Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Trồng Nấm Bào Ngư Trên Bụi Xơ Dừa doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (107.12 KB, 5 trang )




Trồng Nấm Bào Ngư
Trên Bụi Xơ Dừa
Kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa được ứng dụng tại cù lao Tắc
Cậu (xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) từ đầu năm 2006.
Kỹ thuật này không chỉ góp phần giải quyết được tình trạng bụi xơ dừa gây
ô nhiễm môi trường mà còn mang lại thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống
người dân. Mô hình trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa đang được nhân
rộng.

Nấm bào ngư là loài nấm dễ trồng, cho năng suất cao, phẩm chất ngon, có
nhiều tính chất quí. Tính về thành phần dinh dưỡng, nấm bào ngư có nhiều
chất đường cao hơn cả nấm rơm, nấm mỡ, nấm đông cô. Nấm bào ngư cũng
không thua các loại nấm trên về hàm lượng đạm, chất khoáng. Xét về năng
lượng, nấm bào ngư cung cấp năng lượng ở mức tối thiểu, thấp hơn nấm
đông cô, tương đương với nấm rơm và nấm mỡ, rất thích hợp cho những
người ăn kiêng. Ngoài ra, kết quả của các nhà nghiên cứu cho thấy trong
nấm bào ngư có chất kháng sinh là Pleurotin, ức chế hoạt động của vi khuẩn
gam dương. Nấm bào ngư còn chứa 2 polysaccharit có hoạt tính kháng ung
bướu, đồng thời, nấm còn chứa nhiều acid folic, rất cần cho những người bị
thiếu máu.
Ở nước ta, nấm bào ngư chủ yếu mọc hoang dại và có nhiều tên gọi: nấm sò,
nấm trắng (theo cách gọi miền Bắc), nấm dai (theo cách gọi miền Nam).
Nấm bào ngư thuộc nhóm nấm dị dưỡng, sống hoại sinh, phá hoại gỗ và háo
đường. Được trồng tại Việt Nam khoảng 20 năm nay, trên nhiều nguồn
nguyên liệu khác nhau, nấm bào ngư luôn phát triển tốt. Theo kết quả nghiên
cứu từ ngành chức năng ở nhiều địa phương, nấm bào ngư trồng trên rơm rạ,
bã mía, mạt cưa đều đạt hiệu suất sinh học (nấm tươi trên trọng lượng
nguyên liệu khô) cao.


Tại Kiên Giang, sau một năm thử nghiệm, cho thấy nấm bào ngư được trồng
trên bụi xơ dừa có kết quả tốt. Ngành Nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh
Kiên Giang đã sản xuất thử 1.000 bịch phôi, tập huấn cho 20 nông dân và tổ
chức hội thảo nghiệm thu kết quả ứng dụng kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên
bụi xơ dừa tại 5 hộ nông dân. Bắt đầu từ bịch phôi, nông dân sẽ tiếp nhận
quy trình kỹ thuật chăm sóc và tưới đón nấm. Trong thời gian này, nhiệt độ
và độ ẩm không khí trong nhà trồng được giữ ổn định bằng cách tưới và
phun liên tục (khoảng 4-6 lần/ngày). Thời gian thu hoạch từ 7-10 ngày/đợt,
mỗi vụ thu hoạch từ 3-4 đợt. Theo dõi các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật, nếu áp
dụng thực hiện tốt khâu kỹ thuật, năng suất và sản lượng thu hoạch sẽ cho
hiệu quả kinh tế cao.
Trong quá trình ứng dụng kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa tại
huyện Châu Thành, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học Kỹ thuật và
Công nghệ tỉnh trực tiếp hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông dân. Tuy
nhiên, do lần đầu tiếp nhận quy trình kỹ thuật mới, nông dân còn xem nhẹ
một số công đoạn như hấp thanh trùng, đóng bọc, cấy meo, nên tỷ lệ
nhiễm nấm tạp còn cao. Trong 1.000 bịch phôi, có 828 bịch cho ra nấm với
tổng lượng thu 124 kg, năng suất trung bình 150g nấm/bịch. Hộ ông Nguyễn
Văn Khỏe và Huỳnh Đức Tài có năng suất cao nhất là 175-200g nấm/bịch
phôi. Thấp nhất là hộ ông Lâm Văn Danh, chỉ thu được 30g nấm/bịch. Cá
biệt, có khoảng 10% bịch phôi tại 2 hộ Huỳnh Đức Tài và Nguyễn Văn
Khoẻ cho năng suất cao khoảng 250-300g nấm/bịch.
Chu trình sống của nấm bào ngư cũng giống như các loài nấm khác, bắt đầu
từ đảm bào tử hữu tính, nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng và cuối cùng là
tai nấm; tai nấm sinh ra các đảm bào tử và chu trình lại tiếp tục. Quả thể nấm
bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn. Dựa vào hình dạng tai nấm mà có
tên gọi cho từng giai đoạn: dạng san hô, dạng dùi trống, dạng phễu, dạng
bán cầu lệch, dạng lá lục bình. Từ giai đoạn phễu sang bán cầu lệch có sự
thay đổi về chất, còn từ giai đoạn bán cầu lệch sang dạng lá có sự tăng vọt
về lượng. Vì vậy, thu hái nấm bào ngư cần chọn lúc tai nấm vừa chuyển

sang dạng lá.
Ngoài yếu tố dinh dưỡng thì môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh
trưởng và phát triển của nấm như nhiệt độ, độ ẩm, độ chiếu sáng, độ thông
thoáng Do có hệ thống enzym thủy giải mạnh và đa dạng, nấm bào ngư có
khả năng sử dụng nguồn hydratcarbon, nhất là cellulose. Nấm bào ngư là
một trong số ít loài có khả năng sử dụng nguồn lignin, nhất là trong thời gian
đầu của việc tạo quả thể nấm. Nấm có đặc điểm chung là tai nấm dạng phễu
lệch, cuống tròn. Mặt dưới mũ nấm có nhiều phiến dẹp, xếp thẳng góc với
thân, mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lông nhỏ
mịn. Các phiến này chính là phụ tầng của nấm. Mặt trên mũ nấm thường hơi
lõm ở giữa, có màu sắc khác nhau tùy theo chủng loại nấm và tuổi của nấm.
Tai nấm còn non có màu sắc sậm, hơi tối nhưng khi trưởng thành màu trở
nên sáng hơn.
Kỹ sư trồng trọt Nguyễn Thị Thanh Vân, Trưởng phòng Nông-Lâm - Ngư
nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Trồng nấm bào ngư
trên bụi xơ dừa không chỉ góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường
tại địa phương do bụi xơ dừa gây ra mà còn góp phần tăng thu nhập cho
người dân từ việc tận dụng những khoảng đất trống bỏ hoang xung quanh
nhà. Từ 1 bịch phôi (trọng lượng khoảng 1-1,2 kg) nếu được chăm sóc theo
đúng quy trình có thể cho ra 250-300g sản phẩm nấm bào ngư”. Chi phí đầu
tư cho 1kg nấm bào ngư từ 6-7 ngàn đồng. Sản phẩm nấm bán được từ 12-
15 ngàn đồng/kg, người sản xuất có thể lãi 6-8 ngàn đồng/kg. Như vậy với
10.000 bịch phôi bụi xơ dừa có thể sản xuất ra 2.000 kg nấm bào ngư và cho
lợi nhuận 12- 16 triệu đồng.
Việc nhân rộng quy trình sản xuất nấm bào ngư trên giá thể bụi xơ dừa ở
huyện Châu Thành giúp tạo ra sản phẩm mới cho địa phương, cung cấp thêm
nguồn thực phẩm có giá trị về dinh dưỡng. Mặt khác, với khả năng có thể
phát triển và nhân rộng ra nhiều hộ nông dân trong thời gian tới, việc triển
khai đề tài còn giúp tận dụng nguồn lao động lúc nông nhàn, tăng thêm thu
nhập cho hộ gia đình từ việc sử dụng phụ phẩm trong nông nghiệp.


×