Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.54 MB, 101 trang )










LUẬN VĂN:

Báo chí với việc tuyên truyền
giá trị văn hóa truyền thống của các
dân tộc thiểu số vùng tây bắc











MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc được coi là tấm giấy thông hành để mỗi con người
bước ra với cộng đồng nhân loại mà không bị trộn lẫn. Điều này càng có ý nghĩa quan
trọng khi chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập với thế giới
trong xu thế toàn cầu hóa.


Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những
tinh hoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành
những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Xét về bản
chất, lịch sử dân tộc ta ngay từ thời dựng nước là lịch sử không ngừng đấu tranh chống
ngoại xâm để dành và giữ nền độc lập, tạo nên phẩm chất cao cả và thiêng liêng nhất của
bản sắc văn hóa dân tộc, đó là tinh thần yêu nước thương nòi. Chủ nghĩa yêu nước của
văn hóa dân tộc ta không chỉ biểu lộ ở lòng dũng cảm, đức hy sinh mà còn ở tinh thần
đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người, ý thức bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đạo lý.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hóa Việt Nam đã vượt qua thế bị động để
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình.
Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng mặt
trận văn hóa mà cốt lõi của nó là bản sắc văn hóa dân tộc. Hơn 80 năm qua định hướng
dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt những văn kiện của Đảng về văn hóa, văn
nghệ. Nghị quyết 5 của Ban chấp TW khóa VIII đã đánh dấu bước phát triển mới về
đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng. Với phương hướng chung của sự nghiệp văn
hóa nước ta là
Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu
vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người…tạo ra trên đất
nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao… [31, tr.54]
Có thể nói Nghị quyết TW V là nguồn cảm hứng, nâng cao tinh thần của
nhân dân ta bước vào thế kỷ mới, làm cho văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực

của sự phát triển đất nước. Nghị quyết cũng chỉ rõ “ nền văn hóa Việt Nam là nền văn
hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [31, tr.57].
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường
biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc
phòng, được coi là “phên dậu” của tổ quốc. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây
đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên
Phủ chấn động địa cầu năm xưa. Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi

cao chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Dãy núi Hoàng Liên Sơn cao đến 1500m dài tới
180km, rộng 30km, với một số đỉnh núi cao trên 3000m, vùng Tây Bắc có 2 con sông lớn
đó là sông Đà và sông Thao (Tức là sông Hồng). Thượng nguồn của sông Mã cũng trên vùng
Tây Bắc. Với đặc điểm địa hình như vậy đã tạo nên cho vùng Tây Bắc không gian văn hóa
dân tộc đặc sắc, nổi bật nhất là văn hóa dân tộc Thái với những điệu múa xòe uyển chuyển,
quyến rũ với trang phục dân tộc độc đáo, kín đáo nhưng gợi cảm, với những trái Còn, trái Pa
Pao chao liệng khi xuân đến, Và với những phiên chợ tình thơ mộng, lãng mạn của dân tộc
Mông Ngoài ra vùng Tây Bắc còn có gần 30 dân tộc anh em các dân tộc thiểu số, sống
đoàn kết hòa thuận muôn đời bên nhau.
Vùng Tây Bắc Việt Nam có một nền văn hóa cội nguồn đa dạng, độc đáo, được
kết tinh từ đời này sang đời khác. Đó là một trong những nội lực to lớn của đất nước.
Nhưng hiện nay, giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc đang xuất hiện xu
hướng bị đồng hóa về văn hóa, từ nghi thức sinh hoạt, lễ hội tín ngưỡng, phong tục tập
quán, đến những bộ trang phục truyền thống các dân tộc giờ đây ít được lớp trẻ chuộng
dùng, tiếng nói riêng của từng dân tộc cũng bị pha trộn, nhiều lớp trẻ không biết nói của
dân tộc mình. Âm nhạc, những làn điệu dân ca cũng bị xem thường hoặc chỉ là thú vui
của người cao tuổi do đó, “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và
xây dựng những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số”
[31, tr.65] cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà nghị quyết Trung ương V
khóa VIII của Đảng cũng đã đề cập tới.
Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy sự nghiệp
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng bộ, chính quyền các

tỉnh vùng Tây Bắc, hệ thống báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc tuyên
truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đông đảo nhân
dân góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân
dân các dân tộc, nhất là trong công tác tuyên truyền việc giữ gìn và nâng cao bản sắc
văn hóa các dân tộc thiểu số. Bằng sức mạnh của mình, báo chí tác động vào nhận
thức của công chúng, của xã hội, tạo ra ý thức cao về vị trí vai trò của văn hóa trong
phát triển, từ đó xây dựng nên những ước muốn gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa

truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhằm tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát triển đất
nước, tiến lên giàu đẹp, văn minh. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng việc tuyên
truyền văn hóa các dân tộc thiểu số trên hệ thống báo chí vùng Tây Bắc thời gian qua
vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: nội dung thể hiện chưa phong phú, đa dạng, chậm
đổi mới, chưa hấp dẫn, đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa có chuyên môn sâu,
cũng như sự am hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số còn bất cập Nền kinh tế thị
trường do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã gặt hái được kết quả
bước đầu đáng phấn khởi. Tuy nhiên, những hệ lụy do mặt trái của cơ chế thị trường
gây ra cũng không phải là nhỏ, đang tác động trực tiếp vào đời sống văn hóa của nhân
dân, có nguy cơ làm sói mòn đạo đức dân tộc, hủy hoại những giá trị dân tộc mà ông
cha ta bao đời nay dầy công vun đắp.
Tây Bắc là một vùng có cơ cấu dân tộc thiểu số cùng chung sống khá đa dạng với
gần 30 tộc người. Qua cơ cấu dân tộc của Tây Bắc cho thấy nơi đây có một nền văn hóa
rất phong phú và đa dạng. Mỗi dân tộc có nét đẹp, giá trị bản sắc văn hóa riêng. Trước
tình hình đó, cần phải có những nghiên cứu cụ thể, khoa học tìm ra những giải pháp cụ
thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyền truyền bảo tồn những bản sắc văn hóa
dân tộc thiểu số. Cho nên tôi chọn đề tài: Báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa
truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc nhằm nghiên cứu vấn đề giữ gìn
giá trị truyền thống của văn hóa các dân tộc thiểu số.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa đã có nhiều công trình
nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở mỗi góc độ, mỗi nhà khoa học lại có cách nhìn và tiếp
cận vấn đề khác nhau. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Công trình nghiên cứu của Phan Ngọc (2002):Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb
Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Trần Ngọc Thêm (1996): Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt
Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Trần Văn Bính (2004): Văn hóa các dân tộc Tây
Bắc- Thực trạng và những vấn đề đặt ra,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nông Quốc
Chấn, Hoàng Tuấn Cư, Vi Hồng Nhân (1996): Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các
dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội; Trần Quốc Vượng (2003): Văn

hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội; Hoàng Vinh (1997): Một số
vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa các dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội; Hoàng Nam (1998): Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người văn hóa Việt Nam,Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam (2003): Trang phục
các tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tày- Thái;
Các luận văn đại học và sau đại học có đề tài liên quan đến truyền thống văn
hóa dân tộc
Chu Đức Kìu (1993): Khảo sát đội ngũ nhà báo dân tộc ít người Cao Bằng lịch sử và
thực trạng”, Luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội.
La Vũ Quang (1993): Một số vấn đề về tiếp tục nâng cao chất lượng hiệu quả thông
tin, tuyên truyền với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số ở buổi phát thanh đại gia đình các
dân tộc Việt Nam. Luận văn tốt nghiệp đại học. Hà Nội.
Giàng Seo Pùa năm (1994): Những bước đi ban đầu của chương trình phát thanh tiếng
Mông (Đài tiếng nói Việt Nam), Tiềm năng và xu hướng phát triển”, Luận văn tốt nghiệp đại
học, Hà Nội.
Nguyễn Thu Liên (1997): Vấn đề giũ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương
trình phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, Luận án thạc sỹ báo chí, Học viện báo chí và
tuyên truyền quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Đặng Đình Quang( 1997): Hoạt động thông tin báo chí Tỉnh Lào Cai trong thời kỳ đổi
mới, Luận văn thạc sĩ báo chí, Hà Nội.

Nguyễn Xuyên An Việt (2001): “ Thông tin về miền núi và dân tộc trên sóng VTV1 -
Đài truyền hình Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội
Đỗ Thanh Phúc (2005): “ Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên
sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hòa Bình”, Luận văn thạc sỹ truyền
thông đại chúng.
Trịnh Liên Hà Quyên (2006): “ Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Hà Nội.
Tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu về vấn đề bảo tồn bản sắc,
giá trị truyền thống của văn hóa các dân tộc thiểu số, song chưa có công trình nào nghiên

cứu, đề cập đánh giá một cách khách quan, khoa học đến việc tuyên truyền giá trị văn hóa
truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trên hệ thống báo chí, hy vọng sẽ góp
thêm một cách nhìn trong việc tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống của các dân
tộc thiểu số.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về vấn đề giữ gìn giá trị văn hóa
truyền thống dân tộc thiểu số trên hệ thống báo chí Tây Bắc, luận văn chỉ ra được thực trạng,
đề xuất các phương hướng cụ thể nhằm tăng cường vai trò tác động của báo chí trong việc
tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Đi vào phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Khảo sát Đài Phát thanh - Truyền hình Sơn La, Báo Sơn La, tạp chí văn nghệ Suối
Reo về việc tuyên truyền các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số từ tháng 1 năm 2008 đến
tháng 6 năm 2009.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả tuyên truyền các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên hệ thống báo chí vùng
Tây Bắc.

3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, tác giả sẽ chỉ tập trung khảo sát,
đánh giá những bài viết liên quan đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống đặc sắc và độc đáo của dân tộc thiểu số, thông qua các chuyên trang,
chuyên mục cụ thể của hệ thống các loại hình báo chí Sơn La. Với thời lượng một
năm rưỡi (từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009), với những tài liệu tin, bài
thu thập liên quan đến vấn đề nghiên cứu là cơ sở nhận xét đánh giá khách quan cho
đề tài nghiên cứu.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
báo chí và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; những đường lối, chủ trương về giữ
gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước.
Mặt khác còn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ sở lý
luận báo chí. Đề tài còn dựa vào lý thuyết đặc điểm của văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa
dân tộc thiểu số để nghiên cứu, đánh giá.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Thống kê các bài viết liên quan đến tuyên truyền giữ gìn bản sắc văn hóa truyền
thống các dân tộc thiểu số trên Báo Sơn La, tạp chí văn nghệ Suối Reo, chương trình phát
thanh, truyền hình trong thời gian từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009. Trên cơ sở
đó đánh giá, phân tích rõ hơn vai trò, vị trí của báo chí Sơn La với vấn đề tuyên truyền
giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với đối tượng là
công chúng báo chí Sơn La để tăng thêm tính khách quan cho đề tài.
5. Đóng góp của đề tài
Đây là công trình đầu tiên về công tác báo chí với việc tuyên truyền những giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, cho nên đề tài sẽ có ích cho
đối tượng lãnh đạo, quản lý báo chí hiểu hơn về vai trò, vị trí, thực trạng của hệ thống
báo chí trong việc sản xuất các chương trình nhằm giữ gìn và nâng cao giá trị văn hóa các

dân tộc thiểu số trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, từ đó có những
chính sách phù hợp nhằm lãnh đạo, quản lý hiệu quả hơn. Đề tài cũng có thể là tài liệu
tham khảo cho những người quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu
số nói chung vùng Tây Bắc nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Về mặt lý luận
Bước đầu tổng kết khái quát những quan điểm cơ bản về báo chí với vấn đề giữ
gìn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc tổ quốc.
6.2. Về thực tiễn

Làm phong phú thêm những công trình nghiên cứu về giữ gìn bản sắc văn hóa
truyền thống dân tộc và nhất là việc phát huy vai trò của báo chí trong công tác giữ gìn
những giá trị, tinh hoa văn hóa dân tộc. Từ việc nâng cao ý thức công dân, cộng đồng các
dân tộc trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, tạo dựng thói quen,
nếp sống coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc mình, tạo môi trường thuận lợi trong việc bảo
tồn và phát huy di sản văn hóa, từ đó tạo ra phong trào toàn dân bảo vệ phát triển những
giá trị văn hóa phong phú và đặc sắc của dân tộc.Những hệ thống giải pháp và biện pháp
thiết thực của đề tài sẽ góp phần thực hiện tốt không chỉ công tác thông tin, tuyên truyền
trên báo chí mà còn nâng cao nhận thức, ý thức của cả cộng đồng về góp phần gìn giữ
bản sắc văn hóa dân tộc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 11 tiết.

Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Văn hóa
Nói về văn hóa đó là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội,
thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm, biểu hiện sức sống, sức sáng
tạo của một dân tộc. Ta có thể thấy ở văn hóa nổi lên những đặc trưng cơ bản nhất là tính
nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử.
Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng
lực, bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội .Do
đó, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản. Cơ sở của hoạt
động văn hóa là khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện và cái mỹ. Có thể coi
đó là ba trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại. Chừng nào cái
cái chân, cái thiện, cái mỹ bị lãng quên chừng đó văn hóa sẽ xuống dốc… [ 35,

tr.12].
Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “Văn hóa” được những nhà nhân loại học phương tây
sử dụng như là một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế
giới cơ thế giới có thể chia ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hóa của
họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn
lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B Taylo là đại diện của họ. Theo ông, văn hóa là
toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong
tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được, với tư cách là một thành
viên của xã hội.
Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo (F.Boas) ý nghĩa văn hóa được qui
định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”,
vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí,

lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa. Văn hóa không xét ở góc độ cao thấp mà
xét ở góc độ khác biệt [66, tr.18].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, thì văn hóa chỉ gắn liền với con người
và xã hội loài người. Cội nguồn của sự tồn tại phát triển văn hóa là ở hoạt động sáng tạo
của con người. V.I.Lênin, người kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăngghen từ quan
điểm xem xét văn hóa với tư cách là sự phát triển bản chất của con người đã nhấn mạnh,
phân tích sâu thêm mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế. Người
nhấn mạnh tính nhân loại, tính giai cấp, tính kế thừa của văn hóa. Đặc biệt xem cách
mạng văn hóa như một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Khi tiếp nhận tư tưởng cách mạng của Mác-Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, tinh hoa
văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, từ năm 1943 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát ý nghĩa của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương pháp sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa” [28, tr.17]. Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn
hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm những gì không phải

là của thiên nhiên mà liên quan tới con người trong quá trình tồn tại, phát triển quá trình
con người làm nên lịch sử…” [66, tr.21].
Hoặc theo định nghĩa của UNESCO, trong ý nghĩa rộng nhất,
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một
nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những
lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những
tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét
về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt
nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ
văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một
phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân,

tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công
trình vượt trội lên bản thân [66, tr.23-24].
Văn hóa có nhiều cách hiểu khác nhau, trên cơ sở phân tích những định nghĩa về
văn hóa PGS. TSKH: Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này
đã nêu bật được bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa: Tính hệ thống, tính giá
trị, tính lịch sử và tính nhân sinh [66, tr.22].
Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, Văn hóa là tổng thể
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự
phát triển. “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội. Chăm lo văn hóa là chăm lo nền tảng tinh thần của
xã hội…” [28, tr.212].
Cho đến nay, mọi người chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định
nghĩa văn hóa. Từ năm 1952, một số nhà dân tộc học người Mỹ đã trích lục được trên
dưới ba trăm định nghĩa về văn hóa của các tác giả khác nhau trên thế giới phát ra từ trước

đó cho đến lúc bấy giờ. Từ đó đến nay chắc chắn số định nghĩa đã tăng lên rất nhiều tuy
nhiên không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hòa hợp, bổ sung cho
nhau, nhưng tựu chung các định nghĩa đều khẳng định rằng, văn hóa là một nhân tố cực kỳ
quan trọng cho sự phát triển của con người và của loài người. Thiếu nó, loài người không
phát triển. Và khi đó xã hội loài người sẽ vĩnh viễn chỉ là một bầy đàn những con vật biết
đứng trên hai chân mà thôi. Như vậy, trong khi có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về
văn hóa, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà văn hóa lại cùng khẳng định vai trò của văn
hóa trong phát triển, coi văn hóa là yếu tố cơ bản, là động lực của phát triển.
Từ “Văn hóa” trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa ta có thể qui về
hai cách hiểu chính. Theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng
như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử văn hóa được xem là bao gồm những gì do con
người sáng tạo ra. Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn

Cái đặc trưng cốt lõi của văn hóa, cái làm cho văn hóa có sức mạnh phục vụ phát
triển là bản sắc riêng có của mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc. Chính bản sắc riêng ấy mới
tạo ra sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa trên thế giới, mới kích thích nhu cầu
tìm hiểu, tiếp thu, hòa nhập lẫn nhau giữa các nền văn hóa, nhằm làm cho mình giàu có
hơn, phong phú hơn. Và nhờ vậy nền văn hóa thế giới từ đó càng đa dạng và phong phú.
Quá trình này là quá trình sáng tạo – sáng tạo ra những giá trị mới phục vụ đời sống con
người. Nhờ sáng tạo mà các nền văn hóa có sức mạnh chi phối sự phát triển, tạo ra sự
phát triển. Một nền văn hóa đồng phục sẽ giết chết sự sáng tạo, mà cũng vì thế mà giết
chết sự phát triển.
Văn hóa chính là kết tinh của nhiều giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội. Một
năm, một thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ không dễ tạo nên cơ sở của một nền văn hóa dân
tộc. Mỗi dân tộc có thể có những sức mạnh riêng về kinh tế, quân sự, tài nguyên, môi
trường, nhưng sức mạnh về văn hóa có ý nghĩa đặc biệt. Nó tác động trực tiếp và lâu dài
đến nhiều hoạt động xã hội. Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, Liên hợp quốc có 193
quốc gia thì chỉ có 34 dân tộc có nền văn hóa có bản sắc trong đó có Việt Nam. Sức mạnh
của văn hóa được tổng hợp từ nhiều nhân tố, nhiều điều kiện chính trị, xã hội nội tại
không thể vay mượn được. Có thể một dân tộc chịu những ảnh hưởng của một nền văn

hóa, văn nghệ của một dân tộc khác nhưng ở một mức độ nhất định, nhưng không thể áp
đặt. Văn hóa qui luật của nó là trao đổi. Khuynh hướng đóng cửa hạn chế giao lưu văn
hóa là trái qui luật. Tuy nhiên, văn hóa là yếu tố nội sinh, không thể chuyển giao như
chuyển giao công nghệ từ nước này, dân tộc này sang dân tộc khác được.
Như vậy, “Văn hóa đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội, văn hóa là
nền tảng, là mục tiêu, là động lực và là hệ điều tiết của sự phát triển xã hội” [61, tr.160].
1.1.2. Văn hóa truyền thống
Cùng với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước ngàn đời của dân tộc
Chúng ta đã có một nền văn hóa lâu đời, độc đáo, đa dạng, là thành quả
nghìn năm đấu tranh, lao động sáng tạo của các dân tộc Việt Nam. Khi nói tới
văn hóa truyền thống, chủ yếu chúng ta muốn nói đến thành quả văn hóa do

cha ông chúng ta đã xây đắp và phát triển trong quá khứ và nó đã làm nên cái
bản sắc, cái độc đáo, cái đặc trưng của văn hóa dân tộc ta [28, tr.105].
Như vậy, giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc là những gì tinh túy
nhất, quí báu nhất. Có thể nói bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc là tổng thể những
tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và
phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, tính nhất
quán so với chính mình trong quá trình phát triển, đặc biệt trong quá trình giao lưu và hội
nhập văn hóa.
Giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc cũng chính là những nét riêng có
của tinh thần, bản lĩnh, tâm hồn, tính cách dân tộc, là tâm lý, là sức mạnh nội sinh của
từng nền văn hóa của mỗi dân tộc. Bản sắc văn hóa truyền thống còn là sức sống bên
trong của dân tộc, là quá trình thường xuyên tự ý thức, tự khám phá, tự tái tạo, tự điều
chỉnh và tự tiếp nhận, từ đó tạo cho dân tộc mình có những giá trị văn hóa riêng mà nền
văn hóa khác không có.
Những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc đó được hình thành trong sự
chi phối của những qui luật văn hóa chung của nhân loại, nhưng mang những nét riêng có
của mỗi dân tộc, làm cho nó trở thành hấp dẫn, độc đáo cần học hỏi, tiếp thu. Bản sắc văn
hóa truyền thống dân tộc thể hiện trong truyền thống của mỗi dân tộc. Bản sắc văn hóa

dân tộc hình thành và phát triển theo những điều kiện xã hội và kinh tế, chính trị và thể
chế. Nó cũng phát triển theo quá trình xâm nhập văn hóa, theo xu hướng tiến hóa chung
của nhân loại chủ yếu trên hai mặt mang tính thống nhất vừa giữ vững phát huy cái
hay, cái đẹp vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đúng với tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa “Phương Đông hay phương Tây, có cái gì hay, có cái gì tốt
phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn
hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy
Việt Nam” [28, tr.22].
1.2. TÂY BẮC - MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.2.1. Tây Bắc - Vùng đất có tầm quan trọng về địa lý - Kinh tế - Chính trị

Vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện
Biên có đường biên giới giáp với các nước bạn Lào và Trung Quốc, Với gần 30 dân
tộc anh em: Kinh, Thái, H’Mông, Mường, LaHa, Tày, Dao, Kháng, Sinh Mun, Khơ
mú, Lào, Hoa, … cùng sinh sống, là một vùng rộng lớn có địa chính trị, kinh tế- văn
hóa độc đáo, có vị trí chiến lược đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh -
quốc phòng - kinh tế, xã hội và văn hóa. Đây là cửa ngõ đường bộ và các tỉnh biên
giới cũng là án ngữ các quốc gia phương Bắc tiến xuống Đông Nam Á. Chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch phản động, từ trước tới nay luôn lợi dụng vị trí hiểm
trở, những khó khăn tạm thời về kinh tế - xã hội để thực thi các thủ đoạn chia rẽ dân
tộc, thực hiện “ diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, vị
trí quan trọng này luôn được các nhà cầm quân trong lịch sử và được Đảng xác định
là then chốt trong cuộc đấu tranh cách mạng dành độc lập dân tộc cho đến công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày hôm nay.
Trong sự nghiệp đổi, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, tạo điều kiện để Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, cùng đất nước
tiến lên công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Bên cạnh sự phát triển chung của đất nước,
thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về mở cửa, giao lưu hội nhập kinh tế quốc

tế, Khu vực Tây Bắc cũng đang đứng trước thời cơ và thách thức lớn, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia, xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về
đời sống văn hóa trong đời sống đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Từ chủ trương và sự
quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước sự cố gắng nỗ lực của chính quyền địa
phương và nhân dân, đời sống kinh tế văn hóa, xã hội của người dân Tây Bắc đã có
nhiều khởi sắc. Sản xuất nông nghiệp từ chỗ mang tính tự cung, tự cấp đã chuyển
sang hàng hóa sản xuất khá phổ biến ở các vùng gắn với thị trường trong nước và
quốc tế, cơ cấu cây trồng, chăn nuôi đã được chuyển đổi ở nhiều địa phương. Sự đầu
tư của nhà nước vào các công trình kinh tế trọng điểm như: Nhà máy thủy điện Hòa
Bình, nhà máy thủy điện Sơn La hiện có công xuất lớn nhất Đông Nam Á, hệ thống

giao thông nối liền các tỉnh vùng Tây Bắc, giao thông tới các trung tâm huyện, thị
xã, thành phố. Hệ thống bưu điện, chợ, trường học được mở rộng đến từng cụm xã,
bản. Nhiều thôn, bản đã có đội văn nghệ quần chúng, nhiều bản đã trở thành bản văn
hóa có sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. Trình độ dân trí của
các đồng bào các dân tộc được nâng lên.
Để đi khảo sát vào những thành tựu phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc,
tác giả luận văn xin đi sâu vào Sơn La, đây là một tỉnh trung tâm của miền núi Tây
Bắc. Trong những năm đổi mới, nhất là từ khi có nghị quyết 22- Bộ chính trị “ Về
một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội miền núi” (Ngày 27 tháng
11 năm 1989), chỉ thị 39/1998/CT-TTg của thủ tướng chính phủ về việc đẩy mạnh
công tác văn hóa thông tin ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, cùng hàng loạt
các chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện tốt chính
sách dân tộc, Sơn La đã có những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế- xã hội.
Hiện nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) của Sơn La đạt 7,8%. Bình quân
lương thực đầu người đạt 400kg, chăn nuôi gia súc, tăng trưởng từ 2-5% năm Sản
xuất lượng thực giữ vững được thế ổn định và tiếp tục phát triển. Tổng sản lượng
lương thực có hạt đạt 25,5 vạn tấn năm 2008. Thế trận cây công nghiệp hàng hóa
chủ lực hiện nay của Sơn La được củng cố và phát triển, tạo vùng nguyên liệu chế

biến và xuất khẩu. Độ che phủ của rừng năm 1996 là 21,5% tăng lên 50% năm 2008,
giá trị xuất khẩu công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 33,5%. Mạng lưới điện
quốc gia đã đến được 99% cơ sở xã, phường, thị trấn, thành phố.
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, các dân tộc Tây Bắc nói chung Sơn
La nói riêng đang có những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Các cơ sở kinh tế mới, hệ thống trường phổ thông nội trú được quan tâm thỏa đáng.
Vì thế, các dân tộc đã khẳng định tính vững chắc, niềm tin tuyệt đối vào con đường
đổi mới của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Sơn La đã hoàn thành phổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi, chống mù chữ và đang củng cố kết quả đó. Về y tế hiện nay
đã loại trừ bệnh phong trong toàn tỉnh, trên 2200 bản có cán bộ y tế. Trên lĩnh vực
thông tin, báo chí, xuất bản phát triển về cả chiều sâu và bề rộng, góp phần tích cực

vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, củng cố khối đại đoàn kết cổ vũ thực hiện công
cuộc đổi mới. Hiện nay Sơn La có 450 bản văn hóa, gần 60.000 gia đình văn hóa, có
trên 650 đội văn nghệ quần chúng, 70% dân số được xem truyền hình, 80% dân số
được nghe hệ thống Đài phát thanh Trung ương và địa phương.
Từ những nét cơ bản về kinh tế, xã hội của Sơn La cho thấy, đời sống văn
hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc Sơn La cũng như miền núi Tây Bắc hôm nay
đã có sự thay đổi đáng kể. Những gì đạt được từ chiến lược phát triển kinh tế, xóa
đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước hôm nay là do “Đảng bộ các tỉnh Tây Bắc
không chỉ quan tâm đến mặt kinh tế mà còn đặc biệt quan tâm chăm lo đến đời sống
tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát huy
văn hóa dân tộc và tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em” [53,
tr.39], đây chắc chắn sẽ là động lực để đồng bào Tây Bắc nói chung, Sơn La nói
riêng vững bước phát triển, đi lên.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa các tỉnh miền núi Tây Bắc thực chất
cũng là quá trình hình thành và phát triển con người - nguồn lực cơ bản thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội của bà con các dân tộc Tây Bắc.
1.2.2. Tây Bắc vùng đất của những trang sử anh hùng
Tây Bắc, là địa bàn miền núi, nhiều dân tộc, có truyền thống văn hóa lâu đời từ

thời dựng nước và giữ nước. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, trừ một bộ phận cư trú ở
vùng thấp, còn phần lớn sống ở vùng núi cao, biên giới nơi không chỉ có nhiều tiềm lực
to lớn về kinh tế mà còn có vị trí chính trị xung yếu, là tiền đồn quan trọng cho bảo vệ tổ
quốc. Người dân Tây Bắc với bản chất chịu thương, chịu khó, cần cù lao động sáng tạo,
yêu quê hương đất nước. Do phải thường xuyên đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt,
chống kẻ thù ngoại xâm, tinh thần đoàn kết cộng đồng đã tạo nên sức mạnh của thiết chế
xã hội truyền thống.
Xưa kia ông cha ta đã dựa vào địa thế hiểm trở và tinh thần chiến đấu của các dân
tộc mà dựng cờ tụ nghĩa hay chiến đấu lâu dài chống lại các thế lực bành trướng và xâm
lược nước ngoài và trong các cuộc kháng chiến sau này miền núi vẫn luôn là địa bàn
chiến lược quan trọng trong công cuộc dành tự do và thống nhất tổ quốc.

Thời kỳ chống Bắc thuộc, Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, người dân vùng Tây Bắc đã
cùng nhau đoàn kết với người miền xuôi đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trong cuộc
kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của nhân dân ta, đồng bào các dân tộc Tây
Bắc luôn đoàn kết một lòng theo Đảng, theo Bác chống thực dân Pháp, vùng Tây Bắc đã
trở thành căn cứ cách mạng quan trọng của Trung ương và của Chính phủ ta. Thời kỳ này
phong trào Việt Minh phát triển mạnh ở đây, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc Tây
Bắc khẩn trương chuẩn bị đón thời cơ dành chính quyền. Ngược dòng lịch sử, năm 1943,
tại nhà ngục Sơn La, người thanh niên cách mạng dân tộc Thái Lò Văn Giá, đã cùng với
chi bộ nhà tù tổ chức cuộc vượt ngục thành công đưa nhiều đồng chí là tù chính trị trở lại
hoạt động, lãnh đạo phong trào cách mạng chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công khởi nghĩa
toàn quốc. Trong đó có đồng chí Nguyễn Lương Bằng. Sau khi trở về người thanh niên
này đã hy sinh anh dũng.
Cũng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, các dân tộc miền
núi đã hết lòng ủng hộ và hy sinh quên mình cho kháng chiến đi đến thắng lợi. Trong
chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm xưa đã có sự
góp sức, góp của không nhỏ của đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước (1954-1975), nhân dân các dân tộc Tây Bắc lại đồng lòng đứng lên,
dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. vượt qua muôn vàn khó khăn, ra sức lao động sản xuất,

góp phần là hậu phương lớn của Miền Nam ruột thịt. Ở Tây Bắc chỉ trong bốn năm từ
năm 1965-1968 Tây Bắc đã có 159.818 thanh niên các dân tộc lên đường tòng quân ra
mặt trận, trong đó có 2% là nữ và nhiều con em các dân tộc thiểu số. Trong suốt cuộc
chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bàn chân của con em các dân tộc thiểu số đã in khắp
các chiến trường, trong số đó có rất nhiều người đã không bao giờ trở về.
Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song các thế lực thù địch vẫn lợi dụng địa bàn
hiểm trở, cư dân thưa thớt, đặc biệt lợi dụng dân tộc Tây Bắc có những mối quan hệ láng
giềng và quan hệ họ hàng thân thiết với đồng bào dân tộc ngoài biên giới hoạt động
chống phá cách mạng nước ta, mục đích nhằm vô hiệu hóa các chủ trương, chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trước “Đường lối chính trị đúng đắn của
Đảng ta đã từng bước cảm hóa mạnh mẽ và thu hút được tất cả các dân tộc thiểu số Tây

Bắc đi theo con đường đấu tranh và xây dựng để có dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [53, tr.45].
Với truyền thống yêu nước và lòng tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng của
Đảng, tiếp bước cha, anh, “Các dân tộc, tộc người sống trên vùng Tây Bắc đã tìm thấy
sức mạnh của mình, con đường phát triển của mình trong sức mạnh và con đường phát
triển chung của cả cộng đồng các dân tộc nước ta,” [53, tr.43] luôn thực hiện tốt chính
sách của Đảng, Nhà nước, định canh, định cư, xóa bỏ cây thuốc phiện truyền thống, thực
hiện nhận đất, nhận rừng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên
tiến, đưa các giống mới vào gieo trồng, tích cực xóa đói, giảm nghèo, xóa nạn mù chữ,
mở mang y tế, phát triển giao thông, vận tải, phát thanh - truyền hình, thông tin văn
hóa…Đảng bộ các dân tộc Tây Bắc đặc biệt quan tâm phát triển nền văn hóa nghệ thuật
các dân tộc thiểu số làm cho nó thực sự nở hoa kết trái góp phần làm phong phú đời sống
văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc. Nền văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng
Tây Bắc không chỉ tồn tại, đứng yên mà đã và đang luôn luôn vận động phát triển trong
sự giao lưu, tác động lẫn nhau. Quá trình giao lưu ấy đã thúc đẩy mạnh mẽ sự xích lại
gần nhau, tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc ở nước ta.
1.2.3. Tây Bắc vùng đất giàu bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số
Văn hóa Tây Bắc là trầm tích lịch sử kéo dài và nối liền từ tiền - sơ sử cho đến

ngày nay. Các đặc điểm địa lý tự nhiên và lịch sử xã hội của vùng đất này đã tạo nên một
vị thế và đặc điểm văn hóa riêng, có những đóng góp quan trọng vào tiến trình văn hóa
dân tộc. Nói đến Tây Bắc là nói đến một vùng văn hóa đa dạng, phong phú, giàu hương
sắc và đậm đà bản sắc dân tộc, bởi mảnh đất này là nơi hội tụ sinh sống từ lâu đời của
hàng chục dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có một kho tàng di sản văn hóa mang sắc thái
riêng và hết sức quý giá. Đến Tây Bắc, dễ dàng được chứng kiến cách sống đặc trưng của
văn hóa nhà sàn, đắm mình trong những điệu múa nón, múa chuông, múa Cống Tốp, Au
eo… và các làn điệu dân ca trữ tình đằm thắm hòa quyện cùng tiếng đàn tính, đàn môi,
khèn bè, Pí thiu, Pí ót… Đêm đêm, bên bếp lửa nhà sàn, trong hương vị rượu cần ngây
ngất, sẽ được nghe những bản trường ca, tình ca bất hủ, giàu chất sử thi và thấm đẫm tính
nhân văn về quá trình tạo mường lập bản, chống giặc ngoại xâm, về tình yêu quê hương

đất nước, tình yêu đôi lứa và đạo lý làm người. Tây Bắc nổi tiếng với kiến trúc nhà sàn
Thái độc đáo, thơ mộng bằng chất liệu gỗ, nứa, tranh tre, mà điển hình là “khau cút” sinh
động vươn cao ở hai đầu chái nhà và các họa tiết hoa văn hình thoi, hình trám thể hiện ở
hàng lan can hay trên các khung cửa sổ, tạo nên sự hài hòa tinh tế và phù hợp với cảnh
quan thiên nhiên miền núi. Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Sơn La có từ lâu
đời, điển hình là nghề dệt thổ cẩm với các hình trang trí hoa, thú, chim rất trang nhã và
sinh động; Nghề đan lát mây tre, sản xuất gốm của đồng bào Thái, Mường, Dao, Khơ
mú; Luyện sắt làm vũ khí và các dụng cụ sản xuất của đồng bào Mông. Trong các dịp lễ
tết, ngày hội, cộng đồng các dân tộc Tây Bắc có nhiều trò chơi dân gian rất thú vị như
ném còn, kéo co, đua ngựa, bắn nỏ, chơi quay, ném Pa pao… Những phong tục tập quán,
lễ hội của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc như : “sên bản, sên mường”, “lên nhà mới”, “lễ
hội gội đầu”, “mừng cơm mới”, “cầu mưa”…cũng rất độc đáo và hấp dẫn. Tất cả những
giá trị văn hóa truyền thống đó đã tạo nên bản sắc riêng và là hành trang quý giá của các
dân tộc Tây Bắc cần phải được bảo vệ gìn giữ và phát huy, bởi văn hóa của mỗi dân tộc
chính là “phần hồn” của dân tộc ấy, nó là thứ không thể thay thế được, nếu để mất bản
sắc văn hóa thì không còn chính dân tộc đó nữa. Ý thức rõ điều đó, nhiều năm qua Đảng
bộ và nhân dân các tỉnh Tây Bắc đã chủ động xây dựng và thực hiện chiến lược bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bước đầu đã thu được những kết quả khả

quan. Để đi khảo sát những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và gìn giữ những giá
trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số của các tỉnh vùng Tây Bắc, chúng tôi xin đi
sâu vào tỉnh Sơn La, đây là một tỉnh trung tâm của miền núi Tây Bắc. Trong những năm
đổi mới, đặc biệt là từ khi thực hiện nghị quyết Trung ương lần thứ V khóa VIII của
Đảng, Sơn La đã tổ chức kiểm kê, điều tra, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng các di
tích lịch sử và văn hóa, đến nay đã kiểm kê được 37 di tích lịch sử cách mạng, 36 di tích
khảo cổ học, 14 di tích danh thắng, 3 di tích kiến trúc nghệ thuật, trong số này, đến nay
có 10 di tích được xếp hạng Quốc gia, 29 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Công tác nghiên
cứu khoa học, đề xuất các phương án bảo tồn được đẩy mạnh, các đề tài nghiên cứu cấp
tỉnh về bảo tồn di sản văn hóa đã được thực hiện như: Đề tài nghiên cứu “Văn hóa thời
tiền- sơ sử Sơn La”; Đề tài “Nghiên cứu bổ sung và viết thuyết minh giới thiệu một số di

tích lịch sử văn hóa dọc Quốc lộ 6 tỉnh Sơn La”. Những kết quả nghiên cứu này đã được
áp dụng vào thực tiễn, kịp thời bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa, tiêu biểu là Khu di
tích Nhà tù Sơn La, Di tích lịch sử văn hóa Quế Lâm Ngự Chế- Đền thờ Vua Lê Thái
Tông, Di tích lịch sử Ngã ba Cò Nòi, Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Mường Và, Tháp
Mường Bám, Thắng cảnh Hang Dơi Mộc Châu. Các di tích này đang được bảo tồn và
khai thác rất hiệu quả, hàng năm thu hút được hàng nghìn lượt người tham quan, học tập
góp phần vào việc giáo dục truyền thống, ý thức phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và
hoạt động xã hội của người dân Sơn La, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa với các
vùng miền trong cả nước.
Công tác sưu tầm, gìn giữ các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng luôn được
quan tâm, chú trọng. Hàng trăm di vật thời Tiền sử, sơ sử đã được tìm thấy tại nhiều địa
phương như Mường Chanh (Mai Sơn); Thôm Mòn (Thuận Châu) và một số xã thuộc các
huyện ven sông Đà như Mường La, Bắc yên, Phù Yên, Quỳnh Nhai. Gần 2000 bản sách
được ghi chép bằng chữ Thái cổ thuộc nhiều thể loại như Sử thi, Trường ca, Truyện thơ
dân gian… Nhiều hiện vật của nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống đã được sưu tầm,
trưng bày, khai thác. Đặc biệt, nhằm bảo vệ các di sản vùng lòng hồ Thủy điện Sơn
La, những năm qua Sơn La đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành

điền dã, khảo sát thực địa phát hiện được 27 di tích, bước đầu đã xác định được tính
chất, niên đại của các di tích, di chỉ khảo cổ, đó là: 03 di tích thời kỳ Phong kiến; 07
di chỉ khảo cổ học thời đại kim khí; 09 di chỉ thời đại đá mới; 08 di chỉ thời đại đá cũ.
Tất cả những di tích và di chỉ này đang được khẩn trương xây dựng phương án bảo
tồn và phát huy. Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc của các dân tộc Sơn La tưởng
chừng như đã bị thất truyền hoặc đang có nguy cơ thất truyền và biến dạng, đã và
đang được sưu tầm, phục dựng, gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên, khôi phục các lễ hội
truyền thống nhưng phải biết lựa chọn để nâng niu, bảo tồn những giá trị tinh thần,
những nét đẹp văn hóa trong các lễ nghi, sửa đổi những yếu tố không còn phù hợp,
mở rộng quy mô các lễ hội để cho các lễ hội trở thành điểm hội tụ văn hóa của cộng
đồng. Cho đến nay, Sơn La đã có 01 lễ hội với quy mô Khu vực, đó là Ngày hội Văn

hóa các dân tộc Tây Bắc. Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, tiêu biểu như các lễ hội:
Lễ hội Hoa Ban, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc Thái; Lễ hội Pang A Nụn Pan của dân
tộc La Ha; Lễ hội Mương A Ma của dân tộc Xinh Mun; Lễ hội Xen Pang Ả của dân
tộc Kháng… Các làng nghề truyền thống như: Dệt Thổ cẩm Thèn Luông- Chiềng
Đông- Yên Châu; Gốm Mường Chanh - Mai Sơn, cũng được phục hồi và phát
triển.Việc tích cực sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể của các dân tộc trong tỉnh đã góp phần làm cho các thế hệ con em các dân tộc Sơn
La hiểu biết thêm về truyền thống lịch sử - văn hóa của vùng đất mà cha ông đã khai
phá và dựng xây, từ đó thêm tự hào, gắn bó với quê hương.
Có thể nói ý thức tộc chính là đặc điểm, trình độ mức sống của mỗi dân tộc, được
kết tinh thành những giá trị văn hóa. Văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng
Tây Bắc là kết quả giao lưu của nhiều dân tộc ở nhiều vùng đất khác nhau, ngoài những
nét đặc trưng tiêu biểu và tiếp thu tinh hoa văn hóa, các dân tộc Tây Bắc vẫn giữ được
bản sắc của vùng núi Tây Bắc nơi tuyến đầu tổ quốc, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa
truyền thống các dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa đó trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam.
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN TÂY BẮC

1.3.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước tác động tới Tây Bắc
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch
định hệ thống chính sách đồng bộ, trong đó có chính sách dân tộc, các văn bản chính sách
có ý nghĩa lớn đối với miền núi phía Bắc, nói riêng là nghị quyết 22 của Bộ Chính trị
(ngày 27-11-1989) về một số chủ trương chính sách lớn về phát triển kinh tế miền núi,
các văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, lần thứ X vừa qua.
Thông qua hệ thống các văn bản từ văn kiện của Đảng, Chính Phủ, cũng như các
văn bản dưới luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được quan tâm
cả trong phương diện hoạch định chính sách, đến việc thể chế hóa và thực hiện trong đời
sống chính sách dân tộc.

Về kinh tế, nội dung nhiệm vụ trong chính sách dân tộc miền núi phía chính là chủ
trương phát triển kinh tế xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện
cho các dân tộc phát huy tiềm năng và nguồn lực, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát
triển kinh tế hàng hóa, từng bước rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa miền núi và miền
xuôi.
Về phương diện chính trị, thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết, tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau và cùng phát triển. Đồng bào các dân tộc thiếu số cũng như đa số đều có
quyền làm chủ, có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm
xây dựng thể chế chính trị, phát huy vai trò hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu
số. Dân chủ hóa đời sống chính trị đã được thực hiện ở các vùng nông thôn miền núi,
vùng dân tộc thiểu số. Ý thức chính trị, văn hóa chính trị mà trước hết là những thông tin,
tri thức về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền lợi và
nghĩa vụ công dân được chú ý quan tâm trong chính sách dân tộc.
1.3.2. Nghị quyết Trung ương V khóa VIII của Đảng với vấn đề phát huy giá
trị văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Bắc
Trong lịch sử phát triển của xã phát triển xã hội của loài người nói chung và của
Việt Nam nói riêng đã chứng minh và khẳng định bất cứ một triều đại nào, một chế độ
chính trị nào, một Đảng nào muốn giữ được vai trò thống trị và lãnh đạo toàn xã hội đều
đặc biệt quan tâm đến văn hóa.

Nền văn hóa chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chủ đạo. Nền văn hóa ấy bắt nguồn từ lịch sử vẻ
vang của dân tộc. Phương châm phát triển văn hóa Việt Nam phải xuất phát từ nguyên
tắc cơ bản: nền văn hóa của chúng ta là của nhân dân.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc bao hàm các nội
dung bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số tạo nên sự
thống nhất trong sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Với Hồ Chí Minh, nền văn hóa của chúng ta phải đặt lợi ích của dân tộc và nhân
dân là trên hết. Đó là nền văn hóa thấm đầy tính nhân văn. Những người làm công tác
văn hóa, văn nghệ phải chủ động đa dạng hóa phương pháp và phong cách sáng tác, luôn

luôn tìm tòi sáng tạo để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đáp ứng được mong đợi của
nhân dân. Các nghị quyết của Đảng khuyến khích các nhà văn hóa và các nghệ sĩ tìm tòi
nhiều hơn nữa, sáng tạo nhiều hơn nữa trong hoạt động nghệ thuật, đồng thời, phải ngăn
chặn những xu hướng văn hóa nghệ thuật suy đồi, phi đạo đức. Mọi hoạt động văn hóa
đều phải hướng về nhân dân, vừa góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho nhân dân, vừa
phải lắng nghe nhân dân để tiếp tục có những sáng tạo văn hóa nghệ thuật mới.
Từ nhận thức tầm quan trọng và vị trí vai trò của văn hóa truyền thống của dân tộc
ta với tinh hoa văn hóa nhân loại, những sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn có thể huy
động phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nứớc. Trong quá trình
lãnh đạo cách mạng trong kháng chiến cũng như xây dựng đất nước, Bác Hồ, Đảng và
nhà nước ta luôn coi trọng và phát huy cao độ vai trò của văn hóa. Ngay từ năm 1943
đồng chí Trường Chinh- lúc đó là Tổng Bí thư của Đảng lúc đó đã viết đề cương văn hóa,
với phương châm “ dân tộc - khoa học - đại chúng”. Hiến pháp năm 1992 có tới 5 điều
nói về văn hóa, xác định một lần nữa nguyên tắc phát triển của nền văn hóa Việt Nam
“dân tộc - hiện đại - nhân văn”, nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng, bình yên cho dân
tộc.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trở thành nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
văn hóa dân tộc là mục tiêu cơ bản được đại hội VII của Đảng đề ra từ năm 1991. Mục
tiêu này tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh tại đại hội VIII năm 1996, tới tháng 7

năm 1998 lại được nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ V nêu lên như
một trong những quan điểm chỉ đạo cơ bản của sự nghiệp xây dựng sự nghiệp văn hóa
của đất nước ta suốt trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Trung ương V
khóa VIII đã chỉ rõ phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:
Một là, phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức
độc lập, tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại.

Hai là, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào
từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh
vực sinh hoạt và quan hệ con người.
Ba là, phương hướng chung chỉ rõ mục đích của xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm tạo ra.
Trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp.
Trình độ dân trí cao, khoa học phát triển.
Phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến bước vững chắc lên Chủ nghĩa xã
hội.
Nghị quyết lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa VIII cũng khẳng định 5 quan điểm chỉ
đạo của Đảng đối với văn hóa:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ta hiểu chăm lo phát triển văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã
hội, nếu thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không thể có sự phát triển bền
vững, dù tiện nghi vật chất dồi dào đến đâu thì xã hội cũng không thể tránh khỏi suy
thoái.
Phát triển kinh tế - xã hội là để đạt được độc lập, tự do, hạnh phúc, đời sống được
ấm no hạnh phúc. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội

trên mọi phương diện, chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương, biến thành nguồn nội sinh
quan trọng nhất của phát triển.
Hai là, nền Văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc.
Nền văn hóa tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu
hiện, trong phương tiện chuyển tải nội dung.
Bảo vệ bản sắc dân tộc không có nghĩa là đóng cửa thu mình trong chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi, phải mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái

tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc dân tộc không có nghĩa là giữ
mãi, hoặc khôi phục những gì đã lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ.
Ba là, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng
tạo nên tính đa dạng, phong phú của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, một đặc điểm rất
quan trọng của quá trình phát triển các dân tộc Việt Nam là đoàn kết, thống nhất.
Sự thống nhất mà đa dạng của nền văn hóa Việt Nam còn bao gồm những sáng tạo
văn hóa của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài luôn hướng về cội nguồn, cố
gắng gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Bốn là, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh
đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của toàn dân mà nền tảng là khối đại
đoàn kết dân tộc và đó cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa.
Bất cứ chế độ nào cũng có đội ngũ tri thức của giai cấp cầm quyền. Trong nền văn
hóa của mỗi chế độ bao giờ cũng có một đội ngũ tri thức. Đội ngũ những nhà văn hóa.
Ông cha ta nói “Thiên tài là nguyên khí của quốc gia. Văn hóa là sự nghiệp của toàn dân,
trước hết là của nhân dân lao động, trong đó đội ngũ tri thức gắn bó với nhân dân có vai
trò quan trọng, nhất là trong việc sáng tạo ra nền văn hóa đỉnh cao.
Năm là, văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp
cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.

Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên
những giá trị văn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị văn hóa ấy
thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập
quán tiến bộ, văn minh là một quá trình đầy khó khăn [31, tr.58].
Người hoạt động văn hóa là chiến sỹ kiên cường trên mặt trận văn hóa, tư tưởng,
trong việc giữ gìn những di sản quí báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế
giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh với các hủ

×