Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Quan hệ phân phối ở nước ta hiện nay.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.64 KB, 25 trang )

Lời nói đầu
Nền kinh tế nớc ta hiện nay là nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trong nền kinh tế đó thì vị trí của việc phân phối là hết sức quan trọng. Nhng
do hạn chế của sinh viên năm thứ 2 nên ta chỉ tập chung nghiên cứu vấn đề phân phối
thu nhập ở nớc ta hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trờng phân phối thu nhập giữ một vị trí hết sức quan
trọng. Phân phối thu nhập nối liền sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, nối
liền các thị trờng hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ với thị trờng yếu tố sản xuất làm cho
sự vận động của kinh tế thị trờng diễn ra thông suốt. Giải quyết tốt vấn đề phân phối
thu nhập có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định, tăng trởng và phát triển kinh tế. Mặt
khác để ổn định và tăng trởng nền kinh tế chúng ta phải cải cách lu thông, phân phối
mới dần thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, lạm phát và từng bớc có sự tăng trởng,
phát triển.
Thực tiễn sau 10 năm đổi mới nền kinh tế nớc ta có nhiều sự thay đổi và những
thay đổi đó muốn mang lại hiệu quả cho nền kinh tế nớc ta thì chúng ta càng phải
nghiên cứu kỹ lỡng các vấn đề thuộc lĩnh vực phân phối thu nhập nh tiền lơng, lợi
nhuận, lợi tức, địa tô phù hợp với nguyên lý kinh tế thị trờng cũng nh các tác động
của chúng đối với sự phát triển kinh tế của nớc ta hiện nay.
Chính vì trị trí quan trọng đó nên tôi đã viết đề tài "Quan hệ phân phối ở nớc
ta hiện nay". Mặc dù cố gắng nhng tôi viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi
rất mong đợc thầy cô và các bạn thông cảm. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn
Thầy giáo. TS. Trần Việt Tiến đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện tốt đề tài
này.
Chơng I
Cơ sở lý luận của vấn đề phân phối ở
nớc ta hiện nay
1.1. Bản chất và vị trí của phân phối
1.1.1. Phân phối là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội
Qúa trình tái sản xuất xã hội, theo nghĩa rộng, bao gồm 4 khâu: sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng. Các khâu này có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó sản
xuất là khâu cơ bản đóng vai trò quyết định; các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất,


nhng chúng có quan hệ trở lại đối với sản xuất cũng nh ảnh hởng lẫn nhau. Trong
quá trình tái sản xuất, xã hội, phân phối và trao đổi là các khâu trung gian nối sản
xuất và tiêu dùng, vừa phục vụ và thúc đẩy sản xuất, vừa phục vụ tiêu dùng.
Phân phối bao gồm: phân phối cho tiêu dùng sản xuất (sự phân phối t liệu sản
xuất, sức lao động của xã hội vào các ngành sản xuất) là tiên đề, điều kiện và là một
yếu tố sản xuất, nó quyết định quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển của sản xuất. Phân
phối thu nhập quốc dân hình thành thu nhập của các tầng lớp dân c trong xã hội.
Phân phối thu nhập là kết quả của sản xuất, do sản xuất quyết định. Tuy là sản vật
của sản xuất, song sự phân phối có ảnh hởng không nhỏ đối với sản xuất: có thể thúc
đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Ph. Ăngghen viết: " Phân phối không
phải chỉ đơn thuần là kết quả thụ động của sản xuất và trao đổi": nó cũng có tác động
trở lại đến sản xuất và trao đổi". Nó cũng có liên quan mật thiết với việc ổn định tình
hình kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Nh vậy, phân phối là phân phối tổng sản phẩm xã hội và phân phối thu nhập
quốc dân và nó đợc thực hiện dới các hình thái; phân phối hiện vật và phân phối dới
hình thái giá trị (phân phối qua quan hệ tài chính, quan hệ tín dụng.....)
1.1.2. Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất
C. Mác đã nhiều lần nêu rõ quan hệ phân phối cũng bao hàm trong phạm vi
quan hệ sản xuất: " quan hệ phân phối về thực chất cũng đồng nhất với quan hệ sản
xuất ấy, rằng chúng cấu thành mặt sau của quan hệ sản xuất ấy". Xét về quan hệ giữa
ngời và ngời thì phân phối do quan hệ sản xuất quyết định. Vì vậy, mỗi phơng thức
sản xuất có quy luật phân phối của cải vật chất thích ứng với nó. Quan hệ sản xuất
nh thế nào thì quan hệ phân phối nh thế ấy. Cơ sở của quan hệ phân phối là quan hệ
sở hữu về t liệu sản xuất và quan hệ trao đổi hoạt động cho nhau. Sự biến đổi lịch sử
của các lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất xét theo sự biến đổi của quan hệ phân
phối. Quan hệ phân phối có tác dụng trở lại đối với quan hệ sở hữu và do đó đói với
sản xuất: có thể làm tăng hoặc giảm quy mô sở hữu, hoặc cũng có thể làm biến dạng
tính chất của quan hệ sở hữu. Các quan hệ phân phối vừa có tính đồng nhất, vừa có
tính lịch sử. Tính đồng nhất thể hiện ở chỗ, trong bất cứ xã hội nào, sản phẩm lao
động cũng đợc phân chia thành: một bộ phận cho tiêu dùng sản xuất, một bộ phận để

dự trữ và một bộ phận cho tiêu dùng chung của xã hội và cho tiêu dùng cá nhân. Tính
lịch sử của quan hệ phân phối là mỗi xã hội có quan hệ phân phối riêng phù hợp với
tính chất của quan hệ sản xuất của xã hội đó, nghĩa là quan hệ phân phối là một mặt
của quan hệ sản xuất và cũng nh quan hệ sản xuất, quan hệ phân phối có tính chất
lịch sử. C. Mác viết: " Quan hệ phân phối nhất định chỉ là biểu hiện của một quan hệ
sản xuất lịch sử nhất định. Do đó, mỗi hình thái phân phối đều biến đi cùng một lúc
với phơng thức sản xuất nhất định tơng ứng với hình thái phân phối ấy. Chỉ thay đổi
đợc quan hệ phân phối khi đã cách mạng hoá đợc quan hệ sản xuất đẻ ra quan hệ
phân phối ấy. Phân phối có tác động rất lớn đối với sản xuất nên Nhà nớc cách mạng
cần sử dụng phân phối nh là một công cụ để xây dựng chế độ mới, để phát triển kinh
tế theo hớng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt Nam
1.2.1. Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều hình thức phân phối thu
nhập trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan và từ đặc điểm kinh
tế khách quan vàt từ đặc điểm kinh tế - xã hội nớc ta. Trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nớc ta tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập. Đó là vì:
Thứ nhất, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều hình
thức sở hữu khác nhau.
Thứ hai, trong nền kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều phơng thức kinh doanh
khác nhau.
Nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong
nền kinh tế này, có nhiều chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh
tế tham gia. Mỗi thành phần kinh tế có phơng thức tổ chức sản xuất - kinh doanh
khác nhau. Ngay trong mỗi thời kỳ, kể cả thành phần kinh tế Nhà nớc cũng có các
phơng thức kinh doanh khác nhau, do đó, kết quả và thu nhập là khác nhau.
Hơn nữa, trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng, các chủ thể sản xuất, kinh
doanh tham gia vào nền kinh tế đều có sự khác nhau về sở hữu của cải, tiền vốn, trình
độ chuyên môn, tay nghề, năng lực sở trờng, thậm chí khác nhau cả về may mắn...

Do đó, khác nhau về thu nhập.
Vì vậy, không thể có một hình thức phân phối thu nhập thống nhất, trái lại có
nhiều hình thức khác nhau.
1.2.2. Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định và Đại hội
Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định điều đó: " Thực hiện hình thức phân phối,
lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân
phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất - kinh doanh và
phân phối thông qua phúc lợi xã hội".
Một là: Phân phối theo lao động:
Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên cơ sở sở
hữu công cộng về t liệu sản xuất (kinh tế Nhà nớc) hoặc các hợp tác xã cổ phần mà
phần góp vốn của các thành viên bằng nhau (kinh tế hợp tác). Các thành phần kinh tế
này đều dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuất ở các trình độ
khác nhau. Ngời lao động làm chủ những t liệu sản xuất, nên tất yếu cũng làm chủ
phân phối thu nhập. Vì vậy, phân phối phải vì lợi ích của ngời lao động.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạn thấp của
chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa xã hội cũng cha thể thực hiện phân phối theo
nhu cầu cũng không thể phân phối bình quân mà chỉ có thể phân phối theo lao động.
Tất yếu phải thực hiện phân phối theo lao động trong các đơn vị kinh tế thuộc
thành phần kinh tế dựa trên cơ sở công hữu về t liệu sản xuất là vì:
- Lực lợng sản xuất phát triển cha cao, cha đến mức có đủ sản phẩm để phân
phối theo nhu cầu. Vì phân phối do sản xuất quyết định, cho nên C. Mác đã viết: "
Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn
hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định".
- Sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động dẫn tới việc mỗi ngời có sự
cống hiến khác nhau, do đó phải căn cứ vào lao động đã cống hiến cho xã hội của
mỗi ngời để phân phối.
- Lao động cha trở thành một nhu cầu của cuộ sống, nó còn là phơng tiện để
kiếm sống, là nghĩa vụ và quyền lợi. Hơn nữa, còn những tàn d ý thức, t tởng của xã

hội cũ để lại, nh: coi khinh lao động, ngại lao động chân tay, chây lời, thích làm ít h-
ởng nhiều, so bì giữa cống hiến và hởng thụ...
Trong những điều kiện đó, phải phân phối lao động để khuyến khích ngời
chăm, ngời giỏi, giáo dục kẻ lời, ngời xấu, gắn sự hởng thụ của mỗi ngời với sự cống
hiến của họ. Đây cũng là hình thức nhằm khắc phục những tàn d t tởng của xã hội cũ,
không chỉ trong thời kỳ quá độ mà cả khi chủ nghĩa xã hội đã đợc xác lập, phân phối
theo lao động vẫn là hình thức phân phối chủ yếu.
Phân phối theo lao động là hình thức phân phối thu nhập căn cứ vào số lợng và
chất lợng của từng ngời đã đóng góp cho xã hội. Theo quy luật này, ngời làm nhiều
hởng nhiều, làm ít hởng ít, có sức lao động mà không làm thì không hởng; lao động
có kỹ thuật cao, lao động ở những ngành nghề độc hại, trong những điều kiện khó
khăn đều đợc hởng phần thu nhập thích đáng.
Căn cứ cụ thể theo phân phối lao động là:
- Số lợng lao động đợc đo bằng thời gian lao động hoặc số lợng sản phẩm làm
ra.
- Trình độ thành thạo lao động và chất lợng sản phẩm làm ra:
- Điều kiện và môi trờng lao động: lao động nặng nhọc, lao động trong hầm
mỏ, lao động ở những vùng có nhiều khó khăn, xa xôi hẻo lánh nh miền núi, hải
đảo....
- Tính chất của lao động
- Các ngành nghề cần đợc khuyến khích.
Phân phối theo lao động đợc thực hiện qua những hình thức cụ thể, nh:
- Tiền công trong các đơn vị sản xuất - kinh doanh:
- Tiền thởng;
- Tiền phụ cấp;
- Tiền lơng trong các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Phân phối theo lao động có tác dụng:
- Thúc đẩy mọi ngời nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy nâng cao năng
suất lao động, xây dựng tinh thần và thái độ lao động đúng đắn, khắc phục những tàn
d t tởng cũ, củng cố kỷ luật lao động....

- Thúc đẩy mọi ngời nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hoá, ổn định
lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lao động xã hội.
- Tác động mạnh đến đời sống vật chất và văn hoá của ngời lao động, vừa đảm
bảo tái sản xuất sức lao động vừa tạo điều kiện cho ngời lao động phát triển toàn
diện.
Phân phối theo lao động là hợp lý nhất, công bằng nhất so với các hình thức
phân phối đã có trong lịch sử. Cơ sở của sự công bằng xã hội của sự phân phối đó là
sự bình đẳng trong quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất.
Tuy vậy, theo C. Mác, phân phối theo lao động về nguyên tắc vẫn là sự bình
đẳng trong khuôn khổ "pháp quyền t sản", tức là sự bình đẳng trong xã hội sản xuất
hàng hoá, theo nguyên tắc sự trao đổi hoàn toàn ngang giá. Sự bình đẳng ở đây đợc
hiểu theo nghĩa quyền của ngời sản xuất là tỷ lệ với lao động mà ngời ấy đã cung
cấp; sự bình đẳng đó còn thiếu sót là "với một công việc ngang nhau và do đó, với
một phần tham dự nh nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, ngời này
vẫn lĩnh nhiều hơn ngời kia, ngời này vẫn giàu hơn ngời kia".
Phân phối theo lao động còn có những hạn chế nhng đó là những hạn chế
không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ khi nào
cùng với sự phát triển toàn diện của cá nhân, năng suất của họ càng tăng lên và tất cả
các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào thì khi đó ngời ta mới có thể vợt ra khỏi
giới hạn chật hẹp của cái pháp quyền t sản và xã hội mới có thể thực hiện phân phối
theo nhu cầu. Chỉ khi đó mới có sự bình đẳng thật sự.
Hai là: Phân phối theo vốn
ở nớc ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng các hình thức sở
hữu và các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh. Do đó, ngoài hình thức phân
phối theo lao động, trong thời kỳ quá độ còn tồn tại các hình thức phân phối thu nhập
khác. Đó là:
- Trong các đơn vị kinh tế tập thể bậc thấp có sự kết hợp phân phối theo vốn và
phân phối theo lao động.
- Trong thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ thì thu nhập phụ thuộc vào sở hữu
t liệu sản xuất, vốn đầu t sản xuất và tài năng sản xuất, kinh doanh của chính những

ngời lao động.
- Trong kinh tế t bản t nhân và t bản Nhà nớc , việc phân phối ở đây dựa trên
cơ sở sở hữu vốn cổ phần, sở hữu sức lao động, sở hữu t bản....
Ba là: Phân phối thông qua phúc lợi tập thể, phúc lợi xã hội
Để nâng cao mức sống về vật chất và văn hoá của nhân dân, đặc biệt là các
tầng lớp nhân dân lao động, sự phân phối thu nhập của mọi thành viên xã hội còn đ-
ợc thực hiện thông qua quỹ phúc lợi tập thể và xã hội. Sự phân phối này có ý nghĩa
hết sức quan trọng vì nó góp phần:
- Phát huy tính tích cực lao động cộng đồng của mọi thành viên trong xã hội:
- Nâng cao thêm mức sống toàn dân, đặc biệt đối với những ngời có thu nhập
thấp, đời sống khó khăn, làm giảm sự chênh lệch quá đáng về thu nhập giữa các
thành viên trong cộng đồng.
- Giáo dục ý thức cộng đồng, xây dựng chế độ xã hội mới.
- Quỹ phúc lợi tập thể và xã hội là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình
phân phối thu nhập cho cá nhân trong cộng đồng, song quỹ đó chỉ có ý nghĩa tích
cực khi đợc quy định và sử dụng một cách hợp lý phù hợp với yêu cầu và các điều
kiện khách quan.
Tính hợp lý của quỹ phúc lợi tập thể và xã hội đợc biểu hiện nh sau:
- Quỹ phúc lợi tập thể, xã hội không thể mở rộng quá khả năng của nền kinh tế
cho phép.
- Tốc độ tăng trởng thu nhập trực tiếp của cá nhân trong cộng đồng phải tăng
nhanh hơn tốc độ tăng trởng phúc lợi tập thể và xã hội.
- Trong giới hạn đã xác định, cần sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, hợp lý các
quỹ phúc lợi tập thể và xã hội. Việc sử dụng phải nhằm mục đích thiết thực, tránh
lãng phí xa hoa, phô trơng hình thức. Vì các quỹ này có quan hệ đến lợi ích thiết
thân của mỗi thành viên tập thể, cộng đồng, cho nên cần phát huy đầy đủ dân chủ, tr-
ng cầu ý kiến của quảng đại quần chúng, sao cho mỗi loại phúc lợi đều thích hợp với
nhu cầu bức thiết của quần chúng, phát huy đợc tác dụng vốn có của nó.
- Quỹ phúc lợi xã hội là bộ phận của chính sách xã hội cần đợc giải quyết theo
tinh thàn xã hội hoá. Nhà nớc giữ vai trò nòng cốt; đồng thời động viên mỗi ngời

dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nớc ngoài
cùng tham gia đóng góp.
1.3. Từng bớc thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập
Chủ nghĩa xã hội phát triển mới có điều kiện để thực hiện một bớc cơ bản về
công bằng xã hội trong phân phối thu nhập.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất
quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định hớng XHCN, thì
vẫn còn sự tồn tại bất bình đẳng về phân phối thu nhập. Sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội đòi hỏi phải tạo ra những tiền đề, những biện pháp để từng bớc thu hẹp
và xoá bỏ sự bất bình đẳng đó, tiến tới một xã hội: "không có chế độ ngời bóc lọt ng-
ời, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm
nhiều thì hởng nhiều, làm ít hởng ít, không làm không hởng.
Để đạt mục tiêu này, từ thực tiễn nớc ta, cần phải thực hiện:
Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất, bởi nh Ph.Ăngghen, phơng
thức phân phối về căn bản là phụ thuộc vào số lợng sản phẩm đợc phân phối.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền công, tiền lơng, chống chủ nghĩa
bình quân và thu nhập bất hợp lý, bất chính.
Để từng bớc thực hiện phân phối công bằng hợp lý, cần có chính sách phân
phối bảo đảm thu nhập của những ngời lao động có thể tái sản xuất sức lao động.
Gắn chặt tiền công, tiền lơng với năng suất, chất lợng và hiệu quả sẽ đảm bảo quan
hệ hợp lý về thu nhập cá nhân giữa các ngành nghề. Nhgiêm trị những kẻ có thu nhập
bất chính, cần phải tiền tệ hoá tiền lơng và thu nhập, xoá bỏ những đặc quyền, đặc lợi
trong phân phối.
Thứ ba, điều tiết thu nhập dân c, hạn chế sự chênh lệch quá đáng về mức thu
nhập.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, một mặt, phải thừa nhận
sự chênh lệch về mức thu nhập giữa các tập thể, cá nhân là khách quan; mặt khác,
Nhà nớc phải hạn chế sự chênh lệch thu nhập quá đáng để không dẫn tới sự phân hoá
xã hội thành hai cực đối lập, bằng cách điều tiết thu nhập và các giải pháp quản lý.

Điều tiết thu nhập là một yêu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trờng nói
chung, ngay cả trong các nớc t bản chủ nghĩa cũng phải điều tiết thu nhập nhằm duy
trì sự ổn định xã hội. ở nớc ta, việc điều tiết thu nhập càng quan trọng, nhằm hạn chế
sự chênh lệch quá đáng về thu nhập để không dẫn tới sự phân hoá xã hội thành hai
cực đối lập.
Điều tiết thu nhập đợc thực hiện thông qua hình thức điều tiết giảm thu nhập
thông qua hình thức thuế thu nhập và hình thức tự nguyện đóng góp của cá nhân có
thu nhập cao vào quỹ phúc lợi xã hội, từ thiện.... Trong đó thuế thu nhập là hình thức
quan trọng nhất, chủ yếu nhất là điều tiết làm tăng thu nhập đợc thực hiện thông qua
ngân sách Nhà nớc, ngân sách các tổ chức chính trị - xã hội, các quỹ bảo hiểm qua
giá, trợ cấp, phụ cấp các loại, tín dụng tiêu dùng và có thể một phần hiện vật cho một
số đối tợng nhất định, qua các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân. Những
điều đó nhằm trợ giúp thờng xuyên cho những ngời có thu nhập thấp, trợ giúp những
ngời thất nghiệp, những ngời tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro, những ngời thuộc
diện chính sách xã hội, bổ sung thu nhập mang tính chất bình quân trong các tổ chức,
các doanh nghiệp vào các dịp lễ, tết vv....
Thứ t, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo.
Mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta là dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Dân có giàu thì nớc mới có thể mạnh, nớc mạnh có khả năng thực
hiện sự công bằng xã hội và có cuộc sống văn minh. Vì vậy, phải phát huy nỗ lực
làm giàu cho mọi công dân. Nhà nớc không những khuyến khích mọi ngời làm giàu
một cách hợp pháp mà còn tạo điều kiện, giúp đỡ bằng nhiều biện pháp.
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu t mở mang
ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho ngời lao động. Mọi công dân đều đợc tự do hành
nghề, thuê mớn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm. Phân bố lại
dân c và lao động trên địa bàn cả nớc. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất
khẩu lao động. Tạo điều kiện cho mọi ngời lao động tự tạo, tìm kiếm việc làm.
Thực hiện xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt
động nhân đạo, từ thiện. Để từng bớc đạt tới sự tiến bộ và công bằng xã hội trong
phân phối thu nhập, xuất phát từ điều kiện cụ thể, nhiệm vụ trớc mắt là phải thực

hiện tốt chơng trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

×