Tải bản đầy đủ (.doc) (41 trang)

Đánh giá tác động môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (319.09 KB, 41 trang )

Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
LỜI NÓI ĐẦU
Nhà máy thủy điện Sơn La là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á hiện đang trong
thời gian thi công . Theo kế hoạch được Thủ tướng phê duyệt sẽ phát điện tổ máy đầu tiên vào
năm 2015. Tuy nhiên, theo Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Sông Đà(đơn vị
làm tổng thầu) , đến năm 2010 nhà máy sẽ phát điện tổ máy đầu tiên, trước khi hoàn thành và
đưa vào sử dụng tất cả 6 tổ máy vào năm 2013. Nhà máy được đặt tại xã Ít Ong, huyện Mường
La, tỉnh Sơn La.
Nhà máy thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia, do Quốc hội giám sát.
Công trình ra đời nhằm cung cấp điện năng, nâng cấp tần suất chống lũ (từ 150 lên 200 năm) và
góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai cũng như một
số tỉnh Tây Bắc. Mặc dù đa có rất nhiều nhà máy điện ở Việt Nam, tuy nhiên nhu cầu tiêu dùng
điện vẫn còn tăng lên rất nhiều mà tình trạng cắt điện luân phiên vào những ngày cao điểm còn
rất trầm trọng. Đây là vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Sông Đà nổi tiếng với sự hung hãn nhưng lại chứa đựng rất nhiều tiềm năng
về thủy điện. Hiện nay trên sông Đà đã có tới 4 nhà máy thủy điện đang hoạt động là nhà máy
thủy điện Hòa Bình, nhà máy thủy điện Lại Châu, nhà máy thủy điện Huội Quảng và nhà máy
thủy điện Bản Chát. Cùng với các nhà máy nhiệt điện và thủy điện khác, nhà máy thủy điện
Sơn La được xây dựng trên con sông Đà hung dữ này sẽ cung cấp cho lưới điện quốc gia điện
lượng bình quân hàng năm 9.429 tỉ kWh. Ngoài việc cung cấp điện cho lưới điện cả nước phục
vụ phát triển Công nghiệp, Nhà máy thủy điện Sơn La còn là nơi điều hòa nguồn nước quan
trọng phục vụ phát triển nông nghiệp, công nghiệp cho các tỉnh phía Bắc.
Mặc dù lợi ích của sự ra đời Nhà máy thủy điện Sơn La là vô cùng to lớn và không thể
phủ nhận. Tuy nhiên, dự án này cũng tạo ra rất nhiều sự lo âu. Kể từ khi dự án xây dựng Nhà
máy thủy điện Sơn La được công bố, giới khoa học trong và ngoài nước đã cùng lên tiếng cảnh
báo liên tục về những thảm họa lớn và những tác động của nó tới kinh tế,văn hóa, xã hội cũng
như tương lai của Việt Nam trong đó đặc biệt là vấn đề về môi trường. Vậy vì sao mà dự án
vẫn được Chính phủ thông qua? Những vấn đề về môi trường đó như thế nào? Chính phủ có
những biện pháp nào để giải quyết những vấn đề đó? Những câu hỏi này rất nhiều người muốn
biết. Đó là lý do vì sao tôi quyết định chọn đây làm đề tài nghiên cứu cho đề án của mình. Một
đề tài tôi cho là rất thiết thực, rất hấp dẫn và cũng có vai trò hết sức quan trọng.


Nội dung bài được tìm hiểu theo theo bốn nội dung chính:
• Những vấn đề lý luận chung về đánh giá tác động môi trường.
Trường đại học kinh tế quốc dân
1
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
• Tổng quan về dự án và thực trạng môi trường khi tiến hành dự án.
• Đánh giá những tác động tiềm tàng về môi trường do dự án gây ra.
• Những kết luận chung nhất về môi trường khi tiến hành dự án.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã cố gắng thu thập thật nhiều thông tin có giá trị.
Đồng thời phân tích và đánh giá cũng như tham khảo những phân tích của các chuyên gia một
cách tổng hợp nhất. Tuy nhiên, bài có thể còn rất nhiều thiếu sót về mặt thông tin cũng như
chưa đầy đủ về mặt kiến thức, rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Trường đại học kinh tế quốc dân
2
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
Nội dung.
I. Những vấn đề lý luận chung về đánh giá tác động môi trường.
1. Một số khái niệm chung.
Để có thể nắm bắt và hiểu rõ những vấn đề của dự án Nhà máy thủy điện Sơn La, chúng
ta cần hiểu rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến những vấn đề này. Một số khái niệm dưới
đây nhằm giúp mọi người hiểu sâu hơn về những vấn đề sẽ được trình bày sau đó cũng như cho
mọi người thấy được những quan điểm khác nhau về nó. Tuy nhiên, về mặt bản chất nó là như
nhau.
 Khái niệm về môi trường.
- Theo Điều 1, luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
- Để tiện nghiên cứu, chúng ta sẽ xét khái niệm môi trường theo nghĩa rộng và nghĩa
hep:

+ Môi trường theo nghĩa rộng: Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên
và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...
+ Môi trường theo nghĩa hẹp: Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên
nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc
sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy
của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội
với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền
miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp,
nghị định, thông tư, quy định.
- Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu, cơ quan quản trị của Cộng đồng Châu Âu (EC):
Môi trường là tổ hợp của các yếu tố mà quan hệ qua lại phức tạp của chúng tạo ra các không
gian bao quanh, bối cảnh và điều kiện cuộc sống của cá nhân và của cả xã hội, như chúng đang
tồn tại hay được cảm nhận thấy.
Các khái niệm trên đều đặt lợi ích của con người lên hàng đầu. Và môi trường được xem xét ở
trên đều được truy nguyên trong mối quan hệ của con người. Nghiên cứu tác động môi trường
nhằm mục đích xem xét những ảnh hưởng của nó tới điều kiện sống của con người. Trong mối
quan hệ với đánh giá tác động môi trường trong dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La
Trường đại học kinh tế quốc dân
3
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
này, chúng ta xem xét môi trường dưới góc độ của khái niệm môi trường theo nghĩa rộng, hay
đó cũng chính là theo khái niệm của Ủy ban Châu Âu.
 Khái niệm của động từ “ Tác động”.
- “ Tác động” đó là hiệu ứng của một sự vật lên sự vật khác. Cùng với ý nghĩa của từ
“Tác động” như trên, trong đánh giá tác động môi trường thì đó là tác động của sự thay đổi môi
trường lên điều kiện sống của những người sống trong phạm vi chịu ảnh hưởng của dự án.
- Đi kèm với từ “Tác động” chúng ta hay nghe tới cụm từ “Có tác động đáng kể”. Vậy
từ “Đáng kể” ở đây được hiểu như thế nào? Theo định nghĩa chung trong từ điển thì nó được
hiểu là “có ý nghĩa”, “quan trọng” hay “đáng chú ý”. Đây đề là những cách hiểu, những cách

định nghĩa mang tính chủ quan. Một số từ điển chuyên môn thì cho rằng nó có hàm ý là một sự
vật ngoài các giới hạn chấp nhận được. Để thống nhất với các nhận định trong bài đánh giá này
thì chúng ta hiểu từ “đáng kể” ở đây trong nghĩa là một phán quyết tập thể của các cán bộ,
những người được bầu và quần chúng cho rằng nó tác động lên sự vật ngoài giới hạn chấp nhận
được.
 Khái niệm về phát triển bền vững:
- Theo quan niệm đầu tiên về phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới (WB) thì:
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
- Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững được tổ chức ở Johanesbug
(Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải
thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí để đánh giá phát triển bền vững là sự
tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử
dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Hai khái niệm trên đều có sự đồng nhất về mặt ý nghĩa. Khái niệm sau làm rõ nghĩ hơn cho
khái niệm trước( của ngân hàng Thế giới). Hiểu rõ khái niệm trên ta sẽ hiểu rõ hơn về mặt ý
nghĩa của đánh giá tác động môi trường.
 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường:
- Từ tiếng Anh của cụm từ “đánh giá tác động môi trường” là EVIRONMENTAL
IMPACT ASSESSMENT và được viết tắt là EIA.
-Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến
môi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các
công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường.
Trường đại học kinh tế quốc dân
4
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
(Luật bảo vệ Môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 10/1/1994, Điều
2,. Mục 11).

2. Mục đích của việc đánh giá tác động môi trường đối với xã hội:
“Đó là đặt môi trường vào đúng vị trí cần có của nó trong quá trình hoạch định chính
sách bằng cách đánh giá một cách rõ ràng các hậu quả về môi trường của một hoạt động được
đề xuất trước khi tiến hành. Khái niệm này đã được chấp nhận trong hầu hết các hoạt động
phát triển vì phát triển bền vững phụ thuộc vào việc bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, cơ sở
của sự phát triển tiếp theo”.
( Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc- UNECE- năm 1987)
3. Sự cần thiết phải đánh giá tác động môi trường.
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự
tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng
cuộc sống. Trong suốt thời gian dài phát triển của lịch sử xã hội loài người, phát triển luông là
mục tiêu phấn đấu cuả bất kỳ một xã hội nào. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài người ta
đã không phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa “tăng trưởng” và “phát triển”. “Tăng
trưởng” chỉ là một chỉ tiêu quan trọng trong các chỉ tiêu để có thể đánh giá đâu là một nền kinh
tế phát triển. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân
đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của
nền kinh tế. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng
trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ,
v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của
khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền
kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm
bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. Môi trường là một yếu tố hết
sức quan trọng. Với khái niệm môi trường theo nghĩa rộng như trên thì con người luôn bị đặt
trong sự tác động một cách mạnh mẽ của môi trường. Con người sống trong môi trường. Bất kể
một sự thay đổi dù nhỏ nhất của môi trường nó cũng đều ảnh hưởng đến sức khỏe của con
người, cuộc sống của con người. Các nước trên thế giới đều hướng mục tiêu của mình vào phát
triển kinh tế chứ không đơn thuần là tăng trưởng kinh tế. Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và
tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế. Chính vì vậy
mà tới tận những năm 70 của thế ký 20, môi trường mới trở thành một thực thể được đề cập tới
trong các hội nghị quốc tế, chỉ đạo các bộ phận pháp chế của quốc gia và đã được phân bổ một

nguồn lực tài chính tương xứng với vai trò của nó trong khu vực công cộng và cả khu vực tư
Trường đại học kinh tế quốc dân
5
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
nhân. Bởi vì một sự thật căn bản là mô hình phát triển chỉ tập trung vào khía cạnh tăng trưởng
kinh tế đã có một mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường.
Mối quan hệ theo dạng chữ U ngược được thể hiện ở hình vẽ dưới đây. Mối quan hệ này
thường xuất hiện vào những giai đọan đầu của tăng trưởng kinh tế. Khi mà các nước chưa vươn
tới được mức cường thịnh về kinh tế, họ chưa đủ khả năng quan tâm đến nhiều vấn đề khác. Và
họ đặt nhu cầu sinh sống tối thiểu lên hang đầu. Về mặt thực tế cũng như logic thì quan điểm
này rất hợp lý. Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm chỉ trích cho rằng họ các nước thu nhập thấp
không cần lãng phí di sản môi trường của mình để đổi lấy sự thịnh vượng kinh tế. Điều đó đòi
hỏi phải có công tác kế hoạch hóa thông minh hơn và có tầm nhìn xa hơn.. Điều đó giúp cho
các nước hướng tới sự phát triển bền vững một cách đúng đắn nhất. Và lợi ích của nó đã được
chứng minh ở các nước phát triển đi trước khi mà so với những năm 70, bằng sự quan tâm tới
môi trường một cách đúng đắn của mình thì môi trường sống ngày càng tốt hơn rất nhiều mà
kinh tế cũng không ngừng tăng trưởng. Một sự phát triển kinh tế bền vững, một chất lượng
cuộc sống còn hơn cả nằm mơ vào những thập niên trước. Những nước như Thụy Sỹ, Na Uy,
Thụy Điển là những ví dụ điển hình.
Quan hệ giữa ô nhiễm và tăng trưởng.
Trường đại học kinh tế quốc dân
6
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
GD
P
Vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống không phải là một công cuộc
một sớm một chiều và nó là một mục tiêu đòi hỏi đầu tư cho nó một nguồn ngân sách đáng kể.
Đối với những nước phát triển, so với những nước đang phát triển thì họ đã đi trước hàng thế
kỷ. Tuy nhiên không phải nước phát triển nào cũng có sự quan tâm đặc biệt đến môi trường mà
Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình. Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính

đã từ lâu vẫn chưa được Hoa Kỳ chấp nhận ký kết. Một điều hết sức rõ ràng là vấn đề này ảnh
hưởng rất nhiều đến việc lập và đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Việc đó có thể lý giải cho
việc tại sao các nước đang phát triển nhiều khi chấp nhận đánh đổi môi trường với tăng trưởng
kinh tế. Vì vậy mà , ở các nước đang phát triển có những nguy hại phổ biến về môi trường mà
ta có thể thấy đó là điểm chung rất giống nhau ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Lào
hay Campuchia. Đó là những vấn đề như:
- Phá rừng: đây là tài nguyên môi trường bị đặt báo động hàng đầu đối với những nước
đang phát triển có rừng khi mà cón sức ép về đô thị hóa nhanh và khai thác tài nguyên phục vụ
Trường đại học kinh tế quốc dân
Chỉ số ô nhiễm
7
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
cho tăng trưởng kinh tế. Một vấn đề ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống, với sự biến đổi khí hậu
khi tầm quan trọng của rừng không được xem trọng.
- Sự suy thoái nguồn thủy sản, một hậu quả của việc khai thác quá mức, bất hợp lý vì
mục tiêu tăng trưởng ở những nước dựa vào nguồn thủy sản.
- Suy thoái đất đai: xảy ra khi áp lực hơn nữa về nhu cầu thực phẩm cho xuất khẩu nông
sản. Điều này làm giảm chất lượng đất, thoái hóa đất, xói mòn và sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng
đến việc khai thác đất trồng trong tương lai.
- Khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước. Nước ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của
cộng đồng. Rác thải của quá trình đô thị hóa không đúng múc, rác thải công nghiệp và các gia
đình đều lạm dụng khả năng hấp thụ phế thải của nguồn nước mà không tính đến việc mọi thứ
đề có giới hạn của nó.
- Ô nhiễm không khí là vấn đề của những thành phố có thu nhập thấp, hệ thống giao
thông quá tải và công nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu.
- Ô nhiễm chất thải rắn khi mà khối lượng chất thải rắn thì càng tăng trong khi xử lý
không hợp lý.
-Rủi ro về môi trường do các chất thải và vật liệu độc hại nguy hiểm gây ra do việc sử
dụng bất hợp lý các phụ phẩm công nghiệp và tiêu dung nó.
- Mất dần đa dạng sinh học do phá rừng, đất đai bị đô thị hóa và khai thác quá mức các

loài sinh vật gây ra.
- Thay đổi bầu khí quyển, một vấn đề toàn cầu.
Đó là những vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm và là lý do vì sao cần phải cần
phải đánh giá tác động môi trường.
Riêng đối với hoạt động sản xuất, đặc biệt trong những dự án của tư nhân, vấn đề “môi
trường” đặc biệt bị xem nhẹ. Bởi chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề lợi nhuận của họ.
Mà việc theo đuổi lợi nhuận là điều được đặt lên hàng đầu đối với tất cả những dự án kinh
doanh. Việc chạy theo lợi nhuận đó đã khiến họ tìm mọi cách trốn tránh trách nhiệm của họ với
môi trường, với thế hệ tương lai, để tìm mọi cách giảm thiểu chi phí. Việc đánh giá tác động
Trường đại học kinh tế quốc dân
8
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
môi trường nhằm gắn trách nhiệm của họ với môi trường, ngăn chặn sớm nhất những ảnh
hưởng về môi trường từ việc tiến hành các hoạt động sản xuất đó. Nếu bắt buộc tiến hành vì ý
nghĩa xã hội nào đó thì việc đánh giá cũng đưa ra được lời cảnh báo và biện pháp phòng tránh
có thể để tránh bất ngờ.
Trước những nguy cơ do các hoạt động sản xuất và đời sống hàng ngày gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường, tạo ra những hậu quả to lớn cản trở sự phát triển, mỗi Quốc gia
và các tổ chức tài trợ dự án đã có nhận thức về sự cần thiết phải đánh giá nghiêm túc và thận
trọng về tác động môi trường của mọi hành vi can thiệp vào tự nhiên của chính mình thông qua
việc triển khai các dự án. Điều đó sẽ được đảm bảo bằng sức mạnh của pháp luật và các quy
định của chính phủ, yêu cầu bắt buộc của các tổ chức tài chính. Đồng thời hỗ trợ cho những
người ra quyết định ở các cấp thích hợp. Việc đánh giá tác động môi trường này là cơ hội để
công chúng đưa ra tiếng nói của mình, bảo vệ quyền lợi của chính họ và của toàn xã hội để
cùng đưa ra những biện pháp giải quyết.
4. Những vấn đề “môi trường” cần đề cập trong đánh giá tác động môi trường.
Hầu hết trong hệ thống pháp luật hiện nay của các Quốc gia đều có một phần lớn về luật
môi trường. Với góc độ là môi trường theo nghĩa rộng, thành phần của “môi trường” cũng như
là những vấn đề “môi trường” cần đề cập trong đánh giá tác động môi trường đó là:
- Tất cả các mặt của khu vực bao quanh con người có thể ảnh hưởng tới từng cá nhân

hay theo nhóm xã hôi.
- Các tài nguyên thiên nhiên bị ảnh hưởng bao gồm đất, nước, không khí.
- Các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học.
- Hệ động thực vật trong môi trường.
- Gồm có cả các bối cảnh xã hội, kinh tế và văn hóa.
- Cơ sở hạ tầng và các thiết bị liên quan đến đời sống của con người.
- Bất kỳ chất rắn, chất lỏng , chất khí, mùi, nhiệt, tiếng động, rung động hay búc xạ là
kết quả trực tiếp hay gián tiếp được sinh ra từ các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt trong
cuộc sống thường ngày của con người.
- Các tài sản tự nhiên đã được công nhận là những thắng cảnh, danh lam và các tuyến
đường đẹp tự nhiên.
- Các tài sản và di sản lịch sử đã được công nhận.
- Các tài sản mang tính thẩm mỹ cao, có giá trị nghệ thuật cao.
Trường đại học kinh tế quốc dân
9
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
- Các đặc trưng riêng có về y tế.
- Vấn đề quy hoạch môi trường, bảo vệ môi trường, quản lý môi trường, kiểm soát ô
nhiễm, bảo tồn thiên nhiên cùng các biện pháp giảm thiểu tác động khác. Trong đó, vấn đề quy
hoạch được coi là cánh tay chiến lược để xử lý các vấn đề môi trường và hỗ trợ việc đánh giá
các dự án riêng lẻ.
Để có thể đánh giá môi trường theo những nội dung trên là một quá trình tương đối
phức tạp. Có những đánh giá đặc biệt xem trọng nội dung này nhưng cũng có những đánh giá
đặc biệt quan tâm đến nội dung khác tùy thuộc vào loại tác động chủ yếu mà hoạt động cần
đánh giá của con người gây lên. Để dễ dàng theo dõi cũng như để dơn giản hóa việc phân chia
thành các nội dung lớn, thế giới thường chia những tác động hay ảnh hưởng về môi trường theo
bốn nội dung lớn.
• Ô nhiễm và sinh thái: Đó là những ảnh hưởng lên không khí, nước, tiếng ồn, và
mức độ rung, mức độ phóng xạ, hệ động thực vật, sinh thái, đa dạng sinh học, mức
độ nhiễm bẩn, sức khỏe, các vùng cảnh đẹp tự nhiên nổi bật, phong cảnh tự nhiên

và nhân tạo, di sản văn hóa lịch sử, môi trường và thẩm mỹ thị giác, quản lý giao
thông, xói mòn đất và suy thoái đất, vấn đề tiêu và thoát nước, không gian thoáng,
quản lý các chất thải vào môi trường và vấn đề khí hậu.
• Tài nguyên thiên nhiên: Những tác động tới đất Nông nghiệp, tài nguyên rừng, cấp
nước (kể cả với nước ngầm), khoáng sản và hải sản, tài nguyên năng lượng, vật liệu
xây dựng, đất ngập nước, rừng ngập măn, san hô, rừng mưa nhiệt đới hoang dã và
cây bụi.
• Xã hội: Những ảnh hưởng về dạng định cư, việc làm, sử dụng đất, nhà ở, cuộc sống
xã hội, phúc lợi, phương tiện nghỉ ngơi, trang bị và dịch vụ cộng đồng, an toàn, các
cộng đồng bản xứ, các nhóm thiểu số, ảnh hưởng tới thanh niên, vấn đề thất nghiệp,
người già, người tàn tật, phụ nữ và bình diện kinh tế xã hội bị ảnh hưởng.
• Kinh tế: Đó là những ảnh hưởng về cơ hội công ăn việc làm. khả năng tiếp cận đến
các trang bị dịch vụ, và các cơ hội có việc làm, các hạ tầng cơ sở đô thị, khả năng
lựa chọn và khả năng hợp lý về giá cả của hàng hóa dịch vụ, mặt bằng giá của địa
phương, các chi phí hạ tầng cơ sở và các khoản đóng góp, thu nhập thực tế, giá đất
và hiệu ứng số nhân có thể xảy ra.
5. Quy trình tiến hành đánh giá tác động môi trường.
Trường đại học kinh tế quốc dân
10
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
Tiến hành đánh giá tác động môi trường rất tốn kém, tuy nhiên đối với tất cả các dự án
nếu không hoàn tất thủ tục này thì dự án đều không được thông qua. Các bước tiến hành đánh
giá tác động môi trường có thể chia làm ba giai đoạn chính:
- Giai đoạn trước khi nghiên cứu đánh giá tác động môi trường :
+ Sàng lọc dự án: xác định xem có cần thiết phải tiến hành đánh giá tác động môi
trường không và sẽ tiến hành đánh giá ở mức độ như thế nào. Để thực hiện bước này người ta
sử dụng những phương pháp chủ yếu là:
 Sử dụng những tiêu chuẩn đơn giản.
 Dựa vào danh mục những dự án được miễn đánh giá tác động môi trường .
 Sử dụng những câu hỏi kiểm chứng sàng lọc.

 Sử dụng phân tích sàng lọc.
+ Đánh giá sơ bộ tác động môi trường: bao gồm việc xác định, mô tả và đánh giá bước
đầu những tác động môi trường có thể xảy ra từ dự án.
- Giai đoạn nghiên cứu đánh giá tác động môi trường chi tiết:
+ Xác định phạm vi nghiên cứu chi tiết.
+ Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường chi tiết:
 Mô tả tình trạng môi trường gốc – khi không có dự án.
 Liệt kê các hoạt động của dự án có liên quan kể cả giai đoạn xây dựng, vận hành
và bảo dưỡng.
 Xác định và dự đoán tác động của dự án và so sánh chúng với những dự báo về sự
thay đổi môi trường ngay cả khi không có dự án.
 Đánh giá mức độ thay đổi môi trường, mức độ rủi ro và sự chia sẻ tác động môi
trường.
 Xác định các phương pháp phòng tránh hoặc giảm thiểu tác động môi trường.
 So sánh các phương án lựa chọn.
 Trình bày các kết quả đánh giá đã đạt được
- Giai đoạn sau khi nghiên cứu chi tiết đánh giá tác động môi trường.
+ Tổng kết.
+ Ra quyết định.
+ Giám sát và kiểm soát tác động môi trường .
(Sơ đồ quy trình đánh giá tác động môi trường được trình bày ở danh mục bảng biểu)
6. Các nguyên tắc và các yếu tố quyết định sự thành công của đánh giá tác động môi
trường.
Trường đại học kinh tế quốc dân
11
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
a. Các nguyên tắc đánh giá tác động môi trường.
Hầu hết tác động môi trường đề diễn ra ngay tại chỗ, vì thế những cộng đồng sở tại
thường là người phải chịu tác động trực tiếp những hậu quả môi trường tai hại của dự án. Trước
đây, lợi ích của cộng đồng sở tại thường bị coi nhẹ và thực chất đã phải chịu hậu quả của

những dự án phát triển. Ngày nay, trong công tác thẩm định dự án đã coi trọng quyền lợi của
cộng đồng sở tại và đã phải đưa ra những nguyên tắc mang tính chất biện pháp bắt buộc để đảm
bảo cộng đồng sở tại được bảo vệ, đảm bảo ý nghĩa của việc đánh giá tác động môi trường . Đó
là:
- Yêu cầu sử dụng phương pháp có sự tham gia của cộng đồng* trong đánh giá tác động
môi trường. Đây là phương pháp dùng trong chuẩn bị đánh giá tác động môi trường mà trong
đó, những cộng đồng sẽ chịu ảnh hưởng của tác động môi trường có thể thấy trước của dự án
(gồm cả cộng đồng trong và ngoài vùng dự án) đều được tham khảo ý kiến đầy đủ và phải được
phép tham gia đánh giá tác động môi trường.
- Sự chấp nhận của xã hội đối với rủi ro môi trường. Khó có thể có dự án nào không gây
tác động môi trường nào. Tuy nhiên, yêu cầu này muốn nói rằng phải có sự thống nhất chung
giữa các thành viên cộng đồng sở tại về việc chấp nhận rủi ro môi trường do dự án gây ra sau
khi dự án được phê chuẩn và có những biện pháp khắc phục cũng như hạn chế những rủi ro.
- Có quỹ bảo vệ môi trường để đảm bảo ngân sách đền bù những ảnh hưởng cho cộng
đồng sở tại mà dự án gây ra trong tương lai.
- Luôn có hệ thống giám sát, kiểm toán và đánh giá môi trường để đảm bảo vấn đề môi
trường được thực thi một cách có hiệu quả.
b. Các yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống đánh giá tác động môi trường.
- Khung pháp lý và thể chế bắt buộc.
- Trình độ chuyên môn cao và không ngừng hoàn thiện. Chuẩn bị đánh giá tác động môi
trường là một công tác đòi hỏi kiến thức khoa hoc cao và tổng hợp cũng như cần có những hiểu
biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực. Vì vậy mà cán bộ của chính phủ và các giới khoa học môi
trường, những người chuyên môn phải tích cực hoàn thiện và nâng cao trình độ chuyên môn
của mình để có những đánh giá chính xác nhất.
- Có sự tham gia sâu rộng của công chúng. Điều này quyết định rất lớn đến thành công
của việc đánh giá tác động môi trường. Nếu thiếu đi sự tích cực của công chung sẽ dẫn đến việc
cấu kết của những nhóm lợi ích hẹp và đưa ra những đánh giá thiếu tính khách quan, gây ảnh
hưởng lớn đến môi trường trong tương lai mà chưa có những biện pháp để khắc phục.
II. Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La và thực trạng môi trường của dự án.
1.Tổng quan về dự án Nhà máy thủy điện Sơn La.

Trường đại học kinh tế quốc dân
12
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La được Nhà nước ta đặt ra từ những năm 60 và được
đẩy mạnh nghiên cứu vào những năm 80 của thế kỷ XX, ngay khi xây dựng nhà máy thủy điện
Hòa Bình, năm 1978, báo cáo tổng quan khai thác thủy điện sông Đà đã được Nhà nước phê
duyệt với nội dung sẽ xây dựng hai đập thủy điện là Hòa Bình(thuộc tỉnh Hòa Bình) và Tạ
Bú(thuộc tỉnh Sơn La). Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trương xây dựng nhà máy thủy điện
Sơn La đã được sự thống nhất cao của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ về việc xây dựng
Nhà máy thủy điện Sơn La theo phương án “Ba bậc” trên sông Đà. Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội
khóa X, ra nghị quyết số 44/2001-QH10 ngày 29/6/2001 quyết định chủ trương xây dựng Dự
án Nhà máy thủy điện Sơn La. Lễ khởi công xây dựng Nhà máy và ngăn sông Đà đợt I diễn ra
vào ngày 2/12/2005.
Công trình thủy điện Sơn La được Chính phủ quyết định xây dựng tại tuyến Pá Vinh II,
xã Ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La, trên sông Đà là hệ thống phụ lưu lớn nhất trên hệ
thống sông Hồng, bắt nguồn từ vùng núi Ngụy Sơn – Vân Nam, Trung Quốc, tổng chiều dài
sông Đà 980 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam là 540km.
Nhà máy thủy điện Sơ La được xây dựng theo phương án quy hoạch thủy điện trên sông
Đà gồm ba bậc: Hòa Bình – Sơn La thấp và Lai Châu( Nậm Nhùn); quy mô công trình ở mực
nước dâng bình thường trong khoảng 210-215m (độ cao tùy thuộc vào nghiên cứu thiết kế kỹ
thuật, nhưng tối đa không vượt quá 215m). Phương án di dân tái định cư theo phương thức chủ
yếu là tập trung và ở trong địa bàn hai tỉnh Sơn La, Lai Châu.
Nhà máy thủy điện Sơn La là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á . Đây là công
trình trọng điểm Quốc gia do Quốc hội giám sát. Công trình thủy điện Sơn La là công trình đạt
được nhiều mục tiêu, có hiệu ích tổng hợp,có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc phảt triển
kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng Tây Bắc và đặc biệt là của ba tỉnh Sợ La, Điện Biên, Lai
Châu.
- Cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
- Góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho đồng bằng Bắc bộ.

Nâng cấp tần suất chống lũ từ 150 năm lên 200 năm.
- Góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội cho vùng Tây Bắc. Đặc biệt sẽ góp phần xóa đói
giảm nghèo cho người dân ba tỉnh Sơn La , Điện Biên, Lai Châu..
Trường đại học kinh tế quốc dân
13
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
Nhà máy thủy điện Sơn La theo kế hoạch được Thủ tướng phê duyệt sẽ phát điện tổ
máy đầu tiên vào năm 2015. Tuy nhiên, ông Dương Khánh Toàn - Tổng giám đốc Tổng Công
ty xây dựng Sông Đà đã thay mặt 13 nhà thầu hứa với Chính Phủ sẽ hoàn thành dự án trước
thời hạn 2 năm. Tức là sẽ hoàn thành dự án và đưa vào sử dụng 6 tổ máy vào năm 2013 do đẩy
nhanh tiến độ thi công và sử dụng công nghệ đầm lăn tiên tiến. Hoàn thành dự án sớm nhưng
vẫn đảm bảo tốt chất lượng công trình. Và dự kiến sau khi đi vào hoạt động, tần suất phát điện
hàng năm của nhà máy là 1,2 tỷ Kw/giờ. Công suất lắp máy dự kiến của nhà máy là 2400MW
sẽ được đấu nối vào hệ thống điện Quốc gia bằng đường dây 500KV Sơn La-Hòa Bình, Sơn La
– Nho Quan, Sơn La - Việt Trì và Sơn La – Sóc Sơn. Trạm 500KV Sơn La dự kiến đặt tại khu
vực Pi Toong, cách nhà máy này từ khoảng 3 đến 4km.
Nhà máy thuỷ điện Sơn La sẽ được xây dựng với hình thức Tổng thầu xây lắp do TCty
Sông Đà đứng đầu. Danh sách 13 DN tham gia liên danh đã được thống nhất. Thông số kỹ
thuật của Nhà máy thủy điện Sơn La là:
• Diện tích hồ chứa: 224km2. Dung tích toàn bộ hồ chứa: 9,26 tỉ mét khối nước.
• Công suất lắp máy: 2.400 MW, gồm 6 tổ máy.
• Điện lượng bình quân hằng năm: 9,429 tỉ kWh.
• Cấp công trình: Cấp đặc biệt.
• Tổng vốn đầu tư: 42.476,9 tỉ đồng (bao gồm vốn đầu tư ban đầu là 36,97 tỉ đồng và lãi
vay trong thời gian xây dựng là 5.708 tỉ đồng).
• Chủ đầu tư: Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN).
• Tổng số hộ dân phải di chuyển: 17.996 hộ tại 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
(Các chỉ tiêu thông số chính của hồ được đưa vào danh mục bảng biểu)
2.Thực trạng về môi trường trước khi có dự án thủy điện Sơn La.
 Tình hình ô nhiễm và sinh thái.

Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên 14.125 km
2
chiếm
4,27% tổng diện tích cả nước, đứng thứ 3 trong số 64 tỉnh thành phố trong cả nước. Toạ độ địa
lý: 20039’ - 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ - 105002’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp các tỉnh Yên
Bái, Lai Châu; phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên;
phía nam giáp với tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; có chung đường
biên giới Việt - Lào dài 250 km, có chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là 628 km. Sơn La có
11 đơn vị hành chính (1 thị xã, 10 huyện) với 12 dân tộc. Sơn La có độ cao trung bình 600m so
Trường đại học kinh tế quốc dân
14
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
với mặt nước biển. Địa hình chia thành 3 vùng sinh thái: vùng dọc trục quốc lộ 6, vùng hồ sông
Đà và vùng cao biên giới. Sơn La có hai cao nguyên: Mộc Châu (cao 1.050 m) và Nà Sản (cao
800 m).Địa hình Sơn La gồm 3/4 là đồi núi và cao nguyên, đất đai tương đối màu mỡ, thích
hợp với các loại cây công nghiệp, cây lâu năm. Khí hậu đặc trưng cận ôn đới, chia thành hai
mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.
• Môi trường nước
Hiện trạng môi trường nước ở Sơn La về cơ bản vẫn đảm bảo chất lượng theo tiêi chuẩn
cho phép. Có hai hệ thống sông chính chảy qua địa bàn tỉnh là sông Đà dài 280km với 32 phụ
lưu, sông Mã có 90 km với 17 phụ lưu. Nhưng hầu hết các sông đều nhỏ hẹp, độ dốc lớn về
mùa mưa thường xảy ra lũ và gây sạt lở. Mực nước thường thấp hơn nhiều so với đất canh tác
nên mùa khô bị thiếu nước trầm trọng. Tuy nhiên sông suối Sơn La có tiềm năng thủy điện
đứng đầu cả nước. Nhu cầu nước dùng trên toàn tỉnh cho đến năm 2020 ước tính vào khoảng
25000 m3/ngày. Các nhà máy thủy điện được xây dựng ngày càng nhiều, những tác động cơ
học của nó đều gây ảnh hưởng đến dòng chảy và hệ sinh thái nước. Điều này gây ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng, số lượng và sự đa dạng sinh học của nguồn nước. Bên cạnh đó Sơn
La chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho những khu đô thị tập trung lớn và những khu
công nghiệp, do đ ó lượng nước thải từ sinh hoạt và hoạt động sản xuất thải trực tiếp vào nguồn
nước hoặc ngấm xuống làm ô nhiễm nước mặt lẫn nước ngầm. Vì là tỉnh có tỷ lệ dân số làm

Nông nghiệp rất lớn nên việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật đã và đang có nguy cơ
ảnh hưởng đến chất lượng nước trên địa bàn của tỉnh. Theo thống kê của sở tài nguyên môi
trường tỉnh Sơn La, với 35 mẫu mặt nước và nước sinh hoạt, 35 mẫu nước thải sinh hoạt, sau
khi xét nghiệm và phân tích, đối chiếu với TCVN* 5945 - 1995 và TCVN 5942 – 1995 thì chủ
yếu các thông số nói trên đều nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, hiện nay một số điểm
có biểu hiện ô nhiễm môi trường nước cục bộ một cách nghiêm trọng như khu vực nhà máy
đường Mai Sơn, suối Nậm La và một số cơ sở chế biến nông sản thủ công thải hóa chất trực
tiếp vào nguồn nước. Cũng có những nơi ô nhiễm do tự nhiên như sạt lở đất, đá… Song về căn
bản nước của địa bàn tỉnh vẫn chưa ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng người dân sống
trong địa bàn tỉnh.
Hệ sinh thái mặt đất ở thượng lưu đóng vai trò quan trọng đối với việc thấm nước mưa,
bổ sung nước ngầm và chế độ dòng chảy của sông. Hệ sinh thái nước tạo ra nhiều lợi ích kinh
tế như có nhiều loài động thực vật sinh sống. Hệ sinh thái phụ thuộc vào dòng chảy, phân mùa,
dao động tầng nước ngầm và chất lượng nước là một yếu tố căn bản. Tuy nhiên nguồn nước
Trường đại học kinh tế quốc dân
15
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội
đang bị suy thoái, nhiều nơi ô nhiễm, nguy cơ nguồn nước bị cạn kiệt đang đe dọa cho phát
triển kinh tế và đời sống một số vùng. Đặc biệt là những khu công nghiệp và vùng đô thị lớn.
• Hệ động thực vật, sinh thái và đa dạng sinh học.
“Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi
trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó”. Diện tích rừng trên địa
bàn tỉnh đang dần bị thu hep. Độ che phủ còn rất thấp so với yêu cầu. Cùng với đặc điểm riêng
có về vị trí địa lý, địa hình bị phân hóa, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu của Sơn La. Các
yếu tố này chi phối mạnh đến động thực vật ở tỉnh miền núi này. Hiện nay đã thống kê được
một danh mục các loài thực vật bậc cao ở Sơn La bao gồm 125 họ và 861 loài.
Một số họ thực vật có số cá thể lớn cấu tạo nên các thảm thực vật là họ đậu, họ Long
não, họ thầu dầu, họ Bồ hòn, họ xoan, họ Trúc đào, họ Cau dừa.
Hệ động vật ở trên cạn: trên địa bàn tỉnh có 245 loài, 88 họ, 27 bộ động vật có xương
sống từ lớp lưỡng cư trở lên. Do đặc điểm phân bố rừng và phân bố dân cư nên đặc điểm và

thành phần động vật ở các huyện là khác nhau.
Hệ động vật dưới nước chủ yếu là cá và một số loài thủy sản khác. Động vật đáy gồm 8
loại chủ yếu là nhóm tôm cua. Khu động vật đáy hồ ở các nhà máy thủy điện nghèo về số loài.
Cá gồm 21 loài, có xu thế giảm mạnh cả về số loài và số cá thể trong một loài.
Tình Sơn La có bốn khu bảo tồn thiên nhiên là Xuân Nha, Sốp Cộp, Tà Xùa và Côpia
được thành lập theo Quyết định 3440/2002/QD-UB ngày 11/11/2002 của UBND tỉnh Sơn La
với tổng diện tích là 44 800,98 ha hiện còn lưu giữ được nhiều nguồn gen động thực vật quý
hiếm. Hiện mặc dù đang được bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên, các khu bảo tồn này đang bị chặt
phá để lấy đất làm rẫy.
Do đặc điểm tự nhiên và nhân tạo, tỉnh Sơn La có một hệ thống các dạng cảnh quan
sinh thái, môi trường đa dạng. Đi kèm theo đó là các hệ động thực vật đa dạng cả về số lượng
và thành phần loài. Nhiều loài có giá trị kinh tế, giá trị sinh học và giá trị chữa bệnh cao. Một số
nguồn gen, loài động thực vật được người dân và các tổ chức, các doanh nghiệp sử dụng, khai
thác phục vụ cho mục đích bảo tồn hay cho phát triển kinh tế như cây Măng lay, cây Sơn trà,
giống gà đen bổ dưỡng… Tuy nhiên cùng với đó là mâu thuẫn giữa khai thác vì giá trị kinh tế
và bảo tồn ngày càng có sự mâu thuẫn. Vì còn nghèo đói nhiều nên tình trạng khai thác bừa bãi
Trường đại học kinh tế quốc dân
16

×