Tải bản đầy đủ (.pdf) (54 trang)

luận văn: NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC CỦA ỐNG NANO CARBON DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BỨC XẠ NĂNG LƯỢNG CAO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG TRONG MÔI TRƯỜNG VŨ TRỤ ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 54 trang )

i

Lời cảm ơn

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô
giáo PGS.TS.Vũ Thị Bích, Thầy giáo TS. Nguyễn Thanh Bình, người đã tận
tình giúp đỡ, hỗ trợ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành
luận văn này.
Xin cám ơn các Thầy, Cô giáo đã giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt
chương trình học cao học. Cám ơn các cô, chú, anh, chị, các bạn đồng nghiệp
thuộc Trung tâm điện tử học lượng tử thuộc Viện Vật lý đã tận tình giúp đỡ tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như thực
hiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của GS. TS.Nguyễn Văn Đỗ, TS.
Phạm Đức Khuê trung tâm Vật Lý Hạt Nhân và cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí từ đề
tài nghiên cứu cơ bản thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ Vũ trụ - Viện
Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình và những người thân của
mình đã luôn hỗ trợ về vật chất, động viên tinh thần và tạo điều kiện cho tôi
trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cám ơn!

Tác giả


Nguyễn Đình Hoàng

ii






Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
TS. Nguyễn Thanh Bình. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa được ai công bố trong luận văn, luận án khoa học nào khác

Tác giả


Nguyễn Đình Hoàng








iii


Mục lục
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vẽ vi

Lời nói đầu 1
Chương 1 - Ống nano carbon 2
1.1. Lịch sử hình thành 2
1. 2. Một số dạng cấu hình phổ biến của vật liệu carbon 2
1.3. Cơ chế mọc ống nano carbon 5
1.4. Các phương pháp chế tạo ống nano carbon 6
1.5. Tính chất của ống nano carbon 8
1.6. Các sai hỏng có thể tồn tại trong mạng của ống nano carbon 10
1.7. Một số ứng dụng của ống nano carbon 11
Chương 2 – Lý thuyết tán xạ Raman 16
2.1. Hiệu ứng Raman 16
2.2. Tán xạ Raman cộng hưởng 17
2.3. Các mode dao động của ống nano carbon 17
2.4. Phổ kế raman 20
Chương 3 – Nguồn bức xạ năng lượng cao 22
3.1. Tia vũ trụ 22
3.2. Nguồn bức xạ nhân tạo 23
3.2.1. Máy gia tốc tuyến tính 24
3.2.2. Nguồn Americium-241, phát tia X 26
3.2.3. Nguồn Radium-226, phát gamma 26
Chương 4 –Thực nghiệm 27
iv

4.1. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của bức xạ laser lên CNTs 28
4.2. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của bức xạ hãm lên CNTs 31
4.3. Sự ảnh hưởng của tia X và tia Gamma lên cấu trúc CNTs 37
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn 44



v


Danh mục các bảng
Bảng 1. Tần số mode D, G , tỷ số ID/IG theo cường độ laser của CNTs khi chưa
chiếu xạ
Bảng 2. Các đồng vị phóng xạ được nhận diện từ mẫu ống nano carbon.
Bảng 3. Tần số mode D, G , tỷ số ID/IG theo cường độ laser của CNTs sau khi
được chiếu bằng bức xạ hãm.
Bảng 4. Tần số mode D, G , tỷ số ID/IG theo cường độ laser của CNTs sau khi
được chiếu bằng tia X.
Bảng 5. Tần số mode D, G , tỷ số ID/IG theo cường độ laser của CNTs sau khi
được chiếu bằng tia Gamma.
vi

Danh mục các hình vẽ
Hình 1.1. Cấu trúc của than chì
Hình 1.2. Cấu trúc của kim cương
Hình 1.3. Cấu trúc của carbon C
60
(một dạng của fullerene)
Hình 1.4. Cấu trúc của ống đơn tường SWCNTs và đa tường MWCNTs
Hình 1.5. Ảnh SEM của CNTs với hạt xúc tác ở đáy ống và ở đầu ống
Hình 1.6. Ảnh TEM các ống carbon nano đa tường
Hình 1.7. Cơ chế mọc ống nano carbon
Hình 1.8. Hệ thiết bị chế tạo CNTs bằng phương pháp CVD
Hình 1.9. Hệ thiết bị chế tạo CNTs bằng phương pháp hồ quang điện
Hình 1.10. Hệ tạo CNTs bằng phương pháp chùm laser
Hình 1.11. Ống nano carbon kiểu armchair có tính chất kim loại và nano

carbon kiểu zig-zag có tính chất bán dẫn
Hình 1.12. Sai hỏng Stone Wales tạo ra cặp ngũ giác và thất giác trong CNTs
Hình 1.13. Mô hình sự xen giữa của Li và hấp thụ H
2

Hình 1.14. Màn hình hiển thị sử dụng CNTs
Hình 1.15. Típ STM, AFM có gắn CNTs
Hình 1.16. Típ CNTs biến tính
Hình 1.17. Vật liệu CNTs-COOH dùng cho sensor xác định nồng độ cồn
Hình 1.18. Áo chống đạn siêu bền, vỏ tàu vũ trụ làm bằng CNTs
Hình 1.19. Transistor trường sử dụng ống nanno carbon
Hình 2.1. C. V. Raman
Hình 2.2. Tán xạ Raman thu được khi kích thích phân tử bằng laser
Hình 2.3. Nguyên lý của quá trình tán xạ raman
Hình 2.4. Phổ tán xạ Raman của CNTs đa tường
vii

Hình 2.5. Một số mode dao động của CNTs, Hình bên trái: mode hướng tâm,
các nguyên tử dao động theo phương bán kính, hình bên phải: mode tiếp tuyến
tương ứng với dao động dọc theo trục và xung quanh trục
Hình 2.6. Sơ đồ khối của phổ kế Raman
Hình 2.7. Phổ kế Raman của hãng Renishaw
Hình 3.1. Phổ năng lượng của tia vũ trụ
Hình 3.2. Sự ảnh hưởng của các tia vũ trụ theo độ cao
Hình 3.3.Máy gia tốc electron tuyến tính, trung tâm gia tốc Pohang, Hàn Quốc
Hình 3.4. Nơi đặt mẫu được chiếu xạ
Hình 3.5. Nguyên lý tạo ra bức xạ hãm
Hình 3.6. Phổ bức xạ hãm thu được từ bắn máy gia tốc
Hình 4.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm chiếu xạ CNTs bằng bức xạ hãm
Hình 4.2. Phổ Raman của CNTs khi chưa chiếu khi tăng cường độ laser từ 3

đến 60 kW/cm
2
và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3 kW/cm
2
(a- 3 kW/cm
2
, b-
15 kW/cm
2
,c-30 kW/cm
2
, d-60 kW/ cm
2
).
Hình 4.3. Tần số mode D và mode G của CNTs khi chưa chiếu khi tăng cường
độ laser từ 3 đến 60 kW/cm
2
và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3 kW/cm
2

Hình 4.4. Tỷ số về cường độ ID/IG của ống nano carbon khi chưa chiếu xạ
Hình 4.5. Hệ phổ kế gamma HPGe (CANBERRA, Mỹ)
Hình 4.6. Phổ gamma đặc trưng của ống nano carbon
Hình 4.7. Suất lượng tạo thành các đồng vị phóng xạ trong mẫu ống nano
carbon khi chiếu bởi chùm photon hãm năng lượng cực đại 60 MeV.
Hình 4.8. Ảnh SEM của CNTs (a) ban đầu và (b) sau khi được chiếu bằng bức
xạ hãm.
Hình 4.9. Phổ Raman của CNTs sau khi chiếu bằng bức xạ hãm, khi tăng cường
độ laser từ 3 đến 60 kW/cm
2

và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3 kW/cm
2
(a- 3
kW/cm
2
, b- 15 kW/cm
2
,c-30 kW/cm
2
, d-60 kW/ cm
2
).
viii

Hình 4.10. (a)Tần số mode D, (b)Tần số mode G, và (c)tỷ lệ cường độ của
chúng của CNTs sau khi chiếu bằng bức xạ hãm, khi tăng cường độ laser từ 3
đến 60 kW/cm
2
và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3 kW/cm
2
Hình 4.11. Phổ Raman của CNTs sau khi chiếu bằng tia X, khi tăng cường độ
laser từ 3 đến 60 kW/cm
2
và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3 kW/cm
2
(a- 3
kW/cm
2
, b- 15 kW/cm
2

,c-30 kW/cm
2
, d-60 kW/ cm
2
).
Hình 4.12. Phổ Raman của CNTs sau khi chiếu bằng tia Gamma, khi tăng
cường độ laser từ 3 đến 60 kW/cm
2
và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3
kW/cm
2
(a- 3 kW/cm
2
, b- 15 kW/cm
2
,c-30 kW/cm
2
, d-60 kW/cm
2
).
Hình 4.13. Độ dịch tần số của (a) đỉnh D và (b) đỉnh G và ( c) tỷ lệ về cường
độ đỉnh của CNTs chưa chiếu, và sau khi chiếu bằng tia X, tia Gamma, khi tăng
cường độ laser từ 3 đến 60 kW/cm
2
và giảm cường độ laser từ 60 xuống 3
kW/cm
2





1

MỞ ĐẦU

Do có nhiều tính chất rất đáng chú ý như khả năng dẫn điện, độ cứng cao,
độ dẫn nhiệt tốt. Vật liệu nano carbon (CNTs) không chỉ được ứng dụng trong
các vật liệu nano composite, vật liệu chịu nhiệt, vật liệu hấp thụ sóng điện từ,
đầu dò và đầu phát điện tử mà còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
như tàu vũ trụ, lò phản ứng hạt nhân, và các ứng dụng môi trường[10][12][16].
Trong môi trường vũ trụ, CNTs có thể được dùng để làm vỏ tầu, các linh
kiện điện tử, thiết bị lưu trữ hidro, pin lithium và pin nhiên liệu Ở điều kiện
này, các thiết bị này chịu sự tương tác của nhiều loại hạt, các loại bức xạ điện từ
có năng lượng cao như proton, electron, alpha, photon, nơtron, các ion nặng, vì
vậy có thể dẫn đến sự biến đổi về cấu trúc mạng, đưa vào mạng các nguyên tử
lạ, làm thay đổi các tính chất cơ, hóa, lý, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động
của các thiết bị này
[8]. Thêm vào đó, các bức xạ, hạt có năng lượng cao còn gây
ra các phản ứng hạt nhân, tạo thành các đồng vị phóng xạ, có thể gây ra sự thay
đổi tính chất của vật liệu.
Nhằm mục đích mô phỏng quá trình tương tác của các bức xạ trên vũ trụ
lên các vật liệu nano người ta thường tiến hành các nghiên cứu thử nghiệm trên
mặt đất với các nguồn bức xạ nhân tạo, trong đó chủ yếu được tạo ra từ các máy
gia tốc hạt và các nguồn đồng vị phóng xạ.
Luận văn này đã đưa một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong việc
nhận diện các đồng vị phóng xạ và xác định suất lượng của chúng được tạo
thành từ các vật liệu CNTs khi chiếu bởi chùm photon hãm năng lượng cực đại
60 MeV trên máy gia tốc electron tuyến tính, đồng thời đã khảo sát ảnh hưởng
của các nguồn bức xạ khác nhau như: bức xạ hãm, tia gama, tia X, tia laser có
mật độ năng lượng cao lên cấu trúc của CNTs bằng phương pháp phân tích phổ

raman.


2

Chương 1 - Ống nano carbon

1.1. Lịch sử hình thành
Ống nano carbon được tạo ra bởi các nguyên tử carbon, các nguyên tử
carbon này liên kết hóa trị với nhau bằng lai hóa sp
2
.Năm 1991, khi nghiên cứu
Fulleren C
60
, Tiến sĩ Iijima một nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện ra trong
đám muội than, sản phẩm phụ trong quá trình phóng điện hồ quang có những
ống tinh thể cực nhỏ và dài bám vào catốt. Hình ảnh từ kính hiển vi điện tử
truyền qua cho thấy rằng các ống này có nhiều lớp carbon, ống này lồng vào ống
kia. Các ống sau này được gọi là ống nano carbon đa tường (MWCNTs- multi
wall carbon nanotubes).
Mặc dù có nhiều tính chất đặc biệt, nhưng không dễ dàng để phân tích ống
nano carbon bằng phương pháp quang phổ, do vậy điều này đã cản trở việc
nghiên cứu về chúng.
Năm 1993, ống nano carbon đơn tường (SWCNTs- single wall carbon
nanotubes) đã được phát hiện, đó là các ống rỗng đường kính từ 1,5 - 2 nm, dài
cỡ micrômét. Vỏ của ống bao gồm các nguyên tử carbon sắp xếp theo các đỉnh
sáu cạnh rất đều đặn. Sự phát hiện này đã thúc đẩy sự nghiên cứu của các nhà
khoa học trên toàn thế giới. Phương pháp quang phổ Raman là phương pháp đơn
giản, rẻ tiền so với kính hiển vi điện tử, được dùng rộng rãi để nghiên cứu trên
CNTs trong thập kỉ trước.

1. 2. Một số dạng cấu hình phổ biến của vật liệu carbon
1.2.1.Than chì








Hình 1.1. Cấu trúc của than chì
3

Than chì là dạng tồn tại phổ biến nhất của carbon, có màu đen, tỉ trọng
nhỏ và thường gặp trong tự nhiên. Cấu trúc của than chì là các lớp mạng lục giác
các nguyên tử carbon lai hoá sp
2
. Các lớp này liên kết với nhau bằng lực hút
Van de Wall. Khoảng cách giữa hai nguyên tử carbon là 1,42 A
0
.
1.2.2. Kim cương

Hình 1.2. Cấu trúc của kim cương
Kim cương là dạng tinh thể được tạo thành từ các nguyên tử carbon, có
cấu trúc tứ diện, trạng thái lai hoá của các nguyên tử carbon trong kim cương là
sp
3
. Kim cương được biết đến là một loại đá quí với giá trị sử dụng cao. Với các
đặc tính đặc biệt như rất cứng, truyền nhiệt tốt, tính thẩm mỹ cao , kim cương

được sử dụng rất nhiều trong thực tế.
1.2.3. Fullerene

Hình 1.3. Cấu trúc của carbon C
60
(một dạng của fullerene)
Fullerene là những phân tử cấu thành từ các nguyên tử cacbon, chúng có
dạng rỗng như mặt cầu, ellipsoid. Fullerene có cấu trúc tương tự với than chì, là
4

tổ hợp của lớp than chì độ dày một nguyên tử (còn gọi là graphene) liên kết với
nhau tạo thành vòng lục giác; nhưng chúng cũng có thể tạo thành vòng ngũ giác
hoặc thất giác.
Fullerene đầu tiên được khám phá ra, và trở thành tên gọi tương tự cho
nhiều fullerene sau này, đó là buckminsterfullerene (C60), do các nhà khoa học
Harold Kroto, James Heath, Sean O'Brien, Robert Curl và Richard Smalley tại
đại học Rice công bố năm 1985.
Sự khám phá ra fullerene đã trở thành một bước tiến lớn trong sự hiểu biết
về thù hình cacbon, mà trước đó chỉ bỉ giới hạn ở than chì, kim cương, và
cacbon vô định hình như muội than và than gỗ.
1.2.4. Ống nano carbon (Carbon nanotube) - CNTs
Khác với fullerene, CNTs có dạng hình trụ rỗng và có thể tồn tại ở dạng
đơn tường hoặc đa tương (gồm các ống đơn tường lồng vào nhau).


SWCNTs MWCNTs
Hình 1.4. Cấu trúc của ống đơn tường SWCNTs và đa tường MWCNTs

Hình 1.5. Ảnh SEM của CNTs với hạt xúc tác ở đáy ống và ở đầu ống
5




Hình 1.6. Ảnh TEM các ống carbon nano đa tường
1.3. Cơ chế mọc ống nano carbon
Có thể hiểu một cách đơn giản quá trình mọc CNTs như sau
[3]
Hạt xúc tác được tạo trên đế.
Khí chứa carbon (C
n
H
m
) sẽ bị phân ly thành nguyên tử carbon và các sản
phẩm phụ khác do năng lượng nhiệt, năng lượng plasma.
Các sản phẩm sau phân ly sẽ lắng đọng trên các hạt xúc tác. Ở đây sẽ xảy
ra quá trình tạo các liên kết carbon-carbon và hình thành CNTs.
Kích thước của ống CNTs về cơ bản phụ thuộc kích thước hạt xúc tác. Liên
kết giữa các hạt xúc tác và đế mà ống nano carbon quyết định cơ chế mọc: mọc
từ đỉnh của hạt lên hay mọc từ đế lên tạo thành CNTs.
Kích thước của hạt xúc tác kim loại và các điều kiện liên quan khác quyết
định ống nano carbon là đơn tường (SWCNTs) hoặc đa tường (MWCNTs).

Hình 1.7. Cơ chế mọc ống nano carbon
Cơ chế mọc từ đế
Cơ chế mọc từ đỉnh
của hạt xúc tác
6


1.4. Các phương pháp chế tạo ống nano carbon

[3]
1.4.1. Chế tạo vật liệu CNTs bằng phương pháp lắng đọng pha hơi
hoá học
Trong phương pháp lắng đọng pha hơi hoá học (CVD) thường sử dụng
nguồn carbon là các hyđrô carbon (CH
4
, C
2
H
2
) hoặc CO và sử dụng năng lượng
nhiệt hoặc plasma hay laser để phân ly các phân tử khí thành các nguyên tử
carbon hoạt hóa. Các nguyên tử carbon này khuếch tán xuống đế, và lắng đọng
lên các hạt kim loại xúc tác (Fe, Ni, Co), và CNTs được tạo thành. Nhiệt độ để
vào khoảng 650
0
C - 900
0
C.

Hình 1.8. Hệ thiết bị chế tạo CNTs bằng phương pháp CVD
Phương pháp lắng đọng hoá học pha hơi thường tạo ra ống nano carbon đa
vách hoặc đơn vách với độ sạch không cao, thường người ta phải phát triển các
phương pháp làm sạch. Phương pháp này có ưu điểm là dễ chế tạo và rẻ tiền.
Một số kỹ thuật CVD tạo CNTs thường được sử dụng là:
- Phương pháp CVD nhiệt.
- Phương pháp CVD tăng cường Plasma.
- Phương pháp CVD xúc tác alcohol.
- Phương pháp CVD nhiệt có laser hỗ trợ.
- Phương pháp mọc pha hơi.

- Phương pháp CVD với xúc tác Co-Mo ( CoMoCat).
1.4.2. Chế tạo CNTs bằng phương pháp phóng điện hồ quang
Trong phương pháp này hơi carbon được tạo ra bằng cách phóng một luồng
hồ quang điện ở giữa hai điện cực làm bằng carbon có hoặc không có chất xúc
tác. CNTs tự mọc lên từ hơi carbon. Hai điện cực carbon đặt cách nhau 1 mm
trong buồng khí trơ (He hoặc Ar) ở áp suất thấp (giữa 50 và 700 mbar). Một
7

dòng điện có cường độ 50 - 100 A được điều khiển bởi thế khoảng 20V tạo ra sự
phóng điện hồ quang nhiệt độ cao giữa hai điện cực carbon. Luồng hồ quang
này làm bay hơi một điện cực carbon và lắng đọng trên điện cực còn lại, tạo ra
sản phẩm là SWCNTs hoặc MWCNTs tuỳ theo việc có chất xúc tác kim loại
(thường là Fe, Co, Ni , Y, Mo) hay không. Hiệu suất tạo ra CNTs phụ thuộc vào
môi trường plasma và nhiệt độ của điện cực nơi carbon lắng đọng.

Hình 1.9. Hệ thiết bị chế tạo CNTs bằng phương pháp hồ quang điện
Với điện cực là carbon tinh khiết, ta thu được MWCNTs còn khi có kim
loại xúc tác (Ni, Co, Fe) ta thu được SWCNTs.
Các kĩ thuật chế tạo CNTs bằng hồ quang khác:
- Chế tạo CNTs bằng hồ quang ngoài không khí.
- Chế tạo CNTs bằng hồ quang trong nitơ lỏng.
- Chế tạo CNTs bằng hồ quang trong từ trường.
- Chế tạo CNTs bằng hồ quang với điện cực plasma quay.
1.4.3. Chế tạo ống nano carbon dùng nguồn laser
Một chùm laser năng lượng cao (xung hoặc liên tục) làm bay hơi một bia
graphite trong lò ở nhiệt độ cao khoảng 1200
o
C. Trong lò có chứa khí trơ He
hoặc Ne với mục đích giữ áp suất trong lò ở 500 torr và đóng vai trò của khí
mang đưa hơi carbon về phía cực lắng đọng.

Các nguyên tử, phân tử carbon lắng đọng lại tạo thành các đám có thể gồm
fullerence và MWCNTs. Để tạo ra SWCNTs thì bia phải có xúc tác kim loại
(Co, Ni, Fe hoặc Y). CNTs được tạo ra bằng phương pháp bay hơi bằng chùm
tia laser có độ tinh khiết cao hơn so với phương pháp hồ quang điện.
8


Hình 1.10. Hệ tạo CNTs bằng phương pháp chùm laser
1.5. Tính chất của ống nano carbon
1.5.1.Tính chất cơ
Ống nano carbon cấu tạo chỉ gồm toàn các nguyên tử carbon ở dạng ống
nên chúng rất nhẹ. Bên cạnh đó liên kết giữa các nguyên tử carbon đều là liên
kết cộng hoá trị tạo nên một cấu trúc tinh thể hoàn hảo vừa nhẹ vừa bền. Theo
một số so sánh thì ống nano carbon nhẹ hơn thép 6 lần và bền gấp trăm lần thép
(trên cùng 1 đơn vị thể tích và chiều dài). Theo một số tài liệu công bố, ống
nano carbon đa tường có độ cứng Young là 1,8 TPa, trong khi thép là 230
GPa.[
15]
1.5.2.Tính chất nhiệt
Nhiều nghiên cứu cho thấy ống nano carbon là vật liệu dẫn nhiệt tốt. Độ
dẫn nhiệt của vật liệu của SWCNTs có đạt giá trị trong khoảng từ 20-3000
W/mK ở trên nhiệt độ phòng

[18],so với 400 W/ mK của đồng (Cu ). Có tác giả
còn công bố độ dẫn nhiệt có thể đạt tới 6600 W/mK [
13]. Vì khả năng dẫn nhiệt
tốt này mà CNTs đã được sử dụng cho việc tản nhiệt cho các linh kiện điện tử
công suất cao.
[16]
1.5.3.Tính chất điện

Phụ thuộc vào véc tơ cuộn ống (chiran) của chúng, các ống nano carbon có
thể hoặc là chất bán dẫn hoặc là kim loại. Sự khác nhau trong các tính chất dẫn
điện gây bởi cấu trúc phân tử điều đó dẫn đến cấu trúc dải năng lượng khác
nhau. Ngoài ra độ dẫn điện của ống nano carbon đơn tường cũng phụ thuộc rất
nhiều vào lực tác dụng lên ống. Điều này sẽ mở ra một hướng mới sử dụng vật
liệu CNTs làm cảm biến lực, v.v… trong tương lai
9


Hình 1.11. Ống nano carbon kiểu armchair có tính chất kim loại và nano
carbon kiểu zig-zag có tính chất bán dẫn
Dùng hiển vi lực nguyên tử để đo điện trở ở từng phần của ống nano
carbon thì thấy rằng đối với ống nano đơn tường dẫn điện như kim loại thì điện
trở không đổi dọc theo ống. Tuy nhiên đối với ống nano đơn tường dẫn điện
kiểu bán dẫn, khi kết lại thành sợi thì điện trở rất phụ thuộc vào các vị trí đặt các
đầu bốn mũi dò để đo.
Nói chung điện trở suất của ống nano carbon vào cỡ 10
-4
ohm /cm ở nhiệt
độ phòng( điện trở suất của đồng là 1,678
-6
ohm/cm). Cường độ dòng tối đa của
CNTs từ 10
7
– 10
8
A/cm
2
(gấp hàng trăm lần so với cường độ dòng tối đa của
kim loại đồng). Ngoài ra, sai hỏng ở ống nano có thể làm thay đổi tính dẫn điện

của chúng.
[12]
1.5.4. Tính chất hóa học
CNTs hoạt động hóa học mạnh hơn so với graphene. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy CNTs vẫn tương đối trơ về mặt hóa học, do đó để tăng hoạt tính hóa học
của CNTs ta phải tạo ra các khuyết tật trên bề mặt của ống, gắn kết với các phân
tử hoạt động khác để tạo ra các vi đầu dò nhạy với hoá chất
[17]
1.5.5. Tính chất phát xạ điện tử trường
Sự phát xạ trường là quá trình phát xạ điện tử từ bề mặt của một pha rắn
vào chân không, dưới tác dụng của một điện trường tĩnh (khoảng 10
8
V/cm). Khi
áp một điện trường đủ lớn, các điện tử tại bề mặt xuyên hầm qua hàng rào thế và
thoát ra ngoài. Với CNTs, do tỷ lệ chiều dài/đường kính lớn (hơn 1000 lần), cấu
trúc dạng tip, độ ổn định hóa, nhiệt cao và độ dẫn nhiệt, dẫn điện cũng rất cao
nên khả năng phát xạ điện tử là rất cao, ngay ở điện thế thấp.
10

Với dạng tip như CNT với điện thế khoảng 25V/µm thì các ống CNTs đã
có thể phát xạ dòng điện tử lên tới 20µA . Đây là một thuận lợi lớn của vật liệu
CNTs, do vậy chúng được ứng dụng trong các thiết bị phát xạ điện tử
[12].
1.6. Các sai hỏng có thể tồn tại trong mạng của ống nano carbon
Với vật liệu bất kỳ, sự tồn tại của một khuyết tật tinh thể ảnh hưởng đến các
đặc tính vật liệu. Trong CNTs có hai loại khuyết tật chủ yếu.
[1]
+ Một loại là do sai hỏng điểm.
+ Một dạng khuyết tật ống nano carbon là sai hỏng Stone Wales, sai hỏng
này tạo ra 1 cặp ngũ giác và 1 cặp thất giác.

Do cấu trúc rất nhỏ của CNTs, độ bền kéo của ống là do phần yếu nhất của
ống quyết định.
Khuyết tật tinh thể ảnh hưởng đến tính chất dẫ điện của CNTs. Một khuyết
tật trong kiểu ống CNTs loại Armchair (dẫn điện) có thể làm cho các khu vực
xung quanh chỗ khuyết tật trở thành bán dẫn.
Khuyết tật tinh thể ảnh hưởng mạnh đến tính chất dẫn nhiệt của CNTs.
Khuyết tật như vậy dẫn đến tán xạ phonon, làm tăng tốc độ hồi phục của các
phonon. Điều này làm giảm quãng đường tự do trung bình, và giảm tính dẫn
nhiệt của CNTs.

Hình 1.12. Sai hỏng Stone Wales tạo ra cặp ngũ giác và thất giác trong CNTs
11

1.7. Một số ứng dụng của ống nano carbon
1.7.1. Các ứng dụng về năng lượng
Sử dụng CNTs trong pin litium có thể tăng dung lượng pin lên 10 lần. Các
nhà nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã phát hiện ra
rằng, nếu sử dụng các lớp ống nano carbon đã qua xử lý để làm điện cực, chúng
có thể tăng năng lượng tích lũy trên mỗi đơn vị trọng lượng của pin lên hơn 10
lần.( 10 kW /Kg –trong khi pin Lithium thông thường 1 kW/kg ). Pin có sự ổn
định rất tốt theo thời gian, sau khi 1000 chu kỳ sạc và xả pin thử nghiệm, không
phát hiện có sự thay đổi của vật liệu. Điều này hứa hẹn khả năng ứng dụng của
CNTs trong xe hơi, các thiết bị điện tử cầm tay
[11]. Bằng phương pháp “layer
by layer”. Các nhà khoa học đã chế tạo được điện cực làm từ CNTs đa tường để
tạo thành điện cực dương, và lithium titanium oxide để làm điện cực âm. Thông
qua ảnh TEM độ phân giải cao và so sánh chu trình phóng nạp của pin trước và
sau khi xử lý nhiệt với khí hidro, họ cũng chứng minh được rằng, nguyên nhân
của sự cải thiện về mặt tích trữ năng lượng là do các nhóm chức có chứa oxi trên
bề mặt của CNTs.

- Do CNTs có cấu trúc dạng trụ rỗng và đường kính cỡ nanomét nên vật
liệu CNTs có thể tích trữ chất lỏng hoặc khí trong lõi trơ thông qua hiệu ứng
mao dẫn. Hấp thụ này được gọi là hấp thụ vật lý. CNTs cũng có thể tích trữ
hydrogen theo cách hóa học (hấp thụ nguyên tử hydrogen) . Vì vậy CNTs có thể
được sử dụng cho việc tích trữ Hidro, làm thành pin nhiên liệu dùng cho ô
tô.[10].

Hình 1.13. Mô hình sự xen giữa của Li và hấp thụ H
2

- Bằng cách xử lý CNTs trong một dung dịch siêu axit, các nhà khoa học ở
trường Đại học Rice (Mỹ) đã thu được những sợi dài, có thể sử dụng làm những
dây dẫn nhẹ, hiệu quả cho mạng lưới điện, hoặc làm cơ sở cho những vật liệu
dẫn điện. Họ cho biết đã tìm ra được một phương pháp mới để lắp ráp CNTs với
nhau, bằng cách hoà tan CNTs trong dung dịch siêu axít chlorosulphonic tạo ra
12

dung dịch có nồng độ về khối lượng lên đến 0,5Wt% cao hơn 1000 lần so với
các axit khác đã báo cáo trước đó. Ở trạng thái mật độ cao này, chúng tạo thành
tinh thể lỏng, có thể tạo thành những sợi dài hàng trăm mét, hoặc nguyên khối.
Vì CNTs rất bền, cho nên trong tương lai, rất có thể ống nano carbon sẽ được sử
dụng để thay thế cho dây điện kim loại truyền thống.
1.7.2. Thiết bị phát xạ điện tử trường
Yêu cầu chung là ngưỡng thế phát xạ của vật liệu phải thấp, mật độ dòng
phải có độ ổn định cao, vật liệu phát xạ phải có đường kính nhỏ cỡ nanomet, cấu
trúc tương đối hoàn hảo, độ dẫn điện cao, độ rộng khe năng lượng nhỏ và ổn
định về mặt hóa học. Các điều kiện này, vật liệu CNTs đáp ứng đầy đủ. Hơn
nữa, CNTs lại tương đối trơ về mặt hóa học nên có độ ổn định về mặt hóa học
rất cao.
Vật liệu CNTs đã được sử dụng cho các thiết bị phát xạ điện tử trường như:

transistor hiệu ứng trường, các màn hình hiển thị ,tip STM, AFM
.

Hình 1.14. Màn hình hiển thị sử dụng CNTs
Các tính năng của CNT-FED: Mỏng, độ sáng cao, độ tương phản cao, hiệu
suất phát quang cao, góc nhìn rộng, đáp ứng nhanh, điện thế tiêu thụ thấp, tiêu
thụ ít điện năng.
1.7.3. Đầu dò nano và sensơ
Do tính dẻo dai được sử dụng như các đầu dò quét trong các thiết bị kính
hiển vi điện tử AFM và STM. Thuận lợi chủ yếu của các đầu dò loại này là độ
phân giải được cải thiện hơn nhiều so với các tip Si hoặc các tip kim loại mà
không phá mẫu (do CNTs độ đàn hồi cao).
Các ống CNTs gắn trên đầu tip có thể được biến tính bằng cách gắn các
nhóm chức năng (-COOH) để tăng các tương tác hóa, sinh. Các tip này có thể
13

được sử dụng như các đầu dò phân tử, ứng dụng trong các lĩnh vực hoá học và y
sinh.
Chẳng hạn với các sensor xác định nồng độ cồn cực thấp sử dụng vật liệu
CNTs thì vật liệu CNTs phải được biến đổi trước để gắn các nhóm -COOH trên
bề mặt. Các nhóm này sẽ tương tác với phân tử ethanol (CH
3
CH
2
OH) và gắn các
phân tử này lên bề mặt CNTs, làm thay đổi độ dẫn điện. Từ sự thay đổi này, ta
có thể xác định được nồng độ cồn.
[17]

Hình 1.15. Típ STM, AFM có gắn CNTs



Hình 1.16. Típ CNTs biến tính

Hình 1.17. Vật liệu CNTs-COOH dùng cho sensor xác định nồng độ cồn

14

1.7.4. Ống nano carbon tạo ra các vật liệu siêu bền, siêu nhẹ
Trưởng nhóm nghiên cứu, Giáo sư Alan Windle, thuộc Đại học Cambridge
dùng CNTs để dệt thành áo, hoặc kết hợp với những loại vật liệu khác để sản
xuất những sản phẩm siêu bền. Theo các chuyên gia, ứng dụng quan trọng của
sợi carbon mới này là sản xuất áo chống đạn siêu bền, vì nó bền hơn, dai hơn và
cứng hơn nhiều lần so với loại vải được dùng để may áo giáp hiện nay.
Nasa cũng sử dụng CNTs trong nhiều mục đích khác nhau. Như trong các
vỏ tầu vì CNTs là vật liệu siêu bền và siêu nhẹ. Do dó làm giảm trọng lượng của
tầu vũ trụ, và làm giảm chi phí phóng tàu. Đồng thời còn làm tăng khả năng
chống chịu va đập cho tàu.

Hình 1.18. Áo chống đạn siêu bền, vỏ tàu vũ trụ làm bằng CNTs
1.7.5. Ống nano carbon tạo ra các linh kiện điện tử nano
Hiện nay với sự xuất hiện của ống nano carbon, cùng với khả năng chế tạo
ra các ống carbon có tính chất như là bán dẫn loại p hay loại n. Người ta đã có
thể sắp xếp được các sợi carbon nhỏ nằm gối lên nhau, tại những điểm giao nhau
đó chúng có tác dụng như một điốt. Các điốt này có kích thước rất nhỏ cỡ vài
nm. Tuy nhiên kỹ thuật chế tạo các điốt này khá phức tạp, người ta đã sử dụng
phương pháp dòng chảy để định hướng các sợi carbon. Nghiên cứu gần đây, các
nhà khoa học đã chỉ ra rằng với ống nano carbon có thể chế tạo các linh kiện
hoạt động trên cơ sở những hoạt động của Spin điện tử. Với các dây dẫn thông
thường các điện tử luôn bị tán xạ bởi mạng các ion, hay với chính các điện tử,

do đó luôn tồn tại điện trở. Nhưng với ống nano carbon thì khác, các điện tử
chuyển động theo kiểu xung kích và ống nano lại rất nhỏ, không có sai hỏng nên
điện tử không bị tán xạ. Điều đó có nghĩa là điện tử có thể chuyển động được
một quãng đường xa mà không thay đổi xung lượng, vẫn giữ nguyên trạng thái
của mình và có nghĩa là spin được bảo toàn. Ta đã biết spin của điện tử có hai
giá trị -1/2 và +1/2 (spin up và spin down), nên ta có thể dùng từ trường để điều
15

khiển spin thay cho việc điều khiển điện tử và lỗ trống trong các bán dẫn thông
thường.
Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của các linh kiện điện tử, kích thước
của các linh kiện đã được giảm nhỏ. Tuy nhiên chúng ta không thể cực tiểu hoá
mãi được vì hiện nay quá trình cực tiểu hoá đã đang tiến gần đến giới hạn vật lý.
Từ đó chúng ta cần phải nghĩ đến một vật liệu mới nào đó có khả năng đặc biệt
và từ đó có thể cực tiểu hoá được các linh kiện. Và điều đó đã được giải quyết
bằng sự xuất hiện của ống nano carbon. Ống carbon được dùng làm kênh dẫn
trong transistor.

Hình 1.19. Transistor trường sử dụng ống nanno carbon
Điện thế cực cổng có ảnh hưởng rất lớn đến tính dẫn điện của ống nano
carbon. Với việc sử dụng ống nano carbon làm kênh dẫn điện, độ dẫn điện có
thể thay đổi hơn một triệu lần so với transistor trường trên cơ sở silic. Hơn nữa
vì có kích thước nhỏ, transistor trường trên cơ sở ống nano làm việc với độ tin
cậy cao hơn, tiêu thụ ít năng lượng hơn, nó có thể đóng mở với tốc độ Terahert.
Khi các thiết bị được cực tiểu hoá về kích thước và được tăng mạnh về tốc
độ thì các điện tử sẽ hoạt động với tốc độ cao nên toả nhiều nhiệt để giải quyết
vấn đề đó người ta đã sử dụng khả năng dẫn nhiệt rất tốt của ống carbon gắn vào
các linh kiện
[16]. Vì kích thước của các linh kiện rất nhỏ nên không thể sử
dụng các dây dẫn kim loại thông thường như hiện nay vẫn dùng để nối các linh

kiện với các thiết bị hay các mạch logic bên ngoài mà phải dùng ống nano
carbon.


×