Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (129.32 KB, 20 trang )

Chơng II
Thực trạng cạnh tranh của hàng nông sản
Việt Nam trên thị trờng

1. Tình hình sản xuất hàng nông sản của Việt Nam.

Việt Nam với đặc trng là một nớc nông nghiệp, điều kiện khí hậu, thổ
nhỡng đà tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất hàng nông sản phát
triển. Một số mặt hàng nông sản đà là thế mạnh của Việt Nam trong thời gian
qua nh: cà phê, cao su, hạt điều...
Thứ nhất, mặt hàng cà phê đợc phân bố rộng rÃi từ Bắc tới Nam trên
nhiều tỉnh trung du, cao nguyên và miền núi. Trớc kia cà phê đợc trồng gồm
3 loại: cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta) và cà phê mít (Exceta).
Nay chỉ còn cà phê chè và cà phê vối đợc trồng ở những vùng sinh thái khác
nhau. Do chú trọng đầu t thâm canh nên cà phê Việt Nam đà cho năng suất
và sản lợng cao. Liên tục nhiều năm năng suất tăng rõ rệt từ 600-700kg nhân/
ha, nay đạt bình quân 1,4 tấn nhân/ha, cá biệt có nơi từ 4-4,5 tấn nhân/ha.
World bank đánh giá năm 1996 năng suất cà phê vèi (Robusta) cđa ViƯt
Nam 1,48 tÊn/ha xÕp thø nh× thÕ giới, sau Contatica (1,5 tấn/ha), xếp trên
Thái Lan (0,99 tấn/ha).Cùng với năng suất, diện tích và sản lợng cà phê của
Việt Nam cũng đang tăng ở mức rất cao, có xu hớng tiếp tục tăng và đến năm
1999 - 2000 vẫn ở vị trí thứ 2 sau Brazil.
Thứ hai, mặt hàng hạt điều.
Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu thì hạt điều chiếm một vị trí
quan trọng, kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 100 triệu USD, xếp thứ ba
trên thế giới về sản lợng và đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu. Kế hoạch của
ngành điều đến năm 2005 là nâng sản lợng điều thô lên 230 nghìn tấn, xuất
khẩu 45.000 tấn hạt điều nhân, kim ngạch 220 triệu USD năm.

1



Trong một thời gian dài, nghề hạt điều phát triển một cách tự phát, lại
không đợc quy hoạch. Sản lợng điều thu hoạch niên vụ 1998 vào khoảng
100.000 tấn, niênvụ 1999 chỉ còn 70.000 tấn đáp ứng cha đợc 30% nhu cầu
của các nhà máy chế biến. Vụ điều năm 2000 sản lợng đà lên đến 160.000
tấn và là sản lợng cao nhất kể từ trớc đó. Nhng nhìn chung năng suất của điều
Việt Nam còn rất thấp, bình quân chung cả nớc khoảng 7 tạ/ha. Nguyên nhân
khách quan là do thời tiết thất thờng, sâu bệnh nhng chính những yếu tố chủ
quan lại là yếu tố tác động lâu dài và trực tiếp nhất. Đó chính là giống điều
lâu nay đem trồng không đợc tuyển chọn qua các cơ quan chuyên ngành,
hoàn toàn do nông dân tự chọn, nguồn dinh dỡng từ đất đà cạn kiệt sau nhiều
năm thu hoạch nhng không đợc bồi dỡng, làm cỏ, cải tạo. Hậu quả là nhiều
diện tích cho năng suất thấp, cây điều bị thoái hóa, không ra quả. Do đó nhà
nớc cần hỗ trợ nông dân qua các công tác khuyến nông và tín dụng nông
nghiệp, mặt khác cần đầu t bằng vốn ngân sách, xây dựng các hệ thống trang
trại thÝ nghiƯm, chän gièng, nh©n gièng, phỉ biÕn kü tht cho các vùng sinh
thái - sản xuất điều khác nhau. Đây là yếu tố hàng đầu giúp nông dân nâng
cao năng suất.
Thứ ba, một số sản phẩm nông nghiệp khác.
Một số mặt hàng nông sản khác của nớc ta đà có bớc phát triển rõ rệt,
sản xuất tăng trởng liên tục với nhịp độ cao, cơ cấu kinh tế đang dần đợc
chuyển dịch theo hớng phát huy lợi thế so sánh của các vùng, các địa phơng
cũng nh trong cả nớc, đà hình thành nhiều vùng hàng hóa tập trung tơng đối
lớn. Kinh tế nông thôn có những bớc chuyển biến khá, đời sống nông dân ở
nhiều vùng đợc cải thiện, nhng vấn đề nổi bật là các loại sản phẩm này có
chất lợng thấp, tổ chức tiêu thụ còn nhiều yếu kém, thờng xuyên xảy ra tình
trạng, nhiều khi tiêu thụ không kịp, nhất là trong vụ thu hoạch, giá cả xuống
thấp gây thiệt hại cho nông dân. Tình trạng này kéo dài làm cho ngời làm
nông sản buộc phải chuyển đổi các loại cây trồng, hoặc quy về sản xuất tự
cung tự cấp, hoặc chuyển sang nghề kia.

2


Qua những yếu tố trên đây có thể nói tình hình sản xuất hàng nông sản
của Việt Nam vẫn mang tÝnh chÊt cđa nỊn s¶n xt nhá, tù cung tù cấp và
mới đang trong quá trình chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, năng suất lao
động thấp do đó kéo dài thời gian sản xuất sản phẩm nên không tạo đợc sức
cạnh tranh trên thị trờng.
2. Thực trạng công nghệ chế biến nông sản ở Việt Nam.

Hàng nông sản của Việt Nam ở vị trí khá cao so với các quốc gia khác,
hàng nông sản của ta có mặt hầu hết trên tất cả các thị trờng của thế giới
nhng lợng ngoại tệ thu về từ hàng nông sản vẫn còn rất khiêm tốn do giá
xuất khẩu các mặt hàng nông sản nh gạo, cà phê, cao su, hạt điều...đều bán
thấp hơn giá thế giới từ 20 - 40USD, thậm chí còn thấp hơn. Công nghệ và
các cơ sở chế biến nông sản của Việt Nam trong thời gian dài ít đợc quan
tâm đầy đủ, một phần do khó khăn về nguồn vốn đầu t nên trình độ công
nghệ thấp và chậm đợc đổi mới, tổn thất sau thu hoạch còn rất lớn. Cơ sở
chế biến hàng nông sản xuất khẩu còn ít nh ngành cà phê mới chỉ có
khoảng 20 cơ sở hcế biến công nghiệp hoàn chỉnh, chủ yếu là sơ chế đảm
bảo chiếm khoảng 30% sản lợng cà phê/năm. Mặt hàng hạt điều tuy đà phát
triển nhanh và chuyển từ xuất khẩu điều thô sang xuất khẩu nhân hạt điều
nhng mức độ cơ giới hóa trong quy hoạch quy trình công nghệ chế biến
điều còn thấp, các nhà máy mới chỉ thu đựoc sản phẩm chính để xuất khẩu
là nhân điều, cha áp dụng đợc quy trình "chế biến không phế liệu" để thu
hoạch các sản phẩm chính và các sản phẩm phụ, nên đà đạt hiệu quả kinh tế
thấp. Vì vậy các nhà máy chế biến cha thể nâng cao đợc giá thu mua các
mặt hàng nông sản thô từ nông dân, một yếu tố để kích thích nông dân tích
cực gieo trồng hàng nông sản.
Đa số công nghệ của ta còn giản đơn, thô sơ, lạc hậu, mang nặng tính

kinh nghiệm, thậm chí những điều kiện tối thiểu sân phơi, máy sấy, kho bảo
quản cũng không đủ. Do đó vấn đề cần giải quyết là nhà nớc cần phải có kế

3


hoạch cân đối lại giữa công suất chế biến và nguồn nguyên liệu, mở rọng
hoạt động điều phối giữa các xí nghiệp chế biến hàng nông sản thông qua
Hội nông dân Việt Nam.
3. Tình hình tiêu thụ hàng nông sản trong thị trờng nội địa.

Hàng nông sản là sản phẩm thiết yếu của mọi ngời dân nh gạo, chè, cà
phê... tuy vậy do mức sống của nhân dân ta còn thấp nên các sản phẩm nông
sản đợc sản xuất ra chủ yếu là phục vụ cho xuất khẩu mà tiêu thụ cho thị trờng trong nớc chủ yếu là các sản phẩm thô, thứ cấp với giá rẻ hơn gấp nhiều
lần nh mặt hàng cà phê tiêu thụ trong nội địa chỉ đạt khoảng 6000 tấn/năm
chiếm 1,5 - 2% tổng sản lợng cà phê sản xuất ra. Tuy vậy, với mức sống nh
hiện nay, hơn 300USD/ngời/năm thì nhu cầu của ngời dân đà đợc cải thiện do
đó nhu cầu về tiêu thụ nông sản ở thị trờng trong nớc cũng sẽ tăng lên nghĩa
là mức tiêu thụ nội địa sẽ tăng.
4. Tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam.

Có thể nhận xét rằng nhóm mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của
Việt Nam đều có tốc độ tăng trởng cao hơn tốc độ tăng bình quân của thế
giới và cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh nh Thái Lan (ở mặt hàng
gạo và cà phê), Indonexia về cà phê, cao su... kim ngạch xuất khẩu gạo của
Việt Nam so với Thái Lan có xu hớng tăng từ dới 30% (trớc năm 1998) lên
mức cao hơn trong năm 2000 nhng với giá cả hạ hơn, tỷ trọng kim ngạch
xuất khẩu cà phê của Việt Nam so với ấn Độ cũng tăng mạnh, kim ngạch
xuất khẩu cao su của Việt Nam so với Thái Lan cũng tăng mạnh nhng tốc độ
lại chậm hơn các sản phẩm khác từ 5,87% năm 1992 lên 13,6% năm 2000.

Các số liệu đà chứng tỏ rằng mức chênh lệch mặt hàng gạo và cà phê đợc
thích hợp nhiều nhất trong bốn mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Điều
đó cũng cho thÊy r»ng thêi gian qua søc c¹nh tranh xuÊt khẩu các mặt hàng
nông sản chủ yếu của Việt Nam đợc cải thiện đáng kể, nhng nếu đi sâu phân
tích thì thực sự vẫn còn nhiều băn khoăn về tình hình xuất khẩu mặt hàng
nông sản của Việt Nam.

4


Việt Nam chỉ có mặt hàng gạo là trội hơn hẳn còn các mặt hàng khác lại có
sự chênh lệch khá lớn về số lợng so với các đối thủ cạnh tranh chính.
Bảng 1. Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản
chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2000.
TT

Năm

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11


1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000

Sản lợng xuất khẩu (1000 tấn)
Gạo
Cà phê Cao su
Chè
1624
89,6
75,9
10,8
1033
93,8
62,9
10,5
1940
116,2
81,9
1,3
1722
122,6

96,7
20,6
1983
177
135,5
21,2
2058
248,1
138,1
18,8
3047
281,4
194,5
21
3682
391,6
192
32,3
3800
382
197
33,2
4500
487,5
265
37
3500
694
280
44,7


Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
Gạo
Cà phê Cao su
Chè
305
76,16
75,3
12,96
235
74
50
14
418
92
66,9
16
362
110,6
74,7
26
424
328,2
135,4
26,5
530
595,5
193,5
26,5
868

420
163,3
29
801
497,5
194,6
48
1100
593,8
127,5
50,5
1080
592
145
46
840
842,76 153,2
56

Nguồn: Tạp chí Kinh tế Việt Nam và thế giới 2000 - 2001.

Qua những số liệu trong bảng trên cho thấy các mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam đều tăng do đó kéo theo nguồn thu ngoại tệ cũng
tăng lên góp phần làm tăng cán cân thơng mại và nguồn ngoại tệ của quốc
gia, số liệu trên cũng cho thấy mặt hàng gạo và cà phê là có mức chênh lệch
nhất trong 4 mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Sau đây ta đi phân tích cụ thể mặt hàng cà phê - là mặt hàng có nguồn
thu ngoại tệ lớn nhất so với các mặt hàng nông sản khác:
Có thể nói cà phê là thức uống mà đợc nhiều ngời a thích, là mặt hàng
xuất khẩu ở nhiều thị trờng và đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn.

ã Phân chia xuất khẩu theo thị trờng.
Trớc kia thị trờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu là các nớc
thuộc khu vực I. Liên Xô là thị trờng chính, khối lợng xuất của Việt Nam
sang thị trờng này là 55 - 56%. Từ cuối năm 1985 trở đi Việt Nam bắt đầu
xuất sang các nớc thuộc khu vực II. Thời kỳ này, Việt Nam cha gia nhập
Hiệp hội cà phê Quốc tế (ICO) nên việc xuất khẩu chỉ là xuất thử hoặc xuất

5


qua trung gian, thêng lµ Singapore víi tû lƯ 30 - 40% tổng sản lợng bằng
60% lợng xuất khẩu sang khu vực II với giá thấp và chất lợng không cao
trong khi chất lợng yêu cầu của các nớc tiêu thụ trực tiếp lại rất cao. Đến
năm 1994 trở đi Việt Nam mới thâm nhập vào thị trờng châu Âu, Nhật và
Mỹ, giảm lợng xuất qua trung gian Singapore, nâng kim ngạch xuất khẩu
lên đáng kể. Sự có mặt của cà phê Việt Nam trên thị trờng Mỹ là chứng
nhận cho nỗ lực to lớn của những nhà xuất khẩu Việt Nam.
Bảng 2. Thị trờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Đơn vị: Tấn
Niên vụ
Khu vực
Châu Mỹ
Châu á
Châu Phi
Châu Âu
Châu óc
Tæng céng

1995 - 1996


1996 - 1997

1997 - 1998

1998 - 1999

67.048
45.045
6.767
94.982
6.913
220.755

84.255
32.248
11.729
189.048
7.038
324.318

87.384
45.943
4.816
243.297
8.839
390.279

69.381
28.564
5.340

278.125
15.483
396.893

Nguån: Tạp chí Kinh tế phát triển số 125 tháng 3/2001.

Qua bảng số liệu trên cho thấy nếu nh niên vụ 1995 - 1996 thị trờng
châu á nhập 45.045 tấn cà phê Việt Nam (chiếm 20,4%) tổng sản lợng xuất
khẩu của Việt Nam), thị trờng châu Âu nhập 94.982 tấn (tỷ lệ 43,03%) thì
trong niên vụ 1998 - 1999 thị trờng châu á chỉ còn nhập 28.564 tấn cà phê
(chiếm 7,2%), thị trờng châu Âu nhập 278.125 tấn (chiếm 70,08%). Điều này
chứng tỏ rằng các nhà xuất khẩu cà phê của Việt Nam đang từng bớc việc
hạn chế việc xuất qua trung gian và cố gắng mở rộng thị trờng sang các quốc
gia có nhu cầu tiêu thụ cà phê lớn nh: Mỹ, Anh, Đức, Pháp.
ã Phân chia xuất khẩu theo số lợng.
Lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đợc thể hiện qua bảng dới
đây.

6


Bảng 3. Lợng xuất khẩu cà phê Việt Nam
Niên vụ
1990 - 1991
1991 - 1992
1992 - 1993
1993 - 1994
1994 - 1995
1995 - 1996
1996 - 1997

1997 - 1998
1998 - 1999
1999 - 2000
2000 - 2001 (ớc)

Sản lợng cà phê

Lợng cà phê xuất

thu hoạch (tấn)
82.500
131.400
145.200
179.000
212.450
235.000
362.000
400.000
420.000
600.000
750.000

Tỷ lệ xuất khẩu

khẩu (tấn)
67.774
79.070
130.529
169.190
192.088

220.755
324.318
390.279
396.893
546.000
683.400

(%)
82,15
60,18
89,90
92,28
90,42
93,94
89,58
97,56
94,45
90,83
91,12

Nguồn: Tạp chí Phát triển kinh tế số 125 thán 3/2001.

Qua bảng số liệu trên cho thấy mời năm trở lại đây lợng cà phê xuất
khẩu tăng nhiều và có xu hớng tiếp tục tăng từ 67,774 tÊn (niªn vơ 1990 1991) lªn 545.000 tÊn (niªn vụ 1999 - 2000) tăng lên 8 lần. Hàng năm tỷ lệ
xuất khẩu so với sản lợng khá ổn định và giữ ở mức cao, đa số từ 90% trở lên.
Con số này đà phản ánh chủ trơng đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt
Nam.
ã Theo giá cả.
Nhìn chung giá nông sản của Việt Nam thờng thấp hơn so với một số nớc, bên cạnh đó nớc ta thờng xuất khẩu theo giá FOB nên giá trị thu về thờng
không cao. Thêm vào đó diễn biến về giá cả trong những năm qua cũng đÃ

làm cho hàng nông sản Việt Nam đà khó khăn lại càng khó khăn hơn, giá
nông sản liên tục giảm đà ảnh hởng đến tình hình sản xuất và tiêu thụ ở Việt
Nam. Sau đây là bảng xuất khẩu hàng nông sản về giá trị và sản lợng trong
những năm gần đây.
Bảng 4. Xuất khẩu hàng nông sản năm 1999 và năm 2000

7


Năm 1999
Mặt hàng
Gạo
Cà phê
Cao su
Chè
Lạc nhân
Hạt điều

Lợng
(1000
tấn)
4.200
399
212
34
62
17

Năm 2000


Trị giá
(Tr.USD)

Giá BQ
(USD/tấn)

989
555,9
125,4
43,3
36,23
101,3

235,467
1.392,928
591,509
1.420,588
584,355
5.958,824

Lợng
(1000
tấn)
4.200
400
230
35
120
30


Trị giá
(Tr.USD)

Giá BQ
(USD/tấn)

1.050
560
135
52
135
165

250
1.400
592
1.486
3.857
5.500

Nguồn: Tạp chí Thơng nghiệp và thị trờng Việt Nam số 7/2000.

Qua bảng số liệu trên cho thấy qua 2 năm 1999 và 2000 thì giá bình
quân của nông sản nhìn chung là tăng, nhng tình hình thị trờng thế giới diễn
biến không thuận lợi về giá cả, các doanh nghiệp cũng gặp phải khó khăn nhng có thể nói rằng kết quả đạt đợc nh trên là sự cố gắng trong công tác chỉ
đạo, điều hành sản xuất rất linh hoạt. Tình hình xuất khẩu vừa qua cũng cho
thấy kim ngạch xuất khẩu sẽ cao hơn nếu khâu chất lợng xuất khẩu của hàng
hóa cao hơn.
5. Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt
Nam trong thời gian qua.


ã Về giá cả
Tăng trởng bình quân xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt 21%/năm
trong suốt 10 năm qua, gạo, cà phê, cao su, chè là 4 mặt hàng chủ lực, năm
1999 đạt 1,8 tỷ USD chiếm 16,63% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc.
Sự ảnh hởng của chất lợng giá cả nông sản nên lợng xuất khẩu của Việt
Nam thờng có giá thấp hơn một số nớc trên thế giới, có thể nói đây cũng là
một lợi thế của nông sản Việt Nam nhng cũng là bất lợi cho ngời sản xuất vì
giá thành sản xuất ra một đơn vị nông sản còn rất cao, có khi giá bán lại
không bù đắp đợc chi phí sản xuất nên gây thiệt hại lớn cho ngời sản xuất.
Trong thêi gian qua, thùc tÕ th× cã mét sè diƯn tích trồng cây nông sản đà bị
phá bỏ nh: cà phê, cao su để trồng loại cây khác có lợi Ých kinh tÕ h¬n.

8


Vấn đề hiện nay là cần phải có những biện pháp lâu dài và trớc mắt để
giảm giá thành sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh.
ãVề chất lợng.
Có thể nói chất lợng nông sản xuất khẩu đợc cải thiện đáng kể ở hầu hết
các mặt hàng.
Chẳng hạn tỷ lệ gạo chất lợng cao (5-10% tấn) đà tăng từ 1% năm 1989
lên 85% năm 2000, tỷ lệ gạo chất lợng, thấp chỉ còn 22%. Tuy nhiên, đó chỉ
là tiến bộ trong cải thiện độ gÃy của gạo. Gạo 5% của Thái Lan hơn hẳn ta về
mùi vị, hình dáng, kích thớc và tỷ lệ thủy phân.
Cùng với gạo, chất lợng các hàng nông sản khác cũng có những tiến bộ
đáng kể nh mặt hàng cà phê, tỷ trọng cà phê loại 1 tăng từ 2% (vụ 95-96) lên
16% năm (99/2000), loại B giảm từ 80% (vụ 95/96) xuống còn 5% (vụ
99/2000) sang tỷ lệ thủy phân cao quá 13% thậm chí có cả hạt đen, mốc, vỡ,
lẫn nhiều tạp chất, quy cách, màu sắc, độ bóng, độ đồng đều cha đáp ứng tiêu

chuẩn quốc tế. Tỷ lệ cao su thợng hạng tăng từ 89,3% năm 97-98 lên 94,04%
năm 2000, tuy đà tăng đợc tỷ trọng hàng hóa phẩm cấp cao nhng mẫu mÃ
đơn điệu nên cha thâm nhập đợc vào phần thị trờng cao cấp và do đó giá bán
luôn thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh gây thua thiệt cho hoạt động
xuất khẩu. Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lợng cũng khá tốt nhng các
loại có chất lợng không đồng đều, tỷ lệ phế phẩm còn cao. Hầu hết trong
những năm gần đây, một số dây chuyền chế biến nông sản đợc nhập ngoại có
quy trình công nghệ tiên tiến nhng còn rất ít.
Nhìn chung, khoảng 70% sản lợng nông sản hàng năm đợc sơ chế tại
các hộ gia đình, chất lợng không cao. Gần 30% qua chế biến tại các cơ sở
công nghiệp có dây chuyền, phần lớn đà lạc hậu, sản phẩm dùng làm nguyên
liệu, do đó giá trị kim ngạch xuất khẩu không cao là điều tất yếu.
Tóm lại, cần phải nâng cao chất lợng của nông sản Việt Nam nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh trên trờng quốc tế.

9


ãVề hệ thống thu thập thông tin - dự đoán và nghiên cứu thị trờng.
Kinh doanh mặt hàng nông sản cđa c¸c doanh nghiƯp ViƯt Nam hiƯn
nay chđ u b»ng hình thức mua bán theo hợp đồng kỳ hạn, giá cả đợc xác
định dựa vào giá giao dịch nông sản trong ngày của thị trờng khu vực. Yếu tố
quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu nông sản là thông tin và các dữ liệu
thị trờng phải chính xác, kịp thời so với thị trờng thế giới để làm cơ sở phân
tích dự đoán thị trờng và đa ra các quyết định mua bán.
Đây là điều quan trọng nhất mà cũng chính là điều mà các nhà xuất
khẩu nông sản cđa ViƯt Nam ®ang thiÕu. Cã thĨ thÊy r»ng bé phận tham tán
thơng mại của Việt Nam ở nớc ngoài đà không thực hiện tốt việc thu thập và
cung cấp thông tin về thị trờng cho các doanh nghiệp. Chính vì vậy, nguồn
tin hạn hẹp duy nhất về thị trờng thế giới mà các doanh nghiệp Việt Nam có

đợc là nhờ mua của các hÃng nớc ngoài. Chính từ nguồn tin này và một số
nguồn tin hạn chế khác, kết hợp với kinh nghiệm và cảm tình kinh doanh của
doanh nghiệp để quyết định nh vậy. Việc mở các văn phòng đại diện ở nớc
ngoài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do chi phí cao. Chính vì vậy công việc thu
thập thông tin nghiên cứu thị trờng của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản
Việt Nam vẫn đà khó khăn nay lại càng khó khăn hơn, dẫn đến khả năng
cạnh tranh hàng nông sản của Việt Nam còn thấp. Vấn đề là phải nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản củng cố và phát triển các mối quan
hệ kinh doanh, tìm kiếm thị trờng, đối tác, khách hàng mới và khuyếch trơng
nhÃn hiệu riêng cho sản phẩm nông sản Việt Nam.
ãSự hỗ trợ của Chính phủ:
Trong những năm qua, trớc tình hình giá cả nông sản có những biến
động liên tục, gây bất lợi cho cả ngời sản xuất và các đơn vị hoạt động xuất
khẩu, để tháo gỡ khó khăn cho ngời sản xuất và nhà xuất khẩu thì Chính phủ
cũng đà nhiều lần hỗ trợ vốn và lÃi suất để dự trữ nhằm giảm áp lực bán ra để
10


tăng giá bán trên thị trờng. Đặc biệt trong tháng 9/2000 Chính phủ đà quyết
định hỗ trợ vốn và lÃi suất để dự trữ những mặt hàng nông sản bị giảm giá
mạnh khi bán ra trên thị trờng nh: dự trữ 60.000 tấn cà phê.
Một điều dễ nhận thấy là trong thêi gian qua ChÝnh phđ ViƯt Nam ®·
thùc hiƯn chính sách hỗ trợ tài chính xuất khẩu tơng đối hiệu quả. Các hình
thức trợ cấp xuất khẩu bao gồm giảm thuế xuất khẩu, giảm thuế nhập khẩu
các thiết bị máy móc chế biến hàng nông sản nhằm nâng cao chất lợng của
mặt hàng này, giảm thuế nhập khẩu các nguyên liệu dùng cho chế biến trong
nớc, thực hiện các loại tín dụng thơng mại u đÃi, giảm thuế quan bảo hộ và
tránh hạn ngạch xuất - nhập khẩu để giảm bớt sức hấp dẫn của thị trờng nội
địa, tăng tính hấp dẫn của thị trờng ngoài nớc. Kinh nghiệm vỊ gi¶m th

xt khÈu ë mét sè níc cho thÊy hiệu quả xuất khẩu tăng nhanh, đây là yếu
tố tích cực mà Việt Nam cần phát huy.
ãKhả năng tìm đầu ra của nông sản.
Tìm đầu ra cho nông sản là vấn đề đợc nhiều cơ quan chức năng quan
tâm, đặc biệt là những ngời trực tiếp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhà nớc
đà có chiến lợc lâu dài đợc quy hoạch tốt cho việc giải quyết đầu ra cho nông
sản là trách nhiệm của mình. Cùng với vấn đề tiêu thụ nông sản thì các cán
bộ cấp cao cũng kiến nghị với Chính phủ phải tính toán, cơ cấu lại sản xuất
hàng nông sản xuất khẩu, thực tế cho thấy Chính phủ đà làm điều này từ
nhiều năm trớc, nhng muốn chuyển đổi đợc cơ cấu phải có thời gian để nông
dân tin và làm theo. Hiện nay Chính phủ cũng đang tất bật tìm đầu ra cho
nông sản, nhất là gạo, điều, chè, mía, cà phê phải đảm bảo để năm 2001 này
xuất khẩu đợc hơn 4 triệu tấn gạo. Việc tìm kiếm này đà có những dấu hiệu
khả quan khi một số khách hàng đà quay lại nhập hàng nông sản của Việt
Nam. Sắp tới đây, doanh nghiệp sẽ đợc hỗ trợ nhiều hơn cho việc tìm kiếm
thị trờng.
Nói tóm lại, thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt
Nam trong thời gian qua là vấn đề rất đợc quan tâm, thực tế cho thấy rằng
trong quá trình hội nhập kinh tế, các mặt hàng nông sản của Việt Nam kể cả
11


tiêu thụ trong nớc lẫn xuất khẩu đà và đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt.
Khi nói đến cạnh tranh là phải nói tới vấn đề chất lợng, mẫu mÃ, giá cả, vệ
sinh,... trong những vấn đề này, điều để đợc ngời mua quan tâm trớc tiên là
giá cả. Trên thị trờng, ngời mua thờng so sánh giá cả mặt hàng cùng loại để
đi đến quyết định mua hay không mua. Nh vậy, giá là nội dung đầu tiên mà
các doanh nghiệp và ngời sản xuất phải quan tâm trong sự cạnh tranh để dành
thị phần trên thị trờng.
6. Đánh giá về khả năng cạnh tranh.


6.1. Cái đạt đợc

Trớc hết về điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất thuận lợi cho những cây
nông sản phát triển, đặc biệt là cà phê, cao su ở mảnh đất Tây Nguyên màu
mỡ. Bên cạnh đó đà hình thành đợc những vùng chuyên canh, sản xuất hàng
nông sản tập chung tạo ra nguồn sản lợng lớn (hiện nay đứng vị trí thứ 3 thế
giới) nhờ đó tạo nguồn thuận lợi cho việc cung cấp nguyên liệu cho các nhà
máy chế biến với số lợng và chất lợng cao, dự định theo yêu cầu kỹ thuật chế
biến. Mặt khác nó còn thuận tiện cho việc bố trí, xây dựng các nhà máy chế
biến phù hợp, gần vùng nguyên liệu.
Về năng suất, nhìn chung hàng nông sản Việt Nam hiện nay có năng
suất cao so với các nớc trên thế giới, chất lợng khá tốt, có hơng vị riêng là
một lợi thế mà các nớc khác ít có đợc. Vì vậy, trong một vài năm qua một số
thơng hiệu của nông sản Việt Nam đà hình thành và phát triển ở thị trờng
trong nớc cũng nh đà thâm nhập đợc vào một số thị trờng khó tính nớc ngoài
nh: Mỹ, Đức, ... Thơng hiệu cà phê Trung Nguyên, gạo tám Cần Thơ,... là
những minh chứng sống động. Chỉ trong một vài năm, các thơng hiệu này đÃ
đứng vững và khẳng định đợc vị trí ở thị trờng trong nớc và bắt đầu thâm
nhập vào thị trờng nớc ngoài.
Bên cạnh đó với sự quan tâm của Nhà nớc bằng những chính sách quản
lý xuất khẩu cụ thể, giúp đỡ ngời sản xuất và ngời chế biến về chính sách vốn
đà tạo thuận lợi cho vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông s¶n

12


Việt Nam trên thị trờng.
6.2. Những vấn đề còn tồn tại.


Bên cạnh những cái đạt đợc trên thì khả năng cạnh tranh của nông sản
Việt Nam còn nhiều khó khăn và tồn tại sau:
a. Những vấn đề còn tồn tại
Mặc dù năng suất cao, chất lợng tốt song chất lợng không đồng đều. Tỷ
lệ phế phẩm cao, chế biến nông sản theo các phơng pháp thủ công, phần lớn
thiết bị dây chuyền lạc hậu, không đồng bộ. Do vậy tiêu hao nguyên liệu cao
dẫn đến hiệu quả thấp, giá thành chế biến cao, khả năng cạnh tranh kém.
Mặc dù có một số công nghệ mới tiên tiến, hiện đại đợc nhập ngoại nhng còn
rất ít.
Hầu hết nông sản xuất khẩu đang ở dạng thô, nông sản qua chế biến rất ít.
Một tồn tại không chỉ đối với nông sản Việt Nam mà đối với tất cả các
mặt hàng của Việt Nam là năng lực quản lý sản xuất chế biến, xuất khẩu...
cha đáp ứng đợc yêu cầu trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là khâu
marketing. Mối liên kết kinh tế sống còn giữa các khâu chế biến, xuất khẩu
và cung ứng dịch vụ đầu vào cha đợc thiết lập để bảo đảm sự ổn định về số lợng, chất lợng theo yêu cầu của thị trờng.
Cũng nh các mặt hàng khác của Việt Nam, giá nông sản vẫn còn thất
thế so với các nớc xuất khẩu nông sản trên thế giới. Có thể nói nông sản Việt
Nam phải chịu sự chấp nhận giá.
b. Những nguyên nhân của những tồn tại trên.
Những tồn tại trên phần lớn do những nguyên nhân chủ quan gây ra,
bên cạnh đó cũng có những nguyên nhân khách quan khác.
Thứ nhất, do nguồn vốn đầu t vào công nghệ chế biến nông sản còn hạn
chế. Hiện tại hầu hết công nghệ chế biến đà lạc hậu, áp dụng phơng pháp chế
biến cổ điển.
Thứ hai, do kết cấu hạ tầng phục vụ cho bảo quản, dự trữ, vận chuyển,
bốc xếp... còn kém.
13


Thứ ba, do Việt Nam hòa nhập vào thị trờng nông sản thế giới trong bối

cảnh bị mất thị trờng truyền thống (Liên Xô và các nớc Đông Âu) trong khi
đó thị trờng nông sản thế giới, đợc hình thành từ lâu đời đà đợc phân chia rõ
rệt, chủ yếu nông sản Việt Nam bàn cho các nớc trung gian, do vậy giá cả
luôn thấp hơn mặt bằng giá chung của thế giới và phải chấp nhận giá.
Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân từ chính sách khuyến khích ngời
sản xuất của Nhà nớc, bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, sách nhiều...
làm nản lòng các nhà đầu t.
Đây là một số nguyên nhân chủ yếu làm cho nông sản xuất khẩu Việt
Nam kém khả năng cạnh tranh.

Chơng III
Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên
thị trờng trong quá trình hội nhập

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam, nhằm ổn
định, nâng cao chất lợng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê Việt Nam. các
doanh nghiệp, các ngành có liên quan cũng nh nhà nớc cần có những biện
pháp thích hợp và triển khai một cách đồng bộ.
Trớc hết, ngành cà phê cần chú ý thay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ
khâu trồng trọt. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao
chất lợng và từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Cả
nớc hiện có khoảng 375 ngàn ha phân bố trên nhiều địa bàn từ Bắc chí Nam.
Khu vực phía Bắc có diện tích nông sản không nhiều, năng suất không cao,
điều kiện thổ nhỡng, khí hậu không phù hợp với một số nông sản, nhng cà
phê lại phát triển tốt tại đây. Cần đa giống nông sản năng suất cao và chống
sâu bệnh vào khu vực trung du và miền núi phía Bắc, đáp ứng yêu cầu chất lợng của nông sản xuất khẩu. Khu vực các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông

14



Nam Bộ, là vùng trọng điểm của nông sản Việt Nam, chiếm phần lớn diện
tích, có điều kiện khí hậu, thổ nhỡng phù hợp cho cây nông sản, đặc biệt là
cây dài ngày. Cần chú ý đầu t thâm canh thay đổi giống để tăng năng suất.
Hạn chế trồng mới, chỉ tập trung thâm canh cây nông sản dài ngày, mở rộng
diện tích ở những vùng thích hợp để trong 10 năm tới cơ cấu nông sản Việt
Nam đạt tỷ lệ cao, vì nh vậy cà phê sẽ đạt chất lợng cao, tránh tình trạng nh
hiện nay có tới 95% cà phê với chỉ 5% cà phê chè, chất lợng kém, giá bán
thấp. Quy hoạch vùng sản xuất nông sản cần lu ý là hạn chế và đi đến chấm
dứt nạn phá rừng nguyên sinh để lấy đất trồng nông sản.
Tạo nguồn vốn cho đầu t, chế biến, thu mua là một trong những điều
kiện không thể thiếu đợc. Hiện tại nguồn vốn đầu t từ nhà nớc còn hạn chế,
việc tận dụng các nguồn vốn khác nhau để phát triển ngành nông sản là điều
tối cần thiết. Đối với nhà nớc, trớc hết cần đầu t trực tiếp hoặc gián tiếp thông
qua các chơng trình phát triển cơ sở hạ tầng tại các vùng trồng nông sản
trọng điểm. Ngoài ra, các doanh nghiệp nông sản cần tăng cờng huy động
vốn và vay ngân hàng. Cần nhanh chóng cổ phần hóa các doanh nghiệp nông
sản để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân c. Giải pháp này
cần u tiên bán cổ phiếu cho ngời lao động trực tiếp tham gia sản xuất, chế
biến nông sản ngân hàng cần nghiên cứu cho các doanh nghiệp vay vốn với
lÃi suất hợp lý để các doanh nghiệp ổn định đợc chân hàng xuất khẩu. Ngoài
ra, ngân hàng cần quan tâm giải quyết cho nông dân vay để mở rộng sản
xuất. Thành lập hệ thống tín dụng nông thôn để hỗ trợ kịp thời cho nông dân
bằng cách thành lập các ngân hàng thơng mại cổ phần, xây dựng các chi
nhánh ngân hàng nông nghiệp tại các vùng nông sản trọng điểm nhà nớc
cũng nên giao một phần các nguồn vốn trong đó có vốn xây dựng cơ bản, vốn
định canh, định c và xóa đói giảm nghèo cho các doanh nghiệp kinh doanh
nông sản (một lực lợng tích cực tham gia vào các chơng trình kinh tế xà hội
tại các vùng sản xuất nông sản) và tạo điều kiện cho ngành nông sản đợc sử


15


dụng một phần nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) để xây dựng
cơ sở hạ tầng, bên cạnh đó cần khuyến khích nhiều hơn nữa các doanh
nghiệp, kể cả nớc ngoài, đầu t vào ngành chế biến nông sản tạo ra nhiều sản
phẩm, giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế, tăng dần tỷ trọng các sản phẩm
chế biến có hàm lợng công nghệ và chất xám cao. Hoàn thiện hệ thống tổ
chức các doanh nghiệp nông sản có tác động quan trọng đến phát triển
ngành, các doanh nghiƯp sÏ thiÕt lËp hƯ thèng marketing chuyªn nghiªn cứu
về thị trờng sản phẩm, giá cả và có kế hoạch quảng cáo, khuyến mÃi cho phù
hợp. Còn lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đóng vai trò nh các vệ tinh
chuyên tổ chức thu mua, chế biến và cung ứng hàng xuất khẩu. Để đạt đợc
điều này các doanh nghiệp xuất khẩu phải gắn bó với nhau chặt chẽ, có kế
hoạch phân chia lợi nhuận cụ thể. Các doanh nghiệp lớn có trách nhiệm đầu
t, hỗ trợ về vốn, cơ sở hạ tầng, những giải pháp cải tiến chất lợng, mẫu mÃ
sản phẩm... cho ngời sản xuất và các doanh nghiệp làm nhiệm vụ cung ứng,
ngợc lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ có trách nhiệm cung ứng hàng bảo
đảm đúng chất lợng, mẫu mà theo yêu cầu xuất khẩu và đúng thời gian, địa
điểm, có nh vậy thì việc sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông sản mới hoạt
động có hiệu quả, việc xâm nhập thị trờng thế giới của nông sản Việt Nam
chắc chắn sẽ có những biến đổi mạnh mẽ.
Đầu t công nghệ chế biến hiện đại cho ngành nông sản là điều hết sức
cần thiết. Để tạo đà cho các doanh nghiệp nông sản phát triển và ứng phó kịp
thời với những thay đổi về chất lợng, giá cả... cần tập trung máy móc thiết bị
để chế biến nông sản thô ngay từ khi mới thu hoạch, nhằm đảm bảo chất lợng
ổn định, đồng đều. Đồng thời phải có dự án lựa chọn thiết bị hiện đại, đồng
bộ và có hiệu quả cao kết hợp việc nghiên cứu áp dụng các thiết bị chế biến
nhỏ, gọn ở khu vực trồng nông sản. Khuyến khích các doanh nghiệp kinh
doanh nông sản tập trung đầu t trang thiết bị để chuyển từ xuất khẩu thô

sang xuất khẩu nông sản chế biến. Đồng thời cần tập trung đầu t vào xây

16


dựng nhà máy chế biến nông sản chất lợng cao tại các vùng sản xuất nông
sản lớn có giá trị xuất khẩu cao, giá cả ổn định, bảo quản lâu dài. Trớc hết,
cần đầu t vào thiết bị sơ chế, phân loại, đánh bóng, đóng bao.
Việc bố trí cơ cấu giống hợp lý là hết sức cần thiết nhằm tăng năng suất,
nâng cao chất lợng và phòng chống sâu bệnh. Bên cạnh đó cần phải có chính
sách khuyến khích nghiên cứu các giống mới có năng suất và chất lợng cao,
phòng chống sâu bệnh, đồng thời nâng cao việc quản lý cây trồng và thu
hoạch. Trong thời gian tới công tác giống cần phát triển theo các hớng xây
dựng cơ cấu giống phù hợp với điều kiện sinh thái ở từng vùng, từng bớc tăng
diện tích nông sản ở miền Bắc và miền Trung. Cần tạo điều kiện cho các
trung tâm giống về vốn và thiết bị, tạo cơ hội cho cán bộ nghiên cứu tiếp cận
với các trung tâm giống của các nớc trong khu vực và thế giới.
Tăng cờng công tác khuyến nông thông qua Hiệp hội nông sản Việt
Nam phối hợp với Tổng công ty cà phê Việt Nam thực hiện việc đào tạo tập
huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc nông sản có sự phối hợp giúp đỡ của Cục
khuyến nông và Cục bảo vệ thực vật Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
cũng nh các trung tâm, chi cục của từng địa phơng. Công tác bảo vệ thực vật
là không thể thiếu trong quá trình gieo trồng, chăm bón cây nông sản. Trớc
hết các nhà sản xuất nông sản cần hợp tác với các trung tâm bảo vệ thực vật
để triển khai chơng trình phòng chống sâu bệnh cho cây trồng. Nhà nớc có
biện pháp tích cực để điều hành công tác nhập khẩu phân bón nhanh, đúng
chủng loại, từng bớc khuyến khích ngời dân sử dụng phân bón hữu cơ thay
thế phân hóa học, tăng hiệu quả cây trồng, giảm ô nhiễm môi trờng, tiết kiệm
chi phí phân bón trong sản xuất, từ đó giảm giá thành.
Nâng chất lợng sản phẩm nông sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng.

Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cần nghiên cứu và triển khai áp dụng
hệ tiêu chuẩn ISO 9000. Chỉ có áp dụng tốt hệ tiêu chuẩn này thì mới đạt đợc
mục tiêu nâng cao chất lợng sản phẩm, vào thị trờng thế giới vµ khu vùc.
17


Ngoài ra Việt Nam cũng cần tham gia vào chơng trình phối hợp khuyến
khích thơng mại của các nớc ASEAN gồm 15 mặt hàng nông-lâm-thủy-sản,
trong đó có mặt hàng cà phê, để từ đó xây dựng tiêu chuẩn chất lợng chung
ASEAN phù hợp với tiêu chuẩn chất lợng của WTO, tham gia luồng hàng
cùng loại của các nớc ASEAN vào thị trờng thế giới. Đội ngũ lao động kỹ
thuật lành nghề đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng suất và chất lợng sản phẩm. Các doanh nghiệp nông sản phải có kế hoạch tuyển dụng và
thờng xuyên bồi dỡng, tạo điều kiện để đội ngũ này đợc phát triển. Đây là
một việc làm quan trọng có tính chiến lợc cao, các doanh nghiệp cần chú ý
thực hiện.
Để tăng độ hấp dẫn của sản phẩm, cần chú ý đến bao bì đóng gói cà
phê. Để có bao bì phù hợp với từng loại sản phẩm, thị trờng, tập quán, cần
chú ý:
Thứ nhất, nông sản Việt Nam xuất khẩu chủ yếu bằng đờng biển do đó
bao bì phải có độ bền tốt, bảo vệ đợc hàng hóa trong quá trình bốc xếp, bảo
quản, vận chuyển. Bao bì của những sản phẩm nông sản chế biến phải gọn,
hợp vệ sinh, dễ trng bày, giữ đợc màu sắc, hơng vị, hình dáng của sản phẩm.
Thứ hai, bao bì phản ánh đầy đủ các thông tin chủ yếu về sản phẩm nh
thành phần, công dụng... hớng dẫn cách sử dụng sản phẩm, thời hạn sử dụng,
trọng lợng, giá cả... Việc thiết kế nhÃn hiệu sản phẩm nên theo hớng đơn giản
dễ gợi nhớ và mang ý nghĩa.
Nhng sản phẩm tốt mới chỉ là bớc đầu, sản phẩm đó phải đợc hoàn
thiện một cách liên tục mới có khả năng duy trì khách hàng cũ cũng nh thu
hút khách hàng mới. Các doanh nghiệp phải kiên trì lắng nghe ý kiến ở
khách hàng để biết những hạn chế trong sản phẩm của mình nhằm tìm cách

cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm. Ngoài ra nghiên cứu sản phẩm của
đối phơng cũng là một yếu tố giúp cải tiến sản phẩm ngày càng phù hợp với
ngời tiêu dùng.

18


Để cải thiện hệ thống thu mua phân phối nông sản, các doanh nghiệp
nông sản cần tập trung cải tiến cách thức tổ chức thu mua cho phù hợp với
từng vùng, từng loại nông sản, trớc khi thu hoạch nên có những đầu t cho
nông dân một cách hợp lý, khi thu hoạch cần tập trung cao độ về vốn thu
mua cà phê để thanh toán ngay cho nông dân. Bên cạnh đó cũng cần xây
dựng một hệ thống kho tàng phục vụ cho công tác chế biến bảo quản nông
sản ngay từ đầu nhằm giữ cho chất lợng nông sản ngày càng cao, đảm bảo đủ
chân hàng phục vụ tốt cho xuất khẩu. Bên cạnh việc tổ chức lại sản xuất,
ngành nên nghiên cứu hình thành một trung tâm giao dịch nông sản tại Buôn
Ma Thuột để đa thị trờng nông sản vào hoạt động có tổ chức.
Ngoài các biện pháp tổ chức thu mua trong cơ chế thị trờng giá nông
sản đợc thiết lập dới tác động của quy luật cung cầu và vận động theo quy
luật tự điều chỉnh. Sự vận động này tác động đến việc mở rộng hoặc thu hẹp
diện tích, đầu t thâm canh nông sản. Trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là
xuất nhập khẩu, việc xây dựng chính sách giá để bảo đảm mang lại hiệu quả
cao nhất, bán đợc nhiều sản phẩm nhất tạo điều kiện mở rộng thị trờng trong
và ngoài nớc là một vấn đề mang tính chất chiến lợc. Đối với việc định giá
sản phẩm xuất khẩu, nông sản Việt Nam đang tìm lại chỗ đứng trên thị trờng
do có rất ít thị trờng truyền thống, vì mục tiêu thâm nhập thị trờng nên giá
xác định phải sát với thị trờng không nên quá chú ý đến việc bù đắp lại chi
phí mà để mất lợi thế cạnh tranh trong thị trờng mới. Do lợi thế về năng suất
nông sản của Việt Nam cao, chi phí nhân công thấp do đó khả năng bù đắp
chi phí lớn, khi định giá cần phải linh hoạt cho phù hợp với từng loại thị trờng đảm bảo có lÃi và thâm nhập vào đợc thị trờng mục tiêu. Mặt khác nông

sản Việt Nam hầu hết đợc chế biến bằng phơng pháp ớt, trong khi đó hầu hết
các nớc khác đều áp dụng phơng pháp ớt (chế biến từ sản phẩm tơi). Do áp
dụng nớc khác từ 10% - 15%. Để đảm bảo cho ngời sản xuất, xuất khẩu
không bị ảnh hởng quá nhiều về biến động giá cả, ngành nông sản cÇn cã

19


những giải pháp về giá cả với cây nông sản Việt Nam. Cụ thể:
Về giá bán vật t: Nông phẩm là thị trờng cạnh tranh hoàn hảo, ở đó mỗi
ngời sản xuất chỉ cung ứng ra thị trờng phần nông sản rất nhỏ so với tổng
cung toàn xà hội nên họ không thể độc quyền về giá mà phải theo mức giá
hình thành khách quan trên thị trờng. ở Việt Nam giá nông sản thờng biến
động, đủ sức can thiệp vào mặt bằng giá thị trờng thì chỉ có nhà nớc thông
qua chính sách bảo hộ giá. Quỹ bình ổn giá của Chính phủ trong thời gian
qua có tác động nhất định nhng đối tợng thụ hởng tập trung vào doanh
nghiệp nhà nớc, ngời nông dân đợc bố trí ít. Vì vậy nhà nớc cần có nhiều
biện pháp bảo hộ, đáng chú ý nhất là bảo hộ thông qua chính sách đầu t. Biểu
hiện của biện pháp này là nhà nớc bán các vật t phục vụ cho quá trình sản
xuất nông sản với mức giá thấp hơn so với giá thị trờng. Biện pháp này sẽ có
tác dụng nâng cao lợi ích của ngời trồng nông sản, duy trì và phát triển diện
tích, kích thích ngời trồng cà phê đầu t thâm canh tăng năng suất, từ đó gia
tăng sản lợng. Mặt khác, biện pháp này còn có tác dụng đối phó với hiệp định
nông nghiệp do WTO đặt ra. Hiệp định này có những quy định làm tăng khả
năng cạnh tranh từ đó tăng khả năng tiếp cận thị trờng của các mặt hàng nông
sản.
Về trợ giá sản xuất: Đặc điểm sản xuất tiêu thụ hàng nông sản nói
chung là thời kỳ thu hoạch tập trung trong khoảng thời gian ngắn, trong khi
đó nhu cầu tiêu thụ rải rác dẫn đến trong thời kỳ thu hoạch, lơng cũng tăng
rất mạnh trong khi đó nhu cầu tiêu thụ không thay đổi dẫn đến giá nông sản

nói chung sẽ giảm, thậm chí có thời kỳ giảm xuống thấp hơn chi phí sản
xuất. Điều này ảnh hởng lớn đến lợi ích ngời trồng nông sản. Vì vậy để bảo
vệ quyền lợi của ngời sản xuất, nhà nớc cần công bố mức giá sẵn để các
doanh nghiệp biết và chấp hành. Mặt khác lợng nông sản Việt Nam luôn d
thừa, do đó nhà nớc cần phải giải quyết lợng d thừa này bằng cách sử dụng
quỹ dự trữ để mua hết lợng hàng d thừa này. Nhà nớc cần có chính sách hỗ
20


trợ cho các doanh nghiệp nh không tính lÃi suất đối với khoản tiền mà các
doanh nghiệp vay để mua nông sản dự trữ.
Để giải quyết về vấn đề giá cả, cùng với nhà nớc ngành nông sản cần
thành lập Quỹ hỗ trợ ngành cà phê.
Để hoàn thiện chiến lợc phân phối nông sản xuất khẩu các nhà sản xuất
kinh doanh cần chủ động tạo chân hàng ổn định bằng cách gắn sản xuất với
lu thông, tránh tình trạng ký hợp đồng xong mới đi thu gom hàng, tập trung
đầu t có chiều sâu vào những vùng sản xuất nông sản trọng điểm, xây dựng
hệ thống cơ sở chế biến kho tàng bảo quản. Ngoài ra cần từng bớc mở rộng
thị trờng thông qua tìm hiểu và tạo các kênh phân phối hiện có; các doanh
nghiệp cần thực hiện giao hàng xuất khẩu đúng thời gian quy định theo hợp
đồng tránh những khoản bồi thờng về giao chậm hàng lẽ ra không có làm vỡ
kế hoạch phân phối của nhà nhập khẩu, chế biến nông sản nớc ngoài.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh cả nông sản Việt Nam trên thị trờng
thế giới các doanh nghiệp nông sản Việt Nam cần phải thực hiện một số biện
pháp khác nh:
Tạo thơng hiệu riêng cho nông sản Việt Nam. Bất kỳ một sản phẩm nào
khi bán ra thị trờng thế giới đều gắn liền với thơng hiệu của nó. Thơng hiệu
phản ánh chất lợng, đặc trng, uy tín của sản phẩm và tạo ấn tợng dễ nhớ sản
phẩm ở ngời tiêu dùng. Nền tảng cơ bản ban đầu để hình thành và phát triển
thơng hiệu chính là thị trờng tiêu thụ trong nớc. Sản phẩm với một thơng hiệu

cụ thể, nếu đà chiếm lĩnh đợc thị trờng trong nớc thì cơ hội thâm nhập thị trờng nớc ngoài sẽ thuận lợi hơn. Vì vậy các doanh nghiệp nông sản Việt Nam
nên thực hiện chơng trình kích cầu trong nớc, khai thác thị trờng nội địa nhằm
tạo một thị trờng tiêu thụ nông sản rang xay, giảm bớt lợng xuất nông sản
nhân với giá thấp hơn, tạo thơng hiệu riêng cho nông sản Việt Nam. Có nh vậy
mới có thể đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản, tăng lợi nhuận thu về

21


cho đất nớc, cho ngời sản xuất, và tạo đợc nhiều công ăn việc làm góp phần
giảm thất nghiệp.
Tổ chức hệ thống thu thập thông tin - dự đoán thị trờng: với điều kiện
hạn chế về thông tin cho các doanh nghiệp kinh doanh nông sản thì để nâng
cao hiệu quả kinh doanh, nhà nớc nên tổ chức một hệ thống thu thập và
phân tích thông tin để cung cấp kịp thời cho doanh nghiệp làm cơ sở ra
quyết định mua bán. Đặc biệt là nâng cao nhiệm vụ và chức năng của bộ
phận tham tán thơng mại ở nớc ngoài. Ngoài ra nhà nớc cần hỗ trợ và tạo
điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp xuất khẩu mở văn phòng đại diện
ở nớc ngoài để củng cố và phát triển mối quan hệ kinh doanh, tìm kiếm thị
trờng, khách hàng mới và khuếch trơng nhÃn hiệu hàng hóa Việt Nam.
Việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trờng trong nớc và thế giới bằng những giải pháp hợp lý nhằm tránh gây những
thiệt hại không đáng có trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất
khẩu là cần thiết, việc nghiên cứu và áp dụng đồng bộ các giải pháp trong sản
xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản là quan trọng đòi hỏi từ ngời nông dân
trực tiếp gieo trồng thu hái nông sản đến các doanh nghiệp, các cơ quan nhà
nớc có liên quan phải nghiên cứu và triệt để áp dụng.

22



Kết luận
Trong quá trình hội nhập hiện nay vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh
của sản phẩm Việt Nam là một đòi hỏi rất lớn, là vấn đề sống còn của các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng nh toàn bộ nền kinh tế đất nớc. Vì
vậy, các doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách cần xem xét và nhận
thức một cách đúng đắn về khả năng cạnh tranh để đa sản phẩm Việt Nam
lên một bớc tiến mới đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của các nớc khác không
những ở thị trờng trong nớc mà còn ở các thị trờng lớn hơn.
Nông sản cũng nh các sản phẩm khác của Việt Nam không nằm ngoài
đặc điểm đó.
Trong những năm qua nông sản Việt Nam đà có những bớc tiến rất lớn
trong việc sản xuất, chế biến và thúc đẩy xuất khẩu. Đem lại một nguồn thu
ngoại tệ lớn cho ngân sách. Mặc dù đà đạt đợc một số thành tựu: sản lợng
lớn, năng suất cao, lợng xuất khẩu liên tục tăng... Nhng nhìn chung vẫn cha
đáp ứng đợc đòi hỏi của thị trờng. Nông sản Việt Nam vẫn còn kém sức cạnh
tranh so với các nớc sản xuất nông sản khác trên thế giới: cha có đợc tiếng
nói riêng của mình, giá cả không ổn định, chất lợng tuy cao nhng không
đồng đều, công nghệ chế biến thô sơ lạc hậu... Bên cạnh đó còn ít những
chính sách cụ thể để khuyến khích ngời sản xuất, chế biến cũng nh ngời xuất
khẩu nông sản Việt Nam. Chính vì vậy việc nghiên cứu thực hiện đồng bộ
các giải pháp trong sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông sản là cần thiết và
quan trọng đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều cơ quan các cấp có liên quan.
Trong bài viết này, em đa ra một số quan điểm về khả năng cạnh tranh
của sản phẩm, các tiêu thức và chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản
phẩm cũng nh vai trò của nó đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đặc biệt với sản phẩm nông sản. Bài viết đà đa ra một bức tranh toàn
cảnh về tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Việt Nam trong thời

23



gian qua, những cái đà đạt đợc và những vấn đề còn tồn tại về khả năng cạnh
tranh. Từ đó đề xuất một số giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập.

24


Tài liệu tham khảo
1. Lê Quốc Bảo: Cạnh tranh về chất lợng - sự sống còn của doanh nghiệp Tạp chí TCĐLCL số 3 (20) - 2001.
2. TS. Trơng Đình ChiÕn. NhËn thøc vỊ hƯ thèng c¹nh tranh trong kinh doanh Tạp chí KT và PT. Số 50 tháng 8/2001. Trang 41, 42, 43, 44, 45.
3. Nguyễn Đắc Hng. Những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao giá trị
xuất khẩu cà phê Việt Nam - Tạp chí PTKT. Số 124 - Tháng 2/2001
trang 22, 23.
4. Tô Văn Hng. Vai trò quản trị trong công việc xây dựng lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp dựa trên công nghệ. Tạp chí PTKT.
5. TS. Ngô Thị Hoài Lam. Một số ý kiến về vấn đề nâng cao khả năng cạnh
tranh của công nghiệp Việt Nam. Công nghiệp 9/2000 trang 16, 17.
6. Hoài Linh. Để cà phê Việt Nam có vị thế trên trờng qc tÕ. TBKTVN. Sè
73/1997.
7. Ngun HiÕu Léc. Ph©n tÝch cung cầu và giải pháp điều tiết nông sản trên
thế giới trong thời gian qua. Định hớng phát triển ngành nông sản Việt
Nam. Tạp chí PTKT - Số 127 tháng 5/2001, trang 21, 22.
8. Nguyễn Đình Long. Công nghệ chế biến - động lực nâng cao vị thế giá trị
nông sản Việt Nam. Tạp chí TM số 7 năm 2000, trang 8.
9. GS. Nguyễn Thiệu Nhân. Lời giải để doanh nghiệp Việt Nam giành thắng lợi
trong cạnh tranh. Tạp chí hoạt ®éng khoa häc sè 2/1998, trang 42-44.
10. Perters G.H. Kh¶ năng cạnh tranh của doanh nghiệp - Dartmouch 1995.
11. TS. Nguyễn Xuân Quang. Giáo trình marketing Thơng mại. NXB Thống kê.

12. Trần Bá Thế. Thực trạng sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu và những giải pháp
về giá cả để phát triển cây nông sản ở Việt Nam. Tạp chí PTKT - Số 125
tháng 3/2001, trang 29-31.
13. Anh Thi. Nông sản ViƯt Nam lÐp vÕ. TBKT ViƯt Nam sè 7/1997.
14. Ngun Phạm Hải. Nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt
Nam trên thị trờng thế giới. Tạp chí PTKT. Trang 25, 26.
25


×