tại QTDND cơ sở cũng chưa thuận lợi vì:
. Nguồn vốn của QTDND cơ sở còn khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu, kể cả
về thời gian và nguồn vốn.
. Trình độ thẩm định, phân tích đầu tư dự án để đầu tư có hiệu quả đối với cán bộ
QTDND cơ sở thực tế là còn nhiều bất cập.

. Sự am hiểu pháp luật kinh tế và các chính sách liên quan của thành viên QTDND
cơ sở và đội ngũ cán bộ quản lý QTDND cơ sở trên các địa bàn còn hạn chế.

1.2.2.4. Tác động tích cực của huy động vốn và cho vay tín dụng tại quỹ tín
dụng toàn dân cơ sở đối với việc phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh
* Một là, khai thác và lấp đầy khoảng trống thị trường cho vay. Các QTDND cơ
sở được hình thành từ nhu cầu của người dân tức là ở những nơi có nhu cầu thị trường
vốn còn bị bỏ ngỏ, chưa được khai thác lấp đầy, nơi người dân có những khoản tiền nhỏ,
khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phải cất giữ trong nhà hoặc phải đi đến ngân hàng thương
mại cách xa, lãi tiền gửi không đủ bù chi phí…Những nơi người dân muốn vay vốn
nhưng khó có khả năng tiếp cận với các Ngân hàng thương mại để được vay, do các
Ngân hàng này chưa hoạt động trên địa bàn hoặc có thể họ chưa có uy tín đối với Ngân
hàng, chưa hội tụ đủ điều kiện vay vốn của Ngân hàng, hoặc chưa phải là đối tượng phục
vụ của Ngân hàng do quy mô quá nhỏ. Chính tại đó QTDND cơ sở ra đời, ngay tại chỗ và
hoạt động khai thác nguồn vốn và cho vay phục vụ nhu cầu của chính người dân (thành
viên) để phát triển sản xuất kinh doanh và dịch vụ đời sống. Phát huy nội lực, QTDND
cơ sở huy động nguồn vốn tại chỗ là chủ yếu để cho vay các dự án nhỏ có tính khả thi của
thành viên, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế phục vụ trở lại cho địa phương, nâng cao đời
sống dân cư ở nông thôn trên địa bàn.
* Hai là, khuyến khích cạnh tranh tạo động lực cho sự phát triển; QTDND cơ sở
ra đời, hoạt động với tư cách là một tổ chức kinh tế nên cũng là một thành viên tham gia
vào thị trường, được bình đẳng như các tổ chức kinh tế khác và phải cạnh tranh trên thị
trường, cũng muốn chiếm lĩnh thị trường, muốn phục vụ đáp ứng được nhiều hơn cho
nhu cầu thành viên và người dân trên địa bàn. Vì vậy QTDND cơ sở tham gia tạo động
lực thúc đẩy phát triển, người hưởng lợi cuối cùng chính là người dân với tư cách thành
viên QTDND cơ sở và cộng đồng xã hội trên địa bàn đó.
* Ba là, tạo và cung cấp việc làm trực tiếp trên địa bàn. QTDND cơ sở đã tạo ra
một kênh dẫn vốn nhằm hỗ trợ cho thành viên phát triển sản xuất kinh doanh, giúp thành
viên có công ăn việc làm. Thành viên mở rộng sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều việc làm
mới cho người dân trên địa bàn. Mặt khác QTDND cơ sở là một doanh nghiệp nên với tư

cách là người sử dụng lao động, nó trực tiếp tạo ra và cung cấp việc làm tại địa phương.
Tổng quát nhất, QTDND cơ sở đã trực tiếp và gián tiếp thông qua cung cấp tín dụng cho

×