Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

thực trạng và tương lai phát triển của Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nước ta.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (109.03 KB, 22 trang )

Lời nói đầu

Đất nớc ta, ngay sau khi giành đợc độc lập, đà bớc vào công cuộc xây
dựng xà hội chđ nghÜa. Nhng cho ®Õn tríc thêi kú ®ỉi míi, dù có đạt đợc
một số thành tựu nhất định, song nền kinh tế nớc ta nói chúng cha huy động
đợc mọi tiềm năng để phát triển sản xuất nh những tiềm năng về vốn, kỹ
thuật, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, trình độ quản lý... Nguyên
nhân thì có nhiều, trong đó có nguyên nhân liên quan đến vấn đề sử dụng các
thành phần kinh tế. Chúng ta lúc đầu cho rằng, sở hữu công cọng các t liệu
sản xuất là điều kiện tiên quyết để tranh sự bóc lột ngời lao động, để xây
dựng thành công chủ nghĩa xà hội, nhng thực tế đà cho thấy không phải nh
vậy. Việc xoá bỏ các thành phần kinh tế nh thành phần kinh tế cá thể, biểu
chủ... đà khiến cho nớc ta có một nền kinh tế trì trệ, lạc hậu. Trong nhiều
năm trở lại đây, nhận thấy thiếu sót này, Đảng Nhà nớc đà khuyến khích sự
phát triển của các thành phần kinh tế và nớc ta đà bắt đầu có những khởi sắc
rõ rệt. Vấn đề đặt ra là sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xà hội ở nớc ta có phải là tất yếu khách quan không? Nớc ta có những thành phần kinh tế nào, đặc điểm, thực trạng của chúng rasao?
Nguyên nhân của thực trạng đó? Phơng hớng sử dụng các thành phần kinh tế
này trong thời gian tới?...
Việc trả lời những câu hỏi này có ¶nh hëng trùc tiÕp ®Õn sù nghiƯp ®ỉi
míi ë níc ta. Chính vì vậy, tác giả của bài tiểu luận này đà chọn nó làm đề tài
nghiên cứu cho mình. Hy vọng nó sẽ giúp các bạn hiểu hơn về thực trạng và
tơng lai phát triển của "Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nớc ta".

1


Chơng I
Cơ sở lý luận - tính tất yếu khách quan của
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
1.1. Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều


thành phần trong thời kỳ quá độ ở nớc ta.

1.1.1. Một số khái niệm.
Thành phần kinh tế bao gồm những đơn vị kinh tế mà đợc đặc trng bởi
một hình thức sở hữu nhất định về t liệu sản xuất do đó có quan hệ tổ chức
quản lý và quan hệ phân phối tơng ứng với nó.
Sở hữu là quan hệ giữa ngời với ngời trong việc chiếm đoạt, chiếm hữu
của cải vật chấ của xà hội. Trong mỗi chế độ xà hội chế độ sở hữu về t liệu
sản xuất là cơ sở để hình thành các thành phần kinh tế. Nó là phạm trù kinh tế
khách quan phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa sở hữu với t cách là điều
kiện của sản xuất với sở hữu đợc thực hiện về mặt kinh tế trong quá trình sản
xuất.
Nh vậy, cơ sở để phân biệt các thành phần kinh tế khác nhau chính là
quan hệ sở hữu đặc trng về t liệu sản xuất và mỗi thành phần kinh tế tơng ứng
với một kiểu quan hệ sản xuất nhất định. Số lợng các thành phần kinh tế và tỷ
trọng của chóng trong nỊn kinh tÕ cđa mét níc phơ thc vào tính chất, trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất và cơ cấu cụ thể của nền kinh tế nớc đó.
Cơ cấu kinh tế là một cấu trúc phức tạp của nền kinh tế, trong đó tồn
tại các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế và các vùng kinh tế trong mối
liên hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Khi nói tới cơ cấu kinh tế là nói tới cấu trúc của nền kinh tế trên ba
phơng diện: kinh tÕ - x· héi, kinh tÕ - kü thuËt vµ kh«ng gian.

2


Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xÃ
hội là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong môi trờng hợp tác và
cạnh tranh. Tơng ứng với mỗi thành phần kinh tế, có loại hình sản xuất với
qui mô và trình độ công nghệ nhất định, chịu sự chi phối của các qui luật

kinh tế khác nhau, có cơ chế quản lý và cơ chế phân phối thích hợp.
Để cập cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đề cập ®Õn cÊu tróc cđa nỊn
kinh tÕ vỊ ph¬ng diƯn kinh tế - xà hội, mà trớc hết là về phơng diện quan hệ
sở hữu về t liệu sản xuất. Nh vậy khái niệm cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
hẹp hơn khái niệm cơ cấu kinh tế. Trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng ta
chủ yếu đề cập đến cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
1.1.2. Cơ sở lý luận - Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần.
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế này của cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần trong thời kì quá độ ở nớc ta. Trớc hết, bắt nguồn từ quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Phải có sự phù hợp đó thì sản xuất mới phát triển đợc. Nừu nh
trong nền kinh tế, lực lợng sản xuất phát triển với nhiều tính chất và trình độ
khác nhau, tức là tồn tại nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất và
do đó, tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Trong đó luôn có những
quan hệ sở hữu, thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo cđa nỊn kinh tÕ cđa
mét níc.
ë níc ta, khi bíc vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xà hội, điểm xuất
phát về lực lợng sản xuất, về phân công lao động xà hội, về năng suất lao
động và trình độ phát triển còn thấp và không đều giữa các xí nghiệp, các
ngành, các vùng... trong nền kinh tế, công cụ lao động còn tồn tại nhiều trình
độ khác nhau, có cả thủ công thô sơ, máy móc, cơ khí, tự động hoá; n lao
động có ngời không lành nghề, cha qua đào tạo, có ngời lành nghề, đợc đào
tạo một cách có hệ thống... Do đó, tất yếu tồn tại nhiều cách thức kết hợp t

3


liệu sản xuất với sức lao động, nhiều qui mô trình độ sản xuất khác nhau,
nhiều quan hệ sản xuất khác nhau và nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Lịch sử đà cho thấy, hầu nh không nớc nào có một nền kinh tế thuần

nhất, tức chỉ tồn tại duy nhật một thành phần kinh tế. Về mặt lý luận, cả Mác
và lênin đều cho rằng: không có chủ nghĩa t bản thuần tuý và không có chủ
nghĩa t bản độc quyền thuần tuý, mà ở đó chỉ có duy nhÊt mét quan hƯ s¶n
xt t b¶n chđ nghÜa, mét thành phần kinh tế t bản t nhân. Cho đến nay, nhận
định này vẫn còn giữ nguyên giá trị, bên cạnh thành phần kinh tế t bản t nhân
chiếm địa vị thống trị, còn tồn tại và phát triển các thành phần kinh tế khác
nh: kinh tế t bản Nhà nớc, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ... Và lênin cũng đÃ
chỉ ra đặc điểm kinh tế mang tính phổ biến trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xà hội là nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, mặc dù ở mỗi nớc, mỗi thời kỳ
khác nhau, số lợng thành phần kinh tế có thể nhiều ít khác nhau.
Nền kinh tế nớc ta do lịch sử để lại vốn đà là một nền kinh tế có cơ cấu
nhiều thành phần. Để cải biến các thành phần kinh tế đó, cải biến quá trình
sản xuất cũ thành quan hệ sản xuất mới cao hơn, đòi hỏi phải có những điều
kiện kinh tÕ - x· héi, chÝnh trÞ, vËt chÊt - kỹ thuật, trình độ quản lý và một
khoảng thời gian nhất định mà đất nớc ta cha thể đáp ứng ngay đợc. Hơn nữa,
sau nhiều năm cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, nớc ta xuất hiện
thêm một số thành phần kinh tế mới nh kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể...
Các thành phần kinh tế cũ và mới tồn tại đan xen vào nhau, xoắn xuýt với
nhau, tạo thành đặc điểm kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xà hội ở
nớc ta.
Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn đợc bắt nguồn từ
yêu cầu của các quy luật kinh tế của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Sản xuất
hàng hoá, dù vẫn còn những khuyết tật, song có nhiều u thế vợt trội so với
sản xuất tự cung, tự cấp. Trong nền kinh tế hàng hoá, dới tác động của các
qui luật kinh tế nh quy luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật cung - cầu thì
sản phẩm đợc tạo ra ngày càng rẻ hơn, ®Đp h¬n, nhanh h¬n...
4


Nhng để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển thì trớc hết phải phôi

phục cơ sở tồn tại của nó - đó là nền kinh tế nhiều thành phần. Nh vậy nếu
sản xuất hàng hoá tồn tại là tất yếu thì sự tồn tại của các thành phần kinh tế
cũng là tất yếu và cần thiết.
Hơn nữa, trong thời kú ®ỉi míi, ®Êt níc ta cã nhiỊu nhiƯm vơ đặt ra
cần giải quyết nh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất
cho chủ nghĩa xà hội, giải quyết vấn đề làm việc, thực hiện công bằng xÃ
hội... Để thực hiện đợc điều đó thì không thể chỉ dựa vào nền kinh tế chỉ có
thành phần kinh tế quốc doanh mà cần phải phát huy mọi tiềm năng về vốn,
về tài nguyên thiên nhiên, trình độ quản lý, kỹ thuật, công nghệ, không chỉ ở
trong nớc mà cả của nớc ngoài. Mục đích đó chỉ có thể thực hiện khi sử dụng
đợc sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế. Chính sự tồn tại của các
thành phần kinh tế đà góp phần phát huy tốt hơn mọi tiềm năng của đất nớc
để phát triển kinh tế.
Nh vậy, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nớc
ta là một tất yếu khách quan. Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đà chỉ ra: "Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
xà hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế quốc doanh, với sự điều tiết và quản lý của Nhà nớc là đờng
lối chiến lợc lâu dài của nớc ta"

5


Chơng II
Các thành phần kinh tế và vấn đề
sử dụng ở nớc ta
1.1. Các thành phần kinh tế ở nớc ta

1.1.1. Thành phần kinh tế Nhà nớc
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu Nhà nớc về t liệu sản

xuất. ở nớc ta, kinh tế Nhà nớc là thành phần kinh tế cơ bản bao gồm các
doanh nghiệp Nhà nớc, các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nớc nh đất đai, ngân
sách tài nguyên thiên nhiên... Phần góp vốn của Nhà nớc vào các doanh
nghiệp cổ phần hay liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác trong và ngoài nớc. Kinh tế Nhà nớc là một thành phần kinh tế
có nhiều bộ phận hợp thành trong đó, doanh nghiệp Nhà nớc là bộ phận nòng
cốt. ở nớc ta, kinh tế Nhà nớc đợc hình thành chủ yếu bằng hai con đờng:
quốc hữu hoá những cơ sở kinh tế của chính quyền cũ và một số cơ sở kinh tế
của t bản t nhân, hoặc Nhà nớc đầu t xây dựng mới từ nguồn vốn ngân sách tự
có, vốn vay hoặc nhận viện trợ của nớc ngoài.
Trong nến kinh tế nhiều thành phần, kinh tế Nhà nớc không ngừng lớn
mạnh và đóng vai trò chủ đạo. nó nắm những lĩnh vực then chột trong nền
kinh tế, những ngành, những lĩnh vực có tác động đến toàn bộ các hoạt động
kinh tế - xà hội hoặc có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển
kinh tế - xà hội, chính trị của đất nớc nh ngành điện, nớc, giao thông, thông
tin liên lạc, công nghiệp quốc phòng... Nó là một công cụ có sức mạnh vật
chất mang tính quyết định ®Ĩ nhµ níc ®iỊu tiÕt vµ híng dÉn nỊn kinh tế hàng
hoá nhiều thành phàan phát triển theo định hớng xà hội chủ nghĩa.
Theo số liệu thống kê "tính đến cuối năm 1989 ở nớc ta có 12.084 đơn
vị kinh tế quốc doanh, chiếm trên 2/3 tài sản quốc gia, 80 - 90% lao động
lành nghề (lao động kỹ thuật, cán bộ khoa học, cán bộ quản lý đà qua ®µo
6


tạo). Tuy nhiên, hàng năm kinh tế quốc doanh chỉ cung cÊp 30 - 40% tỉng
s¶n phÈm x· héi, 20 - 30% thu nhập quốc dân, hao phí nguyên, nhiên vật liệu
cho một đơn vị sản phẩm cao gấp 2 - 3 lần mức trung bình của thế giới. Vấn
đề cốt yếu của kinh tế hàng hoá là chất lợng sản phẩm lại ít đợc chú ý. Nhìn
chung từ năm 1990 trở về trớc, tỷ lệ giữa mức đóng góp cđakv kinh tÕ qc
doanh so víi møc chi cđa ng©n sách Nhà nớc cho khu vực này là 1:3".

Nh vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh cha đợc đảm bảo.
Nguyên nhân là do ý thức chủ quan, duy ý chí, coi các đơn vị kinh tế quốc
doanh càng nhiều thì càng mau chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xà hội
mà không chú ý đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ nhận thức sai lầm đó,
các đơn vị kinh tế quốc doanh chỉ có số lợng mà không có chất lợng hầu nh
không có sức cạnh tranh trên thị trờng.
Hơn nữa, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đợc duy trì trong một thời
gian dài cũng là một nguyên nhân làm cho thành phần kinh tế này không làm
tròn chức năng của mình. Hàng năm ngân sách Nhà nớc chi bao cấp hàng
nghìn tỷ đồng cho các đơn vị hoạt động sản xuất nhng việc thu hồi thì rất là
nhỏ. Việc bù lỗ, bù tiền lơng... càng làm giảm sự kích thích nâng cao hiệu
quả hoạt động. Vấn đề quản lý còn chồng chéo giữa quản lý kinh tế của Nhà
nớc với quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị cũng là một vấn đề nan
giải. Khi quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và lợ ích không gắn liền với nhau
thì không thể có động lực cho việc nâng cao năng suất, mà còn đem lại nhiều
tiêu cực nh tham nhũng, làm thất thoát tài sản...
Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý hạn chế... tất cả
tạo nên một bức tranh ảm đạm của nền kinh tế mà kinh tế quốc doanh giữ vai
trò chủ đạo.
Sau đại hội Đảng lần thứ VI, nớc ta bắt xoá bỏ dần nền kinh tế quan
liêu bao cấp, bớc vào nền kinh tế thị trờng. Nhà nớc chuyển sang chế độ hạch
toán kinh tế và kinh doanh, đề ra nhiều đổi mới và sắp xế. Chỉ trong vài năm
số doanh nghiệp Nhà nớc giảm mạnh, chủ yếi là các cơ sở làm ăn thua lỗ,
7


không đứng vững đợc trong cạnh tranh. Điều này đà làm giảm gánh nặng
cho ngân sách Nhà nớc, giúp Nhà nớc có thể đầu t hơn nào các lĩnh vực trọng
yếu. Sau một thời gian đầy biến động do việc đổi mới cơ chế quản lý, các
doanh nghiệp Nhà nớc đà dần dần đi vào ổn định và phát triển. Gần đây sau

khi thành phần kinh tế quốc doanh đổi tên thành thành phần kinh tế Nhà nớc
thì mục đích, phơng hớng, những u - khuyết điểm của nó đợc xác định rõ
ràng hơn. Để có thể khắc phục những khó khăn, vớng mắc nh công nghệ còn
lạc hậu, trình độ quản lý kém... và để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình,
thành phần kinh tế Nhà nớc cần thực hiện những biện pháp sau:
- Tiếp tục đổi mới, tổ chức, sắp xếp lại các thành phần, các đơn vị kinh
tế để nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả.
- "Tập trung phát triển kinh tế Nhà nớc trong những ngành, những lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế nh hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, cơ
sở hạ tầng...; các cơ sở, doanh nghiệp trọng yếu, đặc biệt là ccs doanh nghiệp
có liên quan đến an ninh quốc phòng. Chủ yếu là ot với qui mô lớn và vừa".
- Từng cơ sở, đơn vị hoạt động kinh tế cần giải quyết những vấn đề
sau:
+ Đổi mới công nghệ và cách thức tổ chức quản lý, đào tạo, nâng cao
tay nghề, trình độ của công nhân, cán bộ quản lý.
+ Đặt mình trong môi trờng tự do cạnh tranh, hợp tác và bình đẳng với
các thành phần kinh tế khác.
+ Đi vào hoạt động ở những ngành, những lĩnh vực có lÃi ít, thu hồi
vốn chậm, nhiều rủi ro mà các thành phần kinh tế khác không đầu t nh cơ sở
hạ tầng, hoạt động ở vùng sâu, vùng xa... (Nhà nớc sẽ có những u đÃi đối với
các doanh nghiệp này).
+ Hạn chế đi đến xoá bỏ các hành vi tiêu cực nh tham nhũng, hỗi lộ,
lạm dụng chức quyền...

8


+ Các đơn vị xác định rõ mục địch hoạt động của mình. Nếu hoạt động
vì lợi nhuận phải thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế, hơn nữa các đơn vị
cần mở rộng quyền tự chủ, tự bù đắp chi phí sản xuất, có trách nhiệm, quyền

lợi và nghĩa vụ cụ thể, đợc khuyến khích bằng lợi ích vật chất...
Một hình thức doanh nghiệp đang đợc khuyến khích phát triển đó là cổ
phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc. Mục đích của việc làm này là nhằm thu
hút nguồn vốn từ ngời lao động, hạn chế tiêu cực, nâng cao tinh thần lao
động. Đặc biệt Nhà nớc có chính sách động viên chính các cán bộ, công
nhân của doanh nghiệp mua cổ phần. Trong các doanh nghiệp đó, Nhà nớc
nắm phần lớn cổ phần hoặc cổ phần khống chế. Việc thực hiện cổ phần hoá
đà đợc tiến hành thí điểm ở thành phố Hồ Chí Minh và đang đợc nhân rộng.
Vấn đề còn vớng mắc là Nhà nớc cần hoàn chỉnh quy chế và tiêu chuẩn lựa
chọn hội đồng quản lý, giám đốc điều hành và tuyên truyền cho mäi ngêi
thÊy lỵi Ých to lín cđa viƯc cỉ phần hoá.
1.1.2. Thành phần kinh tế hợp tác.
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu tập thể về t liệu sản
xuất, trừ ruộng đất trong nông nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nớc.
Đây là hình thức liên kết tự nguyện của những ngời lao động nhằm kết
hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu
quả hơn những vấn đề của sản xuất, kinh doanh... Thành phần kinh tế này tồn
tại trong mọi ngành nghề kinh tế và dới nhiều hình thức. ở nớc ta nó tồn tại
chủ yếu dới dạng tập đoàn sản xuất và hợp tac xà (hợp tác xà nông nghiệp,
hợp tác xà tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xà mua bán, tín dụng...)
Thành phần kinh tế hợp tác ở nớc tă đợc hình thành chủ yếu từ khi tiến
hành hợp tác hoá đối với những ngời sản xuất nhỏ, cá thể. Cùng với inh tế
Nhà nớc, kinh tế hợp tác cũng là một bộ phận của hình thức kinh tế xà hội
chủ nghĩa. Để nó có thể hoạt động với hiệu quả cao cần tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản của quá trình hợp tác hoá mà V.I. lênin đà đề ra. Đó là

9


tự nguyện, dân chủ, cùng có lợ dới sự lÃnh đạp của Đảng. Trong đó, nguyên

tắc tự nguyện là nguyên tắc đầu tiên, cơ bản nhất.
Ngoài ra còn có những nguyên tắc khác nh: phải sử dụng các hình
thức đa dạng, từ lĩnh vực lu thông, dịch vụ, đến lĩnh vực sản xuất, phát triển
từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xÃ, quản lý dân chủ...
Tất cả các nguyên tắc trên có liên quan mật thiết với nhau. Chẳng hạn,
không thể đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, nếu nh gia nhập hợp tác xà mà
không mang lại lợi ích cho ngời lao động, trứơc hết là lợi ích kinh tế và để
các tổ chức kinh tế đó có thể mang lại lợi ích cho ngời lao động, thì nó phải
sản xuất - kinh doanh có hiệu quả. ở nớc ta, quan trọng hợp tác hoá đối với
những ngời sản xuất nhỏ diễn ra từ sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc
(1954). "Năm 1958, ë miỊn B¾c cã tõ 65 - 67% sè hé nông dân đà vào kinh
tế tập thể dới hình thức tổ đội công. Đến năm 1960 đa số hộ nông dân
(85,8%) đà vào hợp tác xà (chủ yếu là bậc thấp)". Tiếp sau đó là q chuyển từ
hợp tác xà bập thấp lên hợp tác xà bậc cao, các t liệu sản xuất đợc tập thể hoá
ở mức độ cao và mở rộng quy mô sản xuất.
ở miền Nam sau khi giải phóng, các tổ chức kinh tế hợp tác cũng đợc
thành lập. Trong tiểu, thủ công nghiệp, thơng nghiệp và dịch vụ, quá trình
hợp tác hoá cũng diễn ra nh vậy, tuy mức độ có thấp hơn.
Nhìn chung kinh tế tập thể đà có những đóng góp quan trọng trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhng khi cả nớc cùng bớc vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xà hội, đặc biệt là sau khi bớc vào cơ chế
thị trờng nó đà bộc lộ các khuyết tật của mình, làm cho sản xuất trì trệ, nhiều
hợp tác xà không cònhd, đời sống của ngời lao động chậm đợc cải thiện...
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là:
- Trớc đây chúng ta cho rằng có càng nhiều hợp tác xà với quy mô
càng lớn thì tính chất xà hội chủ nghĩa càng cao.

10



- Chúng ta đà vi phạm nguyên tắc cơ bản của quan trọng hợp tác hoá,
trớc hết là nguyên tắc tù ngun.
- C¬ së vËt chÊt - kü tht cđa các hợp tác xà còn rất thấp. Ví dụ:
"Trong những năm 80, quy mô trung bình của một hợp tác xà là 640 ngời, với
diện tích đất canh tác là 214 ha, nhng chỉ có 0,51 máy kéo". Do đó, năng suất
lao động của các hợp tác xà không cao, điều đó có nghĩa la những hợp tác xÃ
bậc cao mà chúng ta thiết lập, không phải do tính tất yếu kỹ thuật quy định.
- Trình độ cán bộ quản lý kém, còn nhiều hạn chế, phần lớn cha qua
đào tạo một cách chính qui.
Tất cả nớc nguyên nhân đó đà làm biến dạng ệ hợp tác hoá ở nớc ta, nó
biến thành quá trình tập thể hoá t liệu sản xuất. Từ sau Đại hội Đảng VI,
thành phần kinh tế này đà có những thay đổi rõ rệt. Chẳng hạn, trong nông
nghiệp: "Từ 18.631 hợp tác xà năm 1989 giảm xuống còn gần 12.000 hợp tác
xà năm 1991, trong ®ã 15% ®ỉi míi cã kÕt qu¶, kho¶ng 30% sè hợp tác xÃ
đang trong quá trình chuyển đổi, số còn lại chỉ tồn tại một cách hình thức,
tiến tới xoá bỏ". Đồng thời với nó là sự ra đời của một số hợp tác xà kiểu mới
tuy vẫn còn nhiều hạn chế nhng đà có những đóng góp nhất định cho nền
kinh tế.
Để củng cố và phát huy hơn nữa thành phần kinh tế này cần có một số
biện pháp nh sau:
- Cần phải phát triển các loại hình hợp tác đa dạng, đặc biệt là hình
thức hợp tác xà cổ phần "đợc tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham
gia lao động trực tiếp của xà viên, phân phối theo kết quả lao động theo cổ
phần, mỗi xà viên có quyền nh nhau đối với công việc chung ra đời và phát
triển do yêu cầu khách quan của sản xuất - kinh doanh, do những ngời xÃ
viên tự động góp vốn, góp sức, tự chịu trách nhiệm, có t cách pháp nhân,...".
Cần phân biệt kinh tế hợp tác với vai trò là một trong hai thành phần
kinh tế chủ đạo với vai trò kinh tế của nó. Có nh vậy mới phát huy đợc cao ®é

11



thành phần kinh tế này theo đúng mục đích tồn tại và phát triển của nó. Trong
giai đoạn hiện nay thành phần kinh tế này đợc hình thành chủ yếu trong các
khâu nh: thuỷ lợi, cung ứngvật t, dịch vụ kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh... mà
từng hộ xà viên không làm đợc hoặc làm không có hiệu quả bằng hợp tác xÃ.
- Ngoài ra để phát triển tốt thành phần kinh tế hợp tác cần giải quyết
một loạt các vấn đề có liên quan đến chính sách hỗ trợ, đầu t, thuế, tín dụng,
áp dụng khoa học - kỹ thuật,... Phải đổi mới căn bản vể quan hệ sở hữu t liệu
sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối, giải quyết tốt những
vấn đề đó sẽ làm cho quá trình hợp tác hoá diễn ra phù hợp với qui luật
khách quan, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong tiểu thủ công nghiệp, thơng nghiệp và dịch vụ, thành phần kinh
tế này cũng cần phải đợc đổi mới theo xu hớng trên tạo ra sự đồng bộ với các
hợp tác xà nông nghiệp. Có nh vậy thành phần kinh tế hợp tác mới thực hiện
đợc toàn vẹn chức năng của mình.
1.1.3. Thành phần kinh tế t bản t nhân.
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu t nhân t bản chủ
nghĩa về t liệu sản xuất và chế độ bóc lột lao động làm thuê. Nó bao gồm
những đơn vị kinh tế mà 100% vốn của t bản t nhân, hoặc số vốn cđa hä
chiÕm tû lƯ khèng chÕ. Kinh tÕ t b¶n t nhân gồm cả kinh tế t bản trong nớc và
t bản ngoài nớc, một bộ phận tồn tại sẵn trong nền kinh tế do lịch sử để lại,
còn đa số đợc hình thành trong thời gian gần đây Đảng ta đà chỉ rõ "khuyến
khích t bản t nhân đầu t vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền
sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cờng quản
lý, hớng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh".
Thành phần kinh tế này nắm tiềm năng khá lớn về vốn, kỹ thuật, công
nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý, do đó, nó có vai trò to lớn trong việc
phát triển lực lợng sản xuất, giải quyết làm việc, tăng thu nhập quốc dân,
nâng cao ®êi sèng. Tuy vËy, ®èi víi níc ta, kinh tÕ t bản t nhân cha phát triển

mạnh mẽ vì:
12


- Chúng ta còn có quan niệm giản đơn, cho rằng chủ nghĩa xà hội là
nền sản xuất phi hàng hoá, là sự kế hoạch hoá, tập trung... vì thế, chúng ta đÃ
nôn nóng xoá bỏ các thành phần kinh tế cũ, xoá bỏ nền kinh tế hàng hoá...
không thấy đợc sự tồn tại của nó là tất yếu khách quan mà chỉ muốn xoá bỏ
nó càng nhanh càng tốt. Đây là quan niệm không biện chứng, xà hội mới ra
đời phải trên cơ sở xà hội cũ, phát huy những tích cực của xà hội cũ, chỉ thủ
tiêu những gì là tiêu cực mà thôi.
Từ khi có nhận thức đúng đắn về vấn đề này, Nhà nớc đà có những
chính sách khuyến khích thành phần kinh tế t bản t nhân phát triển trong các
lĩnh vực nh giao thông vận tải, may mặc, xuất khẩu, khách sạn, du lịch,.. Nó
góp phần không nhỏ vào việc đáp ứng nhu cầu xà hội, huy động đợc nguồn
vốn lớn của các nhà t bản, đặc biệt là các công ty nớc ngoài đầu t vào nớc ta,
góp phần vào sự tăng trởng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, sự phát triển của thành phần kinh tế này mới tập trung ở
những lĩnh vực thơng nghiệp, dịch vụ, du lịch, khách sạn... với qui mô và dự
án nhỏ chứ cha phát triển mạnh trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Các khu
công nghiệp (IZS) và khu chế xuất (EPZs) hoạt động thiếu hậu quả. Sở dĩ
vậy là vì:
- Chúng ta cha tạo đợc niềm tin vững chắc, nhất quán và lâu dài trong
chính sách đối với kinh tế t bản t nhân, do đó họ thiên về những hoạt động dễ
sinh lợi và có thể thu hồi vốn đầu t nhanh khi điều kiện thay đổi.
- Môi trờng đầu t kinh doanh cha thuận lợi.
+ luật đầu t cha đồng bộ, còn nhiều thđ tơc phiÕn hµ, tèn thêi gian, tiỊn
cđa, thËm chÝ là lỡ cơ hội đầu t.
+ lạm phát tuy đà đợc kiềm chế song khả năng bộc phát lại còn rất cao,
dễ dẫn tới rủi ro.

+ Cơ sở hạ tầng vật chất xà hội còn thấp kém..
+ Đồng tiền Việt Nam có giá trị quá thấp so với các đồng ngo¹i tƯ.
13


- NỊn kinh tÕ níc ta cßn nhiỊu u kÐm, tích luỹ nói chung và tích luỹ
của dân c còn nhỏ.
Để có thể khai thác đợc mọi tiềm năng của thành phần kinh tế này
chúng ta cần thực hiện.
- Khuyến khích thành phần kinh tế t bản t nhân phát triển không hạn
chế về quy mô, phạm vi hoạt động trong các ngành nghề pháp luật cho phép.
- Hoàn chỉnh luật đầu t, tạo niềm tin cho các nhà t bản đầu t vào nớc
ta.
- Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy, cải cách hệ thống hành
chính, giảm bít thđ tơc phiỊn hµ... VÝ dơ: hoµn thiƯn chÕ độ đăng ký kinh
doanh, thuế, hợp đồng kinh tế.
- Nhà nớc đẩy mạnh liên doanh với các t bản t nhân trong và ngoài nớc
để hình thành loại hình kinh tế t bản Nhà nớc.
1.1.4. Thành phần kinh tế t bản Nhà nớc.
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa
kinh tế Nhà nớc với kinh tế t bản t nhâna trong nớc và nớc ngoài bằng nhiều
phơng pháp góp vốn hợp tác liên doanh.
Kinh tế Nhà nớc có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế kết hợp với
những tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý... của
các nhà t bản đà làm cho thành phần kinh tế này có nhiều lợi thế to lớn. Các
doanh nghiệp này có sức cạnh tranh lớn, điều kiện hợp tác rộng, hoạt động vì
lợi ích của bản thân các nhà t bản cũng nh của công cuộc xây dựng và phát
triển đất nớc. Hiện nay chúng đà đóng góp vào sự tăng trởng kinh tế, tăng
thêm kim nghạch xuất khẩu, tạo các chỗ làm nhiều hơn... Tuy nhiên, việc
phát triển thành phần kinh tế này còn nhiều khó khăn nh:

- Cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém

14


- Trình độ tay nghề, kinh nghiệm, khả năng giao tiếp, vốn ngoại ngữ...
của ngời lao động còn thấp, cha đáp ứng đợc so với nhu cầu của thời kỳ hiện
nay.
- Nớc ta cha có thị trờng chứng khoán, việc huy động vốn vào đầu t
còn cha nhanh và gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa thành phần kinh tế này có liên quan đến nhiều lĩnh vực nh an
ninh, quốc phòng, lịch sử, văn hoá, xà hội...
Điều đó giải thích tại sao gần đây, kinh tế t bản Nhà nớc mới đợc
khuyến khích phát triển.
Dới cuộc khủng hoảng tài chính khu vùc nỊn kinh tÕ níc ta tuy lµ nỊn
kinh tÕ khép kín song đà bắt đầu chịu ảnh hởng. Số vốn đầu t vào nớc ta phần
lớn là từ các nớc châu á, khi các nớc bị tác động, lẽ tất nhiên, nớc ta cũng bị
tác động. ĐÃ có nhiều nhà máy, cơ sở bị phá sản, số ngời thất nghiệp gia
tăng, giá cả biến động thất thờng...
Để phát triển hơn nữa thành phần kinh tế này chúng ta cần có một số
biện pháp nh:
- "Cải thiện môi trờng đầu t và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có
hiệu quả vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của ngời lao động trong các xí nghiệp hợp tác, liên doanh".
- Nâng cấp và mở rộng cơ sở hạ tầng
- Thành lập thị trờng chứng khoán, đào tạo các nhân viên và cán bộ có
đủ năng lực điều hành để sớm đa vào hoạt động.
- Khuyến khích các ngân hàng thơng mại, cá công ty tài chính và các
doanh nghiệp Nhà nớc hùn vốn và huy động các thành phần kinh tế khác
cùng góp vốn thực hiện các dự án, hoặc để tăng tỷ lệ góp vốn của phía Việt

Nam trong các công trình hợp tác liên doanh.

15


- Một số vấn đề lớn hiện nay là mặc dï ngêi ViƯt Nam cã tØ lƯ biÕt ch÷
cao song trình độ ngoại ngữ thì kém, kể cả phần lớn sinh viên sau khi tốt
nghiệp. Nếu giải quyết tốt vấn đề này a sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu t nớc
ngoài.
Nhìn vào kết quả đà đạt đợc nh: "tốc độ thu hút vốn đầu t trực tiếp của
nớc ngoài trong 5 năm qua tăng bình quân 50% hàng năm; phần vốn đi vào
hoạt động khoảng 1/3 tổng số vốn đăng ký theo dự án" chúng ta thấy rằng với
sự góp mặt của kinh tế t bản t nhân và t bản Nhà nớc nền kinh tế nớc ta đà có
nhiều bớc tiến lên đáng kể. Đó là minh chứng cho đờng lối lÃnh đạo sáng
suốt của Đảng và Nhà nớc ta.
1.1.5. Thành phần kinh tế cá thể, tiểu thủ.
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu cá thể về t liệu sản
xuất và lao động của bản thân họ.
Nó tồn tại ở phạm vi tơng đối lớn, chủ yếu là dới dạng các cơ sở sản
xuất - kinh doanh của những hộ nông dân, thợ thủ công, những ngời buôn
bán nhỏ,.. nó đợc khuyến khích phát triển trong rất nhiều ngành nghề và ở
hầu hết các vùng của nèn kinh tế. Ưu điểm của thành phần kinh tế này là linh
hoạt, nhạy bén, phát huy nhanh và hiệu quả sử dụng vốn lớn. Nó có thể là
một mắc xích của sản xuất, hỗ trợ cho các cơ sở lớn, lại có thể là một cơ sở
độc lập, tự sản xuất và tiêu dùng.
Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt là trong chặng đờng đầu, thành
phần kinh tế này cũng có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu cho
sản xuất cũng nh cho tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Chẳng hạn, cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến (mía - đờng), hàng
may mặc cho tiêu dùng và xuất khẩu... Một ý nghĩa to lớn của thành phần

kinh tế này là nó không chỉ đem lại lợi ích về mặt kinh tế mà còn duy trì và
phát triển những di sản văn hoá dân tộc, nhất là ở các lµng nghỊ trun thèng.

16


Nhng hiện nay rất nhiều đồ thủ công mỹ nghệ không còn duy trì đợc
và đang bị mai một. Nguyên nhân là do nền kinh tế thị trờng, khi hàng hoá
không bán đợc trong khi các công việc khác kiếm đợc nhiều tiền hơn thì ngời lao động sẽ chuyển hớng sản xuất. Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi Nhà
nớc phải có các chính sách u đÃi và giúp đỡ ngời sản xuất tiêu thụ sản phẩm
ra cả thị trờng bên ngoài.
Nớc ta bớc vào thời kỳ quá độ với sản xuất nhỏ là chủ yếu, vì thể thành
phần kinh tế cá thể, tiểu thủ chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, đặc biệt là
buôn bán nhỏ và kinh doanh dịch vụ. Nông nghiệp là lĩnh vực có phong trào
hợp tác hoá mạnh nhất nhng vẫn luôn tồn tại những ngời sản xuất nhỏ, cá thể.
Trong những năm 80, hộ nông dân cá thể chiếm 10% tổng số hộ nông dân và
đất đai canh tác. Hiện nay, do sự tan rà của nhiều hợp tác xÃ, sô hộ sản xuất
cá thể có tăng lên, Nhà nớc ta ®· ®Ị ra nhiỊu chÝnh s¸ch khun khÝch ®Ĩ hä
®i vào các loại hình hợp tác. và tất yếu con đờng hợp tác của họ phải đợc thực
hiện trên các nguyên tắc tự nguyện, không gò ép và cùng có lợi.
Trong một thời gian dài, chúng ta cha phát huy đợc hết vai trò của
kinh tế cá thể, tiểu thủ vì:
- Chúng ta đà vận dụng máy móc quan điểm chỉ có sản xuất lớn là tiến
bộ, còn sản xuất nhỏ là cơ sở làm chủ nghĩa t bản. Do đó chúng ta đà đề ra
những chính sách và biện pháp nh cải tạo, tập thể hoá không tự nguyện...
nhằm xoá bỏ sản xuất hàng hoá nhỏ. Trong khi thực tế cho thấy, các nớc lớn
tiên tiến vẫn phải tồn tại sản xuất hàng hoá nhỏ, không thể xoá bỏ đợc. Nó
cũng có những tiềm năng về vốn, kỹ thuật, công nghệ... nó giúp đỡ cho sự
phát triển của sản xuất lớn vì thế sự phát triển của nó cũng là tất yếu.
Trong thời gian gần đây, nhận thức đợc đúng đắn về vấn đề này, chúng

ta đà có nhiều biện pháp để phát huy vai trò của thành phần kinh tế này là:
- Khuyến khích nó phát triển trong các thành thị, nông thôn ở nhiều
ngành nghề khác nhau. Kinh tế cá thể không bị hạn chế về vốn, ph¹m vi kinh

17


doanh, có thể tồn tại độc lập hay tham gia vào hợp tác xà hoặc có thể liên kết
với các doanh nghiệp trong và ngoài nớc.
- Nhà nớc có các chính sách giúp đỡ, hỗ trợ để nó phát triển một cách
có hiệu quả, chẳng hạn hỗ trợ về vốn, công nghệ, kỹ thuật, thông tin...
- Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của quá trình hợp tác hoá khi thu
hút các hộ kinh tế cá thể vào hợp tác xÃ.
Chúng ta cần phân biẹt kinh tế cá thể với kinh tế gia đình. Kinh tế gia
đình dựa trên sở hữu cá nhân đặc biệt có trong tay một ít t liệu sản xuất - và
thời gian lao động ngoài thời gian mà công nhân làm việc ở nhà máy hay
công chức làm việc ở công sở...
ở nớc ta kinh tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế độc
lập nhng khá quan trọng và đợc khuyến khích phát triển mạnh. Nó tạo thêm
nguồn thu nhập có tỷ trọng không nhỏ trong tổng thu nhập của ngời lao
động, giúp họ có thể làm giàu chính đáng.
Nh vậy, cùng với các thành phần kinh tế khác, kinh tế cá thể tiểu chủ
cũng đang và xẽ góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế nớc ta.

1.2. Mục đích sử dụng và phát triển các thành phần kinh
tế ở nớc ta.

- Giải phóng mọi lực lợng sản xuất, mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật,
sức lao động.. đà bị kìm hÃm trớc đây của các thành phần kinh tế. Từ đó đa
chúng vào khai thác, sử dụng một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao.

- Tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hàng
hoá, sự ổn đọnh của đất nớc và từng bớc cải thiện cuộc sống của nhân dân
trên khắp mọi miền đất nớc.
- Kinh tế Nhà nớc phải đợc củng cố, đi vào nắm ngành, những khâu,
những doanh nghiệp then chốt để đảm bảo thực hiện tốt vai trò chủ ®¹o, mét
18


công cụ điều hành vĩ mô của Nhà nớc, hớng các thành phần kinh tế cũng nh
toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định hớng xà hội chủ nghĩa.

19


1.3. lợi ích của việc phát triển cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần.

Sự tồn tại và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần không chỉ là một
tất yếu khách quan mà còn đem lại nhiều lợi ích to lớn. §ã lµ:
- lµm cho nỊn kinh tÕ níc ta cã tốc độ tăng trởng nhanh. Vì nhiều
thành phần kinh tế có nghĩa là tồn tại nhiều hình thức quan hệ sản xuất phù
hợp vói các tính chất và trình độ phát triển khác nhau của lực lợng sản xuất.
sự phù hợp này, theo quy luật của nó sẽ tạo ra năng suất lao động cao trong
sản xuất. Điều này rất quan trọng vì lênin đà chỉ ra rằng: cơ sở để xem xét sự
thắng lợi của chế độ xà hội này với chế độ xà hội khác chính là ở năng suất
lao động.
- Góp phần khôi phục cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của nền
kinh tế hàng hoá mà trớc đây chúng ta đà nôn nóng xoá bỏ đi. Sản xuất hàng
hoá tuy vẫn còn nhiều mặt hạn chế, song nó có những u điểm vợt trội so với
sản xuất hàng hoá tự cung, tự c¸p. Thùc tÕ cho thÊy bÊt kú mét níc ph¸t triển

nào cũng đều phải có nền kinh tế hàng hoá.
- Huy động đợc nhiều năng lực về kỹ thuật, vốn... cả trong và ngoài nớc vào việc phát triển kinh tế.
- Dần dần khắc phục đợc tình trạng biệt lập cđa nỊn kinh tÕ níc ta víi
nỊn kinh tÕ thÕ giới. Bởi vì sự đầu t và hợp tác quốc tế thờng gắn với công
nghệ và kỹ thuật tiên tiến, do đó khuyến khích phát triển các thành phần kinh
tế, trong đó có kinh tế t bản t nhân và t bản nhà nớc, sẽ giúp nớc ta tiếp cận
với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của thế giới. Từ đó, tạo điều kiện cần thiết
để đa nớc ta từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xà hội, bỏ qua chế độ t bản chủ
nghĩa.

20


Chơng III
Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa các
thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong mét hƯ thèng, cã mèi quan
hƯ chỈt chÏ víi nhau. Mối quan hệ đó vừa mang tính thống nhất, lại vừa
mang tính mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế.
1.1. Sự thống nhất giữa các thành phần kinh tế.
Đợc biểu hiện.
- Các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một hệ thống phân công
lao động xà hội, cùng tồn tại trong nền sản xuất hàng hoá nên chúng đều hoạt
động hớng vào việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của xà hội.
- Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận tạo nên nền kinh tế quốc dân
trong thời kì quá độ, hoạt động của chúng tạo nên sự giàu có của xà hội nói
chung.
- Tất cả các thành phần kinh tế đều vận động theo sự điều tiết của Nhà
nớc bằng luật pháp, bằng các chính sách tơng ứng với mỗi thời kì...
- Các thành phần kinh tế trong quá trình sản xuất đà có sự liên kết hợp

tác với nhau rất đa dạng. Từ đó nảy sinh nhiều cơ sở kinh tế có sự đan xen về
hình thức sở hữu.
1.2. Sự mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế.
- Mỗi thành phần kinh tế đều vận động theo những quy luật nội tại của
nó, tất nhiên là bên cạnh những quy luật chung, từ đó sẽ phát sinh nhiều qui
luật đối lập nhau giữa các thành phần kinh tế.
- Do mỗi thành phần kinh tế dựa trên những hình thức sở hữu khác
nhau về t liệu sản xuất, nên về lâu dài các lợi ích kinh tế cơ bản của mỗi
thành phần sẽ không hoàn toàn thống nhất với nhau và sẽ dẫn tới mâu thuẫn.
21


Đặc biệt, nớc ta mới xoá bỏ đợc cơ chế quan liêu bao cấp để chuyển
sang cơ khí thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, vì vậy hệ thống pháp luật và
chính sách còn nhiều khe hở cùng với những khó khăn khác đà làm cho
những mâu thuẫn cµng béc lé râ nÐt. Nã biĨu hiƯn ë sù thiếu hiệu quả trong
kinh doanh, ở việc phát sinh nhiều tiêu cực, ở những hành vi trốn thuế, lừa
đảo..

22


tài liệu tham khảo
1. Báo cáo tổng kết năm của Bộ tài chính - 1990
2. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII - trang 93
3. V.I. lênin toàn tập, tiếng Nga - trang 38, trang 208
4. Văn kiện Đại hội Đảng đại hội toàn quốc lần thứ VIII - trang 95
5. Văn kiện Đại hội Đảng đại hội toàn quốc lần thứ VIII - trang 96
6. Sách Kinh tế Chính trị của Bộ giáo dục.


23


Mục lục
Lời nói đầu
Chơng I: cơ sở lý luận - tính tất yếu khách quan của cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần

Trang
1
2

1.1. Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

2

trong thời kỳ quá độ ở nớc ta
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.2. Cơ sở lý luận - Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều

2
3

thành phần
Chơng II: Các thành phần kinh tế và vấn đề để
sử dụng ở nớc ta

1.1. Các thành phần kinh tế ở nớc ta
1.1.1. Thành phần kinh tế Nhà nớc
1.1.2. Thành phần kinh tế hợp tác

1.1.3. Thành phần kinh tế t bản t nhân
1.1.4. Thành phần kinh tế t bản Nhà nớc
1.1.5. Thành phần kinh tế cá thể, tiểu thủ
1.2. Mục đích sử dụng và phát triển các thành phần kinh tế ở nớc
ta
1.3. lợi ích của việc phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Chơng III: Tính thống nhất và mâu thuẫn
giữa các thành phần kinh tế

1.1. Sự thống nhất các thành phần kinh tế
1.2. Sự mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
Tài liệu tham khảo

24

6
6
6
9
13
15
17
19
20
21
21
21
23




×