Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

NHỮNG YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG CHO THAI PHỤ VÀ THAI NHI TRONG SẢN GIẬT potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (184.87 KB, 6 trang )

Những yếu tố tiên lợng cho thai phụ và thai nhi
trong sản giật
Ngô Văn Tài
Bộ môn Phụ sản - Đại học Y Hà Nội

Trong một nghiên cứu từ tháng 10 năm 2000 đến tháng 1 năm 2003 tại Viện Bảo vệ Bà
mẹ và Trẻ sơ sinh; có 64 trờng hợp bị sản giật trong tổng số 572 thai phụ bị hội chứng
nhiễm độc thai nghén (NĐTN), chiếm tỷ lệ 11%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tuổi trung bình của thai phụ là 27. Trong đa số trờng hợp
(96%); thai không phát triển đợc đến đủ tháng. Có những biểu hiện suy nội tạng nh suy
gan (96,6%); suy thận (87,6%); chảy máu não màng não (3%); rối loạn đông máu (22%);
phù phổi cấp là 0 % và rối loạn ý thức (6%). Đối với thai nhi, các biến chứng bao gồm: thai
chết lu trong tử cung (11%); bệnh màng trong (17%); chết sau đẻ (25%). Việc điều trị bằng
thuốc nhằm kiểm soát cơn giật và tăng huyết áp chủ yếu là đông miên và mổ lấy thai đợc
tiến hành ở 76,6% trờng hợp bị sản giật. Những biến chứng cho thai phụ và thai nhi có thể
đợc giảm xuống nếu nh hiểu biết đầy đủ các yếu tố tiên lợng về thai nghén của tiền sản
giật, sản giật và lấy thai ra trong những thời điểm thích hợp nhất.

I. Đặt vấn đề
Sản giật là một trong 5 tai biến sản khoa
và là biến chứng nặng của hội chứng nhiễm
độc thai nghén (NĐTN). Sản giật gây ra nhiều
biến chứng cho thai phụ nh tử vong mẹ, suy
gan, suy thận, phù phổi cấp, rối loạn đông
máu và những biến chứng cho thai nhi nh
thai chết lu trong tử cung, chết sau đẻ Cho
tới nay, nhiều nghiên cứu về sản giật đã đợc
tiến hành. Tất cả đều cho rằng sản giật là một
biến chứng nặng của NĐTN và là một trong
những nguyên nhân gây tử vong cho sản phụ
và cho thai nhi với những rối loạn chức năng


của nhiều phủ tạng.
Nghiên cứu này nhằm 2 mục tiêu sau:
- Tìm các yếu tố tiên lợng cho thai phụ
và thai nhi.
- Nêu những kinh nghiệm điều trị trong
trờng hợp thai phụ bị sản giật nặng nhằm
góp phần làm giảm những biến chứng cho
sản phụ và thai nhi.
II. Đối tợng và Phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng:
+ Toàn bộ 64 bệnh nhân bị sản giật
trong tổng số 572 thai phụ bị NĐTN từ
tháng 10 năm 2000 đến tháng 1 năm 2003.
+ Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Có chẩn đoán là mắc bệnh NĐTN.
- Có lên cơn sản giật với 4 giai đoạn
điển hình do thầy thuốc sản khoa xác định
- Loại trừ những cơn giật không phải do
NĐTN gây nên nh động kinh, hạ can xi
máu, hôn mê do hạ đờng huyết, hôn mê
do chảy máu não không liên quan tới bệnh
lý NĐTN
2. Phơng pháp nghiên cứu:
+ Đây là nghiên cứu cắt ngang, mô tả.
+ Mỗi bệnh nhân đợc theo dõi:
- Huyết áp.
- Các xét nghiệm hóa sinh của máu.
- Protêin niệu.
- Siêu âm hình ảnh chẩn đoán tình trạng

thai nhi.
- Phù.

63
- Những biến chứng của thai phụ và thai
nhi.
III. Kết quả
Bảng 1- Tuổi của sản phụ
Lứa tuổi Số lợng Tỷ lệ %
Từ 18 đến 25 31 48,4
Từ 26 đến 35 23 36
Từ 36 đến 40 9 14
Từ 41 đến 45 1 1,6
Tổng số 64 100

Nhận xét: Tuổi trung bình của thai phụ là
27 tuổi. Trong đó, lứa tuổi gặp nhiều nhất là từ
18 đến 25 tuổi (48,4%); nếu tính cả lứa tuổi từ
26 đến 35 thì tỷ lệ thai phụ bị sản giật lên tới
84,4%. Chỉ có 1 thai phụ có tuổi là 43; không
có bệnh nhân nào trên 45 tuổi. Thai phụ ít
tuổi nhất là 19 tuổi (có 2 ngời). Nh vậy, đa
số bệnh nhân bị sản giật có tuổi đời còn trẻ
và phần lớn đang ở độ tuổi sinh đẻ.
Bảng 2- Số lần đẻ (con so, con rạ)
Con so, con rạ Số lợng Tỷ lệ %
Con so 40 62,5
Con rạ 24 37,5
Tổng số 64 100


Nhận xét: Đa số bệnh nhân bị sản giật
là con so (62,5%). Số còn lại là con rạ,
trong đó ngời đẻ nhiều nhất là 3 con, nếu
kể cả lần mang thai này là lần thứ 4.
Bảng 3- Tuổi thai.
Tuổi thai
(tuần)
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ %
30 tuần
14 22
Từ 31 đến 34 35 55
Từ 35 đến 37 12 19
Từ 38 đến 40 3 4

Nhận xét: Đa số bệnh nhân bị sản giật
có tuổi thai từ 31 đến 34 tuần (55%) và dới
30 tuần; ở tuổi thai này, bình thờng thai nhi
cũng đã khó sống do nhiều nguyên nhân
nh chảy máu phổi, bệnh màng trong, quá
non yếu cha tính đến việc thai nhi còn
chịu ảnh hởng của những rối loạn do
NĐTN gây nên thì khả năng sống sót của
thai nhi càng trở nên khó khăn hơn nhiều.
Bảng 4-Các triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng
lâm sàng
Số bệnh
nhân

Tỷ lệ %
Tăng huyết áp
( 140/100
mmHg)
64 100
Phù 58 91
Protêin niệu
( 0,5g/l)
64 100

Nhận xét:
- Có 58/64 (91%) bệnh nhân có đủ cả 3
triệu chứng chính của hội chứng NĐTN
(tăng huyết áp kết hợp với phù và protêin
niệu); nh vậy còn lại 6 bệnh nhân chỉ có 2
triệu chứng kết hợp (tăng huyết áp và
protêin niệu).
- Không có bệnh nhân nào chỉ có tăng
huyết áp đơn thuần (tăng huyết áp mạn tính
trớc khi có thai và nặng lên thành sản giật)
Bảng 5-Triệu chứng tăng huyết áp
Triệu chứng
tăng huyết áp
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
%
140/90 đến
150/100 mmHg
12 19

150/100 đến
160/110 mmHg
25 39
160/110 mmHg
27 42
Tổng số 64 100

Nhận xét:
- Bệnh nhân bị sản giật có huyết áp tâm
thu cao nhất là 210 mmHg; bệnh nhân có
huyết áp tâm trơng thấp nhất là 90 mmHg.
- Có 19% bệnh nhân có mức huyết áp từ
140/90mmHg đến 150/100 mmHg và 39 %
bệnh nhân có mức huyết áp từ 150/100 đến
160/110 mmHg, nhng có tới 42% bệnh
nhân có huyết áp từ 160/110 mmHg trở lên.
Nh vậy, sản giật xuất hiện có liên quan rất

64
nhiều tới mức tăng huyết áp, nhất là huyết
áp từ mức 160/110 mmHg trở lên.
Bảng 6- Lợng protêin niệu
Lợng protêin
(g/l)
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
%
Từ 0,5 đến 3 g/l 16 25
Từ 3 đến 5 g/l

19 29,7
Từ 5g/l
29 45,3
Tổng số 64 100

Nhận xét:
- Chỉ có 25 % bệnh nhân có lợng
protêin niệu dới 3g/l; đây là mức protêin
niệu tơng đơng với mức NĐTN nhẹ (về
phơng diện protêin niệu), Tuy nhiên, cơn
sản giật liên quan tới nhiều yếu tố, nhất là
con số huyết áp càng cao thì nguy cơ lên
cơn giật càng tăng.
- Có tới 75% bệnh nhân có lợng protêin
niệu 3g/l; trong đó có 45,3 % bệnh nhân
có lợng protêin 5g/l. Nh vậy, lợng
protêin niệu càng cao thì nguy cơ sản giật
càng tăng.
Bảng 7-Một số xét nghiệm hóa sinh có
liên quan tới sản giật.
Xét nghiệm hóa
sinh
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ %
Axit uric huyết
thanh 360
àmol/l
59 92
U rê huyết thanh

7 mmol/l
52 81
Crêatinin huyết
thanh 106
àmol/l
56 87,5
S.GOT 70 UI/l
62 96,9
S.GPT 70 UI/l
62 96,9

Nhận xét: Trong số những bệnh nhân bị
sản giật, có tới 92% bệnh nhân có lợng
axit uric trên 360 àmol/l; trong đó lợng axit
uric cao nhất là 623 àmol/l. Có 87,5 % bệnh
nhân có lợng crêatinin huyết thanh trên
106 àmol/l; trong đó bệnh nhân có lợng
crêatinin huyết thanh cao nhất là 324
àmol/l. Lợng SGOT và S.GPT 70 UI/l
chiếm 96,9% các trờng hợp. Nh vậy,
những bệnh nhân bị sản giật đều có các chỉ
số hóa sinh tăng rất cao so với các chỉ số
hóa sinh của ngời bình thờng.
Bảng 8-Những biến chứng do sản giật
gây cho thai phụ
Những biến
chứng
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ

%
Suy gan 62 96,6
Suy thận 56 87,6
Chảy máu não,
màng não
2 3
Rối loạn đông máu 14 22
Phù phổi cấp 0 0
Rối loạn ý thức
sau đẻ
4 6

Nhận xét: Có 56% bệnh nhân bị suy thận;
96,6% suy gan; 3% bị chảy máu não,màng
não; rối loạn đông máu là 22%; rối loạn ý thức
sau đẻ là 6%; không có bệnh nhân nào bị
phù phổi cấp và tử vong do sản giật. Nh vậy,
tiên lợng đáng chú ý nhất cho những bệnh
nhân bị sản giật là chức năng gan bị suy
giảm, tiếp theo là suy thận và rối loạn đông
máu, cũng cần kể đến tình trạng rối loạn ý
thức sau đẻ do hậu quả của tăng huyết áp và
tình trạng phù não gây nên.
Bảng 9- Những biến chứng do sản giật
gây nên cho thai nhi.
Biến chứng của
thai nhi
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ

%
Thai chết lu 7 11
Bệnh màng trong 11 17
Chết sau đẻ 16 25

Nhận xét: Tiên lợng nặng nề nhất cho
thai nhi của những bệnh nhân bị sản giật là
thai chết lu trong tử cung (nguyên nhân
chủ yếu là do tăng huyết áp). Bệnh màng
trong có tỷ lệ là 19% (chủ yếu do thai non

65
tháng). Tỷ lệ chết sau đẻ là 25% (chủ yếu
do thai non tháng, bệnh màng trong, chảy
máu phổi và do suy thai cấp do cơn sản
giật gây ra). Trong số những trẻ bị bệnh
màng trong(11 trẻ) thì khoa sơ sinh cứu
sống đợc 6 trẻ.
Bảng 10: Các phơng pháp điều trị sản
giật
Những phơng
pháp điều trị
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
%
Thuốc đông miên*
+ mổ lấy thai
42 65,6
Thuốc đông miên

+forcefs
12 19
Magiê sunphát** +
mổ lấy thai
7 11
Magiê sunphát +
forcefs
3 4,4

Thuốc đông miên*: Dung dịch gồm
Dolacgan + Aminazin + Pipolphen.
Magiê sunphat**: Thuốc đợc dùng từ 4-
6g/ngày; chia 2 lần tiêm tĩnh mạch.
Nhận xét: Thuốc đông miên nhằm cắt
cơn giật, sau đó mổ lấy thai là phác đồ
đợc áp dụng nhiều nhất (65,6% trờng
hợp). Thuốc đông miên để cắt cơn giật rồi
forcefs lấy thai đờng âm đạo là 19%.
Magiê sunphat (với liều lợng 4-6g/ngày
chia làm 2 lần); sau đó mổ lấy thai hoặc
forcefs chỉ chiếm tỷ lệ 15,4%.
IV. Bàn luận
Sản giật là biến chứng nặng của bệnh lý
NĐTN. Sản giật là nguyên nhân tử vong
của sản phụ. Theo nghiên cứu của Faye và
của Onyangunga [3-4] thì tỷ lệ tử vong mẹ
trong sản giật là 0,15%. Trong một nghiên
cứu khác của Bouaggad [2] tại khoa hồi sức
của Trung tâm Viện trờng ở Rochd de
Casablanca thì tỷ lệ tử vong mẹ do sản giật

lên tới 14%. Nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy không có bệnh nhân nào bị tử vong do
sản giật, có thể do những biến chứng do
sản giật gây ra cho sản phụ nh suy thận,
suy gan cha quá nặng để gây nên cái
chết cho sản phụ. Mặt khác, việc cấp cứu
và hồi sức cho những sản phụ bị sản giật,
nhất là việc quyết định lấy thai ra sớm
(76,6%) ở một trung tâm lớn nh Viện Bảo
vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh cũng góp phần
đáng kể vào việc làm nhẹ các biến chứng
cho sản phụ trong đó có việc ngăn ngừa tử
vong mẹ. Nếu xét về yếu tố tiên lợng cho
những sản phụ bị sản giật, chúng tôi cho
rằng tử vong mẹ là yếu tố cần đề cập trớc
tiên, nó quyết định thái độ xử trí tích cực của
ngời thầy thuốc nhằm tránh nguy cơ tử
vong cho sản phụ; một số tác giả nh
Richards, Sibai, Tchobroutsky cũng có
những nhận xét tơng tự [5-6-7].
Hai biến chứng thờng gặp trong bệnh lý
NĐTN nặng đó là suy gan và suy thận;
trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ của
hai biến chứng này vào khoảng 96% và
87%. Nếu kết hợp với biến chứng chảy máu
do rối loạn đông máu thì tiên lợng nặng lên
rất nhiều cần hồi sức tích cực mới có thể
cứu sống bệnh nhân. Theo Sibai thì một khi
xuất hiện suy gan, tan máu vi thể (biểu hiện
bằng sự tăng bilirubin máu toàn phần) và số

lợng tiểu cầu giảm xuống dới
100000/mm
3
máu sẽ tạo nên hội chứng
HELLP mà Weinstein đã mô tả thì tiên
lợng bệnh rất nặng không những cho sản
phụ mà cho cả thai nhi [6].
Những biến chứng do sản giật nặng gây
cho thai nhi nh đẻ thai non tháng, chết lu
trong tử cung, bệnh màng trong, chết sau
đẻ đều có tỷ lệ cao so với tỷ lệ chung do
NĐTN gây nên. Chẳng hạn nh theo
nghiên cứu của Nguyễn Thị Phúc và cộng
sự [1], thì tỷ lệ đẻ non tháng trong NĐTN
không phải do sản giật gây nên chỉ ở mức
28,5%; tỷ lệ chết sau đẻ là 4%. Nhng theo
nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thai nhi bị đẻ
non tháng ở những bệnh nhân bị sản giật
nặng lên tới 96% và tỷ lệ thai nhi bị chết
sau đẻ lên tới 25%. Điều này có thể đợc
giải thích là do trong sản giật, việc đình chỉ

66
thai nghén đã làm tăng tỷ lệ thai non tháng
và tỷ lệ thai nhi chết sau đẻ cũng tăng lên.
Một trong những biến chứng của sản
giật nặng gây nên cho thai nhi là thai chết
lu trong tử cung. Nghiên cứu này cho thấy
tỷ lệ thai nhi chết lu trong tử cung 11%,
nhng theo Bouaggad thì tỷ lệ thai nhi chết

lu trong tử lên tới 34% và cho rằng nguyên
nhân chết chủ yếu là do thần kinh của trẻ
quá non yếu trong giai đoạn chu sinh [2].
Nguyên nhân tử vong chủ yếu của trẻ sơ
sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có liên
quan tới bệnh màng trong (17%) và một số
bệnh ít gặp khác nh chảy máu phổi hoặc
do huyết áp của thai phụ quá cao, thai suy
dinh dỡng nặng. Dù sao thì sản giật cũng
là yếu tố nguy cơ cao cho cả thai phụ và
thai nhi, ngời thầy thuốc cần biết trớc
những yếu tố tiên lợng để điều trị tích cực
cho bệnh nhân cũng nh đình chỉ thai
nghén đúng chỉ định và đúng thời điểm
thích hợp nhằm tránh những biến chứng
cho sản phụ và cho thai nhi.
Về việc điều trị, cho đến nay Tổ chức Y
tế Thế giới đã khuyến cáo rằng Magiê
sunphat là thuốc đầu tay trong điều trị cắt
cơn và đề phòng tái phát cơn sản giật.
Đáng tiếc là phác đồ này vẫn cha đợc
phổ biến rộng rãi cho những bệnh nhân bị
sản giật, nhất là sản giật nặng; vì vậy mà
hiệu quả điều trị cha cao. Mổ lấy thai vẫn
là biện pháp đầu tiên đợc lựa chọn nhằm
chấm dứt thai kỳ (76,6%), chúng tôi cho
rằng đây là biện pháp hợp lý để tránh biến
chứng nặng cho bệnh nhân và cho thai nhi;
nhng biện pháp này cần kết hợp với phác
đồ điều trị sản giật bằng Magiê sunphat.

Sau cơn giật, tùy theo tình trạng của bệnh
nhân mà quyết định lấy thai ra trong thời
gian thích hợp nhất.
V. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu trên đây
chúng tôi có những kết luận sau:
+ Sản giật gây ra nhiều biến chứng cho
thai phụ và thai nhi với một tỷ lệ cao, trong đó
biến chứng suy gan và suy thận thờng
chiếm tỷ lệ cao nhất đối với sản phụ và biến
chứng thai nhi non tháng, chết sau đẻ và
bệnh màng trong có tỷ lệ cao đối với thai nhi.
+ Mổ lấy thai nhằm chấm dứt thai kỳ và
kết hợp với Magiê sunphat để điều trị sản
giật nặng là phác đồ điều trị thích hợp nhất
cần áp dụng để tránh những biến chứng
cho thai phụ và thai nhi.
+ Những biến chứng của thai phụ và thai
nhi có thể giảm xuống nếu hiểu biết đầy đủ
những yếu tố tiên lợng cho hai đối tợng này
trong sản giật và việc điều trị đúng phác đồ
cũng góp phần đáng kể vào việc làm giảm
các tai biến cho sản phụ và thai nhi.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Phúc (1999): Nhận xét về
nhiễm độc thai nghén qua 249 trờng hợp
trong năm 1996 tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và
Trẻ sơ sinh. Tạp chí Thông tin Y dợc tháng
12/1999. Trang 140-141.
2. Bouaggad.A(1995): Les facteurs du

pronostic maternel dans l'éclampsie grave.
Rev. Fr. Gynécol. Obstét 1995. 90, 4. 205-
207.
3. Faye.A (1991): L'éclampsie au
hospitalier de Libreville: 53 cas pour 41285
accouchements de 1985 à 1998. Rev. Fr.
Obstét. Gynécol, 1991, 86, pag 503-510.
4. Onyangunga O.A (1986): E'tude
épidémiologique de l'éclampsie aux
cliniques universitaires du mont Amba
(Zaire). A propos de 28 observasions de
1981 à 1982. Rev. Fr. Obstét.
Gynécol,1986, 81, 95- 98.
5. Richards A.M (1986): Ative
management of the unconscious eclamptic
patient. Br. of Obstet. Gynaecol, 1986,93,
554-562.
6. Sibai B.M (11981): Eclampsia.
Observation from 67 recent cases. Am. J.
Obstet. Gynecol, 1981,58, 609-613.
7. Tchobroutsky C (1990): Toxémie
gravidique et éclampsie: diagnostic,

67
Ðvolution et pronostic, traitement, Rev, Prat,
1990,40, 1805- 1810.

RÐsumÐ:
Les facteurs du prognostic maternel et foetal
dans l'Ðclampsie


Dans une Ðtude, entre octobre 2000 et janvier 2003 µ l'institut de protection de la mÌre et de
nouveau- nÐ; il y a 64 femmes atteintes d'Ðclampsie grave pour 572 cas de toxÐmie gravidique
(11%).Les rÐsultats sont les suivants: Il s'agissit des jeunes parturientes dont la moyenne d'©ge est
de 27 ans. La plupart des cas (96%) ont la grossesse ne sont pas µ terme (accouchement
prÐmaturÐ). L'existence d'une souffrance viscÐrale: l'insuffisance hÐpatique est de 96,6%;
l'insuffisance rÐnale est de 87,6%; l'hÐmorragie cÐrÐbro- mÐningÐes est de 3% ;le trouble de
l'hÐmostase est de 22 %; l'oedÌme aigu pulmonaire est de 0% et le trouble de conscience est de
6%. Pour les nouveau - nÐs, les complications sont les suivants: Mort du foetus in- utÐro est de
11%; membrane hyaline est de 17%; la mort aliÐ- nÐo- natal est de 25 %. le traitement mÐdical
pour contr«ler respectif des covulsions et de l'hypertension artÐrielle. La cÐsarienne a rÐaliÐe chez
femmes atteintes d'Ðclampsie (76,6%). Les complications des mÌres et des nouveau - nÐs peuvent
ªtre rÐduites par une meilleure connaisscance des facteurs de gravitÐ des prÐ- Ðclampsie indiquant
l'extraction foetale dans les meilleurs dÐlais.


68

×