Tải bản đầy đủ (.pdf) (40 trang)

LUẬN VĂN: Bàn về vấn đề tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong kế toán tài chính doanh nghiệp doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (524.23 KB, 40 trang )
















LUẬN VĂN:

Bàn về vấn đề tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm
trong kế toán tài chính doanh nghiệp









Lời mở đầu


Bước sang thế kỷ XXI, xu hưóng toàn cầu hoá đặt các quốc gia vào vòng
quay của sự cạnh tranh khốc liệt về mọi mặt, đặc biệt là về lĩnh vực kinh tế. Việt
Nam cũng không nằm ngoài vòng quay đó.
Để tiến tới việc gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) trong vài
năm tới, đất nước ta không ngừng nỗ lực phấn đấu phát triển kinh tế, đổi mới cơ
chế kinh tế cho phù hợp với tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế.
Một công cụ rất quan trọng phục vụ đắc lực cho việc quản lý kinh tế quốc
dân nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng là kế toán. Kế toán giúp cho
các doanh nghiệp, các cổ đông, các nhà quản lý thấy rõ được thực chất quá trình
sản xuất kinh doanh bằng những số liệu chính xác, cụ thể, khách quan và khoa
học. Là một trong các thành phần quan trọng của kế toán, hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm với chức năng giám sát và phản ánh trung thực,
kịp thời các thông tin về chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, tính đúng, tính đủ
chi phí sản xuất vào giá thành của sản phẩm sẽ giúp cho các nhà quản trị chỉ ra
được phương án, biện pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả chi phí sản xuất nhằm hạ
giá thành sản phẩm. Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là công cụ
hữu hiệu giúp các nhà quản trị lựa chọn phương án sản xuất tối ưu, xác định
được tính khả thi của phương án đó, đồng thời định vị được giá bán sản phẩm,
đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm, em chọn đề tài: “Bàn về vấn đề tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong kế toán tài chính doanh nghiệp” cho
đề án môn học của mình với mong muốn tìm hiểu cụ thể hơn cách vận dụng
công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp nói chung, đồng thời có thể đóng góp một phần đề xuất của mình nhằm
hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
kế toán tài chính Việt Nam.
Nội dung đề án môn học ngoài lời mở đầu và kết luận gồm 3 phần chính
như sau:




Phần 1: Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Phần 2: Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành.
Phần 3: Một số nhận xét và đề xuất cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong kế toán tài chính doanh nghiệp ở
Việt Nam.

















Phần I: Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm

I. chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.
I.1.Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.

Đối với một quá trình sản xuất, chi phí sản xuất luôn là yếu tố quan trọng
quyết định việc hình thành nên sản phẩm. Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà
doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một
thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Hay có thể nói, chi phí sản xuất là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để
thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự
chuyển dịch vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố vào các đối tượng tính giá
(sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).
Với mỗi một doanh nghiệp, chi phí là tập hợp các khoản chi phí phát sinh
trong một kỳ hạch toán. Tổng số các khoản chi ra trong một kỳ của doanh nghiệp
bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc đã tiêu dùng hết trong quá trình sản
xuất tính vào kỳ hạch toán.
Vì vậy cần phân biệt giữa chi phí và chi tiêu. Chi phí của kỳ hạch toán là
những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản
xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Ngược lại,
chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh
nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Chi tiêu trong một doanh nghiệp
bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp, chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh
doanh và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ.
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với
nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi
phí.Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản
hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này.
Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thời
gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí (chi mua



nguyên vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào

chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước). Sở dĩ có sự khác
biệt giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận
động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản
xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.
I.2.Phân loại chi phí sản xuất
Có rất nhiều cách phân loại chi phí tuỳ theo mục đích và yêu cầu của công
tác quản lý. Sau đây là một số cách phân loại thường được áp dụng phổ biến
trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán
tài chính.
I.2.1.Phân loại theo yếu tố chi phí:
Cách phân loại này giúp cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung
kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến địa điểm phát sinh của chi
phí và chi phí được dùng cho mục đích gì. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam,
toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố:
-Yếu tố nguyên,vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.sử dụng vào sản xuất kinh doanh
(trừ giá trị vật liệu không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với
nhiên liệu, động lực).
-Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong
kỳ (trừ số không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
-Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương
và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên chức.
-Yếu tố khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định
phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
-Yếu tố bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: phản ánh phần
BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ
cấp lương phải trả CNVC.
-Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng vào sản xuất kinh doanh.




-Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại này có tác dụng hữu hiệu trong quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh, nó cho biết cơ cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong doanh nghiệp;
đồng thời cho phép xác định hao phí và thu nhập của doanh nghiệp và của nền
kinh tế.
I.2.2. Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm:
Dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng loại đối
tượng; đồng thời để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, theo quy định
hiện hành, chi phí được phân chia thành 5 khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Cách phân loại này có tác dụng tốt cho công tác quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm, phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch làm tài liệu tham khảo để lập mức chi phí sản xuất và
lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau.
Trên đây chỉ là một số cách phân loại phổ biến, ngoài ra còn nhiều tiêu thức
phân loại khác như theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, theo nội dung cấu
thành chi phí . Mỗi cách đều có những tác dụng riêng, vì vậy các doanh nghiệp
cần lựa chọn phương án phân loại phù hợp nhất để đáp ứng hiệu quả nhất cho
công tác quản trị và hạch toán .
II .Giá thành và phân loại giá thành sản phẩm:
II.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về

lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến
khối lượng công tác và sản phẩm, lao vụ hoàn thành.
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm cả 2 mặt: mặt hao
phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh và



các chi phí phát sinh có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã
hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Có 2 chỉ tiêu giá thành:
- Tổng giá thành: là toàn bộ chi phí liên quan đến toàn bộ số lượng sản
phẩm, dịch vụ hoàn thành, chỉ phản ánh quy mô của doanh nghiệp .
- Giá thành đơn vị sản phẩm: là chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩmhoặc dịch vụ hoàn thành, phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất kinh
doanh.
Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản
phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng
công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Giá thành là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá và là một
chỉ tiêu tính toán không thể thiếu được trong nguyên tắc hạch toán kế toán. Giá
thành sản phẩm chỉ gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá
trình sản xuất tiêu thụ mà phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp chứ
không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của
các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có
liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống.
Như vậy, giá thành sản xuất được tính toán xác định cho từng loại sản
phẩm hoặc từng lao vụ cụ thể và tính toán với những sản phẩm đã hoàn thành
giai đoạn sản xuất (thành phẩm hoặc kết thúc một số giai đoạn công nghệ bán
thành phẩm)

II.2. Phân loại giá thành sản xuất:
Với mục tiêu đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá
giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét
dưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Căn cứ vào lý luận và thực tế doanh
nghiệp, giá thành được phân chia thành các loại khác nhau.
II.2.1. Phân loại theo thời gian và nguồn số liệu để tính giá thành:
Theo cách phân loại này giá thành được phân làm 3 loại: giá thành kế
hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.



- Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào
kinh doanh trên cơ sở giá thành thức tế kỳ trước và các định mức, các dự toán
chi phí của kỳ kế hoạch.
- Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Nhưng khác ở chỗ, giá
thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại
từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn thay đổi
phù hợp với sự thay đổi định mức của các định mức chi phí trong quá trình thực
hiện kế hoạch hạ giá thành. Còn giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở
các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch
- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí
thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức các
giải pháp kinh tế kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở xác
định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác
định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ
đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
II.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí:

Theo cách phân loại này, giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá
thành tiêu thụ:
-Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Giá thành sản xuất sản phẩm được
dùng để ghi sổ cho sản phẩm hoàn thành nhập kho hoặc đã giao cho khách hàng.
Giá thành sản phẩm là cơ sở để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp cho doanh
nghiệp.
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ thành phẩm. Giá thành tiêu
thụ được tính theo công thức:



Z toàn bộ Z sản xuất Chi phí Chi phí
của sản phẩm = của sản + quản lý + tiêu thụ
tiêu thụ phẩm doanh nghiệp sản phẩm

Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh
doanh (lãi, lỗ) cuả từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh
doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi
phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách
phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật nghiên cứu ít được áp dụng.

III. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Qua bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành, có thể
thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng: giá thành sản phẩm là biểu hiện
bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào
nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩmđã hoàn thành trong kỳ.

Về thực chất, đây là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất. Vì chi phí sản
xuất biểu hiện mặt hao phí, còn giá thành sản phẩm lại biểu hiện mặt kết quả. Số
liệu tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm hay nói cách
khác việc tính giá thành sản phẩm phải dựa vào các thông tin thu thập được về
chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều giống nhau về chất là đều bao
gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra
trong quá trình chế tạo sản phẩm.
Chúng khác biệt ở chỗ: chi phí sản xuất luôn gắn với thời kỳ phát sinh, còn
giá thành lại gắn với khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Chi phí sản xuất không chỉ liên quan đến sản phẩm hoàn thành mà còn liên
quan đến các sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, còn giá thành sản
phẩm không liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng
lại liên quan đến giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ trước chuyển sang. Tổng giá
thành sản phẩm thường không trùng với tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Tổng Z CPSX CPSX CPSX



sản phẩm = dở dang + phát sinh - dở dang
hoàn thành đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ bằng giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
hoặc các ngành không có sản phẩm dở dang thì:
Tổng Z SP hoàn thành = Tổng chi phí phát sinh trong kỳ
Như vậy có thể thấy nếu việc tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ không chính
xác sẽ có ảnh hưởng lớn tới việc tính giá thành sản phẩm gây khó khăn cho công
tác quản lý của các nhà quản trị.
IV. phương pháp hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm ở một số
nước trên thế giới
IV.1. Tại Cộng hoà Pháp:

IV.1.1. Chi phí:
Tại Pháp, chi phí được hiểu là số tiền bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết nhằm
tạo ra sản phẩm mang lại lợi cho xí nghiệp.
Các chi phí gồm hai bộ phận:
+ Chi phí mua hàng hoá vật tư, các loại dự trữ cho sản xuất.
+ Các phí tổn phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh .
IV.1.2. Về giá thành:
Trong một đơn vị sản xuất người ta phân thành ba loại giá phí cơ bản sau:
+ Giá phí tiếp liệu: bao gồm giá trị nguyên vật liệu mua vào ghi trên hoá đơn
và các chi phí về mua như chuyên chở, bảo hiểm, bảo quản;
+ Giá phí sản xuất : bao gồm giá phí vật liệu sử dụng trong sản xuất và các chi
phí về sản xuất như nhân công, tu bổ sửa chữa, khấu hao;
+ Giá phí phân phối: bao gồm các chi phí về tiêu thụ sản phẩm, chi phí vận
chuyển, bao bì đóng gói, thuế, bảo hiểm giá phí này còn được gọi là giá phí tiêu
thụ.
Giá thành sản phẩm bao gồm giá phí sản xuất và giá phí phân phối.
IV.1.3.Trình tự hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm :
Trình tự hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Pháp được tiến hành
qua các bước sau:
Bước 1: tính giá tiếp liệu



Bước 2: tính giá phí sản xuất
Bước 3: tính giá phí phân phối
Bước 4: tính giá thành sản phẩm
Công thức:
Z sản phẩm = giá phí sản xuất + giá phí phân phối
Như vậy, bản chất và nội dung của chi phí trong kế toán Pháp về cơ bản giống
kế toán Việt Nam, song về chỉ tiêu giá thành thì lại có sự khác biệt về phạm vi

tính toán:
+ Trong kế toán Pháp:
Z sản phẩm =giá phí sản xuất + giá phí phân phối
hay Z sản phẩm =Z công xưởng+chi phí bán hàng
+ Trong kế toán Việt Nam:
Z sản phẩm = tổng CPSX
hay Z sản phẩm = Z công xưởng
Như vậy, đối với cùng một sản phẩm do một nhà máy sản xuất ra thì giá
thành của nó khi tính như trong kế toán Pháp sẽ lớn hơn khi tính như trong kế
toán Việt Nam (khoản chênh lệch này đúng bằng chi phí bán hàng (hay giá phí
phân phối).
Về phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, kế toán tài chính Pháp chỉ sử
dụng phương pháp kiểm kê định kỳ. Còn phương pháp kê khai thường xuyên
được sử dụng đới với kế toán quản trị.
IV.2. Tại Mỹ:
IV.2.1.Về chi phí :
Chi phí được Walter B.Meigs và Robert F.Meigs định nghĩa trong cuốn ‘ Kế
toán cơ sở của các quyết định kinh doanh “ như sau:
“ Chi phí là giá các hàng hoá và dịch vụ đã sử dụng trong quá trình tạo ra doanh
thu. Đôi khi chi phí được xem là cái giá phải trả cho việc tiến hành kinh doanh .
Do đó, chi phí là giá các hàng hoá và dịch vụ đã sử dụng nên còn được gọi là giá
đã tiêu hao”
Trong một xí nghiệp sản xuất thì các chi phí liên quan trực tiếp đến việc chế
tạo ra sản phẩm thì được gọi là chi phí sản xuất (chi phí sản phẩm).



IV.2.2. Giá thành và việc tính giá thành sản phẩm :
Giá thành (hay giá phí) trong kế toán Mỹ được chia làm 2 loại:
- Giá thành sản phẩm (giá phí sản xuất ): là các giá phí liên quan đến quá trình

sản xuất sản phẩm .
- Giá thành (giá phí) chung cho kỳ: là các giá phí liên hệ đến các hoạt động
bán hàng và các hoạt động chung của kỳ kế toán. Như vậy, giá thành chung bao
gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp .
Đối với một xí nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ thì việc tính giá
thành sản phẩm được thực hiện thông qua tài khoản tổng hợp sản xuất . Tài
khoản này được sử dụng vào cuối kỳ nhằm tập hợp các yếu tố khác nhau và để
tính giá thành thành phẩm sản xuất ra ( tương tự như TK 631-giá thành sản xuất
trong kế toán Việt Nam)
Đối với một xí nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ thì việc tính giá
thành sản phẩm được thực hiện thông qua hệ thống kế toán giá thành :
Hệ thống kế toán giá thành: là một phương pháp triển khai thông tin giá thành
về từng sản phẩm hay các hoạt động kinh doanh cụ thể trong khuôn khổ các tài
khoản sổ cái chung.
Hệ thống kế toán giá thành nhằm hai mục đích là : xác định chi phí của sản
xuất cho một đơn vị sản phẩm và cung cấp thông tin cho kiểm soát các chi phí
hoạt động kinh doanh .
Các hệ thống kế toán giá thành đòi hỏi phải có sổ sách kê khai thường xuyên
vì nó cho thấy giá thành của hàng lưu kho hiện có.
Từ các đặc điểm trên có thể rút ra kết luận sau:
Các nước mặc dù có các cách diễn đạt khác nhau về nội dung của chi phí
song đều thống nhất với nhau về bản chất của chi phí . Đối với chỉ tiêu giá thành,
do sự khác biệt trong quan niệm về chức năng và phạm vi nên chỉ tiêu giá thành
được xác định khác nhau.
Về trình tự tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm nhìn chung là giống
nhau và dựa trên hai phương pháp hạch toán hàng tồn kho là phương pháp kê
khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ, với đặc điểm tổ chức sản
xuất và quy trình công nghệ của đơn vị.






















Phần II: Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm theo chế độ kế toán
hiện hành ở Việt Nam
I. hạch toán chi phí sản xuất .
I.1.Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
I.1.1.Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:
Xác định đối tượng hạch toán trong chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và
quan trọng của tổ chức hạch toán quá trình sản xuất. Xác định đối tượng hạch
toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất
là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí.
Để xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất một cách hiệu quả cần dựa

trên một số căn cứ sau:
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quy trình sản xuất sản
phẩm khép kín 2 phân đoạn, sản xuất một hay nhiều loại sản phẩm, có một hay
nhiều phân xưởng sản xuất).
-Yêu cầu thông tin của công tác quản lý và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Như vậy, căn cứ vào đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp mà đối tượng
hạch toán chi phí có thể là:
-Từng chi tiết, bộ phận sản phẩm,từng sản phẩm riêng biệt, nhóm sản phẩm
hay đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, bộ phận,giai đoạn công nghệ sản xuất.
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
I.1.2.Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống
các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất
trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Phương pháp hạch toán
chi phí sản xuất thường bao gồm các phương pháp sau:
* Phương pháp hạch toán theo công việc: theo phương pháp này đối tượng tập
hợp chi phí được xác định theo từng loại sản phẩm, công việc, từng đơn đặt hàng
*Phương pháp hạch toán theo quá trình sản xuất: đối với phương pháp này,
người ta không xác định chi phí cho từng loại sản phẩm hoặc công việc cụ thể



mà thay vào đó chi phí được tập theo từng công đoạn hay từng bộ phận, từng
phân xưởng sản xuất khác nhau của doanh nghiệp.
*Phương pháp liên hợp: đây là phương pháp mà trong đó sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau để tập hợp chi phí sản xuất nhằm khắc phục nhược điểm
và phát huy ưu điểm của từng phương pháp .
Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng, đều đem lại hiệu quả
nhất định cho công tác hạch toán chi phí sản xuất. Để tối ưu hoá tính hiệu quả

của từng phương pháp đòi hỏi các doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm thực
tế của doanh nghiệp để tìm ra phương pháp phù hợp nhất.
I.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
I.2.1.Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên:
I.2.1.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
* Khái niệm :
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu… được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm.
Thông thường chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng tập hợp chi phí do đó có thể tổ chức tập hợp theo phương pháp ghi
trực tiếp.
* Tài khoản sử dụng: TK 621-chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(CPNVLTT). Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi
phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất…)
Kết cấu tài khoản bao gồm:
Bên Nợ: giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm hay
thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Bên Có: - giá trị vật liệu xuất dùng không hết
-kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp
TK 621 cuối kỳ không có số dư.
*. Phương pháp hạch toán :
- Khi xuất kho NVL sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện
lao vụ, dịch vụ:
Nợ TK 621 ( chi tiết theo từng đối tượng)



Có TK 152: giá trị thực tế xuất dùng theo từng loại
- Nhận vật liệu về không nhập kho mà xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản
phẩm, kế toán ghi:

Nợ TK 621(chi tiết cho từng đối tượng )
NợTK 133 (1331): thuế GTGT được khấu trừ
Có 331,111,112: NVL mua ngoài
Có TK 411: nhận cấp phát, liên doanh
Có TK 154: NVL tự sản xuất hay thuê ngoài gia công
- Vật liệu xuất dùng không hết nhập kho hay kết chuyển kỳ sau, kế toán ghi:
Nợ TK 152: (chi tiết vật liệu)
Có TK 621: (chi tiết theo từng đối tượng)
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng để tính
giá thành, kế toán ghi:
Nợ TK 154: (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 621: (chi tiết theo từng đối tượng)
Chú ý:
*Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá
thực tế NVL xuất dùng sẽ bao gồm cả thuế GTGT.
*Giá trị vật liệu còn lại kỳ trước không nhập kho mà để tại bộ phận sử
dụng sẽ được kế toán ghi vào đầu kỳ sau bằng bút toán:
Nợ TK 621: (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 152: giá thực tế xuất dùng không hết kỳ trước.
I.2.1.2.Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
*. Khái niệm:
CPNCTT bao gồm những khoản thù lao phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất sản phẩm như tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất
lương (phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp độc hại… ). Ngoài ra,
CPNCTT còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn do chủ lao động chịu và được tính vào CPSX theo
một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất




*. Tài khoản sử dụng: TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT) - tài
khoản này được chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất .
Kết cấu của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: CPNCTT sản xuất sản phẩm
Bên Có: kết chuyển các chi phí vào tài khoản tính giá thành
TK 622 cuối kỳ không có số dư
*Phương pháp hạch toán CPNCTT :
- Tính ra tổng số tiền lương và phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất sản phẩm, kế toán ghi:
Nợ TK 622 : (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 334: tổng số tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất sản phẩm
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí theo tỷ lệ quy định:
Nợ TK 622: (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 338 : tổng các khoản trích theo lương là 19%
Chi tiết: 3382 trích KPCĐ là 2% lương vào chi phí.
3383 trích BHXH là 15% lương vào chi phí.
3384 trích BHYT là 2% lương vào chi phí.
- Tiền lương tính trước vào chi phí và các khoản tiền lương tính trước vào chi
phí khác (ngừng sản xuất theo kế hoạch) với những doanh nghiệp sản xuất mang
tính thời vụ, kế toán ghi:
Nợ TK 622 : (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 335 : tiền lương trích trước
- Cuối kỳ kết chuyển các chi phí vào tài khoản tính giá thành :
Nợ TK 154: ( chi tiết theo đối tượng)
Có TK 622: (chi tiết theo đối tượng).
I.2.1.3. Hạch toán chi phí sản xuất chung (CPSXC):
*Khái niệm: CPSXC là những chi phí cần thiết khác để sản xuất sản phẩm ngoài
CPNVLTT và CPNCTT .
CPSXC là các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, các bộ phận

sản xuất của doanh nghiệp



*Tài khoản sử dụng để hạch toán CPSXC :
Để hạch toán CPSXC, kế toán sử dụng TK 627- Chi phí sản xuất chung -
tài khoản này được mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất. Nội
dung phản ánh của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: CPSXC thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có: -các khoản ghi giảm CPSXC
-kết chuyển CPSXC và CPSX sản phẩm
TK627 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành sáu tiểu khoản:
6271: Chi phí nhân viên phân xưởng bao gồm lương và các khoản trích
theo lương của nhân viên phân xưởng vào chi phí.
6272: Chi phí vật liệu.
6273: Chi phí dụng cụ sản xuất .
6274: Chi phí khấu hao TSCĐ.
6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
6278: Chi phí bằng tiền khác.
Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu quản lý mà TK 627 có thể mở thêm một số tiểu
khoản khác để phản ánh một số nội dung hoặc yếu tố chi phí .
*. Phương pháp hạch toán CPSXC : Theo Thông tư số 89/2002/TT-BTC về
việc hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” có quy định về
việc tập hợp CPSXC cố định như sau:
- Khi phát sinh CPSXC cố định trong kỳ, kế toán ghi:
Nợ TK 627 : (chi tiết theo từng tiểu khoản)
Có TK 334 :tiền lương nhân viên phân xưởng
Có TK 338: các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ
Có TK 152 : chi phí vật liệu dùng chung trong phân xưởng
Có TK 153: chi phí công cụ dụng cụ cho sản xuất ( loại phân bổ một lần)

Có TK142 : chi phí trích trước (gồm cả chi phí CCDC phân bổ nhiều lần)
Có TK 214 : chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất
Có TK liên quan( 111,112,331,335, ): chi phí dịch vụ mua ngoài, chi
phí trích trước
- Các khoản ghi giảm CPSXC , kế toán ghi:



Nợ TK liên quan (111,112,152,138, )
Có TK 627 : (chi tiết theo từng tiểu khoản)
- Cuối kỳ tiến hành phân bổ và kết chuyển CPSXC cố định vào chi phí chế
biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường, kế toán ghi:
Nợ TK 154 : chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 627: ( chi tiết CPSXC cố định)
Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình
thường thì kế toán phải tính và xác định CPSXC cố định phân bổ vào chi phí chế
biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo công suất bình thường. Khoản chi phí sản
xuất chung cố định không phân bổ (không tính vào giá thành sản phẩm số chênh
lệch giữa tổng CPSXC cố định thực tế phát sinh lớn hơn CPSXC được tính vào
giá thành sản phẩm) được ghi nhận vào giá vốn hàng bán rong kỳ, ghi:
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán - (chi tiết CPSXC cố định)
Có TK 627: CPSXC
Ta có công thức phân bổ CPSXC :
Mức phân bổ Tổng CPSXC cần phân bổ Tổng tiêu thức
CPSXC cho = x phân bổ của
từng đối tượng Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng
các đối tượng
Tiêu thức phân bổ có thể là: định mức hoặc giờ làm việc thực tế của công nhân
trực tiếp sản xuất, tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất
Lưu ý:

+ Nếu đơn vị nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì số thuế đầu vào được khấu
trừ có liên quan, kế toán hạch toán vào TK 133 (1331) - thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ.
+ Nếu đơn vị nộp thuế theo phương pháp trực tiếp thì kế toán sẽ hạch toán vào
chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào của yếu tố chi phí đó (nếu có)
I.2.1.4. Tổng hợp CPSX, kiểm kê-đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá
thành sản phẩm:



I.2.1.4.1. Tổng hợp CPSX
Sau khi đã hạch toán và phân bổ các loại CPSX , cuối cùng các chi phí đó
phải được tổng hợp lại để tính giá thành sản phẩm.
Tài khoản sử dụng để tổng hợp CPSX là TK 154- CPSX kinh doanh dở dang.
Nội dung phản ánh của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Tập hợp CPSX trong kỳ
Bên Có: - Các khoản giảm CPSX sản phẩm
- Tổng giá thành thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm hoàn
thành
Dư Nợ: chi phí thực tế của sản phẩm chưa hoàn thành.
TK 154 được mở chi tiết theo từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản
phẩm của các bộ phận sản xuất - kinh doanh chính, sản xuất - kinh doanh phụ (kể
cả thuê ngoài gia công chế biến).
*. Phương pháp hạch toán:
-Cuối kỳ kết chuyển CPSX sang TK 154-CPSX kinh doanh dở dang-kế toán ghi:
Nợ TK 154 : (chi tiết đối tượng)
Có TK 621 CPNVLTT
Có TK 622 CPNCTT
Có TK 627 CPSXC
-Giá trị ghi giảm chi phí, kế toán ghi:

Nợ TK liên quan (152,138,334,821 )
Có TK 154 : (chi tiết theo đối tượng).
I.2.1.4.2.Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang:
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn
đang nằm trong quá trình sản xuất .
Để tính được giá thành sản phẩm, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê và
đánh giá sản phẩm dở dang
-Với bán thành phẩm: có thể tính theo chi phí thực tế hoặc kế hoạch
-Với sản phẩm đang chế tạo dở dang: có thể áp dụng một trong các phương pháp
sau:
1. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương:



Dựa vào mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy sản
phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành.
Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức.
Phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến còn chi phí
nguyên vật liệu chính phải xác định theo số thực tế dùng.
2. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến
Phương pháp này áp dụng cho những loại sản phẩm mà chi phí chế bón
chiếm tỷ trọng thấp trong tổng CPSX. Thực chất đây là phương pháp ước tính
theo số lượng tương đương mà mức độ hoàn thành là 50% so với thành phẩm
Giá trị SPDD = Giá trị NVLC trong sản phẩmDD+50% chi phí chế biến
3. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo CPNVLTT (hoặc theo chi phí
nguyên vật liệu chính)
Theo phương pháp này thì trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm CPNVLTT
(hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp) mà không tính đến các chi phí lhác.
phương pháp này được áp dụng trong trường hợp chi phí chế biến chiếm tỷ trọng
rất nhỏ trong tổng CPSX .

4. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức (hoặc kế hoạch)
cho các khâu, các bước, các công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm.
Ngoài ra, trên thực tế còn áp dụng: phương pháp thống kê kinh nghiệm,
phương pháp tính theo vật liệu chính và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở
dang để xác định giá trị sản phẩm.
I.2.2.Hạch toán CPSX theo phương pháp kiểm kê định kỳ
I.2.2.1. Hạch toán CPNVLTT
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ chi phí nguyên vật liệu xuất dùng rất khó
phân định là xuất cho mục đích sản xuất bán hàng hay quản lý nên kế toán cần
theo dõi chi tiết các chi phí phát sinh liên quan đến các đối tượng để phục vụ cho
công tác tính giá thành sản phẩm (cũng có thể dựa vào tỷ lệ định mức để phân
bổ)
Các CPNVLTT trên TK 621 không ghi theo từng chứng từ xuất mà chỉ ghi
một lần vào cuối kỳ hạch toán sau khi kiểm kê và xác định giá trị nguyên vật liệu
tồn kho và hàng đi đường.



Cách hạch toán CPNVLTT như sau:
-Xác định giá trị nguyên vật liệu sử dụng để chế tạo sản phẩm, kế toán ghi:
Nợ TK 621 : (chi tiết đối tượng)
Có TK 611 (6111)
-Cuối kỳ kết chuyển CPNVLTT tính giá thành sản xuất kế toán ghi:
Nợ TK 631 : (chi tiết theo đối tượng)
Có TK 621 : (chi tiết theo đối tượng).
I.2.2.2.Hạch toán CPNCTT
-Đối với CPNCTT thì nội dung tài khoản sử dụng và cách hạch toán giống
như phương pháp kê khai thường xuyên
-Cuối kỳ kết chuyển CPNCTT tính vào giá thành sản xuất, kế toán ghi:
Nợ TK 631: ( chi tiết theo đối tượng)

Có TK 622: ( chi tiết theo đối tượng).
I.2.2.3. Hạch toán CPSXC
- Việc hạch toán CPSXC tương tự như trường hợp doanh nghiệp áp dụng
phương pháp kê khai thường xuyên từng yếu tố vật liệu, cộng cụ dụng cụ xuất
kho cho nhu cầu chung của phân xưởng thì mỗi lần xuất sẽ không phản ánh mà
chỉ phản ánh một lần tổng cộng vào cuối kỳ sau khi đã kiểm kê và xác định trị
giá vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho cuối kỳ, kế toán ghi:
Nợ TK 627 : (chi tiết phân xưởng, bộ phận)
Có TK 611 (6111)
- Cuối kỳ kết chuyển CPSXC tính vào giá thành sản xuất , kế toán ghi:
Nợ TK631 (chi tiết đối tượng)
Có TK 627 (chi tiết theo từng tiểu khoản)
I.2.2.4. Tổng hợp CPSX , kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang
I.2.2.4.1. Tổng hợp CPSX
* Việc tổng hợp CPSX trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp
kiểm kê định kỳ kế toán sẽ sử dụng TK 631- Giá thành sản xuất - để hạch toán.
Nội dung phản ánh của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và các CPSX phát sinh
trong kỳ liên quan đến chế tạo sản phẩm



Bên Có: Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ vào TK 154
-Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
TK 631 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết theo địa điểm phát sinh chi
phí, theo lọai sản phẩm và cả bộ phận sản xuất - kinh doanh chính, sản xuất -
kinh doanh phụ, chi phí thuê ngoài gia công chế biến
*. Cách hạch toán :
- Đầu kỳ kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang theo từng đối tượng kế toán ghi;
Nợ TK 631

Có TK 154
- Cuối kỳ, kết chuyển CPSX phát sinh trong kỳ theo từng loại sản phẩm
Nợ TK 631: (chi tiết theo từng đối tượng)
Có TK621 CPNVLTT
Có TK 622 CPNCTT
Có TK 627 CPSXC.
I.2.2.4.2. Kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang
Việc kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang được tiến hành tương tự như
trong phương pháp kê khai thường xuyên, từ đó xác định giá trị sản phẩm dở
dang cuối kỳ kế toán ghi
Nợ TK 154: (chi tiết theo đối tượng- sản phẩm )
Có TK 631: (chi tiết theo từng đối tượng - sản phẩm )
Xác định được giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ, kế toán dựa vào đó để tính
ra được giá thành sản phẩm.
II. Phương pháp tính giá thành sản phẩm
II.1. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm
II.1.1.Đối tượng tính giá thành sản phẩm:
Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm, dịch vụ đòi hỏi kế toán phải
tính được giá thành và giá thành đơn vị. Trước khi tính giá thành sản phẩm phải
xác định đối tượng tính giá thành, muốn vậy cần căn cứ vào tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời
phải xác định đơn vị tính của sản phẩm, dịch vụ được xã hội thừa nhận, phù hợp
với đơn vị tính sản lượng ghi trong kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị. Đối



tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay
đang trên dây chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và
tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, đối tượng tính giá thành có thể là:
-Từng sản phẩm công việc đã hoàn thành .

-Từng bộ phận, chi tiết sản phẩm.
-Sản phẩm hoàn thành ở cuối quy trình công nghệ hay bán thành phẩm.
-Từng công trình, hạng mục công trình.
Xác định đối tượng tính giá thành đúng, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của
doanh nghiệp sẽ giúp cho kết toán mở sổ kế toán và kiểm tra tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành sản phẩm có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nội bộ doanh
nghiệp.
II.1.2.Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một phương pháp hoặc hệ thống
phương pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm. Nó mang tính
thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Việc lựa
chọn phương pháp tính giá thành chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm về đối tượng
hạch toán chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về cơ bản,
phương pháp tính giá thành bao gồm các phương pháp sau:
*. Phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn)
*. Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này được sử dụng khi một đối tượng tính giá thành tương ứng
với nhiều đối tượng tập hợp chi phí, một loại sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn
chế biến, mỗi giai đoạn là một phân xưởng hoặc tổ, đội như các doanh nghiệp
ngành dệt, giấy, giầy da

* Phương pháp hệ số:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có một đối tượng
hạch toán chi phí sản xuất tương ứng với nhiều đối tượng tính giá thành, như
cùng một quy trình sản xuất công nghệ cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một
lượng lao động nhưng kết quả thu được nhiều sản phẩm khác nhau ( doanh
nghiệp ngành hoá chất, hoá dầu…). Với phương pháp này chi phí sản xuất tập




hợp của toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, đối tượng tính giá thành là từng
loại sản phẩm.
* Phương pháp loại trừ:
Phương pháp này áp dụng đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá
trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những
sản phẩm phụ (doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia, mỳ ăn liền…). Trong
trường hợp này đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình công nghệ còn đối
tượng tính giá thành là sản phẩm chính. Muốn tính được giá thành sản phẩm
chính cần phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ.
* Phương pháp liên hợp:
Là phương pháp sử dụng đối với các doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính
chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành
phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau: có thể kết hợp tổng cộng chi phí với
phương pháp tỷ lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ.
II.2.Tính giá thành sản phẩm
II.2.1.Theo phương pháp kê khai thường xuyên
Một cách khái quát:
Z sản phẩm=Dư đk+CPPS trong kỳ-PS giảm chi phí -Dư ck

Giá thành Giá thành sản phẩm
đơn vị =
sản phẩm Số lượng sản phẩm
- Giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành được hạch toán :
Nợ TK 155: nhập kho thành phẩm
Nợ TK 157: gửi bán
Nợ TK 632: bán thẳng không qua kho
Có TK 154: ( chi tiết theo đối tượng)
- Giá trị sản phẩm, lao vụ của bộ phận sản xuất phục vụ cho các đối tượng,
kế toán ghi:
Nợ TK 627: phục vụ cho SXSP và nhu cầu khác ở phân xưởng

Nợ TK 641, 642 :phục vụ cho bán hàng và quản lý doanh nghiệp

×