Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

luận văn: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh.”.M CL C L IM U ............................................................ docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1008.63 KB, 89 trang )






ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP


Đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện
tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH Anh Minh.”








MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 8
LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP. 8
1.1. Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp.
8
1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. 8
1.1.2. Bản chất, chức năng của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 8
1.1.2.1. Bản chất chức năng của chi phí sản xuất 8
1.1.2.2. Bản chất chức năng của giá thành sản phẩm. 9


1.1.3. Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 10
1.1.4. Vai trò của kế toán trong việc quản lý chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm. 12
1.1.5. Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm. 13
1.2. Phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 13
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất. 13
1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi
phí. 14
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí. 15
1.2.1.3. Phân loại chi phí sản theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm
công việc lao vụ sản xuất trong kì. 15
1.2.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí : 16
1.2.1.5. Phân loại theo nội dung cấu thành chi phí 16
1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm 16
1.2.2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành 16
1.2.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán 17
1.3. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành. 17
1.3.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và căn cứ xác định 17
1.3.2. Đối tượng tính giá thành và căn cứ xác định 18
1.3.3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá
thành sản phẩm 19
1.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 20
1.5.Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. 21
1.5.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên. 21

1.5.1.1 Tài khoản sử dụng: 21
1.5.1.2. Phương pháp kế toán 22
1.5.1.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 22
1.5.1.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 23
1.5.1.2.3. Kế toán chi phí sản xuất chung( CFSXC) 24
1.5.1.2.4. Kế toán các chi phí sản xuất khác 26
1.5.2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
29
1.5.3. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ. 32
1.5.4. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm 34
1.5.4.1. Phương pháp tính giá thành giản đơn. 34
1.5.4.2. Phương pháp tính giá thành phân bước. 34
Chương 2 38
Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chí phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty TNHH Anh Minh. 38
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY TNHH ANH MINH. 38
2.1.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Anh
Minh. 38
2.1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ của Công ty TNHH Anh Minh 39
SƠ ĐỒ 1: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIÀY. 41
2.1.3. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Anh
Minh. 41
2.1.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty 44
2.1.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán. 44
2.1.4.2. Quan hệ kinh tế và vị trí của các phòng kế toán. 44
2.1.4.3. Nhiệm vụ của bộ máy kế toán. 45
2.1.4.4. Hình thức kế toán áp dụng tại công ty. 46
2.2. TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH ANH MINH 49

2.2.1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm 49
2.2.1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất. 49
2.2.1.2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất 50
2.2.2. Thực trạng kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất tại Công ty 50
2.2.2.1. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 50
2.2.2.2. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp. 56
Công ty TNHH Tháng 6/2002 60
2.2.2.3. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung. 60
2.2.2.3.1. Hạch toán chi phí nhân viên phân xưởng. 61
2.2.2.3.2. Hạch toán chi phí vật liệu. 61
2.2.2.3.3. Hạch toán chi phí dụng cụ sản xuất. 62
2.2.2.3.4. Hạch toán khấu hao TSCĐ. 62
2.2.2.3.5 Hạch toán chi phí dịch vụ mua ngoài. 63
2.2.2.3.6 Chi phí khác bằng tiền 63
2.2.2.3.7 Tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp. 66
2.2.3. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ 67
2.2.4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh 68
Minh. 68
2.2.4.1. Đối tượng tính giá thành. 68
2.2.4.2 Phương pháp tính giá thành. 68
Chương 3 72
Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Anh Minh. 72
Nhận xét chung về công ty 72
3.1. Nhận xét chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty TNHH Anh Minh. 73
3.1.1. Ưu điểm trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm. 73
3.1.2.1 Về hình thức kế toán và trình tự ghi sổ 74

3.1.2.2 Về việc tổng hợp chi phí sản xuất 74
3.1.2.3 Về phương pháp tính giá thành sản phẩm. 76
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
5



LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu giá thành giữ một
vị trí hết sức quan trọng. Bởi xuất phát từ phương trình kinh tế cơ bản:
Lợi nhuận = doanh thu – chi phí (giá thành)
Muốn tăng lợi nhuận doanh nghiệp phải tăng giá bán để tăng doanh thu
hoặc tiết kiệm chi phí để giảm giá thành. Trong điều kiện cạch tranh gay
gắt như hiện nay, việc tăng giá bán để tăng doanh thu là rất khó thực hiện.
Doanh nghiệp luôn phải phấn đấu tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm
tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng
sản phẩm và đưa ra được giá bán phù hợp. Một trong những biện pháp
không thể không đề cập tới đó là kế toán. Kế toán cung cấp thông tin về
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chính xác sẽ giúp cho nhà quản lí
phân tích đánh giá được tình hình sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn có
hiệu quả hay không để từ đó đề ra các chiến lược nhằm tiết kiệm chi phí
sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Chính vì vậy mà việc tổ chức tốt công tác
kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một yêu cầu
thiết yếu và luôn là một vấn đề nóng bỏng đối với các doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Anh Minh, nhận thức rõ
được vai trò quan trọng của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong toàn bộ công tác kế toán của Công ty cũng như thấy
rằng còn nhiều điểm cần phải hoàn thiện trong công tác tập hợp chi phí sản

xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty, em mạnh dạn lựa chọn đề tài
“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh”
cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng rõ lí luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp nói chung.
6

- Làm rõ thực tế về tình hình công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh.
- Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh.
7

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp nói chung.
- Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp
nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh” là phương
pháp duy vật biện chứng nghĩa là lấy lí luận để so sánh với thực tế, từ thực
tế lại so sánh với lí luận để có những kiến nghị nhằm hoàn thiện kết hợp
với phương pháp quan sát, phân tích, ghi chép…
5. Nội dung kết cấu của luận văn gồm ba phần chính
Chương 1: Lí luận chung về tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.

Chương 2: Tình hình thực tế về tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thàmh sản phẩm tại Công ty TNHH Anh Minh
Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Anh
Minh.
8

CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP.

1.1. Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
*CHI PHÍ SẢN XUẤT:
Trong hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp, các yếu tố về tư liệu
sản xuất và đối tượng sản xuất ( biểu hiện cụ thể là hao phí về lao động vật
hoá) dưới sự tác động có mục đích của sức lao động ( biểu hiện là hao phí
về lao động sống) qua quá trình biến đổi trở thành các sản phẩm. Mặc dù
các hao phí bỏ ra cho hoạt động đó bao gồm nhiều loại, nhiều yếu tố khác
nhau nhưng trong điều kiện cùng tồn tại quan hệ hàng hoá - tiền tệ thì
chúng được biểu hiện dưới hình thức giá trị. Như vậy tại các doanh
nghiệp, chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động
vật hoá đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kì
nhất định biểu hiện bằng tiền.
* Giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động
vật hoá và hao phí lao động sống và chi phí khác mà doanh nghiệp phải
chi ra để đạt được kết quả sản xuất có giá trị sử dụng hoàn chỉnh hoặc giá
trị sử dụng giới hạn.
* Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:

Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của
quá trình sản xuất có mối quan hệ mật thiết với nhau, giống nhau về chất
vì đều là hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp
đã chi ra trong quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất trong kì là căn cứ, là cơ
sở để tính giá thành sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Sự
lãng phí hoặc tiết kiệm của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng
trực tiếp đến giá thành sản phẩm cao hay thấp, quản lí giá thành phải gắn
lion với chi phí sản xuất.
1.1.2. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM.
1.1.2.1. Bản chất chức năng của chi phí sản xuất
9

Để quá trình sản xuất được tiến hành một cách bình thường, doanh
nghiệp phải có đủ ba yếu tố sản xuất cơ bản đó là: tư liệu lao động, đối
tượng lao động và sức lao động. Sự tham gia của ba yếu tố này vào quá
trình sản xuất cũng như cấu thành nên thực thể sản phẩm có sự khác nhau,
từ đó hình thành nên các chi phí tương ứng là: chi phí khấu hao tư liệu lao
động, chi phí tiêu hao nguyên vật liệu, chi phí tiền công trả cho người lao
động. Ba yếu tố này là ba yếu tố cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm
mới, trong đó khấu hao tư liệu lao động và chi phí tiêu hao nguyên vật liệu
đóng vai trò là chi phí lao động vật hoá còn chi phí tiền công trả cho người
lao động đóng vai trò là chi phí lao động sống.
Như vậy trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm chi phí
lao động sống và chi phí lao động vật hoá.
Để biết được số chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong thời kì đó là
bao nhiêu nhằm tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục vụ cho yêu
cầu quản lí thì trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hoá - tiền tệ, mọi chi
phí về lao động sống và lao động vật hoá đều biểu hiện thước đo tiền tệ và
gọi là chi phí sản xuất kinh doanh.

Thực chất chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn
của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn doanh
nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Về mặt lượng độ lớn của chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai yếu tố chủ
yếu:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình sản
xuất.
- Giá cả tư liệu sử dụng dã tiêu hao trong kì và đơn giá của một đơn vị đã
hao phí.
Hai yếu tố này luôn biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau nên
phải thường xuyên xem xét, đánh giá lại các tư liệu sản xuất và xác định
chính xác chặt chẽ mức tiêu hao vật chất. Có như vậy mới đảm bảo cho sự
vận động các yếu tố cơ bản trong quá trình tái sản xuất, ăn khớp cả về mặt
hiện vật và giá trị tạo đIều kiện giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện các
định mức kinh tế –kĩ thuật.
1.1.2.2. Bản chất chức năng của giá thành sản phẩm.
10
Mục đích của sản xuất kinh doanh hay nói cách khác là mục đích bỏ ra
chi phí của doanh nghiệp là tạo nên những giá trị sử dụng cho xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn quan tâm đến
hiệu quả của các chi phí đã bỏ ra nhằm mục đích với một chi phí bỏ ra
thấp nhất nhưng mang lại giá trị sử dụng lớn nhất hay để tạo ra một giá trị
sử dụng nào đó nhưng với chi phí bỏ ra thấp nhất để có thể thu được mức
lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản
lí, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu thoả mãn đáp ứng được nội dung thông
tin trên.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó
là chi phí sản xuất dã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu được cấu thành
trong khói lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Như vậy bản
chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi

phí vào những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là thước đo bù đắp chi phí
và chức năng lập giá.
Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để hoàn thành những sản
phẩm, công việc, lao vụ… phải được bù đắp chính số tiền mà doanh
nghiệp thu về do quyết toán các sản phẩm, công việc, lao vụ… việc bù đắp
đó mới có thể đảm bảo quá trình tái sản xuất giản đơn. Mục đích sản xuất
và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp
phải bù đắp được các chi phí đã bỏ ra và đảm bảo có lãi. Trong cơ chế thị
trường, giá bán của sản phẩm, lao vụ phụ thuộc rất nhiều vào qui luật cung
cầu, qui luật cạnh tranh…cho nên doanh nghiệp phải dựa vào cơ sở giá
thành dự toán để xác định.
Mặt khác giá thành là một phạm trù kinh tế quan trọng đồng thời mang
tính chủ quan. Với tư cách là một phạm trù kinh tế, giá thành là một bộ
phận chi phí sản xuất chuyển dịch vào giá trị sản phẩm. Còn đứng trên góc
độ doanh nghệp, giá thành bao gồm các khoản mục chi phí doanh nghiệp
đã sử dụng nên nó là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ chất lượng
hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lí kinh tế của doanh nghiệp do đó
giá thành mang tính chất chủ quan.
1.1.3. Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
11
Tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm là một trong những nhiệm vụ
kinh tế chiến lược. Thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi phải tăng cường
công tác quản lí kinh tế, quản lí doanh nghiệp mà trước hết là quản lí chi
phí sản xuất và quản lí giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất gắn liền với việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lí chi phí sản xuất, quản lí giá thành sản phẩm thực chất là quản lí
việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn một cách hợp lí, tiết kiệm và có
hiệu quả. Như vậy vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là phải tiết kiệm

một cách triệt để để sản xuất ra khối lượng lớn hơn, chất lượng cao hơn và
giá thành hạ hơn. Tăng cường quản lí chi phí sản xuất là yêu cầu mang
tính chỉ đạo thường xuyên, xuyên suốt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực
hiện bằng nhiều biện pháp đồng bộ nhất là trong điều kiện đổi mới cơ chế
quản lí như hiện nay ( doanh nghiệp nhà nước giao quyền tự chủ về tài
chính, doanh nghiệp thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế tự trang trải chi
phí đảm bảo có doanh thu và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước
thì yêu cầu quản lí chi phí sản xuất càng trở lên cần thiết. Vậy nguyên tắc
và yêu cầu cơ bản đối với công tác quản lí chi phí sản xuất là quản lí chặt
chẽ các chi phí theo định mức, theo đúng dự toán đã được duyệt và theo
đúng mục đích sử dụng.
Còn yêu cầu quản lí giá thành là quản lí mức độ giới hạn chi phí để sản
xuất ra sản phẩm, nghĩa là phải quản lí theo giá thành kế hoạch đến từng
khoản mục. Để thực hiện yêu cầu đó trước hết phải xác định những chi phí
nào là chi phí hợp lí, những chi phí nào là chi phí bất hợp lí, những chi phí
nào được tính vào giá thành để tránh tình trạng đưa chi phí bất hợp lí ồ ạt
vào giá thành làm cho giá thành sản phẩm quá cao, sản xuất không tiêu thụ
được dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh không còn đủ sức cạnh tranh từ đó có nguy cơ phá sản.
Để thực hiện các yêu cầu trên thì kế toán đặc biệt là kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm cần làm tốt các nội dung sau:
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ở từng bộ phận sản
xuất trong doanh nghiệp.
12
- Ghi chép phản ánh đầy đủ, chính xác kịp thời chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất và tiêu thụ, chỉ ra được ra những tiết kiệm hay lãng phí ở
khâu nào trong quá trình sản xuất.
- Tính toán chính xác, kịp thời, đầy đủ giá thành, giá thành đơn vị.
- Kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch hạ giá thành.
- Xác định kết quả hạch toán kinh tế ở từng bộ phận sản xuất và toàn

doanh nghiệp.
1.1.4. Vai trò của kế toán trong việc quản lý chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
Hoạt động sản xuất của con người là để tạo ra sản phẩm vật chất, là một
yếu tố khách quan để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Khi tiến hành các hoạt động sản xuất, con người nhất thiết quan tâm đến
việc quản lí các hoạt động đó hay nói cách khác là phải quan tâm đến hiệu
quả hoạt động mà hiệu quả của hoạt động là sự so sánh chi phí bỏ ra và
kết quả mang lại. Chính vì vậy trong quá trình sản xuất nhất thiết phải
quan tâm đến việc quản lý chi phí bỏ ra. Trong quản lý người ta sử dụng
nhiều công cụ khác nhau. Trong kế toán luôn được coi là công cụ hiệu quả
nhất dành cho quản lý. Với chức năng ghi chép, tính toán phản ánh giám
sát thường xuyên, liên tục sự biến động cả vật tư tiền vốn…kế toán cung
cấp cho các nhà lãnh đạo quản lý doanh nghiệp các số liệu về chi phí của
tong bộ phận cũng như của toàn doanh nghiệp để đánh giá, phân tích tình
hình thực hiện định mức, dự toán chi phí, tình hình sử dụng lao động vật
tư tiền vốn có hiệu quả tiết kiệm hay lãng phí từ đó có biện pháp hạ thấp
chi phí, giảm giá thành.
Tổ chức tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất, đảm bảo xác định đúng
nội dung, phạm vi cấu thành trong giá thành sản phẩm, lượng giá trị các
yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm. Chính vì vậy kế toán là một
công cụ quản lí, một tất yếu khách quan có vai trò quan trọng trong quản lí
kinh tế nói chung và quản lí sản xuất nói riêng. Đặc biệt trong điều kiện
hiện nay khi mà chi phí sản xuất đang là vấn đề sống còn, vấn đề trọng
tâm mà các doanh nghiệp đang quan tâm. Do đó kế toán tập hợp chi phí
sản xuất càng có vai trò quan trọng, có ý nghĩa thiết thực đối với doanh
nghiệp.
13
1.1.5. Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.

Hiện nay, mục tiêu các doanh nghiệp là tìm mọi biện pháp phấn đấu tiết
kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm. Đứng trên góc độ quản lí, muốn làm
được đIều đó thì phải biết được con đường hình thành nên giá thành sản
phẩm, biết được các yếu tố nào làm tăng hoặc giảm giá thành, từ đó có các
biện pháp cần thiết để hạn chế, loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố tiêu
cực, khai thác khả năng tiềm tàng trong việc quản lí, sử dụng nguồn vật tư,
lao động …Muốn làm được điều đó thì phải làm tốt công tác kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, phải tính đúng tính đủ
chi phí sản xuất đã chi ra. Do đó kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Căn cứ đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản
phẩm phương pháp tính giá thành thích hợp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ tổng loại chi phí sản xuất theo đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương pháp thích hợp đã
chọn cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về các khoản mục chi
phí và các yếu tố chi phí quy định, xác định đúng đắn chi phí sản phẩm dở
dang cuối kỳ.
- Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành
và giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục
quy định và đúng kỳ tính giá thành xác định.
- Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành cho
lãnh đạo doanh nghiệp và tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định
mức chi phí và dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế toán giá thành và kế
hoạch hạ giá thành sản phẩm, phát hiện kịp thời khả năng tiềm tàng đề xuất
biện pháp thích hợp để phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành sản phẩm.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất.
ĐỂ TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO VIÊC THEO DÕI GIÁM
SÁT, QUẢN LÝ CHI PHÍ VÀ HOẠCH TOÁN CHI PHÍ MỘT CÁCH

ĐẦY ĐỦ KỊP THỜI, CHÍNH XÁC THÌ MỘT TẤT YẾU KHÁCH
14
QUAN LÀ PHẢI PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT. VIỆC PHÂN
LOẠI NÀY CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN
LỢI CHO CÔNG TÁC KẾ TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
Tuỳ theo việc xem xét chi phí ở các góc độ khác nhau và mục đích
quản lý chi phí mà chi phí sản xuất kinh doanh được phân loại theo những
tiêu thức phù hợp.
1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi
phí.
Theo cách phân loại này thì căn cứ vào tính chất nội dung kinh tế của
các loại chi phí, các chi phí giống nhau về nội dung kinh tế được xét chung
vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu, trong lĩnh vực
nào toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu : Là toàn bộ chi phí về các đối tượng lao động
như chi phí về nguyên vật liệu, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật
liệu thiết bị xây dựng cơ bản.
- Chi phí nhân công : Đây là chi phí về sức lao động, đó là toàn bộ chi
phí tiền công và các khoản phải trả cho người lao động cho doanh nghiệp như
tiền lương, thưởng, phụ cấp, bảo hiểm, các khoản phải trả khác.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định : Đây là chi phí về tư liệu lao động, là
toàn bộ số tiền khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc
, thiết bị…và khấu hao TSCĐ khác dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp
và sản xuất kinh doanh.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài : Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả
về dịch vụ mua ngoài sản xuất kinh doanh như điện, nước, điện thoại
- Chi phí khác bằng tiền : Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình
hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố trên .
Cách phân loại này có ý nghĩa trong công tác hạch toán nói riêng và

quản lý kinh tế nói chung, cho biết kết cấu tỉ trọng của tổng loại cho từng
loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra giúp cho việc lập bảng thuyết minh
báo cáo tài chính phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố phục cho
yêu cầu thông tin và quản lý doanh nghiệp, phân tích tình hình thực hiện
dự toán chi phí, lập dự toán chi phí cho kỳ sau.
15
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí
trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản
mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng không
phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào. Vì vậy toàn bộ chi
phí sản xuất phát sinh trong kì được chia ra thành các khoản mục chi phí
sau:
- CFNVLTT: Là toàn bộ các chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên
vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực
tiếp sản xuất sản phẩm.
- CFNCTT: Gồm chi phí về tiền công, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ
của CNTT sản xuất.
- CFSXC: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các
phân xưởng, đội sản xuất…bao gồm tiền lương của bộ phận quản lí, phân
xưởng, tổ đội… các khoản trích theo lương ( BHXH, BHYT, KPCĐ) chi phí
công cụ, dụng cụ phục vụ quản lí phân xưởng tổ đội chi phí khấu hao TSCĐ
(khấu hao nhà xưởng máy móc thiết bị) chi phí dịch vụ mua ngoài ( điện, điện
thoại, nước) chi phí khác bằng tiền.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí có ý
nghĩa lớn trong việc tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất thực
hiện ở các doanh nghiệp và việc vận dụng các tài khoản trong kế toán chi
phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm.
1.2.1.3. Phân loại chi phí sản theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm
công việc lao vụ sản xuất trong kì.

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành:
- Chi phí cố định( chi phí bằng tiền): Là những chi phí không thay đổi
theo khối lượng sản phẩm sản xuất ra.
- Chi phí biến đổi( chi phí khả biến): Là những chi phí tương quan tỷ lệ
thuận với khối lượng sản phẩm sản xuất ra.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc phân tích tình hình tiết kiệm
chi phí sản xuất và định ra biện pháp thích hợp nhằm hạ thấp chi phí cho
một đơn vị sản phẩm .
16
1.2.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí :
- Chi phí trực tiếp là chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng tập hợp
chi phí và có thể quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó.
- Chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến hai hay nhiều đối tượng tập
hợp chi phí nên phải tập họp theo từng đối tượng, phân bổ gián tiếp theo
một tiêu thức phù hợp.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định phương pháp hạch
toán tập hợp chi phí và phân bổ chi phí sản xuất vào đối tượng tập hợp chi
phí một cách đúng đắn hợp lý.
1.2.1.5. Phân loại theo nội dung cấu thành chi phí
- CHI PHÍ ĐƠN NHẤT :LÀ CHI PHÍ KHÔNG THỂ CHIA NHỎ ĐƯỢC
NỮA VỀ NỘI DUNG KINH TẾ.
- Chi phí tổng hợp :Là chi phí được cấu tạo từ hai hay nhiều chi phí đơn nhất
được tập hợp theo một công dụng như chi phí sản xuất chung.
Theo cách phân loại này giúp các phương pháp kế toán tổng hợp các
chi phí phát sinh theo địa điểm và thuận tiện cho việc tổng hợp và phân bổ
chi phí giảm nhẹ việc hạch toán chi phí tiết kiệm.
Như vậy , mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng của nó
đồng thời bổ xung cho nhau nhằm quản lý tốt, hạch toán đầy đủ, chính
xác chi phí sản xuất góp phần quản lý tài sản vật tư lao động tiền vốn của

doanh nghiệp và đề ra các biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm.
1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều
phạm vi tính toán khác nhau trên thực tế có hai cách phân loại giá thành :
1.2.2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
- GIÁ THÀNH KẾ HOẠCH :LÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM ĐƯỢC
TÍNH TRÊN CƠ SỞ CHI PHÍ SẢN XUẤT KẾ HOẠCH VÀ SẢN
LƯỢNG KẾ HOẠCH .
Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp là căn cứ để
so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của toàn
doanh nghiệp.
17
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và tính cho đơn vị sản phẩm.
Giá thành định mức là công cụ quản lí định mức của doanh nghiệp, là
thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản vật tư, lao động sản
xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kĩ thuật mà doanh
nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế là giá thành sản phẩm được tính trên số liệu chi phí
sản xuất thực tế đã phát sinh tập hợp được trong kì sản lượng sản phẩm
thực tế đã sản xuất ra trong kì.
Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn
đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế
tổ chức kĩ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm là cơ sở để xác
định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán
- Giá thành sản xuất ( giá thành công xưởng) gồm các chi phí sản xuất
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản

xuất chung tính cho những sản phẩm công việc lao vụ, dịch vụ đã hoàn
thành, là căn cứ để tính giá vốn và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ: Bao gồm giá thành sản xuất cộng thêm chi phí bán
hàng và chi phí quản lí doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó.
1.3. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành.
1.3.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và căn cứ xác định
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên và đặc biệt
quan trọng trong công tác quản lí chi phí sản xuất. Có xác định đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất mới tổ chức đúng đắn và khoa học hợp lí
công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất, phục vụ tốt cho việc tăng cường
quản lí, thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ và hạch toán kinh tế toàn doanh
nghiệp phát huy vai trò chức năng của kế toán. Đồng thời với việc xác
định đúng đối tượng tính giá thành và là tiền đề cho việc tính giá thành sản
phẩm một cách đúng đắn hợp lí và chính xác.
18
Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại khác nhau với
nội dung kinh tế, công dụng khác nhau phát sinh ở những địa điểm khác
nhau. Mục đích của việc bỏ ra chi phí là tạo ra những sản phẩm, lao vụ mà
những sản phẩm lao vụ được sản xuất ở các phân xưởng, bộ phận, tổ đội…
khác nhau. Do đó các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp cần được tập
hợp theo yếu tố các khoản mục chi phí theo phạm vi giới hạn phát sinh chi
phí nhất định để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm.
Như vậy thực chất của việc xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất là việc xác định những phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất cần được
tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra phân tích chi phí, yêu cầu tính giá
thành của sản phẩm.
Phạm vi (giới hạn ) để tập hợp chi phí :
- Nơi phát sinh (địa điểm) : phân xưởng , đội hoặc bộ phận sản xuất
- Nơi gánh chịu chi phí (đối tượng chi phí) : sản phẩm, nhóm sản phẩm,

đơn đặt hàng, hạng mục công trình…
*Căn cứ xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất :
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Quy trình công nghệ, kỹ thuật của sản xuất sản phẩm
- Đặc điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí .
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp .
1.3.2. Đối tượng tính giá thành và căn cứ xác định
XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH LÀ CÔNG VIỆC
ĐẦU TIÊN TRONG TOÀN BỘ CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM CỦA KẾ TOÁN.
Công việc tính giá thành thực tế của doanh nghiệp là nhằm xác định
được giá thực tế của từng loại sản phẩm là những thành phẩm, bán thành
phẩm, công việc và lao vụ hoàn thành do doanh nghiệp sản xuất ra đòi hỏi
phải tính giá toàn bộ và giá thành đơn vị của chúng.
*Căn cứ xác định:
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng loại sản
phẩm, đơn đặt hàng đã hoàn thành là một đối tượng tính giá thành. Nếu tổ
19
chức sản xuất hàng loạt thì đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm
hoặc một đơn đặt hàng nhất định nào đó.
- Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
- Nếu qui trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành
có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở quy trình sản xuất.
- Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục thì đối tượng
tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng,
cũng có thể là thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn sản xuất.
- Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song thì đối
tượng tính giá thành là sản phẩm được lắp ráp hoàn chỉnh, cũng có thể là
từng bộ phận chi tiết sản phẩm.

- Đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm sử dụng, chu kỳ sản xuất dài hay
ngắn.
- Dựa vào yêu cầu hạch toán kế toán của nội bộ doanh nghịêp và yêu
cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm.
- Khả năng và trình độ quản lí của doanh nghiệp nói chung và khả năng
của cán bộ hạch toán nói riêng.
* Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến
hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành:
- Trường hợp tổ chức sản xuất nhiều, khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất
ngắn xen kẽ và liên tục thì kỳ tính giá thành là hàng tháng vào thời điểm
cuối tháng.
- Trường hợp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt
hàng, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm chỉ hoàn
thành ở giai đoạn cuối khi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thành là
thời kì sản phẩm đã hoàn thành tức là tính theo chu kì sản xuất.
1.3.3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá
thành sản phẩm
Giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được theo từng
đối tượng là cơ sở để tính giá thành và giá thành đơn vị cho từng loại đối
tượng để tập hợp chi phí sản xuất và phục vụ công tác quản lí, phân tích
20
kiểm tra chi phí sản xuất và giá thành. Song giữa chúng có những điểm
khác nhau:
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định phạm vi, nơi phát sinh
chi phí để tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ( phân xưởng, đội trại sản
xuất…)
- Xác định đối tượng tính giá thành là xác định nơi gánh chịu chi phí
tức là có liên quan đến kết quả của quá trình sản xuất ( sản phẩm, công
việc, lao vụ hoàn thành)

- Một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể bao gồm nhiều đối
tượng tính giá thành và ngược lại một đối tượng tính giá thành lại có thể
bao gồm nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí.
1.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
* Phương pháp tập hợp trực tiếp chi phí sản xuất:
Phương pháp này áp dụng đối với những chi phí trực tiếp. Những chi
phí trực tiếp là những chi phí có liên quan đến một số đối tượng kế toán
tập hợp chi phí sản xuất. Căn cứ vào các chứng từ gốc về chi phí phát sinh
để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng.
* Phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí sản xuất:
Phương pháp này áp dụng đối với những chi phí gián tiếp là chi phí liên
quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất khác nhau. Tiến
hành thực hiện chi phí, phân bổ gián tiếp chi phí theo các bước sau:
- Lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lí và tính hệ số phân bổ chi phí. Một
tiêu thức được phân bổ là khoa học và hợp lí khi mà sự thay đổi của tiêu
thức tương quan tỉ lệ thuận với các chi phí cần phân bổ.
- Xác định đối tượng phân bổ (H)



Trong đó: ∑C : là tổng số chi phí cần phân bổ
Ti : Tiêu thức phân bổ thuộc đối tượng i
Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng
Ci = Ti × H

H
=


C


21
1.5.Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.5.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên.
1.5.1.1 Tài khoản sử dụng:
- TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ chi phí NVLTT dùng cho sản
xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang TK
154 để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành.
- TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”
Tài khoản này phản ánh chi phí NCTT sản xuất sản phẩm trực tiếp thực
hiện lao vụ trong các doanh nghiệp sản xuất thuộc ngành công nghiệp, nông
nghiệp, lâm ngư nghiệp…
- TK 627 “Chi phí sản xuất chung”
Tài khoản này dùng để tập hợp các chi phí liên quan đến việc phục vụ
quản lí sản xuất chế tạo sản phẩm trong các phân xưởng, bộ phận sản xuất.
TK 627 cuối kì không có số dư. Tài khoản này cũng có thể được mở chi
tiết theo từng đối tượng, từng loại hoạt động, từng phân xưởng, bộ phận…
Tài khoản 627 được mở chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2 để theo dõi phản
ánh riêng từng nội dung chi phí:
TK6271 :chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272 : chi phí vật liệu
TK 6273 : chi phí công cụ dụng cụ sản xuất
TK 6274 :chi phí khấu hao tài sản cố định
TK 6277 :chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278 : chi phí khác bằng tiền
- TK 154 “ chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”

Tài khoản này dùng để tập hợp chi phí sản xuất và cung cấp số liệu
phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, lao vụ, gia công chế biến vật
liệu phụ phục vụ ở các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp kinh
doanh.
22
TK 154 được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
(phân xưởng hoặc tổ đội sản xuất)
1.5.1.2. Phương pháp kế toán
1.5.1.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào các đối tượng cụ thể
tiến hành theo các phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp phân bổ gián tiếp.
Phương pháp trực tiếp được áp dụng cho các chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp chỉ liên quan đến môt đối tượng tập hợp chi phí ( tong phân xưởng, bộ
phận sản phẩm…)
Phương pháp phân bổ gián tiếp áp dụng trong trường hợp chi phí nguyên
vật liệu có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau.





Tiêu chuẩn phân bổ cần lựa chọn thích hợp như: đối với vật liệu chính có
thể chọn chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản
xuất…đối với vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu chuẩn phân bổ là chi
phí định mức, chi phí kế hoạch, chi phí nguyên vật liệu chính. Trình tự hạch
toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như sơ đồ 1(Trang bên).
Chi phí thực
tế NVLTT trong
k



=

Trị giá NVL
xuất đưa vào
_

Trị giá NVL
còn lại cuối kì
_

Trị giá phế liệu thu
h

i (n
ế
u có)

23
Sơ đồ 1: Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp






















1.5.1.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính vào từng đối tượng chịu
chi phí có liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất nhưng
có liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được tiền
lương phụ cấp, các khoản phụ cấp hoặc tiền lương chính phải trả theo thời
gian mà người lao động thực hiện nhiều công tác khác nhau trong ngày… thì
có thể tập trung sau đó chọn tiêu chuẩn thích hợp để tính toán, phân bổ cho
từng đối tượng chịu chi phí có liên quan.
Tiêu chuẩn để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp sản xuất có thể là: chi
phí tiền công định mức (hoặc kế hoạch) giờ công định mức hoặc giờ công
thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất.
TK 152

TK 621

Tr


giá NVL xu


t kho

dùng tr

cti
ế
p s

n xu

t

TK 142
NVLTT
Chờ phân
b


NVLTT
Phân b


TK 111,112,331
TK 133

Giá mua
chưa có

Trị gi

á
NVL
mua
ngoài
dùng
trực
tiếp
SX (
không
qua
TK 152

Tr


giá NVL còn chưa s


dụng và giá trị phế liệu
thu hồi nhập kho
TK 154

K
ế
t chuy

n ho

c phân
bổ CFNVLTT để tính

giá thành
24
Với các khoản BHXH, BHTY, KPCĐ căn cứ vào tỷ kệ quy định để tính
thu tiền công đã tập hợp được hoặc phân bổ cho từng đối tượng.
Trình tự hạch toán chi phí nhân công trực tiếp sản xuất được phản ánh ở
sơ đồ 2 dưới đây:
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp















1.5.1.2.3. Kế toán chi phí sản xuất chung( CFSXC)
Chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lí phục vụ sản xuất và
những chi phí sản xuất(ngoài hai khoản NVLTT và NCTT) phát sinh ở phân
xưởng. Kế toán tập hợp phân bổ chi phí SXC có một số điểm cần chú ý như
sau:
- Bao gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau.
- Chi phí sản xuất chung phát sinh ở nhiều nơi, do nhiều bộ phận quản lý
nên rất khó kiểm soát.

- Các nội dung chi phí sản xuất có tính chất gián tiếp đối với từng đơn vị
sản phẩm nên khi phát sinh không thể tính thẳng cho các đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất được .
- Bao gồm cả chi phí cố định , chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp .
+ Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp ,
thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất như chi phí khấu hao,
chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng…và chi phí quản lý hành
chính ở các phân xưởng sản xuất.
TK 334
TK 335

TK 338 (2,3,4)
TK 622
TK 154

Ti

n lương ph

i tr


CNV


Trích tiền lương nghỉ phép

Các khoản trích

K

ế
t chuy

n (phân b

)chi
phí NCTT để


tính gia thành s

n ph

m

25
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp,
thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản
xuất như chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất .
Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng
một khoảng thời gian mà chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm không
được phản ánh một cách tách biệt thì chi phí chế biến đưọc phân bổ cho các
sản phẩm theo phương thức phù hợp và nhất quán giữa các kỳ kế toán .Trình
tự kế toán chi phí sản xuất chung được phản ánh ở sơ đồ 3.

×