Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

BCKH ứng dụng mô hình vector tự hồi quy var kiểm định và dự báo thực trạng lạm phát tại việt nam 2011

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.22 MB, 92 trang )



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM


CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VECTO TỰ HỒI QUY VAR
KIỂM ĐỊNH VÀ DỰ BÁO THỰC TRẠNG LẠM PHÁT
VIỆT NAM


THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ


MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục phụ lục
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.1. Các quan điểm về lạm phát – cách đo lƣờng lạm phát. 1
1.1.1. Các quan điểm về lạm phát. 1
1.1.1.1. Luận thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”. 1
1.1.1.2. Luận thuyết “ lạm phát cầu dư thừa tổng quát” 1
1.1.2. Cách đo lường lạm phát. 2


1.1.2.1. Các đo lường lạm phát trên thế giới. 2
1.1.2.2. Cách đo lường lạm phát của Việt Nam. 3
1.2. Các loại lạm phát. 4
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát. 5
1.3.1. Lạm phát do cầu kéo. 5
1.3.2. Lạm phát do chi phí đẩy 7
1.4. Tác động của lạm phát. 8
1.5.Các nhân tố đƣợc xem xét khi nhắc đến lạm phát. 111






CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000 - 2011

2.1. Tình hình lạm phát của Việt Nam từ 2000 đến 2011 13
2.1.1. Lạm phát trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003. 13
2.1.2. Lạm phát Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006. 14
2.1.3. Lạm phát giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009. 16
2.1.4.Lạm phát Việt Nam từ năm 2010 đến nay. 17
2.2. Nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ở Việt Nam từ 2000 đến 2011. 19
2.2.1. Nhóm nguyên nhân trong nước. 19
2.2.1.1. Đầu tư công kém hiệu quả. 19
2.2.1.2. Chính sách tiền tệ . 21
2.2.1.3. Chính sách mở cửa của Việt Nam trong tiến trình hội nhập. 22
2.2.1.4.Yếu tố tâm lý, đầu cơ, làm giá. 23
2.2.1.5. Thu nhập của dân cư. 24

2.2.1.6. Vai trò điều hành của NHNN và sự phối hợp của các cơ quan
chức năng. ……………………………………………………………………… 24
2.2.1.7. Tăng giá điện, xăng dầu 25
2.2.2. Nhóm nguyên nhân ngoài nước 25
2.2.2.1. Tác động của dòng tiền nóng. 25
2.2.2.2. Chi phí nguyên vật liệu nhật khẩu gia tăng. 26
2.2.2.3. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. 26




CHƢƠNG 3
XÂY DỰNG MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN LẠM PHÁT VÀ DỰ BÁO
3.1. Các mô hình đo lƣờng lạm phát. 30
3.1.1. Một số mô hình đo lường lạm phát truyền thống. 30
3.1.1.1. Mô hình đường cong Phillips. 30
3.1.1.2. Mô hình chi phí đẩy. 31
3.1.1.3. Mô hình lạm phát do cầu kéo. 34
3.1.1.4. Mô hình lạm phát theo quan điểm kỳ vọng. 35
3.1.1.5. Mô hình lạm phát theo trường phái tiền tệ. 36
3.1.2. Một số mô hình nghiên cứu lạm phát trong thời gian vừa qua và ý nghĩa
của nó. 40
3.2. Giới thiệu mô hình tự hồi quy vecto VAR ( Vecto Autoregression). 44
3.2.1. Mô hình tự hồi quy vecto VAR. 44
3.2.1.1. Khái niệm . 45
3.2.1.2. Phương pháp ước lượng mô hình Var. 46
3.2.1.3. Một số vấn đề trong xây dựng mô hình Var. 46
3.2.2. Ứng dụng Mô hình VAR cấu trúc nghiên cứu tác động của chính sách tiền
tệ trên thế giới. 46

3.2.2.1. Ứng dụng mô hình tự hồi quy vecto VAR ở Mỹ. 47
3.2.2.2. Mô hình VAR cấu trúc nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ
đến lạm phát trên 7 quốc gia Đông Á. 48
3.3. Ứng dụng mô hình VAR cơ bản kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát
Việt Nam. 49
3.3.1. Cơ sở dữ liệu. 49


3.3.2. Xây dựng mô hình VAR cơ bản kiểm định các yếu tố tác động đến lạm
phát. 50
3.3.2.1. Lựa chọn biến cho mô hình . 50
3.3.2.2. Mô hình VAR cơ bản phù hợp ở Việt Nam. 52
3.3.3. Dự báo lạm phát trong thời gian sắp tới. 54

CHƢƠNG 4
NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM KIỀM SOÁT LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM
4.1. Những giải pháp tình thế. 57
4.2. Các biện pháp chủ yếu chống lạm phát ở Việt Nam. 58
PHẦN KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

FED
Cục dự trữ liên bang Mỹ
NHTW
Ngân hàng trung ương

NHNN
Ngân hàng nhà nước
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
NHTM
Ngân hàng thương mại
CSTT
Chính sách tiền tệ
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
TTCP
Thủ tướng chính phủ


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003
Bảng 2.2 : Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004
Bảng 2.3 : Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 2004 – 2006
Bảng 2.4 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2009
Bảng 2.5 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2010 và 5 tháng đầu năm 2011
Bảng 2.6 : Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1995-2010
Bảng 2.7 : Mức lương tối thiểu trong cơ quan nhà nước từ năm 1999 đến 2010



DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 : Thâm hụt ngân sách, vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài 2000-2010
Hình 2.2 : Cơ cấu đầu tư của khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và FDI
Hình 3.1 : Cơ chế dẫn truyền của lãi suất đến lạm phát.
Hình 3.2 : Chi phí tăng đẩy giá lên cao

Hình 3.3 : Mô hình chi tiêu quá khả năng cung ứng
Hình 3.4 : Mô hình tổng cung-tổng cầu





DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 : Hệ 10 phương trình trong mô hình VAR cơ bản kiểm định các yếu tố tác
động đến lạm phát Việt Nam giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2010.
Phụ lục 2 : Dữ liệu sử dụng trong mô hình tự hồi quy vecto VAR cơ bản.
Phụ lục 3 : Kết quả kiểm định độ trễ của mô hình VAR 10 biến.
Phụ lục 4 : Kết quả kiểm định mô hình VAR cơ bản 10 biến.
Phụ lục 5 : Kết quả kiểm định phần dư của Mô hình.
Phụ lục 6 : Kết quả dự báo của Mô hình.



PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lạm phát không phải là một khái niệm mới mẻ đối với các nhà hoạch định chính sách
cũng dân cư. Nó thay đổi liên tục, có khi tạm lắng, có khi thuyên giảm, có khi lại lên
cơn sốt, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội lạm phát có những sắc thái riêng.
Lạm phát mỗi lần xuất hiện đều mang theo một sức mạnh tiềm ẩn, làm rối loạn nền
kinh tế, làm phức tạp xã hội và làm giảm mức sống của người dân. Chính vì thế, việc
xác định những nhân tố đã và đang tác động đến lạm phát từ đó đề ra những giải pháp
thích hợp cho thực trạng lạm phát Việt Nam là một vấn đề bức thiết hiện nay. Điều đó
đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài “ Ứng dụng mô hình vecto tự hồi quy var
kiểm định và dự báo thực trạng lạm phát việt nam”.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng được một mô hình thực sự phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam, có thể
chỉ ra đâu là nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát trong những khoản thời gian nhất
định và có thể dự báo được tình hình lạm phát trong thời gian sắp tới. Từ đó đề xuất
các giải pháp phù hợp nhằm kiểm soát thực trạng lạm phát Việt Nam.
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định tính, định lượng, thống kê, so sánh
và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng được
sử dụng trong bài là mô hình Tự hồi quy vecto VAR nhằm phân tích và làm rõ vai trò
của các biến số kinh tế vĩ mô góp phần đẩy lạm phát lên cao.





4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Tổng quan về lạm phát và các tác động của lạm phát.
Chương 2: Phân tích các yếu tố đã gây nên thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm
2000 đến 5/2011.
Chương 3: Tìm hiểu về các mô hình đo lường và kiểm định lạm phát từ đó xây dựng
một mô hình kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát trong nước và dự bào tình
hình lạm phát trong thời gian sắp tới.
Chương 4: Đề ra một số biện pháp kiểm soát tình thế và các biện pháp lâu dài nhằm
kiểm soát chặt chẽ lạm phát và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài là một bức tranh tổng quan về thực trạng lạm phát Việt Nam, nguyên nhân cũng
như diễn biến lạm phát từ năm 2000 đến năm 2011. Đồng thời, đề tài cũng đóng góp
một công cụ định lượng giúp cho các nhà điều hành chính sách vĩ mô có một cái nhìn
rõ hơn về các yếu tố tác động đến lạm phát từ đó có các giải pháp điều chỉnh thích hợp
giúp kiểm soát tình hình lạm phát.

6. HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài hướng đến việc xác định tất cả các nhân tố kinh tế khách quan lẫn chủ quan,
trong nước và ngoài nước tác động lên lạm phát và dự báo tình hình lạm phát sắp tới
của Việt Nam. Bài nghiên cứu cũng gặp không ít hạn chế và thiếu sót. Vì thế, hướng
đi tiếp theo của đề tài là tiếp tục nghiên cứu và kiểm định các nhân tố vĩ mô cũng như
vi vô tác động đến lạm phát.
1

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT

1.1. Các quan điểm về lạm phát – cách đo lƣờng lạm phát
1.1.1. Các quan điểm về lạm phát
Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ với một nền kinh tế và hầu hết chúng ta đều có
thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát tùy theo mức độ khác nhau. Cho đến thời
điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm về lạm phát. Song chúng ta
vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về lạm phát. Có người tiếp cận lạm phát theo
những nguyên nhân của nó, có người tiếp cận theo hướng tập trung vào những ảnh
hưởng của lạm phát. Chính vì điều đó, có thể kể ra một số quan điểm về lạm phát sau
đây:
1.1.1.1. Luận thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”
Quan điểm này cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả
tăng lên. Lạm phát trong mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng cầu lưu thông tiền tệ. Lạm
phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi số lượng tiền trong lưu thông tăng lên với nhịp độ
nhanh hơn so với sản xuất.
1.1.1.2. Luận thuyết “ lạm phát cầu dư thừa tổng quát”
Các tác giả theo luận thuyết tiền tệ ở Mỹ giải thích rằng: “Lạm phát là cầu dư thừa”
thường xuyên do phát hành tiền quá mức. Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là
những vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực tiền tệ. Vì lưu thông tiền tệ
có ảnh hưởng mang tính quyết địng tới sự phát triển tích cực của nền kinh tế.
1.1.1.3. Luận thuyết “lạm phát giá cả”

Những người theo luận thuyết này coi sự gia tăng giá cả là lạm phát. Bất cứ thời kỳ
nào mà giá hàng hóa tằn không kể lâu hay mai, có tính chất chu kỳ hay đột xuất đều là
thời kỳ của lạm phát.
2

Trên đây mới chỉ là một vài luận điểm về lạm phát. Điều đó cũng đủ cho chúng ta
nhận định rằng lạm phát là vấn đề hết sức phức tạp và nghiên cứu rất khó khăn. Khi
nói đến lạm phát, có những người nghĩ ngay đến lạm phát tiền tệ, nhưng cũng có
người lại không nghỉ vậy, vì nếu đưa tiền vào lưu thông đúng quy luật khiến giá cả
hàng hóa không tăng thì đó không là lạm phát. Ngược lại, với một lý do đột biến nào
đó mà làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, dĩ nhiên không liên quan đến việc phát hành
tiền, là biểu hiện của lạm phát….Tóm lại, có hai quan điểm về lạm phát được ủng hộ
và sử dụng phổ biến nhất:
Thứ nhất, đó là lạm phát là sự dư thừa tiền trong lưu thông dẫn đến sự gia tăng trong
giá cả hàng hòa.
Thứ hai, đó là lạm phát là sự suy giảm trong sức mua của đồng tiền một cách quá
mức. Sức mua của đồng tiền được đo lường bởi sự biến đổi nghịch đảo của mức giá
chung.
Hai quan điểm này tuy khác nhau về nguyên nhân nhưng lại thống nhất với nhau về
kết quả lạm phát đều làm cho giá cả hàng hóa tăng lên.
1.1.2. Cách đo lƣờng lạm phát.
1.1.2.1. Các đo lường lạm phát trên thế giới.
Ở Mỹ, cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân
làm cơ sở cho các quyết định của mình. Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh
hưởng bới sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt
cho tình trạng lạm phát hiện thời.
Với các nước khác, ngân hàng trung ương (NHTW) thường sử dụng CPI đã được hiệu
chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như
Mỹ.
FED và một số NHTW của ÚC, New Zealand, Nhật Bản loại bỏ một số hàng hóa có

độ biến thiên lớn ( lương thực, năng lượng…) ra khỏi hàng hóa tính CPI lạm phát cơ
bản. Lập luận này là những thành phần mặc dù có độ dao động lớn nhưng về lâu dài
không làm ảnh hưởng đến xu hướng chung của lạm phát. Ngoài ra, sự biến động của
3

những yếu tố này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnh hưởng của
NHTW.
1.1.2.2. Cách đo lường lạm phát của Việt Nam
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bản lẻ của một
lượng lớn các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Giá cả của các loại hàng hóa và
dịch vụ được tập hợp với nhay để đưa ra mức giá cả trung bình gọi là mức giá trung
bình của tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm
hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ
lạm phát thể hiện qua chỉ số giá, là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình
hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc.
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát, là suất tăng của mức giá tổng quát theo
thời gian. Hai thước đo thông dụng phản ảnh mức tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) và chỉ số thu nhập quốc dân điều chỉnh.
Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau
so với giá của cùng rổ hàng hóa trong năm gốc. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm
được chọn làm năm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng. Trên cơ sở xác định chỉ
số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của
giai đoạn này so với giai đoạn trước theo công thức:
Tỷ lệ lạm phát = (mức giá hiện tại – mức giá năm trước)/ mức giá năm trước X 100%.
Nhược điểm của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định
trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa
cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc. những nhược điểm mà chỉ số này
gặp phải khi phản ánh giá cả sinh họat là không phản ánh sự biến động của giá cả
hàng hóa cơ bản, không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng
như sự thay đổi trong phân bổ chỉ tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác

nhau về mặt thời gian.

4

1.2. Các loại lạm phát
Tùy vào các tiêu chuẩn khác nhau mà người ta có thể phân chia lạm phát thành nhiều
loại khác nhau:
Căn cứ vào mức độ biểu hiện của giá cả trên thị trường, lạm phát được chia thành 2
loại: lạm phát ngầm và lạm phát công khai.
Căn cứ vào biểu hiện bên ngoài của bản chất lạm phát người ta chia ra thành lạm phát
lưu thông tiền tệ, lạm phát giá cả, lạm phát sức mua và lạm phát suy thoái.
Căn cứ vào nguyên nhân lạm phát chia ra thành các loại lạm phát: cầu dư thừa tổng
quát, lạm phát cung, lạm phát chi phí, lạm phát cơ cấu, lạm phát nhập khẩu, lạm phát
tài chính – tín dụng, lạm phát hệ thống bốn yếu tố.
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, được chia thành 3 loại: lạm phát vừa phải, lạm phát phi
mã, siêu lạm phát.
1.2.1. Lạm phát vừa phải
Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài phần trăm đến mức lớn hơn không nhiều
so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải lạm phát
kiểm soát được. Đối với loại này thì tùy theo chiến lược và chiến thuật phát triển kinh
tế mỗi thời kỳ mà các chính phủ có thể chủ động định hướng mức khống chế trên cơ
sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác như
kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các
năm tài khóa nhất định.
1.2.2. Lạm phát phi mã
Mức độ tăng của giá cả hàng hóa lúc này cũng như một con ngựa bất kham đang tung
vó để chạy. Nhìn chung lạm phát phi mã duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những
biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ mất giá nhanh, cho
nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho giao dịch hằng ngày. Mọi người
có xu hướng tích trữ hàng hóa, mau bất động sản, chuyển sáng sử dụng vàng và các

ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch lớn và tích lũy của cải.
5

Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất đình trệ, tài chính của nền kinh tế bị phá hoại và
nếu không có biện pháp thích hợp để ghìm chân chú ngựa thì nền kinh tế sẽ dễ dàng
rơi vào tình trạng siêu lạm phát
1.2.3. Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi mã. Siêu lạm phát
thường xảy ra do các biến cố lơn dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội như: chiến tranh,
khủng hoảng chính trị…Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm hụt ngân sách khiến
chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát. Siêu lạm phát có
sức phá hủy toàn bộ hoạt động nền kinh tế, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng.
Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức sau thế chiến thứ
nhất. Giá một tờ báo đã đăng từ 0,3DM vào tháng 1 năm 1992 đã lên đến 70.000.000
DM chỉ trong chưa đầy 2 năm sau đó. Giả cả các mặt hàng khác cũng tăng tương tự.
Từ tháng 1/1992 đến tháng 11/1993, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000.
Như vậy, có thể phân loại lạm phát theo nhiều mức độ khác nhau để có những biện
pháp kiểm soát thích hợp. Song biện pháp phòng bệnh hay chữa bệnh cũng còn phải
căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh.
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, song nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc
lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức (lạm phát do cầu
kéo) hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên (lạm phát do chi phí đẩy).
1.3.1. Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt
mức cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm tằn giá cả. Khi tổng cầu tăng, tức
có nhiều người mua và sẵn sàng mua hàng hóa, trong khi đó lượng cung không tăng
hoặc tăng ít hơn dẫn đến trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa. Theo
quy luật cung cầu thì giá cả thị trường sẽ tăng lên, tức là xuất hiện lạm phát.


6

Nếu gọi tổng là AD thì AD = C+I+G+X-M
Trong đó:
C: chi tiêu hộ gia đình.
G: chi tiêu của chính phủ.
I: đầu tư nền kinh tế.
X: nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu.
M: lượng hàng hóa nhập khẩu.
Tổng cầu tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau:
Chi tiêu của chính phủ cho an ninh quốc phòng, tăng các khoản đầu tư của Chính phủ
làm tăng tổng cầu.
Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài
nước hoặc NHTW, khối lượng tiền tệ lưu thông tăng lên. Vay nước ngoài cũng làm
khối lượng tiền tăng. Vay trong nước khi trả mà thu không đủ chi cũng phải phát hành
và làm cho khối lượng tiền tệ tăng. Khối lượng tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng
tiền tăng.
Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng do mức thu nhập tăng hoặc được Chính phủ
giảm thuế, hoặc chế độ an sinh xã hội hay bảo hiểm tốt nên quyết đinh cắt giảm tiết
kiệm để chi tiêu, hoặc Chính phủ tăng trợ cấp.
Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc độ lưu
thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiên
tệ gia tăng nhanh hơn.
Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế
trong nước và cà ngoài nước hay do lãi suất giảm.
7

Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo nên điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân dễ
tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu
nhiều hơn.

Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như: tỷ giá hối đoái, mức thu nhập của
cư dân nước ngoài…làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu kéo theo tổng cầu gia
tăng.
Trong các phân tích trên đây, tổng cầu tăng gây áp lực tăng giá làm xảy ra tình trạng
lạm phát trong ngắn hạn. Song, nếu nền kinh tees chưa đạt được mức sản lượng tiềm
năng, thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính sách lạm phát
có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm cho nền kinh tế tăng trưởng, khi đó tổng
cung sẽ tăng, sản lượng của nền kinh tế sẽ tăng lên theo.
Ngược lại với lạm phát do nguyên nhân từ phía cầu là lạm phát do nguyên ngân từ
phía cung gọi là lạm phát do chi phí đẩy.
1.3.2. Lạm phát do chi phí đẩy
Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng lên (chi phí
sản xuất tăng vượt mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh ra lạm phát chi phí
đẩy. Chi phí sản xuất tăng lên sẽ tạo áp lực đẩy giá bán sản phẩm tăng lên hay có thể
làm giảm mức cung hàng hóa của xã hội, như vậy trong trường hợp này là do các yếu
tốt sản xuất và tiêu dùng hàng hóa gây ra.
Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau đây:
Mức tăng tiền lương vượt mức tăng năng suất lao động. Các doanh nghiệp trong nền
kinht ế thị trường phải chịu rất nhiều áp lực về vấn đề tiền lương. Trong ngắn hạn, chi
phí công nhân ổn định do bị hạn chế bởi hợp đồng lao động nhưng trong dài hạn do áp
lực của công đoàn, do thuế thu nhập và các yếu tố khác làm cho nhân viên tạo sức ép
nâng tiền lương, khi lương tăng, giá cả hàng hóa sẽ tăng. Quy trình này tác động bởi
yếu tố hành chính, có ý nghĩa tăng lên, các doanh nghiệp phải tăng giá bán để đảm bảo
laợi nhuận. Khi giá cả hàng hóa nói chung và tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người
8

lao động tìm mọi cách để tăng lương. Khi lương tăng, giá cả tăng, đến lược mình, các
doanh nghiệp lại tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận.
Do giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước (nếu là hàng tiêu
dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi phí sản xuất ( nếu

là đầu vào của quá trình sản xuất). Giá hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của
nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bị
mất giá so với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dịch.
Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lợi của các nhà đầu tư do vậy đẩy
giá cả tăng lên. Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ
lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hóa sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá
trong trường hợp này mang tính bất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức
mong muốn. Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền. Một số nước gọi là
lạm phát hành chính.
Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy đều
cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên. Trong khi phân tích về
các loại lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, các nhà kinh tế thừa nhận không phải
lạm phát tích cực hay tiêu cực cho nền kinh tế, song những hậu quả mà nó để lại
không nhiều thì ít cũng tác động đến nền kinh tế.
1.4. Tác động của lạm phát
Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông
qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau đáng kể phụ
thuộc vào cơ cấu thể chế ( cả Nhà nước và tư nhân ) của nền kinh tế, phụ thuộc vào
khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát.
1.4.1. Tác động tích cực
Lạm phát được xem là giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích huy
động vốn và tăng tính linh hoạt trong giá cả. Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp bôi trơn
thị trường hàng hóa, lao động và tăng tính linh hoạt tương đối đối với giá cả. Nếu giá
cả (kể cả tiền lương và giá các nhân tố khác) giảm xuống với tính linh hoạt thấp và
9

nếu các ngành sản xuất khác nhau có mức cầu và năng suất tăng không đồng đều thì
giá cả tăng nhẹ có thể tạo ra một mức độ linh hoạt giá cả tương đối lớn cần thiết cho
việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Một tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo ra một
trong những động lực mạnh nhất để giúp đạt được mức tăng trưởng ổn định.

1.4.2. Tác động tiêu cực
Ngược lại khi lạm phát xảy ra ngoài dự tính, nó tạo ra sự biến động bất thường về giá
trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các mối quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi
hoạt động kinh tế - xã hội. Có thể kể ra một số hậu quả của lạm phát sau đây:
1.4.2.1. Lạm phát kìm hãm tăng trưởng kinh tế
Lạm phát làm cho thu nhập thực của người lao động bị sụt giảm, có thể kéo theo các
cuộc đình công đòi tăng lương với quy mô lớn, dài ngày và làm đình trê hoạt động sản
xuất, gây ngưng trệ sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên ( lãi
suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát), nếu lạm phát dự tính không phù hợp
với lạm phát thực tế nó sẽ làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực. Kết quả là ảnh hưởng
đến tiết kiệm, đầu tư và ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật liệu, hàng hóa, nguyên
liệu đều gia tăng làm cho khi vực sản xuất kinh doanh thu hẹp dần, trong khi đó, buôn
bán, thương mại, dịch vụ phát triển dẫn đến khủng hoảng kinh tế và trật tự kinh tế bị
thay đổi.
Trong lĩnh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăn cho việc
xác định mức lợi chính xác của các khoản đầu tư, khiến các nhà đầu tư ngần ngại khi
tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng kinh tế.
Trong lĩnh vực lưu thông và phân phối, giá cả hàng hóa tăng gây nên tình trạng đầu cơ
tích trữ hàng hóa, dẫn đến làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầu làm cho lĩnh vực
lưu thông bị rối loạn.
10

1.4.2.2. Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn
Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, giá cả hàng hóa tăng, trong
khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm (đặc biệt những người làm công ăn lương)
ngày càng khó khăn.
1.4.2.3. Lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông
tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên một cách đột biến
càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng hơn. Hoạt động của hệ
thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng, do nguồn tiền gửi trong xã
hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán
và thua lỗ trong kinh doanh. Tình hình đó làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loạn và
không thể kiểm soát.
1.4.2.4. Lạm phát làm xấu đi tình trạng cán cân thanh toán quốc tế
Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài ( có quan hệ mậu
dịch) thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên đắc đỏ hơn so với giá cả hàng hóa nước
ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình trạng của tài khoản
vãng lai. Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể thạo nên tâm lý
trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ tạo nên áp lực tăng tỷ giá, tỷ
giá tăng càng đẩy mức giá cả chung tăng lên.
1.4.2.5. Lạm phát làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
Mức giá chung tăng lên có thể gây nên sự giảm sút của tổng cầu và công ăn việc làm,
do đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp (vì lý do khu vực sản xuất sẽ bị thu hẹp).
Như vậy, có thể thấy ngoại trừ trường hợp lạm phát vừa phải còn có tác động tích cực
đến nền kinh tế còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Vì
vậy, việc tìm giải pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát là một vấn đề cần thiết.


11

1.5. Các nhân tố đƣợc xem xét khi nhắc đến lạm phát
Qua những phân tích tổng quan trên đây, chúng ta cũng có thể nhận thấy vấn đề lạm
phát không còn là xa lạ với Việt Nam. Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng, lạm phát
vẫn mãi là vấn đề nóng và chiếm sự quan tâm đặc biệt của các nhà làm chính sách, các
nhà kinh tế học và cả chính người lao động. Và để giải quyết vấn đề không lạ nhưng
khó khăn này không phải là công việc đơn giản, bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào việc

phân tích những nhân tố tác động mạnh nhất đến lạm phát trong giai đoạn hiện nay.
1.5.1. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một trong 2 công cụ (cùng với chính sách tài khóa) mà chính phủ
sử dụng mạnh mẽ và nhiều nhất khi có lạm phát. Việc thay đổi lãi suất thông qua các
quyết định của NHTW được xem là những con bài chủ chốt để giải quyết vấn đề lạm
phát. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng đạt được mong muốn. Một chính sách tiền tệ
đưa ra sẽ kéo theo nhiều nhân tố làm tác động mạnh đến nền kinh tế. Một số nhân tố
khi chúng ta nghiên cứu đã nhận thấy sự liên quan và tương thích ở mức độ cao là tỷ
giá hối đoái, mức cung tiền, lãi suất….
1.5.2. Chính sách tài khóa
Cùng với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa được xem là ác chủ bài của chính phủ
khi thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát. Thông qua thuế và thu chi ngân sách,
chính phủ có thể tác động đến lạm phát làm ổn định tình hình. Khi xem xét chúng ta
cần chú ý đến các yếu tố như: chính sách thuế, chi tiêu công, mức nợ công, các chính
sách an sinh xã hội…
1.5.3. Sự đánh đổi mục tiêu tăng trƣờng và lạm phát
Một trong những nhân tố mới xuất hiện giai đoạn gần đây đó là sự đánh đổi giữa mục
tiêu tăng trưởng với lạm phát. Liệu rằng chính phủ của một quốc gia có lựa chọn liệu
phát kiểm soát lạm phát ở mức ổn định hay sẽ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng nền
kinh tế mà bỏ qua việc kiềm chế lạm phát…Đ.ó là một bài toán khó và sẽ được quan
tâm khi chúng ta nghiên cứu và kiểm định ở Việt Nam.
12

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chương 1 đã tổng quan những lý luận cơ bản về lạm phát. Những cách nhìn cũng như
các cách tiếp cận khác nhau về lạm phát, nguyên nhân gây ra lạm phát, phân loại lạm
phát. Điều khiến cho lạm phát trở thành vấn đề bức thiết đó là khi lạm phát gia tăng
quá mức nó gây nên những tác động tiêu cực đến kinh tế quốc gia và ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống người dân. Với những gì đề cập ở chương 1 sẽ giúp chúng ta có
được cách nhìn toàn diện và tổng quan để bước sang chương 2, chúng ta sẽ đến với

thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay và các yếu tố đã và
đang tác động đến lạm phát .





13

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011
2.1. Tình hình lạm phát của Việt Nam từ 2000 đến 2011
2.1.1. Lạm phát trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003
Số liệu thống kê cho thấy chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003
của nước ta ở mức thấp và ổn định dưới 5%.
Bảng 2.1 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003

Nguồn : Tổng cục thống kê
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2000 là -0.6, chỉ số giá tiêu dùng một số tháng trong giai
đoạn này cũng ở mức âm. Nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát, thuật ngữ “kích
cầu” lần đầu tiên xuất hiện trong các chính sách điều hành kinh tế của chính phủ, một


2000
2001
2002
2003
Tháng trƣớc = 100%






Tháng 1
100.4
100.3
101.1
100.9

Tháng 2
101.6
100.4
102.2
102.2

Tháng 3
98.9
99.3
99.2
99.4

Tháng 4
99.3
99.5
100.0
100.0

Tháng 5
99.4
99.8

100.3
99.9

Tháng 6
99.5
100.0
100.1
99.7

Tháng 7
99.4
99.8
99.9
99.7

Tháng 8
100.1
100.0
100.1
99.9

Tháng 9
99.8
100.5
100.2
100.1

Tháng 10
100.1
100.0

100.3
99.8

Tháng 11
100.9
100.2
100.3
100.6

Tháng 12
100.1
101.0
100.3
100.8
Bình quân tháng
100.0
100.1
100.3
100.2
14

kế hoạch kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụng và mở rộng đầu tư nhà nước
bắt đầu được thực hiện từ năm 2000. Tổng số vốn đầu tư phát triển năm 2002 tăng
trên 20 nghìn tỷ so với năm 2001, vốn đầu tư trong dân tăng 20,7% chiếm 25,3%
trong tổng số vốn đầu tư phát triển.
Nhờ những biện pháp kích cầu đó, một chuyển biến quan trọng được ghi nhận trong
năm 2002 là nền kinh tế đã chuyển từ thiểu phát liên tục và kéo dài sang lạm phát nhẹ,
CPI tăng 4%, vừa đủ kích thích đầu tư trong nước( tăng trưởng kinh tế đạt 7.04% hoàn
thành mục tiêu 7-7.3% mà Quốc Hội đã đề ra cho năm 2002). Cùng với việc kiểm soát
được lạm phát, vấn đề giải quyết việc làm cũng đạt thành tích đáng kể.

Bước sang năm 2003, lạm phát được tiếp tuc giữ ơ mức thấp, chỉ số giá tiên dùng tăng
3%, tăng trưởng GDP năm 2003 vẫn tiếp tuc đà của năm 2001, đạt 7,24%. Cùng với
đó, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở thành thị giảm từ 6.01% năm 2002
xuống còn 5.8% năm 2003. Tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn tăng 2.29%, đạt
77.7% ( nguồn : tổng cục thống kê)
2.1.2. Lạm phát Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006
Sau một thời gian hạ nhiệt thì đến năm 2004 lạm phát lại tăng trở lại. Chỉ số CPI của
năm 2004 ở mức 9,5%. Vượt xa so với kế hoạch quốc hội đề ra là 4 – 5 %. Nhưng các
chỉ tiêu kinh tế xã hội còn lại đều hoàn thành so với kế hoạch đề ra.





×