Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Xây dựng hệ thống kiến sinh học cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học theo định hướng phát triển năng lực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (570.2 KB, 8 trang )

BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA LẦN THỨ 1

XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIẾN SINH HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH
GIÁO DỤC TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
NGUYỄN MINH GIANG
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Email:
Tóm tắt: Hệ thống kiến thức Sinh học được xây dựng theo các chủ đề xuyên suốt
trong môn học Tự nhiên và Xã hội 1, 2, 3 và môn Khoa học 4, 5 của chương trình
giáo dục phổ thơng mới. Sinh viên khoa Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã được trang bị kiến thức và phương pháp dạy học
cho đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Hệ thống kiến thức bao gồm sinh lý học trẻ
em, sinh học động vật, sinh học thực vật, virus, vi khuẩn, nấm và giáo dục môi
trường. Phương tiện dạy học khá đa dạng gồm mẫu vật thật, mơ hình, tranh ảnh và
dữ liệu điện tử. Phương pháp dạy học chủ đạo gồm quan sát, thực hành, thí nghiệm
và điều tra, tập trung vào phát triển năng lực thể chất, năng lực tìm hiểu tự nhiên,
năng lực thẩm mỹ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua các kiến
thức sinh học để dạy học ở tiểu học.
Từ khóa: Sinh học, tiểu học, phát triển năng lực.

1. MỞ ĐẦU
Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh là quan điểm chủ đạo và yêu cầu cần đạt
được trong tất cả các môn học của chương trình giáo dục phổ thơng mới. Ở cấp tiểu học, hệ
thống các năng lực chung và năng lực chuyên mơn được hình thành và phát triển qua tất cả
các mơn học. Theo chương trình giáo dục phổ thơng mới, hệ thống các kiến thức sinh học là
một trong những nội dung chính của mơn “Tự nhiên và Xã hội” lớp 1, 2, 3 và Khoa học lớp 4,
5 với thời lượng từ 1-2 tiết/tuần [1]. Những kiến thức này được cấu thành một hệ thống chặt
chẽ ở các cấp lớp, sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính và một số kiến thức đồng tâm. Tuy
nội dung không quá chuyên sâu nhưng trải rộng trong các mảng kiến thức chính là thực vật và
động vật, nấm, vi khuẩn, virus, con người và sức khoẻ, sinh vật và môi trường. So với hệ
thống kiến thức thuộc lĩnh vực sinh học của chương trình giáo dục tiểu học hiện hành đã có


một số thay đổi. Các kiến thức này đóng vai trị chủ đạo trong việc giáo dục học sinh tình yêu
thiên nhiên, tôn trọng các quy luật của tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với
yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường. Thông qua các hoạt động học tập của lĩnh
vực này, học sinh dần hình thành và phát triển năng lực tìm hiểu và khám phá thế giới tự
nhiên qua quan sát và thực nghiệm, năng lực vận dụng tổng hợp kiến thức khoa học để giải
quyết các vấn đề trong cuộc sống. Đặc biệt, hệ thống kiến thức về sinh lý người giúp học sinh
rèn luyện kỹ năng sống một cách khoa học. Xuất phát từ nội dung và mục tiêu của môn Tự
nhiên và Xã hội 1, 2, 3 và Khoa học 4, 5 ở tiểu học trong chương trình giáo dục phổ thơng
mới, việc lựa chọn các nội dung thuộc lĩnh vực sinh học cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu
học không những phải đáp ứng các u cầu của chương trình, mà cịn cung cấp những phương
pháp dạy học đặc trưng, giúp sinh viên có thể triển khai các nội dung này ở giai đoạn tiểu học
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
2. NỘI DUNG
2.1. Các nội dung liên quan đến kiến thức sinh học trong chương trình của học sinh tiểu học
Theo chương trình mới hệ thống các kiến thức sinh học là một trong những nội dung
chính của mơn “Tự nhiên và Xã hội” lớp 1, 2, 3 và Khoa học lớp 4, 5 thuộc về bốn chủ đề
chính, với các yêu cầu cần đạt như sau:

129


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ

2.1.1. Chủ đề thực vật và động vật
Chủ đề này ở lớp 1 học sinh được học về thực vật và động vật xung quanh, chăm sóc và
bảo vệ cây trồng vật ni. Lớp 2 là kiến thức về nơi sống của thực vật và động vật, tác động
của con người và một số hiện tượng tự nhiên đến môi trường sống của thực vật và động, bảo
vệ nơi sống của thực vật, động vật. Lớp 3 nội dung gồm các bộ phận của thực vật, động vật và
chức năng của các bộ phận đó, sử dụng thực vật và động vật [2]. Lớp 4 đề cập đến nhu cầu
sống của thực vật và động vật (ánh sáng, khơng khí, nước, nhiệt độ, chất khống đối với thực

vật và ánh sáng, khơng khí, nước, nhiệt độ, thức ăn đối với động vật) và ứng dụng thực tiễn về
nhu cầu sống của thực vật, động vật trong chăm sóc cây trồng và vật ni. Lớp 5 học sinh học
về sự sinh sản ở thực vật và động vật bao gồm sự sinh sản của thực vật có hoa và sự sinh sản
của động vật, sự lớn lên và phát triển của thực vật và động vật [3].
2.1.2. Chủ đề con người và sức khỏe
Ở chủ đề này, học sinh lớp 1 được học về các bộ phận bên ngoài và giác quan của cơ
thể và giữ cơ thể khỏe mạnh và an toàn. Lớp 2 và 3 gồm các nội dung về một số cơ quan bên
trong cơ thể, chăm sóc và bảo vệ các cơ quan trong cơ thể [2]. Lớp 4 gồm các kiến thức về
dinh dưỡng ở người bao gồm: Các nhóm chất dinh dưỡng có trong thức ăn và vai trò của
chúng đối với cơ thể, chế độ ăn uống cân bằng và một số bệnh liên quan đến dinh dưỡng. Lớp
5 đề cập đến sự sinh sản và phát triển ở người, chăm sóc sức khoẻ tuổi dậy thì và phòng tránh
bị xâm hại [3].
2.1.3. Chủ đề nấm, vi khuẩn và virus
Chủ đề này được dạy ở lớp 4 và 5, khơng có ở giai đoạn lớp 1, 2, 3. Nội dung bao gồm: Lớp
4 đề cập đến nấm ăn, nấm độc và vi khuẩn; lớp 5 học sinh được học về vi nấm và virus [3].
2.1.4. Sinh vật và mơi trường
Chủ đề sinh vật và mơi trường có ở giai đoạn lớp 4 và 5. Trong đó lớp 4 học sinh được
học về chuỗi thức ăn và vai trò của thực vật trong chuỗi thức ăn, lớp 5 đề cập đến vai trị của
mơi trường đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng, tác động của con người đến
môi trường [3].
2.2. Hệ thống kiến thức sinh học cơ bản cho sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học
Căn cứ vào nội dung và yêu cầu của chương trình tiểu học theo định hướng phát triển
năng lực cho thấy kiến thức sinh học được đề cập đến không quá chuyên sâu, nhưng theo một
hệ thống logic khoa học về các cấp độ của tổ chức sống, trong đó phần con người, mối quan
hệ của con người với sinh vật và môi trường được nhấn mạnh nhiều hơn. Mặt khác, các nội
dung học tập của học sinh tiểu học phải được ứng dụng hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày.
Đây là một yêu cầu bắt buộc trong dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực. Do đó, song
song với trang bị hệ thống kiến thức về khoa học sinh học cơ bản, thì kiến thức về sinh học
ứng dụng cần được thực hiện một cách đồng bộ. Để đáp ứng đồng thời hai yêu cầu trên,
chúng tôi đã trang bị cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học hệ thống kiến thức như sau:

2.2.1. Kiến thức về sinh lý học trẻ em
Hệ thống kiến thức sinh lý học trẻ em thuộc về phần “Con người và sức khỏe” của môn
Tự nhiên và Xã hội 1, 2, 3 và môn Khoa học 4, 5 ở tiểu học bao gồm: hệ thần kinh, phân tích
quan, hệ vận động, hệ tuần hồn, hệ tiêu hóa, hệ hơ hấp, hệ bài tiết, hệ nội tiết, trao đổi chất
và năng lượng, sinh lý hoạt động của hệ thần kinh cấp cao. Do đó, khi triển khai nội dung này
sinh viên sẽ được nghiên cứu về giải phẫu, sinh lý và vệ sinh phòng bệnh liên quan đến từng

130


BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA LẦN THỨ 1

hệ cơ quan ở giai đoạn học sinh tiểu học. Đặc biệt, sinh viên được định hướng chú trọng đến
các nội dung vệ sinh phòng bệnh cho học sinh tương ứng với mỗi nội dung lý thuyết [6]. Khi
trở thành giáo viên, hệ thống các kiến thức vệ sinh phòng bệnh đã được trang bị sẽ giúp cho
việc dạy học về khả năng tự phục vụ bản thân, bảo vệ từng cơ quan, vùng riêng tư, để hình
thành kỹ năng sống và phòng chống bị xâm hại cho học sinh một cách dễ dàng. Việc triển
khai kiến thức lý thuyết kết hợp với các ứng dụng trong thực tiễn sẽ giúp sinh viên tư duy một
cách logic, học tập sáng tạo và giải quyết các yêu cầu của mục tiêu dạy học sau này. Đây là
một điểm hoàn tồn khác biệt với việc dạy mơn “Sinh lý học trẻ em” trước đây chỉ đơn thuần
là kiến thức lý thuyết về giải phẫu sinh lý.
2.2.2. Kiến thức về sinh học đại cương
Kiến thức chủ yếu của sinh học đại cương trong phục vụ cho việc dạy chủ đề thực vật
và động vật, vi nấm, vi khuẩn và virus. Yêu cầu nội dung không quá chuyên sâu, mà chủ yếu
theo hướng mơ tả đặc điểm hình thái bên ngồi, các quy luật vận động và phát triển về tổ chức
sống ở các cấp độ sống như chuyển hóa vật chất và năng lượng, cảm ứng và vận động, sinh
trưởng và phát triển, sinh sản. So với hệ thống kiến thức của chương trình cũ, rất nhiều nội
dung được bổ sung như vi nấm, virus và vi khuẩn. Do đó, sinh viên cần được trang bị kiến
thức phân loại theo tiến trình tiến hóa, để giải thích và trả lời các câu hỏi của học sinh tiểu học
về các vấn đề liên quan đến sự sống. Nội dung kiến thức trang bị cho sinh viên thuộc phần

sinh học đại cương tập trung vào hệ thống phân loại sinh giới, với các đặc điểm đại diện đặc
trưng cho từng giới, từng ngành, từng lớp và một số đại diện quen thuộc. Các ví dụ về lồi đại
diện cho các nhóm virus, vi khuẩn, nấm, động vật và thực vật là các đối tượng quen thuộc,
gần gũi với học sinh tiểu học. Đồng thời, các nội dung liên quan đến đời sống sinh vật như
hình thái, sự sinh sản, phương thức tồn tại và phát triển trong tự nhiên phải được phân tích
sâu. Mỗi nhóm sinh vật phải được làm rõ vai trị và tác hại của chúng đối với tự nhiên và con
người [5].
2.2.3. Kiến thức về sinh thái học, môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường
Ở giai đoạn tiểu học, kiến thức trang bị cho sinh viên chủ yếu tập trung vào sinh thái
học cá thể và hệ sinh thái, trong đó nhấn mạnh phần chuỗi, lưới thức ăn và chu trình tuần
hồn vật chất trong tự nhiên. Một trong những nội dung được nhấn mạnh là các kiến thức về
nguyên nhân và hậu quả của ô nhiễm môi trường dẫn đến sự biến đổi khí hậu tồn cầu và ở
Việt Nam, các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu đang diễn ra. Sinh viên giải thích được
sinh vật với môi trường là một thể thống nhất, sinh vật chịu tác động của mơi trường, khí hậu,
đồng thời chúng có tác động làm ổn định hoặc biến đổi mơi trường và khí hậu [7].
2.3. Phương tiện và phương pháp chủ đạo dạy học các kiến thức sinh học cho sinh viên
ngành Giáo dục Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực
2.3.1. Sử dụng vật thật, tranh ảnh, dữ liệu điện tử và giáo trình trong dạy học
Trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 1, 2, 3 và Khoa học 4, 5 thì phương tiện dạy
học có vai trị rất quan trọng. Ở cấp tiểu học, nhận thức của học sinh mang tính trực quan, do
đó các kiến thức lý thuyết khoa học phải được thể hiện một cách đơn giản, gần gũi và tác
động vào nhiều giác quan khác nhau trong quá trình nhận thức. Do đó, bên cạnh bộ sách giáo
khoa cung cấp các kiến thức lý thuyết cơ bản thì việc lựa chọn các phương tiện dạy học hỗ trợ
sẽ quyết định thành cơng. Khi dạy học kiến thức sinh học thì các phương tiện dạy học như vật
thật, mơ hình, tranh ảnh và dữ liệu điện tử là những phương tiện mang lại hiệu quả dạy học
cao nhất. Do đó, chúng tơi đã chuẩn bị bộ giáo trình kết hợp với sử dụng vật thật, mơ hình,
tranh ảnh và dữ liệu điện tử trong dạy học các kiến thức sinh học cho sinh viên. Phương tiện

131



TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ

dạy học này vừa giúp sinh viên lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng, vừa định hướng sử dụng
nguồn phương tiện dạy học chuẩn cho giáo viên tiểu học sau này. Cụ thể như sau:
Giáo trình gồm có “Sinh lý học trẻ em lứa tuổi tiểu học” [5], “Kiến thức sinh học cơ bản
ở tiểu học” [6] và “Giáo dục môi trường ở tiểu học” [7]. Nội dung của các giáo trình này được
viết tương ứng với từng chủ đề trong chương trình của cấp tiểu học. Nội dung chi tiết được
viết theo nguyên tắc đồng tâm từ đơn giản đến phức tạp, luôn gắn với các ứng dụng trong
thực tiễn bám sát vào yêu cầu ở cấp tiểu học. Ví dụ, yêu cầu học sinh tiểu học cần đạt được
khi học về nội dung “virus” là: nêu được virus có kích thước nhỏ hơn vi khuẩn rất nhiều,
khơng thể nhìn thấy bằng kính hiển vi thơng thường và kể được tên một đến hai bệnh ở người
do virus gây ra, nêu được nguyên nhân gây bệnh và cách phòng tránh. Trong giáo trình “Kiến
thức sinh học cơ bản ở tiểu học” sẽ bao gồm các nội dung tương ứng: hình dạng, kích thước,
cấu tạo của virus, virus gây độc và chu trình sinh tan, virus ơn hịa và chu trình tiềm tan, các
con đường lan truyền của virus, bệnh do virus gây ra và phịng bệnh do virus.
Mẫu vật thật ln mang những đặc điểm chân thực và sống động về mọi hoạt động bình
thường, màu sắc, hình dáng, cách vận động riêng do đó có giá trị rất lớn. Loại đồ dùng dạy
học này có giá trị sư phạm cao nhất, giúp học sinh tiểu học nhận biết sự vật, hiện tượng chân
thực bằng cách sử dụng tất cả các giác quan, phù hợp với tư duy trực quan ở giai đoạn đầu của
tiểu học. Một số nội dung có thể sử dụng vật thật như rễ, thân, lá, hoa, quả, nấm ăn, cá, sữa
chua, dưa chua…
Mơ hình được dùng để thay thế hay bổ sung các mẫu vật tự nhiên đơi khi khơng có sẵn,
hoặc lớn q, nhỏ q khó quan sát, mơ hình có tác dụng phản ánh được cấu tạo, khái quát và
hình dung được rõ ràng các cấu trúc khơng gian, so với kích thước của mẫu vật thật, sẽ khắc
sâu được kiến thức cho học sinh. Thí dụ mơ hình cơ thể người, các giác quan, quang hợp…
Khi dạy về cấu tạo cơ thể người, chúng tơi đã sử dụng mơ hình nửa cơ thể người để hướng
dẫn sinh viên nghiên cứu các hệ cơ quan vị trí và mối quan hệ của chúng trong cơ thể. Mơ
hình này khi sử dụng ở tiểu học giáo viên trình bày đến hệ cơ quan nào thì yêu cầu học sinh
chỉ đến hệ cơ quan đó.

Việc sử dụng mơ hình khơng cho phép đi sâu vào cấu tạo chi tiết, trong trường hợp này
dữ liệu điện tử tạo ra ưu thế hơn. Dữ liệu điện tử đặc biệt là tranh vẽ, video giúp cho học sinh
có thể hiểu sâu sắc hơn về cấu tạo bên trong của đối tượng đang nghiên cứu, một quá trình
thay đổi, xảy ra trong tiến trình dài ngồi ra nó cịn thay thế mẫu vật thật mà khơng tìm kiếm
được. Dữ liệu bao gồm tranh ảnh, video về hình thái của virus, vi khuẩn, cấu tạo các cơ quan
và hệ cơ quan trong cơ thể người, quá trình dinh dưỡng, sinh sản và phát triển ở thực vật,
động vật và người, sinh vật và môi trường, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu... Bên cạnh
nguồn dữ liệu được khai thác từ internet, cịn có nguồn dữ liệu điện tử tự thiết kế và xây dựng
phục vụ cho dạy học nhiều nội dung liên quan đến bảo vệ bản thân, phòng chống xâm hại. Ví
dụ quay video tình huống trẻ đồng ý lên xe hay nhận quà tặng từ người lạ và hậu quả có thể
xảy ra.
2.3.2. Phương pháp dạy học các kiến thức sinh học theo định hướng phát triển năng lực
Theo Nguyễn Công Khanh (2013), năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ
thống kiến thức, kỹ năng, thái độ,… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một
cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra cho
chính các em trong cuộc sống [4]. Dạy học tiếp cận năng lực phải áp dụng các phương pháp
tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trị tổ chức, hướng dẫn hoạt
động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến
khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng
132


BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA LẦN THỨ 1

của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức,
kỹ năng đã tích lũy được để phát triển. Yêu cầu giáo viên tiểu học phải tự xây dựng các trải
nghiệm học tập để mở rộng những khái niệm mà học sinh đã biết và giải thích những kiến
thức mà học sinh khơng giải quyết được. Sau đó học sinh áp dụng các khái niệm để giải quyết
những tình huống mới.
Để sinh viên tiếp cận với định hướng dạy học phát triển năng lực học sinh, chúng tôi đã

sử dụng các phương pháp dạy học giúp sinh viên vừa tham gia xây dựng nội dung bài học, vừa
giải quyết những vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức sinh học. Các hoạt động học tập
của sinh viên bao gồm hoạt động khám phá, giải quyết vấn đề, luyện tập và thực hành, được
thực hiện với sự hỗ trợ của giảng viên và phương tiện dạy học, đặc biệt là công cụ tin học.
Sinh viên được tạo điều kiện thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế, thông qua
học lý thuyết trên lớp hoặc tự nghiên cứu, thực hiện bài tập nhóm, dự án cá nhân và semina.
Hầu hết các phương pháp dạy học đã được sử dụng để trang bị hệ thống kiến thức sinh học cho
sinh viên, tuy nhiên khi sử dụng các phương pháp theo định hướng phát triển năng lực học sinh
như sau: Phương pháp thực hành được ưu tiên lựa chọn để phát triển năng lực tự chủ của học
sinh tiểu học. Hình thành và phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên và năng lực thẩm mỹ thì ưu
tiên sử dụng các phương pháp quan sát và thí nghiệm. Cụ thể như sau:
2.3.2.1. Phương pháp quan sát
Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học nhằm tạo cho học
sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát sự vật, hiện
tượng. Phương pháp quan sát là phương pháp đặc trưng, thường được sử dụng khi dạy học
môn Tự nhiên và xã hội 1, 2, 3 và Khoa học 4, 5 ở tiểu học và đặc biệt là đối với học sinh ở
giai đoạn đầu cấp. Đặc biệt, phương pháp quan sát phù hợp với tâm lý nhận thức của học sinh
tiểu học là tư duy bằng hình tượng và bản tính tị mị, thích khám phá. Phương pháp này phát
huy hiệu quả khi giáo viên dạy học kiến thức sinh học sử dụng các mẫu vật thật, mơ hình,
tranh ảnh hay video. Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng mọi giác quan để tri giác sự vật, hiện
tượng. Đặt sự vật hiện tượng đó trong mơi trường sống và các mối quan hệ của nó. Học sinh
có thể sử dụng các giác quan (sờ, ngửi, nếm, nghe, nhìn...) để tiếp cận trực tiếp tới các sự vật,
hiện tượng giúp học sinh lĩnh hội tri thức sẽ hứng thú hơn. Quan sát vật thật là hình thức quan
sát sinh động và thuận lợi nhất trong dạy học sinh học ở tiểu học, giúp học sinh khám phá mọi
mặt của sự vật hiện tượng như đặc điểm bên ngoài, cấu tạo, bản chất bên trong và mối quan
hệ giữa các sự vật hiện tượng đó trong tự nhiên. Ví dụ, khi dạy về cấu tạo của hoa, sử dụng
bông hoa thật giúp để học sinh quan sát bằng mắt để biết được các bộ phận của bông hoa gồm
đài, tràng, nhị và nhuỵ. Đài và tràng làm thành bao hoa bảo vệ nhị và nhuỵ. Tràng gồm nhiều
cánh hoa, màu sắc của cánh hoa khác nhau tuỳ loại. Nhị có nhiều hạt phấn. Nhuỵ có bầu chứa
nỗn… Nếu khơng có vật thật thì mơ hình, tranh ảnh sẽ được ưu tiên lựa chọn trong phương

pháp quan sát. Ví dụ, học sinh lớp 1 quan sát mơ hình cơ thể để khám phá cấu tạo và hoạt
động chung. Trên cơ sở đó tự xây dựng các hoạt động vận động hàng ngày để cơ thể khỏe
mạnh. Quá trình dạy học sẽ được tiến hành như sau: Ở hoạt động 1, giáo viên giới thiệu
mơ hình người. Học sinh quan sát và chỉ các bộ phận của cơ thể người (chỉ trực tiếp trên mơ
hình, tranh ảnh). Hoạt động 2, giáo viên tổ chức cho học sinh khám phá mô hình. Sau đó thực
hiện các hoạt động của con người trên mơ hình. Ví dụ cúi đầu, gập người, vận động cánh tay,
vận động chân, rồi cho học sinh thực hiện các động tác đó. Tiếp tục cho học sinh tháo lắp các
bộ phận trên mơ hình. Như vậy, qua mơ hình giáo viên đã giúp học sinh biết được cấu tạo của
cơ thể người và các hoạt động của cơ thể. Ngồi ra trên mơ hình giáo viên cịn giới thiệu cho
học sinh biết cơ chế của sự vận động và khuyến khích học sinh nên vận động hằng ngày để có
cơ thể khỏe mạnh.

133


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ

Muốn phát triển “năng lực tìm hiểu tự nhiên” và “năng lực thẩm mỹ” cho học sinh tiểu
học thông qua dạy học các kiến thức sinh học [1] thì sinh viên ngành Giáo dục tiểu học bắt
buộc phải có kỹ năng quan sát sự vật hiện tượng một cách khoa học. Phương pháp quan sát
giúp cho sinh viên khi trở thành giáo viên tiểu học có thể sử dụng một cách hiệu quả để dạy
cho học sinh tiểu học khả năng quan sát thế giới sinh vật ở mức độ hình thái và cơ chế hoạt
động đơn giản. Thông qua hoạt động của sinh giới, sự đa dạng phong phú của các loài động
vật, thực vật, hệ sinh thái, đặc biệt là chính cơ thể con người và sức khỏe sẽ kích thích làm
nảy sinh nhiều cảm xúc ở học sinh tiểu học, phát triển tình yêu đối với thiên nhiên, nhận thức
được giá trị của thiên nhiên và vai trò của mỗi cá nhân đối với tự nhiên. Từ đó, học sinh có ý
thức bảo vệ bản thân mình và người khác, bảo vệ môi trường và sự đa dạng của sinh học. Do
đó, rất nhiều nội dung học tập của sinh viên đã sử dụng phương pháp quan sát như: xác định
được các bộ phận của thực vật, động vật và chức năng của các bộ phận đó. So sánh hình dạng,
kích thước, màu sắc của rễ, thân, lá, hoa, quả của các loài thực vật khác nhau. Phân loại được

thực vật dựa trên một số tiêu chí đặc điểm xác định (ví dụ: rễ cọc, rễ chùm). Xác định đặc
điểm cơ quan sinh sản của thực vật có hoa, phân biệt được hoa đơn tính và hoa lưỡng tính...
So sánh và đối chiếu các đặc điểm cấu tạo của các động vật khác nhau. Phân loại được động
vật dựa trên một số tiêu chí đặc điểm xác định (ví dụ: động vật khơng xương sống, động vật
có xương sống)... Nhận biết được vùng riêng tư của cơ thể cần được bảo vệ, dấu hiệu chính và
nguyên nhân của một số bệnh do ăn thiếu hoặc ăn thừa chất dinh dưỡn... Nguyên nhân và hậu
quả của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu…
2.3.2.2. Phương pháp thực hành
Phương pháp thực hành được sử dụng phổ biến trong dạy học các môn về tự nhiên và xã
hội, nhất là các bài học có nội dung về giáo dục sức khoẻ và an toàn bản thân. Sinh viên được
định hướng sử dụng phương pháp này chủ yếu để dạy các kỹ năng cho học sinh tiểu học như:
chăm sóc răng miệng, vệ sinh cơ thể, phòng chống bệnh tật, phòng chống xâm hại, chăm sóc
vật ni, trồng cây bằng hạt và bằng thân (hoặc lá, rễ), ứng phó với biến đổi khí hậu, thiết kế
thời gian biểu cho các hoạt động có lợi cho sức khỏe, nói khơng và tránh xa người có hành vi
động chạm hay đe dọa đến sự an toàn của bản thân, lập một danh sách những người đáng tin
cậy để chia sẻ, yêu cầu sự giúp đỡ khi bản thân hoặc bạn bè có nguy cơ bị xâm hại, thiết kế
bữa ăn cân bằng và lành mạnh, xây dựng chương trình vận động gia đình và cộng đồng phòng
một số bệnh liên quan đến dinh dưỡng... Phương pháp thực hành được triển khai cho sinh
viên dưới hình thức làm việc cá nhân hoặc nhóm về nội dung dạy học các kỹ năng trên. Ví dụ,
thực hành một số kỹ năng phịng chống xâm hại tình dục theo quy tắc 5 ngón tay như sau.
Bước 1 giáo viên cho học sinh xem video về quy tắc 5 ngón tay. Bước 2 giáo viên nói ngón
tay, học sinh nói tên người và hành động tương ứng phù hợp với từng ngón tay. Bước 3 giáo
viên hướng dẫn học sinh thực hành kỹ năng phịng chống xâm hại tình dục bằng câu hỏi
“Nếu ai đó cố tình nhìn, nói, đụng chạm vào vùng bí mật của con hoặc yêu cầu con nhìn và
đụng chạm vùng bí mật của họ thì các con sẽ làm gì?”. Học sinh sẽ xem hình ảnh hoặc video
minh họa và thực hành cá nhân việc phản đối bằng cách nói “khơng”, xua tay, cắn, tấn công
lại. Đồng thời, cho học sinh thực hành cá nhân kỹ năng thốt hiểm khi bị lơi, kéo, ơm... Sau
đó, học sinh tiếp tục thực hành bước bỏ chạy thật nhanh đến nơi đông người, đồng thời hô to
để mọi người chú ý đến mình. Cuối cùng học sinh thực hành kể lại tất cả câu chuyện mà
người xấu đã làm với con cho cha mẹ và những người các con tin cậy để người lớn kịp thời

can thiệp và bảo vệ con được an toàn hơn. Cho học sinh kể tên 5 người cảm thấy tin cậy nhất.

134


BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA LẦN THỨ 1

2.3.2.3. Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp thí nghiệm được coi là một trong những phương pháp tạo niềm tin tuyệt
đối cho học sinh, là cầu nối giữa lý thuyết với thực tiễn, hỗ trợ cho tư duy sáng tạo của học
sinh. Sử dụng phương pháp thí nghiệm tìm hiểu nguyên nhân của một số hiện tượng, quá trình
sinh học như: tác hại của khói thuốc lá, thực vật cần ánh sáng, khơng khí, nước, nhiệt độ và
chất khống để sống và phát triển, quang hợp và hô hấp, tác hại của ơ nhiễm nước, khơng
khí… Sinh viên khi thực hiện các thí nghiệm sẽ khám phá và kiểm chứng tri thức một cách
thuyết phục, giúp kích thích hoạt động tìm tịi và nghiên cứu khoa học. Khi trở thành một giáo
viên tiểu học có thể hướng dẫn và thị phạm cho học sinh thực hiện các thí nghiệm đơn giản,
kích thích học sinh lịng đam mê, tìm tịi trong nghiên cứu khoa học sau này. Ví dụ, thực hiện
thí nghiệm chứng minh tác hại của thuốc lá đến cơ thể người như sau: Dụng cụ thí nghiệm
gồm một chai nhựa 2 lít có đục một lỗ ở gần đáy, 1 điếu thuốc lá, bật lửa, 1 tờ khăn giấy mà
trắng. Trên nút chai đục một lỗ nhỏ vừa với thân một điếu thuốc. Đổ nước ngập ¾ chai nhựa
và vặn nút lại, bên trên có gắn điếu thuốc lá. Châm điếu thuốc và từ từ mở nút bên dưới đáy
chai để nước chảy ra ngồi. Bước này mơ phỏng hành động hút thuốc lá của con người. Lúc
này, bên trong chai sẽ chứa đầy khói trắng từ thuốc lá. Lượng khói này bằng với lượng khói
mà người hút đưa vào phổi. Sau khi điếu thuốc cháy hết, mở nắp chai và dùng một chiếc khăn
giấy buộc quanh miệng chai. Thổi vào trong chai cho đến khi khơng khí trắng đục trở nên
trong suốt. Mở miếng khăn giấy trên miệng chai và quan sát. Lớp chất màu vàng trên khăn
giấy mô phỏng cho những chất độc hại mà thuốc lá đưa vào và lưu lại ở phổi người hút thuốc.
Giáo viên thực hiện mơ phỏng thí nghiệm trước để học sinh quan sát thao tác và kết quả. Sau
đó cho học sinh thực hiện thí nghiệm theo nhóm và trình bày kết quả. Cuối cùng, giáo viên
giải thích kết quả lớp chất màu vàng trên khăn giấy chính là lượng khí với hơn rất nhiều hóa

chất nguy hiểm mà phổi phải hấp thụ khi hút một điếu thuốc.
2.3.2.4. Phương pháp điều tra
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu dạy học các nội dung liên quan đến giáo dục
môi trường như thu thập thông tin, bằng chứng cho thấy con người có những tác động tiêu
cực hay tác động tích cực đến mơi trường và tài ngun thiên nhiên, thực hiện được một số
việc làm thiết thực, phù hợp để góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và mơi trường. Ngồi
ra, một số nội dung liên quan đến các bệnh của con người, các loài sinh vật bản địa... Sử dụng
phương pháp điều tra giúp sinh viên trở thành những người làm việc độc lập và phối hợp với
các thành viên trong nhóm một cách linh hoạt. Mỗi sinh viên sẽ là những nhà khoa học để thu
thập, phân tích và đánh giá số liệu thu thập được từ thực tiễn. Ví dụ, giáo viên tiểu học sử
dụng phương pháp điều tra để tìm hiểu về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường theo 4 bước
như sau: Bước 1 là chia theo nhóm 4 - 5 học sinh, mỗi nhóm gồm các thành viên ở gần nhà
nhau. Trong đó, cử ra một nhóm trưởng có năng lực điều hành, có mối quan hệ tốt với các
thành viên trong nhóm và một thư ký ghi chép một cách đầy đủ, rõ ràng các dữ liệu mà nhóm
đã điều tra được. Bước 2 sẽ giao nhiệm vụ cho từng nhóm ghi chép lại cách phân loại rác, bỏ
rác đúng nơi quy định của các hộ gia đình và thu gom rác trong khu dân cư vào một giờ nhất
định hàng ngày và hướng dẫn mỗi thành viên trong nhóm ghi chép theo bảng giáo viên đã
thiết kế sẵn. Bước 3 các nhóm nộp kết quả điều tra cho thư ký để tập hợp và cùng nhau phân
tích kết quả (có thể phân tích theo các câu hỏi gợi ý sẵn trong phiếu điều tra giáo viên đã
phát). Bước 4 mỗi nhóm sẽ trình bày kết quả điều tra và rút ra các nguyên nhân gây ô nhiễm
môi trường tại khu vực mình sinh sống trước lớp.

135


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ

3. KẾT LUẬN
Căn cứ vào các yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nội dung trong chương trình
giáo dục phổ thơng mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở cấp tiểu học, chúng tôi đã so sánh và

tổng kết các nội dung kiến thức Sinh học giữa chương trình cũ và mới. Trên cơ sở đó đã biên
soạn thành giáo trình phù hợp để phục vụ cho giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên
ngành Giáo dục Tiểu học. Nghiên cứu đã lựa chọn các phương pháp dạy học đặc trưng của bộ
môn như quan sát, thực hành, thí nghiệm và điều tra, nhưng chú trọng vào phát triển một số
năng lực của học sinh tiểu học bao gồm: năng lực thể chất, năng lực tìm hiểu tự nhiên, năng
lực thẩm mỹ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua các kiến thức sinh học ở tiểu
học. Mỗi phương pháp được cụ thể bằng ví dụ minh họa khi triển khai ở tiểu học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017). Chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Chương trình giáo dục phổ thông môn Tự nhiên và Xã hội
1, 2, 3.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Chương trình giáo dục phổ thông môn Khoa học 4, 5.
[4] Nguyễn Công Khanh (2013). Xây dựng khung năng lực trong chương trình giáo dục phổ
thơng sau 2015, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Số 95, Tr.1-5.
[5] Nguyễn Minh Giang (2013). Kiến thức sinh học cơ bản ở tiểu học, NXB Giáo dục.
[6] Nguyễn Minh Giang (2016). Sinh lý học trẻ em lứa tuổi tiểu học, NXB Giáo dục.
[7] Nguyễn Minh Giang (2017). Giáo dục môi trường ở tiểu học, NXB Giáo dục.

Title: BUILDING BIOLOGICAL SYSTEM AND TEACHING METHODS FOR PRIMARY
STUDENTS, HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION TO APPROACH ABILITIES
OF NEW GENERAL EDUCATION CURRICULUM
Abstract: Biological knowledge systems are developed in cross-cutting themes in natural and social
subjects 1, 2, 3 and Science 4, 5 of the new general education curriculum. Students of the primary
department, Ho Chi Minh City University of Education have been equipped with knowledge and
teaching methods to adapt the requirements of education reform. The knowledge system includes
children's physiology, animal biology, plant biology, viruses, bacteria, fungi and environmental
education. Teaching tools are diverse, including real objects, models, pictures and electronic data. The
key teaching methods include observation, practice, experiment and investigation, focusing on
developing physical abilities, abilities to find out nature, aesthetic abilities, problem solving abilities
and creative abilities through the biological knowledge to teach in elementary school.

Keywords: Biology, primary, developing abilities.

136



×