Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Luận văn: Ứng dụng phương pháp TCM để định giá giá trị cảnh quan tại Thung lũng tình yêu. docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (534.17 KB, 76 trang )



Luận văn

Ứng dụng phương pháp
TCM để định giá giá trị cảnh
quan tại Thung lũng tình yêu.
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG CHUYÊN ĐỀ 6
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG CHUYÊN ĐỀ 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1. Tính cấp thiết của đề tài. 8
2. Mục đích nghiên cứu 10
3. Phạm vi nghiên cứu. 9
4. Các phương pháp nghiên cứu. 9
5. Tóm tắt chuyên đề. 10
NỘI DUNG 14
PHẦN CHƯƠNG I: TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG.
12
1.1. Hàng hóa chất lượng môi trường. 12
1.1.1. Khái niệm 12
1.1.2. Giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường: Tổng giá trị
kinh tế (TEV)
. 15
1.2. Đánh giá chất lượng môi trường. 18
1.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng môi trường. 18
1.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường 18
1.3. Phương pháp chi phí du lịch TCM sử dụng cho đánh giá chất


lượng môi trường. 20
1.3.1. Khái niệm: 20
1.3.2. Các cách tiếp cận. 22
1.3.2.1. Phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM : Individual Travel
Cost Method) 22
1.3.2.2. Phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM : Zonal Travel Cost
Method) ……………………………………………………………………23
1.3.3. Các bước thực hiện 22
1.3.4. Ưu điểm 27
1.3.5. Hạn chế 28
1.4. Tiểu kết chương I 29
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH THUNG LŨNG TÌNH
YÊU Ở LÂM ĐỒNG. 30
2.1. Đặc điểm chung 30
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên: 30
2.1.1.2. Địa hình và thổ nhưỡng. 31
2.1.1.3. Khí hậu, thủy văn. 34
2.1.1.4. Hệ động, thực vật 35
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội. 34
2.2. Thực trạng về hoạt động du lịch. 36
2.2.1.Tiềm năng du lịch. 36
2.2.2. Thực trạng du lịch. 37
2.2.2.1. Lượng khách du lịch. 37
2.2.2.2. Doanh thu từ hoạt động du lịch. 38
2.2.3. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch. 39
2.3. Những hoạt động bảo tồn thiên nhiên và giáo dục môi trường. 40
2.3.1. Nghiên cứu khoa học. 40
2.3.2. Công tác quản lý và bảo vệ rừng. 40
2.3.3. Công tác tôn tạo cảnh quan. 40
2.3.4. Công tác phát triển kinh tế vùng đệm. 42

2.4. Tiểu kết chương II. 43
CHƯƠNG III. ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TCM ĐỂ ĐỊNH GIÁ GIÁ
TRỊ CẢNH QUAN TẠI THUNG LŨNG TÌNH YÊU. 44
3.1. Sử dụng ZTCM để xác định giá trị cảnh quan cho khu du lịch Thung
lũng tình yêu. 43
3.2. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin. 44
3.2.1. Đối với thông tin sơ cấp 44
3.2.1.1. Thiết kế bảng hỏi. 44
3.2.1.2. Tiến hành điều tra lấy mẫu. 45
3.2.2. Đối với thông tin thứ cấp 46
3.3. Tổng quan về đặc điểm mẫu nghiên cứu 47
3.3.1. Đặc điểm của du khách tham gia phỏng vấn 48
3.3.2. Các hoạt động tại Thung lũng tình yêu của du khách tham gia phỏng vấn.
52
3.3.3. Số ngày lưu trú và các chi phí du lịch của khách du lịch. 56
3.4. Xác định mô hình hàm cầu du lịch cho Thung lũng tình yêu. 56
3.4.1. Phân vùng khách du lịch 56
3.4.2. Xác định chi phí cho một chuyến đến Thung lũng tình yêu 58
3.4.2.1. Chi phí đi lại của du khách 58
3.4.2.2. Chi phí thời gian. 61
3.4.2.3. Chi phí sinh hoạt: bao gồm chi phí ăn ở, vé vào cửa, mua sắm đô lưu
niệm… 62
3.4.2.4. Tổng hợp chi phí 63
3.5. Xây dựng đường cầu giải trí 64
3.51. Tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát 64
3.5.2. Xác định hàm cầu và đường cầu giải trí 65
3.5.3. Xác định thặng dư và giá trị giải trí 68
3.5.4. Nhận xét, đánh giá 71
3.6. Những hạn chế trong quá trình thực hiện ZTCM tại Thung lũng tình yêu.
72

3.7. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng môi trường tại Thung
lũng tình yêu 72
3.8. Tiểu kết chương III. 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76




GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

BV

Bequest Value

Giá trị tồn tại

DUV
Direct Use Value
Phương pháp chi phí du lịch
cá nhân
EXV Exit Value Giá trị tồn tại

ITCM

Individual Travel Cost Method

Phương pháp chi phí du lịch
cá nhân

IDUV Indirect Use Value Giá trị sử dụng gián tiếp
NUV Non Use Value Giá trị phi sử dụng
OV Option Value Giá trị tùy chọn
TEV Total Economics Value Tổng giá trị kinh tế
TCM Travel Cost Method Phương pháp chi phí du lịch

UV Use Value Giá trị sử dụng
WTP Willingness to Pay Bằng lòng chi trả

ZTCM

Zonal Travel Cost Method
Phương pháp chi phí du lịch
theo vùng









DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG CHUYÊN ĐỀ
Bảng

Tên Trang

2.1 Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa trung bình trong các năm 35
2.2 Lượng khách đến Thung lũng tình yêu qua các năm 37

2.3

Doa
nh thu t
ừ hoạt động du lịch

3
9

3.1 Phân loại khách du lịch 48
3.2 Tổng hợp một số đặc điểm về kinh tế-xã hội của du khách quốc tế.

49
3.3 Một số đặc điểm chính của du khách. 51
3.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách nội địa 52
3.5 Mục đích của du khách tới Thung lũng tình yêu. 54
3.6

Các ho
ạt động
ưa thích c
ủa du khách.

5
5

3.7 Những điểm làm du khách chưa hài lòng 56
3.8 Phân vùng du khách 58
3.9 Chi phí đi lại của du khách. 60
3.10 Chi phí thời gian của du khách. 62

3.11 Tổng hợp chi phí ăn ở của du khách. 64
3.12

T
ổng hợp chi phí tham quan theo v
ùng

6
5

3.13 Tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát. 66
3.14 Kết quả hồi quy hàm cầu giải trí. 67
3.15
Lượng khách mỗi vùng khi chi phí tăng thêm 100.000 đồng
68
3.16 Lượng khách mỗi vùng khi chi phí tăng thêm 200.000 đồng và
300.000 đồng.
68
3.17 Thặng dư của du khách tính theo vùng. 70




DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG CHUYÊN ĐỀ

Hình

Tên Trang

1.1 Sơ đồ tổng giá trị kinh tế 15

1.2 Nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch 27
2.1


ợng khách du lịch đến Thung lũng t
ình yêu qua các n
ăm.

3
2

2.2 Bản đồ vị trí khu du lịch Thung lũng tình yêu 38
3.1
Đường cầu giải trí Thung lũng tình yêu.
69




















PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Như chúng ta đều biết : môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu
tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên. Đối với cá thể con người cũng như đối với cả xã hội loài người môi
trường có ba chức năng cơ bản như sau:
Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và
hoạt động sản xuất của con người, bao gồm tài nguyên tái sinh, tài nguyên
không tái sinh và các dạng thông tin mà con người khai thác sử dụng.
Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và sản xuất của mình.
Môi trường là không gian sống, cung cấp các dịch vụ cảnh quan thiên
nhiên. Môi trường là nơi duy nhất cho con người được hưởng các cảnh đẹp
thiên nhiên, thư thái về tinh thần, thư thái về các nhu cầu tâm lý.
Chính vì vậy môi trường có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các hoạt
động kinh tế. Môi trường và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho
nhau cùng phát triển: môi trường cung cấp các điều kiện cần thiết như tài
nguyên… làm đầu vào cho các hoạt động kinh tế giúp kinh tế ngày càng mở
rộng, lớn mạnh, còn kinh tế quay lại cung cấp nguồn tài chính cho hoạt động
bảo vệ môi trường, cho các quỹ hoạt động vì môi trường… giúp môi trường
được cải thiện. vì vậy chúng ta phải coi trọng và phát triển cả kinh tế lẫn môi
trường. nhưng cho đến nay ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước đang phát triển người ta vẫn chú trọng phát triển kinh tế mà bỏ qua các
vấn đề về môi trường, người ta lạm dụng môi trường, khai thác cạn kiệt
nguồn tài nguyên, không quan tâm đến các vấn đề xử lý chất thải, nước thải…

Dân Việt Nam có câu:” rừng vàng biển bạc” vì thế người ta chỉ tập trung
khai thác không quan tâm đến vấn đề khai thác hay bảo tồn dẫn đến tài
nguyên cạn kiệt. Chúng ta đã phải nhập khẩu cả những mặt hàng được coi là
thế mạnh như than…, diện tích rừng che phủ bị suy giảm trầm trọng ( trước
kia khoảng hơn 50%, hầu hết là rừng nguyên sinh nhưng hiện nay chỉ còn
khoảng 28 – 32 % chủ yếu là rừng trồng). còn chất lượng môi trường bị suy
giảm nghiêm trọng, ô nhiễm đất, nước, không khí…ngày càng diễn ra trên
quy mô rộng hơn và chúng ta chưa có quy chế nghiêm để xử lý như vụ
Vedan, Miwon…Nguyên nhân một phần do môi trường chưa được định giá
đúng trên thị trường.
Chưa bao giờ vấn đề môi trường lại cấp bách như hiện nay, các công
ước về bảo vệ môi trường lần lượt ra đời, các quỹ, các tổ chức hoạt động vì
môi trường ngày càng phát triển mạnh. Người ta quan tâm đến phát triển sạch,
thích đi du lịch ở những nơi có chất lượng môi trường tốt đặc biệt là những
nơi có cảnh quan tự nhiên…chính vì vậy hoạt động du lịch sinh thái rất phát
triển , du lịch sinh thái phát triển mạnh ở những khu vực có rừng tự nhiên.
Một trong những giá trị cơ bản của rừng là tạo cảnh quan môi trường đẹp
đẽ để con người có thể đến thưởng ngoạn. Khi chúng ta đến một khu rừng để
giải trí là chúng ta mong muốn nhận được sự thoải mái, giảm bớt sự căng
thẳng, lo âu…. và điều đó có nghĩa là rừng đã mang lại cho chúng ta giá trị
giải trí. Tuy nhiên giá trị này không được thể hiện trên thị trường và để đánh
giá chúng ta có thể sử dụng thị trường thay thế thông qua quan sát sự sẵn lòng
chi trả cho tiêu dùng dịch vụ môi trường. Một trong những phương pháp
truyền thống dựa trên thị trường thay thế là phương pháp chi phí du lịch
(TCM - Travel Cost Method).
Việc nghiên cứu giá trị cảnh quan của khu du lịch sinh thái Thung lũng
tình yêu có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan của khu
vực. Nó cũng giúp các nhà quản lý và chủ đầu tư hiểu và có biện pháp đầu tư
tôn tạo cảnh quan ngày càng đáp ứng nhu cầu cao của du khách
2. Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá cảm nhận của du khách về cảnh quan, chất lượng môi trường và
chất lượng dịch vụ tại địa điểm giải trí.
- Xác định giá trị giải trí du lịch của khu du lịch sinh thái thung lũng tình yêu
bằng phương pháp chi phí du lịch và thông qua xác định thặng dư của du khách.
- Đề xuất mức phí vào cổng thích hợp vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp vừa có nguồn thu để đầu tư tôn tạo cảnh quan môi trường.
3. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian lãnh thổ : Địa bàn nghiên cứu là thung lũng tình yêu thuộc
thành phố đà lạt tỉnh lâm đồng.
- Về thời gian nghiên cứu : Điều tra phỏng vấn khách du lịch vào tháng 1 năm
2009, sử dụng số liệu thống kê lượng khách du lịch đến thung lũng tình yêu từ
năm 2006 đến 2008.
- Về giới hạn khoa học : Giá trị chất lượng môi trường tại thung lũng tình yêu
bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên
cứu và tính toán giá trị cảnh quan tại đây ( một phần của giá trị phi sử dụng ).
4. Các phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu trong đề tài được kế thừa từ các phiếu điều
tra đã có do Trung tâm nghiên cứu môi trường và sinh thái thuộc viện Khoa
học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện trong đề tài: Định giá rừng trình diễn tại
Lâm Đồng. Dưới đây là ý nghĩa một số phương pháp đã đước áp dụng.
- Phương pháp thu thập thông tin : Tổng hợp số liệu thứ cấp và phỏng vấn
trực tiếp khách du lịch.
- Phương pháp thực địa : Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên
cứu đánh giá môi trường, đặc biệt là khi sử dụng phương pháp TCM. Kết hợp
với việc nghiên cứu qua bản đồ, các tài liệu liên quan, phương pháp này luôn
được coi là phương pháp chủ đạo của đề tài luận văn vì lãnh thổ nghiên cứu
nhỏ, đòi hỏi khảo sát thực địa tương đối cụ thể để nắm được đặc trưng lãnh
thổ một cách thực tế. Phương pháp này được kết hợp với phương pháp điều
tra xã hội học các đối tượng khách du lịch. Vì vậy các thông tin thực tế qua
quan sát, nghe ngóng, trao đổi thu thập thông tin càng được phong phú hơn.

- Phương pháp điều tra xã hội học : Phương pháp này được coi là phương
pháp quan trọng trong nghiên cứu và tính toán định lượng giá trị cảnh quan
của địa điểm nghiên cứu. Các thông tin thu thập được qua điều tra giúp nhà
nghiên cứu tổng hợp được các ý kiến và số liệu cần thiết cho tính toán. Cùng
với phương pháp thực địa, phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc
tính toán các hiện tượng thực tế.
- Phương pháp chuyên gia : Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về kinh tế
môi trường trong việc xây dựng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn khách du
lịch cũng như việc xây dựng các mô hình tính toán trong đề tài.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng các phần mềm Excel : Các số liệu điều tra
sẽ được tổng hợp và tính toán bằng các hàm cơ bản trên Excel ( ví dụ : hàm
Max, Min, Average…). Hàm cầu du lịch được hồi quy bằng công cụ
Regression Analysis của Excel.
- Phương pháp lượng giá giá trị cảnh quan : Để lượng giá giá trị cảnh quan
của thung lũng tình yêu, đề tài sử dụng phương pháp chi phí du lịch theo vùng
ZTCM ( Zonal Travel Cost Method).
5. Tóm tắt chuyên đề.
Chuyên đề tốt nghiệp ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Lời cảm ơn,
Lời cam đoan còn gồm ba phần nội dung chính như sau:
Chương I: Tiếp cận phương pháp TCM để đánh giá giá trị hàng hóa chất
lượng môi trường.
Chương II. Tổng quan về Thung lũng tình yêu
Chương III. Ứng dụng phương pháp TCM để định giá giá trị cảnh quan
tại Thung lũng tình yêu.



NỘI DUNG
PHẦN CHƯƠNG I: TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG.

1.1. Hàng hóa chất lượng môi trường.
1.1.1. Khái niệm.
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn được nhu cầu nào đó
của con người và nó được sản xuất ra để bán.
Hàng hóa chất lượng môi trường là một khái niệm mới được đưa vào
trong kinh tế học, đây là loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Nó:
+ Đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người ( sống)
+ Là điều kiện cần cho lao động sản xuất.
+ Là một yếu tố khách quan của cuộc sống vì nó cũng cần phải tái sản xuất.
Cho đến nay kinh tế học môi trường cho rằng muốn nghiên cứu hàng hóa
môi trường thì phải nhìn nhận trên góc độ tổng giá trị kinh tế.
1.1.2. Giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh
tế (TEV)
Khái niệm TEV ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX, là khái niệm
được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện về giá trị hàng hóa
môi trường mà sự nhìn nhận đó không chỉ gồm những giá trị trực tiếp có thể
lượng hóa được mà còn có cả những giá trị gián tiếp – những giá trị ẩn khó
nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội.
Các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phân loại giá
trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên. Vấn đề
thuật ngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng phương pháp của họ
đặt cơ sở trên cách giải thích truyền thống về sự hình thành của giá trị ( tức là
dựa trên cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người, người định ra giá trị và
khách thể - vật được đánh giá ). Các cá nhân có một số giá trị đã hình thành,
điều này sẽ dẫn đến các khách thể sẽ bị gán cho một số giá trị khác nhau. Trên
nguyên tắc, để đo lường tổng giá trị kinh tế, các nhà kinh tế học bắt đàu bằng
việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng.

TEV = UV + NUV trong đó:
UV = DUV + IDUV

NUV = OV + BV + EXV
( UV : giá trị sử dụng
NUV : giá trị phi sử dụng
DUV : giá trị sử dụng trực tiếp
IDUV : giá trị sử dụng gián tiếp
OV : giá trị tùy chọn
BV : giá trị tùy thuộc
EXV : giá trị tồn tại.
Vì OV không rõ ràng giữa UV và NUV ta có sơ đồ mô tả sau :
Hình 1.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế


Nguồn: Giáo trình bài giảng Kinh tế môi trường, NXB Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội, 1998.


Giá trị sử dụng : Các nhà kinh tế phải tính giá trị sử dụng, là loại giá trị hình
thành từ việc thực sự sử dụng môi trường. Người câu cá, thợ săn, người đi
dạo… tất cả đều sử dụng môi trường và thu được lợi ích mà không phải trả
tiền trực tiếp. Nó bao gồm:
Giá trị sử dụng trực tiếp: Là những giá trị mà trong thực tế nó liên quan
đến sản lượng đầu ra của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ môi trường xác lập trên
thị trường mà người ta có thể tính được giá của nó. Một cá nhân có thể trực
tiếp thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó ( thu nhặt gỗ củi để
đốt, câu cá để ăn, bán…) hoặc bằng cách tăng lợi ích từ bản thân thị trường tài
nguyên ( Ví dụ: Cảnh quan của một công viên hay Vườn quốc gia…).
Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị dựa chủ yếu trên chức năng
của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, có chức năng gián
tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế, hoạt động sống của con người đảm bảo lợi
ích của con người và đảm bảo những thảm họa có thể không xảy ra. Ví dụ:

Một khu rừng giúp chống hiện tượng xói mòn đất hay cản bão làm giảm thiệt
hại đối với tài sản.
Tuy nhiên phân biệt giữa giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp không phải
lúc nào cũng rõ ràng.
TEV

NUV
UV

DUV

IUV

OV

BV

EXV

Giá trị tùy chọn: Là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn
nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó để sử dụng cho tương lai.
Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái.
Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền
tệ theo tính chất lựa chọn của nó.
- Giá trị phi sử dụng : Thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất
thật sự của sự vật, nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế , hoặc
thậm chí việc chọn lựa sử dụng sản phẩm này. Thay vào đó các giá trị này được
coi như những yếu tố phản ánh sự lựa chọn của con người, những sự lựa chọn
này có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm và trân trọng đối với quyền lợi hoặc
phúc lợi của các sinh vật không phải là con người.các giá trị này vẫn còn tập

trung chú trọng nhiều đến con người nhưng nó có thể bao hàm cả nhận thức về
các giá trị tồn tại của các giống loài khác nữa hoặc cả quần thể hệ sinh thái.
- BV : Phụ thuộc vào tính đặc trưng sinh thái của khu vực nghiên cứu mà
quan điểm của người đánh giá đưa ra trong đó nó liên quan chặt chẽ tới tính
đặc thù, đặc trưng của từng hệ sinh thái mà các nhà kinh tế sinh thái cần thiết
phải đưa ra đánh giá tính phụ thuộc của nó. Việc lượng hóa giá trị này hết sức
khó khăn và nó tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia.
- EXV : Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của chính bản
thân chúng. Giá trị này không liên quan tới việc sử dụng, nó liên quan đến các
thế hệ mà duy trì giá trị của hệ sinh thái đó có ý nghĩa với thế hệ mai sau ( về
kinh tế, chính trị, sinh thái ). Loại giá trị này nhận thức thì không khó nhưng
lượng giá bằng tiền rất khó khăn.
Ví dụ về tổng giá trị kinh tế của khu rừng:
- Giá trị sử dụng trực tiếp như : lợi tức từ gỗ, động vật, giá trị phi gỗ…
- Giá trị sử dụng gián tiếp như: duy trì nguồn nước ngầm, chống lũ quét,
chống xói mòn đất…
- Giá trị tùy chọn thì có sự khác nhau giữa các khu rừng. Ví dụ: rừng miền núi
ở phía Bắc, giá trị tùy chọn có thể là giá trị của các loại gỗ lim, sến, táu… còn
rừng miền núi ở Tây Nguyên thì giá trị tùy chọn lại là giá trị của gỗ cẩm lai…
- Giá trị tùy thuộc như là thắng cảnh cho các thế hệ tương lai hoặc ý muốn
bảo tồn thiên nhiên. Giá trị tùy thuộc cũng có sự khác nhau giữa các khu
rừng. Ví dụ đối với hệ sinh thái Ba Bể, rừng Nà Hang thì việc duy trì khu
rừng này là chỗ dựa của loài voọc mũi hếch, còn ở Vườn quốc gia Cát Tiên là
loài tê giác…
- Giá trị tồn tại của một khu rừng như là bảo tồn tính đa dạng sinh học. Ví dụ
rừng Cúc Phương là bảo tồn cây chò chỉ…
Như vậy việc tính toán giá trị kinh tế của hệ sinh thái dựa trên quan điểm
tổng hợp người ta đã đưa ra giá trị TEV, đây là cơ sở cho các nhà kinh tế học
môi trường đưa ra các phương pháp đánh giá nhằm lượng hóa các giá trị của
môi trường phục vụ cho việc hoạch định chính sách duy trì, bảo tồn, đầu tư

phát triển, đảm bảo phát triển bền vững.

1.2. Đánh giá chất lượng môi trường.
1.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng môi trường.
Hiện nay người ta đã phải thừa nhận chất lượng môi trường là một loại
hàng hóa và nó có sự trao đổi mua bán trên thị trường. Tuy nhiên loại hàng
hóa này có tính chất đặc thù : Có thể nó là hàng hóa mang tính cá nhân như
tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng có thể là hàng hóa công cộng, không thể
trao đổi mua bán như hàng hóa cá nhân như : nguồn nước, không khí, cảnh
quan môi trường…
Chính vì vậy kinh tế học môi trường cho rằng cần phải đánh giá những
loại hàng hóa này phù hợp với giá trị của nó và nguyên lý tiếp cận trong kinh
tế học cũng như môi trường.
1.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường.
Để đánh giá giá trị hàng hóa môi trường, hiện nay các nhà kinh tế môi
trường dựa trên cơ sở nền tảng lý thuyết của kinh tế học và những vấn đề môi
trường đưa ra những kỹ thuật đánh giá có cơ sở khoa học thực tiễn được áp
dụng và phổ biến khá rộng rãi trên thế giới trong đó vấn đề cốt lõi cuối cùng
là phải xác định cho được giá của môi trường trong bối cảnh của TEV mà môi
trường mang lại.

Các phương pháp được sử dụng phổ biến:
+ Các phương pháp không sử dụng đường cầu:
Là các phương pháp trực tiếp hay gián tiếp khi đánh giá chất lượng môi
trường người ta xác định dựa trên cơ sở các kỹ thuật đánh giá mà không lập
hàm cầu ( hàm lợi ích). Đây là những phương pháp không thể lập được hàm
cầu, do đó không đo lường được phúc lợi thực tế nhưng thông tin lại rất hữu
ích cho các nhà hoạch định chính sách. Nó bao gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp liều lượng đáp ứng.
- Phương pháp chi phí thay thế

- Phương pháp chi phí cơ hội
- Phương pháp mô hình lựa chọn
- Phương pháp dựa vào hàm sản xuất
+ Các phương pháp sử dụng đường cầu :
Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu để
đánh giá giá trị chất lượng môi trường. Khi đánh giá giá trị chất lượng môi
trường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựa
trên nguyên lý kinh tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và giá
cả. Đây là những phương pháp để đo lường phúc lợi. Nó bao gồm những
phương pháp sau:
- Phương pháp chi phí du lịch ( TCM ).
- Phương pháp mô hình đánh giá ngẫu nhiên ( CVM ).
- Phương pháp đánh giá theo giá trị hưởng thụ ( HPM ).
Trong đó phương pháp TCM được sử dụng khá phổ biến trong kinh tế
học môi trường để lượng giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường và được
sử dụng trong đề tài: Đánh giá giá trị môi trường của KDL Thung lũng tình
yêu ở Đà Lạt ( Lâm Đồng).

1.3. Phương pháp chi phí du lịch TCM sử dụng cho đánh giá chất lượng
môi trường.
1.3.1. Khái niệm:
Là phương pháp dựa trên cơ sở những điểm du lịch có sức hấp dẫn đối
với khách, thường là những nơi có chất lượng môi trường tốt và để đánh giá
chất lượng môi trường đó người ta dựa vào khách du lịch để đánh giá.
Nguyên tắc : nhu cầu về giải trí = nhu cầu về chất lượng môi trường tại
khu vực cần đánh giá.
TCM là một trong các kỹ thuật lượng giá những giá trị phi thị trường đã
được sử dụng từ năm 1974 do Hotelling đề xuất nhằm đánh giá giá trị của các
Vườn quốc gia của Mỹ. Sau đó, phương pháp này được áp dụng rất phổ biến
trong các nghiên cứu lượng giá giá trị của các loại hình giải trí ngoài trời như

câu cá, săn bắn, du thuyền và ngắm cảnh….hoặc đánh giá những thiệt hại ô
nhiễm bằng việc quan sát sự thay đổi số lượng du khách đến một địa điểm
giải trí nào đó. Hiện nay, phương pháp chi phí du lịch có thể sử dụng để đánh
giá giá trị của các nguồn lực tự nhiên (rừng, Vườn quốc gia, bãi biển, công
viên…) sử dụng cho mục đích giải trí, hoặc đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi
trường thông qua việc quan sát sự thay đổi lượng khách du lịch đến với địa
điểm giải trí.
Để thực hiện, chúng ta sẽ phỏng vấn khách tham quan xem họ từ đâu
đến, họ phải bỏ bao nhiêu chi phí cho chuyến đi và số lần đến địa điểm giải trí
trong năm. Qua đó, chúng ta có thể tìm được mối quan hệ hàm số giữa giá
một lần tham quan (chi phí du hành) và số lần tham quan được thực hiện. Mặt
khác, từ sự bằng lòng chi trả của du khách cho chuyến đi và số lượt tham
quan của du khách có thể xây dựng đường cầu du lịch thể hiện quan hệ giữa
số lượt tham quan và chi phí tham quan. Giá trị cảnh quan của địa điểm
nghiên cứu được đánh giá như là tổng lợi ích của du khách và được đo bằng
phần diện tích dưới đường cầu.
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j
(TC
ij
) được xác định như sau:
TC
ij
= TC(DC
ij
, T
ij
, F
i
)


(1)
i = 1…n, j = 1… m
Trong đó:
DC
ij
là chi phí về khoảng cách. Chi phí này phụ thuộc vào độ dài
quãng đường tới điểm du lịch và phụ thuộc vào chi phí cho mỗi km đi lại.
T
ij
là chi phí thời gian. Chi phí này phụ thuộc vào thời gian để tới được
điểm du lịch và giá trị về thời gian của mỗi cá nhân.
F
i
là phí vào cửa của địa điểm j.
Giả sử V
i
là số lượt tham quan của du khách i tới địa điểm j, khi đó V
i

biến phụ thuộc vào chi phí của chuyến đi (TC
ij
) và một số biến thể hiện đặc
điểm xã hội của du khách. Hàm biểu thị số lượt tham quan của du khách như
sau:
V
i
= a + b.TC
ij
+ c. INC
i

+ d. EDU
i
+ e. AGE
i
+ f. SEX
i
.
Trong đó:
V
i
là số lượt viếng thăm địa điểm j của du khách i
TC
ij
: Chi phí của một lần viếng thăm địa điểm j
INC
i
: Thu nhập của du khách i
EDU
i
: Trình độ học vấn của cá nhân i
AGE
i
: Độ tuổi của du khách i
SEX
i
: Giới tính của du khách i
Hệ số a, b, c, d, e, f lần lượt là các hệ số cần được ước lượng.
Sau khi ước lượng được các hệ số tiếp tục xây dựng đường cầu mô tả
mối quan hệ giữa số lượt tham quan và chi phí tham quan. Phần diện tích nằm
dưới đường cầu sẽ thể hiện giá trị cảnh quan của địa điểm giải trí.

1.3.2. Các cách tiếp cận.
Có hai cách tiếp cận phương pháp TCM:
1.3.2.1. Phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM : Individual Travel
Cost Method)
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch
hàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
Vi = f( TCi, Si )
Trong đó:
Vi : số lần đến điểm du lịch của cá nhân I trong một năm
TCi : chi phí du lịch của cá nhân i
Si : các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ : thu
nhập, chi phí thay thế, độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học
vấn…
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị
giải trí của mỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ. Vì vậy, tổng
giá trị kinh tế của khách du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các đường
cầu cá nhân.
Vì ITCM yêu cầu cần phải có sự giao động trong số lần đến địa điểm du
lịch của một cá nhân hàng năm để ước lượng ra hàm cầu. Vì vậy cách tiếp cận
này sẽ gặp phải khó khăn khi sự giao động là quá nhỏ hoặc khi cá nhân không
đến địa điểm du lịch một lần trong năm thì khó có thể chạy hàm hồi quy.
Cách tiếp cận này chỉ phù hợp với khu du lịch mà khách du lịch đến
nhiều lần trong một năm như vườn bách thảo, công viên, vườn thú…
1.3.2.2. Phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM : Zonal Travel Cost
Method)
Phương pháp này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng
xuất phát tới vị trí cần nghiên cứu với tổng chi phí của vùng xuất phát.
Vi = V ( TCi, POPi, Si )
Trong đó
Vi : Số lần tới thăm từ vùng i tới điểm du lịch

POPi : Dân số của vùng i
Si : Là các biến kinh tế xã hội như thu nhập bình quân đầu người của mỗi
vùng trong tháng hoặc trong năm.
Thông thường các biến phụ thuộc được biểu diễn dưới dạng ( Vi/POPi )
hay tỷ lệ số lần thăm quan / 1000 dân – VR
Áp dụng ZTCM thì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chia thành
các vùng với khoảng cách khác nhau tới điểm du lịch. Vì vậy đơn vị quan sát
của nó là các vùng. Những hạn chế của ITCM sẽ được khắc phục trong
ZTCM. Phương pháp này sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới
điểm du lịch ( VR ) là hàm của chi phí du lịch, do đó số lần một cá nhân đến
điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm.
Tuy nhiên ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó. Ví dụ: Nó tổng
hợp khách du lịch từ số lượng lớn các cá nhân thành một vài vùng quan sát
nên thống kê không hiệu quả và nó coi tất cả các cá nhân đến từ một vùng có
chi phí du lịch như nhau trong khi điều này không thể xảy ra trên thực tế.
Tuy nhiên phương pháp ZTCM vẫn được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam
và cũng được áp dụng để tính giá trị cảnh quan của khu du lịch sinh thái
Thung lũng tình yêu ở Đà Lạt.
1.3.3. Các bước thực hiện
Gồm 5 bước cơ bản như sau:
Bước 1:
Chọn vị trí cần đánh giá chất lượng môi trường mà vị trí đó phải đảm bảo
điều kiện phải có nhiều khách du lịch lui tới.
Ví dụ như công viên, vườn thú…
Bước 2:
Xây dựng bảng hỏi để điều tra khách du lịch trong đó những thông tin cơ
bản của bảng hỏi cần phải được thể hiện thông qua các yếu tố ràng buộc trong
đó có hai yếu tố cần chú ý tới là:
- Quãng đường mà khách tới vị trí cần đánh giá là bao xa? (Phân chia khu
vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành các vùng xuất

phát khác nhau theo khoảng cách địa lý. Các vùng này có thể được phân
chia theo các đường tròn đồng tâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể
phân chia theo khu vực hành chính có cùng khoảng cách đến địa điểm giải
trí. Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ
dàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm nên cách phân chia theo
khu vực hành chính được sử dụng nhiều hơn. Số lượng các vùng có thể
tương đối lớn tùy theo tính chất của địa điểm nghiên cứu).
- Hàng năm khách du lịch thường lui tới vị trí đánh giá bao nhiêu lần?
Trong đó số lần tham quan thứ i ( hay của người thứ i ) được xác định
thông qua : Vi = f ( ci,x1,x2,…,xn ).
Mà ci là chi phí của lần tham quan thứ i ( hay của người thứ i ).
xi ( i = 1,n ) là các biến liên quan khác: thu nhập, độ tuổi, giới tính, trình
độ học vấn…
Như vậy trong bảng hỏi thể hiện khá đầy đủ các yếu tố ràng buộc liên
quan. Đây là cơ sở để chúng ta đưa vào kiểm định sau này trong thống kê
nhằm xác định kết quả có ý nghĩa hay không.
Trong thực tế chi phí một lần tham quan thường là chi phí đi lại, nó thay
đổi theo t
i
nào đó còn giá p
i
vào cửa được xác lập thông qua giá ở vị trí điều
tra. Đương nhiên khi xử lý trong thống kê nếu chúng ta xác định được hàm
v
i
= α+ βc
i
+ε = α + β( T
i
+ p ) + ε

i
Trong đó εi thường là yếu tố ngẫu nhiên còn α,β là các hệ số chặn được
xác định từ kết quả thống kê phiếu điều tra.
Bước 3:
Phân loại những người thường lui tới vị trí đánh giá. Việc phân loại này
về cơ bản chúng ta căn cứ vào yếu tố khoảng cách và phải chia theo vùng và
những người có cùng khoảng cách ghép vào một nhóm.
Bước 4:
Ước tính chi phí đi lại và số lần lui tới địa điểm đó của từng nhóm trên
cơ sở đã phân nhóm ở trên.
- Chi phí đi lại có thể xác định dựa trên thông tin về loại phương tiện sử dụng và
mức chi phí trên mỗi km hoặc trên mỗi giờ.
Với chi phí cơ hội về thời gian dành cho chuyến đi thường có nhiều phức
tạp hơn. Cách đơn giản nhất để ước tính chi phí thời gian là xác định chi phí thời
gian dựa trên mức lương theo ngày/theo giờ.
- Tỷ lệ du khách đến thăm điểm du lịch được xác định bằng cách lấy tổng số du
khách đến điểm giải trí trong năm của mỗi vùng chia cho tổng dân số của vùng
đó tính theo đơn vị nghìn người


Lượng khách vùng i
VRi = 
Dân số vùng i

Bước 5:
Xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ du khách với chi phí du lịch và một số
biến xã hội quan trọng khác. Hàm mô tả mối quan hệ này có dạng:
V
zj
= V(TC

zj
, S
z
)
Trong đó: V
zj
là tỷ lệ du khách từ vùng Z tới địa điểm j,
TC
zj
là chi phí du lịch của du khách vùng Z tới địa điểm j,
S
z
là các biến kinh tế - xã hội của du khách vùng Z.
Sau đó xây dựng đường cầu du lịch cho địa điểm nghiên cứu trên cơ sở kết
quả của phân tích hồi quy. Mức chi phí du lịch sẽ tăng lên cho đến khi số lần
viếng thăm của khách giảm xuống bằng 0, tức là có ít hơn một khách sẵn sàng
bỏ ra mức phí đó để được vào thăm khu du lịch. Điểm đầu của đường cầu là số
lượng du khách đến với điểm giải trí trong trường hợp chi phí du lịch bằng 0
Trên cơ sở xác định số lượt du khách ứng với từng mức phí vào cửa khác nhau
sẽ xây dựng đường cầu giải trí.
Cuối cùng ước lượng giá trị cảnh quan của điểm nghiên cứu thông qua
tính thặng dư tiêu dùng của du khách hoặc xác định phần diện tích nằm phía
dưới đường cầu.
Ta có biểu đồ về nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch như sau


Hình 1.2: Nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch.


Nguồn: Giáo trình bài giảng Kinh tế môi trường, NXB Đại học Kinh tế quốc

dân, Hà Nội, 1998.
1.3.4. Ưu điểm
- Rất thuận lợi để tiến hành đánh giá giá trị môi trường tại những nơi có lượng
khách đông.
Số lần đến
Đường cầu về giải trí
Vùng dưới đường cầu = lợi ích của giải trí = lợi ích
của khu vực tự nhiên ( theo giả định)


0
Chi phí

×