Khoa Kinh tế quốc tế
Đề cương ôn tập Khóa KT35
Môn Tiền tệ Ngân hàng
1. Nếu mức giá P = 20, Sản lượng Q = 5000, nếu V = 4, tổng lượng tiền mặt trong lưu thông là bao
nhiêu?
• Phương trình số lượng tiền tệ
• MV=PQ
• Trong đó:
• M: mức cung tiền trong 1 giai đoạn
• V: mức độ (hay tốc độ)chu chuyển của tiền.
• P: mức giá chung nền kinh tế
• Q: sản lượng
2. Nêu các nguyên nhân dẫn đến lạm phát. Nếu lạm phát cao hơn so với dự kiến, tác động tới người
đi vay và người cho vay sẽ như thế nào?
Nguyên nhân :
a. Làm phát do cầu kéo: là do tổng cầu hay tổng chi tiêu xã hội tăng lên, vượt quá mưqcs cung ứng của
xã hội dẫn đến làm tăng giá cả. tổng cầu phản ánh nhu cầu có khả năng thanh toán về hàng hóa và
dịch vụ của xã hội. khi nhu cầu này tăng lên làm tiền chi tiêu nhiều hơn và giá cả hàng hóa tăng lên.
Các lý do là:
- Chi tiêu chính phủ tăng lên: chi tiêu chính phủ tăng lên làm tăng tổng cầu thông qua khoản đầu tư
như phúc lợi xã hội hay trợ cấp thất nghiệp kết quả là hàng hóa tăng lên.
- Chi dùng hộ gia đình tăng lên: do mức thu nhập tăng lên hay lãi suất giảm xuống
- Nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp: về mặt ngắn hạn làm mức giá tăng lên
- Chính sách tiền tệ mở rộng: không chỉ ngân hàng trung ương tăng mức cung tiền mà cả ngân hàng
trung gian cũng mở rộng cho vay kết quả là chính phủ người dân doanh nghiệp có nhu cầu tiêu dung
nhiều hơn -> giá cả tăng nhanh
Ngoaigiao.net Page 1
b. Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí
bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản
xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của
mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như:
- Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh
doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình.
Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm
phát nảy sinh từ đó.
- Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng
lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có
thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt
hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
- Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho
xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng
cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
- Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát
hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
- Lạm phát tiền tệ
Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền
trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo
yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
- Lạm phát đẻ ra lạm phát
Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ
còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại. Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát.
Ngoaigiao.net Page 2
- Lạm phát do hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị bị khủng hoảng do những tác động bên trong và
bên ngoài
lòng tin của nhà nước vào chế độ tiền tệ nhà nước bị xói mòn
uy tín và sức mua của
đồng tiền giảm sút
Tác động:
a. Trong mối quan hệ giữa người cho vay và ngân hàng.
- Người cho vay sẵn sàng cho NH vay vì khi lạm phát cao, giá trị đồng tiền giảm, nhu cầu giữ
tiền không cao nên họ chuyển tài sản của họ qua kênh NH hoặc nhà đất, vàng…
- NH sẽ sẵn sàng nâng mức lãi suất tiền gửi nhắm thu hút nhiều hơn nữa tiền trong dân chúng
nhằm giảm lạm phát với một mức lãi suất tiền gửi cao.
b. Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng
- Doanh nghiệp sau khi gặp khó khăn trong lạm phát có thể do cầu kéo hoặc chi phí đẩy, họ
đang trong tình trạng thiếu về nguồn lực cụ thể là đầu vào. Do vậy, nhu cầu lúc này là huy động vốn,
do đó, doanh nghiệp sẽ có nhu cầu lớn trong việc vay vốn.
- Ngân hàng nhằm kiềm chế lạm phát nhằm hạn chế cung tiền và nâng mức lãi suất cho vay cao.
Ngoaigiao.net Page 3
3. Nêu vai trò của Ngân hàng Trung ương và các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTƯ?
1. Phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ. đây là chức năng quan trọng và cơ bản của ngân hàng Tw.
Thực hiện chức năng này ảnh hưởng tới mọi mặt của hoạt động kinh tế thậm chí ảnh hưởng tới tình
hình tiền tệ thế giới nữa. việc phát hành tiền phải đi đôi với điều tiết lưu thông tiền tệ để bảo đủ
phương tiện lưu thông vừa không gây lạm phát để giữ vững và ổn định sức mua của đồng tiền.
2. Ngân hàng Tw là ngân hàng của ngân hàng. Thể hiện ở chỗ là các đối tượng giao dịch chủ yếu trong
nghiệp vụ của NHTw là các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dung khác trong nền kinh tế.
a. NHTW nhận tiền gửi và bảo quản tiền tệ cho ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng.
b. Trực tiếp cấp vốn cho ngân hàng TM và các tổ chức tín dụng: nhằm đảm bảo cho nền kinh tế quốc
dân có đủ phương tiện thanh toán cần thiết trên cơ sở thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ. trong
trường hợp này ngân hàng Tw luôn đóng vai trò là chủ nợ và là người cho vay cuối cung và vì là
người cho vay cuối cùng nên nghiệp cấp tín dụng cho NH thương mại của NH Tw có ý nghĩa quyết
định đối với hoạt động tín dụng trong hoạt động kinh tế. cấp tín dụng bằng nhiều cách như tái chiết
khấu, cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng TM, cho vay bù lỗ trong thanh toán
liên NH …
3. Ngân hàng Tw là NH nhà nước. nó thuộc quyền sở hữu của nhà nước, mở tài khoản và giao dịch với
kho bạc nhà nước, làm đại lí cho kho bạc nhà nước, tổ chức thanh toán giữa kho bạc với ngân hàng . .
với tư cách nhà nước, NH Tw đảm nhiệm các công việc thuộc chức năng quản lí của nhà nước và thay
mặt chính phủ làm đại diện tại các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Vai trò của NHTW
• NHTW thực hiện chức năng cơ bản của một ngân hàng quốc gia và thực hiện chức
năng quản lý nhà nhà nước của NHTW nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho cả hệ thống
ngân hàng, qua đó mà thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. NHTW thực hiện các chức
năng này thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh song tính chất kinh doanh chỉ là phương tiện
nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chứ không phải là mục đích của NHTW ổn định lưu thông
tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
Thứ nhất ta cần biết chính sách tiền tệ là gì? Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó
NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng
nhằm ổn định giá trị đồng tiền và đật được các mục tiêu kinh tế-xã hội đề ra.
Ngoaigiao.net Page 4
a. Các công cụ gián tiếp.
- Nghiệp vụ thị trường mở: NHTW sử dụng nghiệp vụ mua, bán chứng khoán trện thị trường
tiền tệ mở để thay đổi cơ số tiền (MB) từ đó tác động tớ lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thị
trường. Cơ chế tác động như sau: khi ngân hàng mua (bán) chứng khoán nó sẽ làm tăng hoặc giảm
dự trữ của các ngân hàng trung gian khả năng tạo tiền gửi của NH này bị ảnh hưởng dẫn đến làm
tăng (hoặc giảm ) lượng tiền cung ứng. Ngoài ra khi vốn khả dụng của từng ngân hàng tăng mức
cung tiền tăng (hoặc giảm). Trong các điều khiện khác không đổi, lãi suất liên ngân hàng sẽ tăng (vì
lúc này tiền đã có nhiều trong lưu hành, đồng thời các ngân hàng cũng thiếu tiền để cung lãi suất
liên ngân hàng tăng.
- Chính sách tái chiết khấu (discount policy): Định nghĩa: bao gồm các quy định và điều kiện
việc cho vay của NHTW dối với các NHTM. NHTW cho vay ngắn hạn đối với các NHTM dưới hình
thức các giấy tờ có giá do các NHTM đưa đến VD như trái phiếu, cổ phiếu. Các NHTM vay chủ yếu
nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc bù đắp thiếu hụt trong
quỹ dự trữ bắt buộc.
- Dự trữ bắt buộc: Định nghĩa: là số tiền mà NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền
gửi tại NHTW. Nó xác định bằng một tỉ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trong một thời
gian nào đó. Hay nói cách khác, các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt
buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng
thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt
buộc. Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ
bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ.
- Chính sách tỉ giá hối đoái: chính sách này được thực hiện thông qua mua bán ngoại tệ của
NHTW trên thị trường ngoại hối.
b. Các công cụ trực tiếp: tác động trực tiếp tới cung ứng tiền tệ và lãi suất.
- Hạn mức tín dụng: Là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ
khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Tuy vậy công cụ này, có thể đẩy lãi suất lên cao, làm suy giảm khả
năng cạnh tranh của NH.
- Khung lãi suất: đinh ra 1 khung lãi suất gồm lãi suất trần ( là lãi suất tối đa mà các ngân
hàng được phép ấn định đi vay và cho vay) và lãi suât sàn (tối thiểu). Thông thường lãi suất trần là
lãi suất cho vay, còn lãi suất sàn là lãi suất đi vay. Đây là 1 công cụ cứng nhắc dễ tác động xấu tới
tiết kiệm và đầu tư
- Biên độ dao động của tỉ giá mua bán ngoại tệ: đây là công cụ có tính hành chính, quy định
mức tỉ giá tối đa và tối thiểu mà các NH được phép áp dụng khi kinh doanh ngoại hối
- Chính sách quản lý ngoại hối: ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị
được dùng để cất trữ hoặc thanh toán giữa các QG như ngoại tệ, các phương tiện thanh toán quốc tế
ghi bằng ngoại tệ (hối phiếu , lệnh phiếu , séc…) các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ (cổ phiếu, trái
Ngoaigiao.net Page 5
phiếu của nước ngoài), vàng bạc đá quý. Mục đích của chính sách này là kiểm soát chặt chẽ việc
chuyển ngoại hối ra nước ngoài, thu hút ngoại hối vào trong nước
Chú ý : tác động của lãi suất tái chiết khấu tới tỉ giá: Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để
điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể nó là phương pháp thường được sử dụng với mong muốn có những
thay đổi cấp thời về tỷ giá. Cơ chế tác động của công cụ này đến tỷ giá hối đoái như sau: Trong thế
cân bằng ban đầu của cung cầu ngoại tệ trên thị trường, khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo
theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó, tác động đến xu hướng dịch chuyển
của các dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn (trong cán cân thanh toán quốc tế) hoặc ít nhất
cũng làm những người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi
suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng
là một đồng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu
vốn ngoại tệ trong nước sẽ có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi
cao hơn. Kết quả là tỷ giá giảm (đồng nội tệ tăng). Trong trường hợp ngược lại, nếu muốn tỷ giá tăng
thì sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Ngoaigiao.net Page 6
4. Thế nào là mức cung tiền và các biện pháp kiểm soát mức cung tiền
- Mức cung tiền: là khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế để đảm bảo các hoạt động sản xuất
hàng hóa cũng như nhu cầu chi tiêu trong xã hội.
- Biện pháp mức cung tiền: như câu 3
5. Nêu các vai trò và chức năng của tín dụng
a. Tín dụng là gì?
- Cho vay hay còn gọi là tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho một bên
khác ( bên đi vay) và hai bên thỏa thuận thời hạn cho vay và thường kèm theo lãi suất. hay nói cách
khác tín dụng là cho vay có hoàn trả cả lãi sau một khoảng thời gian nhất định.
b. Vai trò: tạo điều kiện cho tiền tệ lưu thông nhanh hơn thúc đẩy nền kinh tế phát triển. phân phối
nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu/
c. Chức năng
Trong nền kinh tế tín dụng thực hiện hai chức năng:
- Tập trung cũng như phân phối lại vốn trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất
định.
- Kiểm soát hoạt động kinh tế bằng tiền: trong quá trình tập trung và phân phối lại vốn các chủ thể
kiểm soát lẫn nhau nhằm đảm bảo lợi ích của mình. Qua đó góp phần tác động tích cực đến nền kinh
tế. trọng tâm chính là kiểm soát người đi vay. Tức là kiểm soát trước khi cho vay, trong khi cho vay và
sau khi cho vay tiền
6. Thế nào là tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ý nghĩa của quy định này? Với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 5%. Hệ
thống ngân hàng có thể tạo ra tổng lượng tiền gửi là bao nhiêu nếu số tiền gửi ban đầu là 100 triệu
VND?
Định nghĩa: ngân hàng trung ương để tác động đến mức cung tiền nên đặt ra mức dự trữ tối thiểu đối
với ngân hàng thương mại.
Ý nghĩa: tác động đến mức cung tiền cũng như để đảm bảo một phần khả năng thanh, ngân hàng
không thể cho vay hết số tiền mà cần phải để lại một số tiền dự trữ bắt buộc và gọi là tỷ lệ dự trữ bắt
buộc. nó giúp ngân hàng có thể thanh toán khi người đến rút tiền tránh tình trạng không có khả năng
thanh toán dẫn đến phá sản
Ngoaigiao.net Page 7
Với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 5%. Hệ thống ngân hàng có thể tạo ra số tiền gửi từ số tiền ban đầu là
100 triệu VND là: 200 triệu VND
Được tính theo công thức số tiền nhân với 1 trên lãi suất.
7. Nêu các chức năng của tiền tệ, lấy ví dụ?
Trả lời: có ba chức năng cơ bản là: phương tiện trao đổi, một đơn vị thanh toán và là một nơi cất trữ
giá trị. Trong đó chức năng phương tiện trao đổi là cái phân biệt tiền với các tài sản khác: cổ phiếu,
trái phiếu và nhà cửa.
1. Phương tiện trao đổi: tức là dùng để thanh toán lấy hàng hóa và dịch vụ. việc dùng tiền làm phương
tiện trao đổi nhằm giúp đẩy mạnh hiệu quả của một nền kinh tế qua đó loại bỏ nhiều thời gian để
dành cho việc trao đổi trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ.
Ví dụ: một nhà kinh tế học chỉ biết làm duy nhất một việc là giảng bài học kinh tế. nếu muốn ăn thì
ông ta phải tìm kiếm một người nông dân mà người này ko chỉ biết làm ra lương thực mà còn phải là
người muốn học kinh tế. điều này là vô cùng khó khăn. Trong khi đó nếu có sự xuất hiện của tiền. nhà
kinh tế học có thể dạy cho người có nhu cầu học và nhận được tiền. dùng tiền đó để mua lương thực
thực phẩm.
Như vậy tiền thúc đẩy hiệu quả kinh té qua việc loại bỏ thời gian chi phí khi phải trao đổi hàng hóa và
dịch vụ.
2. Đơn vị thanh toán: tức là để đo giá trị trong nền kinh tế. chúng đo giá trị của hàng hóa dịch vụ bằng
tiền cũng giống như đo khoảng cách bằng km hay trọng lượng bằng kg. chức năng này rất quan trọng
vì nhờ nó mà việc trao đổi trở nên dễ dàng. Ví dụ có hai mặt hàng kinh tế là gạo, trứng và hoa. chúng
ta sẽ cần ba giá để biết rằng làm thế nào để đổi thứ này đổi với thứ kia. Nếu có 4 mặt hàng thì cần có
6 giá để trao đổi thứ này với thứ kia. 1000 mặt hàng thì cần 499500 giá. Càng lên cao thì càng cần
nhiều giá gây khó khăn khi trao đổi. nếu đưa tiền vào thì với 1000 hàng hóa chỉ cần có 1000 giá thay
cho 499500 gia như trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp.
3. Nơi chứa giá trị: tức là nơi chứa sức mua hàng theo thơi gian. Nó giúp chúng ta vì hầu hết chúng ta
không chi tiêu thu nhập của mình ngay lập tức khi vừa nhận được mà muốn đợi đến khi chúng ta có
thời gian hay nhu cầu mua sắm. tiền không phải là vật duy nhất chứa đựng giá trị mà còn có cả cổ
phiếu, trái phiếu ….
Ngoaigiao.net Page 8
8. Mệnh giá đồng tiền của một nước được quyết định bởi những yếu tố nào? Tiền giấy có giá trị hay
không?
Tiền là bất cứ thứ gì được chấp nhận chung trong thanh toán và trao đổi hàng hóa và dịch vụ hoặc để
hoàn trả các khoản nợ. vật ngang giá chung.
Mệnh giá được quyết định bởi nhiều yếu tố:
Lạm phát là nguyên nhân chính tác động đến mệnh giá của đồng tiền. tức là
khi lạm phát cao đồng tiền mất giá. Chính phủ phải in những đồng tiền
mệnh giá cao hơn. Ta phải bỏ nhiều tiền hơn để mua hàng hóa. Sức mua
của đồng tiền giảm.
- Một vấn đề khác là thể chế chính trị. Ví dụ sau chiến tranh thế giới thứ hai mĩ thắng trận và nhờ hệ
thống tiền tệ bretton wood có vàng đảm bảo cho đô la nên đồng đô la tăng giá.
Tiền giấy chỉ có giá trị khi được nhà nước ban hành, được pháp luật công nhận và được người
dân chấp nhận một cách rộng rãi như một vật ngang giá chung.
9. Thế nào là cầu tiền?
Cầu tiền được hiểu là nhu cầu về tiền của một quốc gia, cá nhân hay tổ chức để thực hiện trao đổi
hàng hóa hay đầu tư. Yếu tối tác động nhiều nhất đến cầu tiền đó là lãi suất.
10. Thế nào là lạm phát ? Trình bày các nguyên nhân lạm phát và áp dụng vào thực tế Việt Nam năm
2008 ?
Trả lời: lạm phát là hiện tượng giá cả tăng cao và liên tục trong một thời gian .
Tỷ lệ lạm phát cao đưa đến rất nhiều tác hại đối với đời sống xã hội và điều hành kinh tế. Tuy
nhiên, đối với đặc thù của Việt Nam thì một số hệ quả nổi bật như sau:
- Ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống xã hội và nền kinh tế
Mức lạm phát cao đã tác động xấu tới đời sống xã hội và niềm tin của người dân đối với điều
hành nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt tốc độ tăng của giá lương thực (chiếm 51% giá trị rổ hàng hóa)
liên tục tăng cao theo thời gian và lên tới 10,17% sau 2 tháng đầu năm 2008 và góp phần làm CPI
tăng 6,02% so với tháng 12/2007. Điều này tạo nên tác động tới khu vực hưởng lương ngân sách
(khoảng 2,5 triệu người) và người có thu nhập thấp (30% dân số). Hệ quả là chi thường xuyên cho
lương từ ngân sách sẽ phải tăng lên liên tục để đảm bảo thu nhập thực tế và tỷ lệ đói nghèo sẽ cao
hơn ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Không chỉ vậy, việc phá vỡ vòng xoáy thu nhập và lạm phát
sẽ càng trở nên khó khăn hơn trong quá trình phát triển.
Ngoaigiao.net Page 9
Các mối quan hệ cân bằng bên trong nền kinh tế đang bị ảnh hưởng, đặc biệt là đối với kinh tế
đối ngoại. Thâm hụt thương mại gia tăng rất nhanh qua các năm đạt mức báo động như 12 tỷ USD
(16% GDP) năm 2007 và dự kiến còn cao hơn nữa khoảng 17 tỷ USD (20% GDP) trong năm 2008 là
một vấn đề đáng báo động. Dòng chảy quá lớn của vốn bên ngoài chảy vào trong một thời gian quá
ngắn gây ra không chỉ sức ép với cung tiền mà còn tác động đến phân bổ và biến dạng nguồn lực
quốc gia tại các thị trường chứng khoán và bất động sản.
- Thiếu cân nhắc và phối hợp trong chính sách điều hành
Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thiếu chủ động và có phần lúng túng trong việc
đối phó trước biến động thị trường. Trong những năm trước, Việt Nam thực hiện mở rộng cung tiền
và chấp nhận lạm phát ở một tỷ lệ nhất định nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng dù các dấu hiệu
không an toàn và mất kiểm soát đã xuất hiện. Tuy nhiên, khi nhận thấy không thể khống chế chỉ tiêu
dưới mức kỳ vọng đặt ra thì sự thắt chặt tiền tệ mới được tiến hành từ nửa sau năm 2007 bằng các
công cụ nhằm thu hồi tiền từ lưu thông như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành tín phiếu bắt buộc 12
tháng. Tuy nhiên, kế hoạch thu hồi tiền trong lưu thông chưa diễn ra thì lại xảy ra sức ép thanh khoản
trên thị trường tiền tệ do các ngân hàng thương mại chuẩn bị tiền để mua tín phiếu và đáp ứng nhu
cầu thanh toán. Kết quả là Ngân hàng Nhà nước buộc phải đưa ra khoảng 30.000 tỷ VND tương
đương 50% kế hoạch chỉ trong quý I năm 2008. Như vậy, mục tiêu hạ tỷ lệ lạm phát không đạt được,
lượng tiền trong lưu thông không giảm xuống mà lại tăng lên chưa kể các rủi ro chính sách được tạo
ra, gây nên mất ổn định và ảnh hưởng đến nền kinh tế.
Bên cạnh đó, chính sách tài khóa của Việt Nam lại không song hành, thậm chí ngược chiều với
sự thu hẹp cung tiền của chính sách tiền tệ tại cùng một thời điểm đã gây nên hiệu ứng lan truyền, đặc
biệt về mặt tâm lý xã hội trước khi tác động thực tế diễn ra.
Thứ ba, chính sách tiền tệ và tài khóa quá chặt đã làm giảm sức cánh tranh của các doanh
nghiệp, khiến họ gặp khó khăn khi khủng hoảng tài chính xảy ra năm 2008, bất chấp việc chính phủ
đã hạ lãi suất vào quý IV
- Ảnh hưởng uy tín quốc tế
Hiện nay, tác động tiêu cực của lạm phát vẫn được coi như trong tầm kiểm soát và Việt Nam vẫn là
địa điểm thu hút vốn đầu tư quốc tế, đặc biệt sau sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) năm 2007.
Ngoaigiao.net Page 10
11. Thế nào là lạm phát ? Trình bày các biện pháp kiềm chế lạm phát và áp dụng vào thực tế Việt
Nam năm 2008.
Các giải pháp kiềm chế lạm phát: Chính phủ sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt để
làm giảm tổng cung; chính phủ dùng các biện pháp bình ổn các mặt hang thiết yếu, tăng sản xuất các
mặt hàng thiết yếu; hạn chế sa thải công nhân…
Việt nam: chính phủ đã rất mạnh tay trong việc sử dụng các biện pháp nhắm kiềm chế lạm phát, sẵn
sang hi sinh tăng trưởng. Với tầm nhìn đó, ngà 17/2 , chính phủ đã đưa ra gói 8 giải pháp kiềm chế
lạm phát, với sự kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau:
- Nhóm giải pháp đầu tiên, mang tính mấu chốt mà Chính phủ đưa ra là thực hiện chính sách tiền tệ
chặt chẽ. Một trong những mục tiêu của nhóm giải pháp này, theo Nghị quyết, để giảm dần lãi suất
huy động theo hướng thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Các hoạt động của ngân hàng thương
mại về huy động, cho vay, tín dụng cần được giám sát chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định.
- Thứ hai, Chính phủ sẽ điều chỉnh chính sách tài khóa theo hướng kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu
quả chi tiêu công gồm tăng thu ngân sách vượt dự toán, giảm chi phí hành chính.
- Các hạng mục đầu tư sẽ được rà soát chặt chẽ. Cắt bỏ công trình đầu tư kém hiệu quả, tập trung vốn
cho những công trình sắp hoàn thành. Bộ Tài chính sẽ đảm trách việc rà soát, đề xuất biện pháp chấn
chỉnh hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn. Bộ Kế
hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện sơ kết mô hình tập đoàn kinh tế trong quý IV
năm 2008
- Thứ ba, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, bảo đảm cân đối cung
cầu về hàng hóa. Muốn vậy, Chính phủ yêu cầu khắc phục nhanh hậu quả của thiên tai, dịch bệnh, tập
trung phát triển trồng rau màu, chăn nuôi, chuẩn bị đủ giống cho sản xuất vụ hè thu, tăng nguồn cung
thực phẩm. Từ đó, giá cả lương thực, thực phẩm sẽ sớm được ổn định. Chính phủ nhấn mạnh việc
khắc phục tình trạng thiếu điện, bảo đảm điện cho sản xuất.
- Thứ tư, Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, giảm nhập siêu. Theo
đó, Bộ Công Thương được giao phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn điều hành và
kiểm soát để xuất khẩu gạo năm 2008 ở mức 3,5 - 4 triệu tấn. Bộ Tài chính cần điều chỉnh tăng thuế
nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt ở mức hợp lý đối với một số mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu như
ô tô nguyên chiếc, rượu, bia nhưng vẫn đảm bảo phù hợp cam kết hội nhập.
- Thứ năm, Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu và
năng lượng. Các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông.
Từ đó, giải pháp triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng được triển khai thành công.
Ngoaigiao.net Page 11
- Thứ sáu, tăng cường công tác quản lý thị trường, chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại,
kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá. Các hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước về giá
sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Các tổng công ty nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện yêu
cầu này và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của hệ thống bán lẻ, đại lý bán lẻ của
doanh nghiệp
- Thứ bảy, tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, mở rộng việc
thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Điển hình là từ nay cho đến hết tháng 6/2008, chưa tăng
giá điện, than, xăng, dầu, giữ ổn định giá xi măng, phân bón, nước sạch, thuốc chữa bệnh, vé máy
bay, tàu hỏa, vé xe buýt, mức thu học phí, viện phí. Các biện pháp thích hợp tiếp theo trên sẽ được đề
ra tùy thuộc vào diễn biến của lạm phát. Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Tài chính kiểm tra việc xuất gạo
dự trữ quốc gia để cấp không thu tiền cho đồng bào bị thiên tai, thiếu đói.
- Thứ tám, các phương tiện thông tin đại chúng cần đẩy mạnh thông tin và tuyên truyền một cách chính
xác, ủng hộ các chủ trương, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực nhạy cảm này, tránh thông tin sai
sự thật có tính kích động, gây tâm lý bất an trong xã hội.
- Ngoài ra, ngân hang Trung ương còn thực hiện các biện pháp nghiệp vụ như tăng lãi suất tái chiết
khẩu, bắt buộc các ngân hàng thương mại mua trái phiếu.
- Kết quả là nửa cuối năm 2008, chí số CPI đã dần hạ nhiệt, trở lại tầm kiểm soát của chính phủ, thậm
chí còn âm trong quý 4
chỉ số lạm phát cả năm chỉ là 19%, lấy lại niềm tin của các nhà đầu tư, ổn
định tình hình kinh tế xã hội trong nước.
Không tăng giá 10 mặt hàng (xăng dầu, điện, than, nước sạch, vé xe buýt, tàu hoả, máy bay, xi măng,
sắt thép, học phí, viện phí.
Đảm bảo cung cầu hàng hoá, vật tư. Tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu; giảm chi tiêu thường xuyên
10%. Tạm dừng cung cấp vốn cho các dự án đầu tư không có hiệu quả.
12. Thế nào là lãi suất chiết khấu ? Việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu được áp dụng khi nào ? vận
dụng thực tế đối với kinh tế Việt Nam và Mỹ hiện nay.
Lãi suất chiết khấu là lãi suất áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết kháu
thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Nó được tính bằng
tỉ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng đưa tiền vay cho khách
hàng. Như vậy lãi suất chiết khấu được trả trước cho ngân hàng chứ ko trả sau như lãi suất tín dụng
thông thường.
Ngoaigiao.net Page 12
Việc điều chỉnh lãi suất dược thực hiện khi :
Vận dụng :
13. Phân tích các tác động của lạm phát tới nền kinh tế vầ các đối tượng trong nền kinh tế. Lạm phát
cao có tác động gì đến những người gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng và những người nắm giữ trái
phiếu.
Nhu hai câu trên.
14. Trình bày các hình thức tín dụng.
Tín dụng là gì xem câu trên
Các hình thức tín dụng : có ba loại
a. Tín dụng thương mại :
b. Tín dụng nhà nước : là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các cá nhân và tổ chức kinh tế trong xã
hội nhằm thực hiện chức năng của mình. Tận dụng nguồn vốn trong dân để thực hiện các mục tiêu
kinh tế như xây dựng trường học, y tế . . ví dụ như nhà nước cần vốn để xây dựng trường học chẳng
hạn, thay vì in tiền gây ra lạm phát thì nhà nước sẽ phát hành trái phiếu chính phủ vừa huy động được
vốn vừa không gây lạm phát
c. Tín dụng ngân hàng : là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác của nền kinh tế. thể
hiện ở chỗ ngân hàng huy động vốn từ nền kinh tế rồi cho vay lại các chủ thể khác của nền kinh tế.
15. Thế nào là tín dụng thương mại và tác dụng của tín dụng thương mại ?
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng phát sinh từ mối quan hệ giữa các doanh nghiệp phát sinh
trong lĩnh vực thương mại được thể hiện thông qua như mua chịu hàng hóa hay ứng tiền trước khi lấy
hàng hóa. Có mấy loạn là tín dụng trợ cấp xuất khâu hay nhập khẩu gì đấy
Tác dụng : thúc tiền tốc độ lưu chuyển hàng hóa và tiền tệ từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho thương
mại thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
16. Sức mua của dồng tiền là gì ? Khi nào sức mua của đồng tiền tăng ? Khi nào giảm
SM của ĐT là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà 1 đơn vị tiền tệ nhất định có thể mua được ; có quan
hệ mật thiết với giá cả hàng hóa DV. Nếu P HH-DV giảm thì cùng 1 số tiền bỏ ra có thể mua được 1
KL hàng hóa DV nhiều hơn-> SM của ĐT tăng.
Ngoaigiao.net Page 13
17. Thế nào là tín dụng nhà nước và tác dụng của tín dụng nhà nước ?
Xem câu trên
18. Thế nào là tiền gửi có kỳ hạn ?
Tiền gửi có kỳ hạn: là tiền gửi của tổ chức và cá nhân mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn
gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi.
19. Nêu các hình thức tín dụng theo thời hạn cho vay
a. Tín dụng ngắn hạn : phục vụ cho nhu cầu chi tiêu trong ngắn hạn hay để bù đắp cho những khoản vốn
lưu động của doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhỏ hơn 12 tháng.
b. Tín dụng trung hạn : có thời từ 1 đến 3 năm. Chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới
trang thiết bị công nghệ, xây dựng dự án có quy mô nhỏ.
c. Tín dụng dài hạn : trên 7 năm dùng đẻ phục vụ những nhu cầu dài hạn như xây dựng xí nghiệp, nhà ở,
phương tiện có quy mô lớn.
20. Trình bày cơ cấu của thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi tập trung của các nguồn vốn dài hạn ngắn hạn và trung hạn. tại đó nguồn
vốn này sẽ được chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu để đáp ứng nhu cầu xã hội. hay nói cách khác đó
là nơi gặp gỡ trao đổi giao lưu giữa bên có nguồn vốn dư thừa với bên cần vốn.
Cơ cấu của thị trường tài chính gồm có :
1. Thị trường tiền tệ : trong thị trường này chỉ mua bán những loại giấy nợ ngắn hạn dưới một năm như
thương phiếu, kì phiếu, tín dụng kho bạc . có tác dụng cung cấp vốn cho các chủ thể cần vốn trong
thời gian ngắn vì vậy còn gọi là thị trường vốn ngắn hạn.
Thị trường chứng khoán : ở đây thì các loại giấy nợ trung hạn và dài hạn cũng như cổ phiếu được
mua bán. Cung cấp vốn trung hạn và dài hạn cho thị trường. Công cụ : cổ phiếu (vô hạn) và trái
phiếu ( thời hạn dài). Người tham gia : nhà đầu tư, nhà phát hành cổ phiếu, nhà môi giới chứng
khoán .
Ngoaigiao.net Page 14
2. Thị trường hối đoái : là thị trường diễn ra các giao dịch mua ban ngoại tệ hay các phương tiện thanh
toán mang giá trị ngoại tệ đồng thời là nơi hình thành tỷ giá hối đoái theo quan hệ cung cầu.
21. Trong một nền kinh tế nếu hiện tượng mất cân bằng cung cầu tiền tệ xảy ra sẽ dẫn đến hệ quả gì ?
- Nếu cung lớn hơn cầu sẽ gây ra lạm phát. Cái này đọc câu lạm phát.
- Nếu cung ít hơn cầu thì gây ra hiện tượng thiếu vốn. dẫn đến kìm hãm tăng trưởng -> thất nghiệp.
ảnh hương tới xuất khẩu
22. Nêu các yếu tố ảnh hưởng đến mức lãi suất tín dụng.
Lãi suất tín dụng là tỉ lệ phần trăm giữa lợi tức thu được và số tiền cho vay trong một khoảng thời
gian nhất định.
Lãi suất tín dụng thường xuyên biến động do tác động của cung cầu tín dụng. Cung tiền dụng là
nguồn vốn để cho vay. Cầu tín dụng là lượng vốn mà nền kinh tế cần vay. Các yếu tố ảnh hưởng tới
cung cầu tín dụng là :
- Cung tiền tệ : ảnh hưởng trực tiếp tới cung cầu tín dụng và tỉ lệ lạm phát.
- Tỷ lệ lạm phát : sự lạm phát kéo theo sự biến động của giá trị tiền tệ.
- Mức độ rủi ro khi cho vay :
- Chính sách của nhà nước
23. Phân biệt sự khác nhau giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế. Giả sử bạn có một sổ tiết kiệm
100 triệu kỳ hạn 3 tháng, lãi suất 11%/năm, khi đáo hạn bạn sẽ nhận được tiền lãi là bao nhiêu ?
Trong trường hợp nào bạn có lợi, trong trường hợp nào bạn chịu thiệt.
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất quy ước trên giấy tờ khi hai bên thực hiện quan hệ tín dụng. Còn lãi
suất thực tế là lãi suất mà đã được điều chỉnh theo đúng những thay đổi của lạm phát, phản ánh chính
xác hơn thu nhập của người cho vay. Hay nói cách khác xác định lãi suất thực đối với khoản cho vay.
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
Khi đáo hạn bạn nhận được ngần ấy. phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát
Ngoaigiao.net Page 15
24. Thế nào là lãi suất cơ bản ? Tại sao hiện nay NHNN Việt Nam lại tăng lãi suất cơ bản ?
Lãi suất cơ bản là lãi suất được được ngân hàng nhà nước để các tổ chức tín dụng ấn định
lãi suất kinh doanh.
Ngày 25/11/2009 Việt Nam đã tăng mức lãi suất cơ bản từ 7%/năm lên 8%/năm , lãi suất
chiết khấu từ 5%/năm lên 6%/năm, thời điểm áp dụng là 1/12/2009. Cùng với đó, mức tỷ giá
bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17.961 (tăng từ mốc 17.034 VND của
ngày 25/11) và áp dụng biên độ tỷ giá mới cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là
± 3% từ ngày 26/11/2009. Trước thời điểm này, biên độ tỷ giá USD/VND được áp dụng ở mức ±
5%.
Việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản là một việc làm cần thiết, giúp kiểm soát những
rủi ro về tăng trưởng nóng và lạm phát đang nổi lên trong nền kinh tế. Ngoài ra việc tăng lãi suất
cơ bản cũng nhằm tăng sức hấp dẫn của đồng VND, theo đó giúp làm bình ổn tỷ giá hối đoái.
Thứ hai, việc Việt Nam tăng mạnh tỷ giá USD/VND liên ngân hàng được Goldman cho là xuất
phát từ thâm hụt cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối.
Thứ ba, về việc co hẹp biên độ tỷ giá USD/VND, báo cáo của Goldman nhận định, đây là một
phần trong nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước nhằm làm chậm sự trượt giá của VND so với USD,
bằng cách cùng lúc vừa nâng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, vừa co hẹp biên độ giao dịch
Ngoaigiao.net Page 16
25. Anh chị hiểu thế nào về LIBOR ?
LIBOR viết tắt từ London Interbank Offer Rate, vẫn được hiểu là lãi suất của các ngân hàng Anh trên
thị trường liên NH ở London. Tuy nhiên LIBOR hiện nay không còn giới hạn trong thị trường liên
ngân hàng ở London, nó đã trở thành một chuẩn lãi suất cho hầu hết các thị trường liên ngân hàng
trên thế giới.
Lãi suất LIBOR được cố định hàng ngày từ 11h đến 17h bởi Hiệp hội các Ngân hàng Anh quốc
Lãi suất LIBOR là chuẩn so sánh được sử dụng nhiều nhất cho lãi suất các khoản vay ngắn hạn
Những quốc gia sử dụng lãi suất LIBOR để tham chiếu bao gồm Mỹ, Canada, Thụy Sĩ và Anh
LIBOR, không chỉ áp dụng cho Pound Sterling, mà còn cho các loại tiền tệ như là US Dollar, Franc,
Thụy Sĩ, Yên Nhật và Canada Dollar
Có nhiều loại LIBOR như 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng
26. Việc NHNN Việt Nam bỏ lãi suất trần huy động vốn ngày 17/5/2008 vừa qua có thể có những tác
động gì đến nền kinh tế và các đối tượng trong nền kinh tế ?
-Các tổ chức tín dụng sẽ được chủ động điều chỉnh lãi suất huy động. NHTM căn cứ khả năng trên thị
trường để quy định lãi suất huy động; DN căn cứ vào giá (lãi suất cho vay) để tính toán việc vay vốn
đầu tư. Điều này sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế. Nâng cao tính cạnh tranh giữa các ngân
hàng.
-Sẽ tạo cơ sở để có lãi suất thực dương.( Điều đó có nghĩa là lãi suất huy động vốn nội tệ của các
NHTM ít ra phải bằng hoặc cao hơn chỉ số lạm phát)
-Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ quyết định lãi suất cơ bản dựa theo 3 căn cứ: lãi suất trên thị
trường liên ngân hàng; lãi suất các nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất trung bình của một số ngân
hàng. Nhưng NHNN cũng phải phán đoán cung cầu vốn để tính toán đưa lãi suất cơ bản theo hướng
nâng lên hoặc hạ xuống cho phù hợp.
-Sẽ không xảy ra hiện tượng chạy đua lãi suất lên quá cao, vì NHNN đã quy định lãi suất cơ bản rồi.
Anh đẩy lãi suất huy động lên cao quá thì phải cho vay cao lên, như thế vừa phạm lỗi vượt lãi suất cơ
bản vừa không thu hút được DN vay vốn. Ngân hàng yếu kém thường phải huy động cao để cạnh tranh
nhưng về lâu dài phải nâng trình độ lên mới trụ được.
Ngoaigiao.net Page 17
-khả năng lãi suất cho vay bị đẩy lên cao, DN không chịu được. Đây là điều mà cả người cho vay và
người đi vay phải tính toán rất chặt chẽ.
Một vấn đề nữa là sẽ có một số ngân hàng không trụ được, nhất là đối với các ngân hàng nông nghiệp
vừa chuyển lên đô thị chưa có khách hàng, chưa có nhân sự mà đòi hỏi về vốn lại quá lớn. Như thế sẽ
dẫn đến khả năng một số ngân hàng nhỏ phải sát nhập
27. Nêu các chức năng của thị trường tài chính.
Thị trường tài chính là gì đọc câu 20
Chức năng :
a. Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh
doanh. giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lợi đến những
người có cơ hội đầu tư sinh lợi.
b. Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh.
c. Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với
người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi
thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu
quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu
nhập và tích lũy cho chính bản thân mình.
d. Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa,
cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các hình thức như phát hành trái phiếu ra
nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh
doanh trong nước.
e. Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái phiếu,
đổi tiền.
Ngoaigiao.net Page 18
28. Nêu các chức năng của ngân hàng thương mại
Trả lời:
1. NHTM là trung gian tín dụng. đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. một mặt NHTM huy động và tập
trung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế như tiền tiết kiệm dân cư hay vốn nhàn rỗi của tổ
chứ , , để hình thành nguồn vốn cho vay, mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân
hàng sử dụng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. khi thực hiện chức năng này, NHTM đã
huy động triệt để nguồn vốn nhàn rỗi, điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, kích thích quá trình
luân chuyển vốn trong nền kinh tế và thúc đẩy tái xuất của các doanh nghiệp.
2. Là trung gian thanh toán và quản lý phương tiện thanh toán. Khi khách hàng đến gửi tiền họ sẽ được
ngân hàng đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện
lợi. trong khi làm trung gian thanh toán, NH tạo ra những công cụ lưu thông tín dung và độc quyền
quản lí công cụ đó như séc, giấy chuyển khoản, thẻ thanh toán… tiết kiêm cho xã hội chi phí lưu
thông.
3. Cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ,
ngân hàng có những điều kiện thuận lợi về kho quỹ,, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp.
qua đó ngân hàng có thể làm tư vấn tài chính đầu tư, giữ hộ giấy tờ, chứng khoán. Làm đại lí phát
hành cổ phiếu . … để nhận tiền hoa hồng, sẽ vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao. Còn trong
quá trình tham gia thị trường tiền tệ dưới hình thức mua chứng khoán, phát hành và bán cổ phiếu thì
ngân hàng thương mại đơn thuần là doanh nghiệp kinh doanh để thu lợi nhuận.
29. Trình bày các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, được gọi là nghiệp vụ cơ bản vì các
nguồn vốn này nằm bên tài sản nợ của NHTM. Các nguồn vốn của NHTM gồm có :
* Vốn tự có và quỹ ngân hàng trong đó
- Vốn điều lệ : là số vốn ban đầu phải lớn hơn mức tối thiểu do Nhà nứoc quy định. Vốn điều lệ của 1
NH được quy định nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động của nó.
- Quỹ ngân hàng bao gồm:
Ngoaigiao.net Page 19
+) Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ
+) Quỹ đầu tư phát triển
+) Quỹ dự phòng tài chính
+) Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
+) Quỹ khác (quỹ phúc lợi,khen thưởng)
Ngoài ra còn có các quỹ không hình thành từ khối lợi nhuận ngân hàng như quỹ khấu hao cơ bản tsản
cố định, quỹ khấu hao sửa chữa lớn
Nguồn vốn tự có của NH chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, nhưng nó
đóng vai trò quan trọng vì đó là cơ sở để tiến hành kinh doanh, tiến hành thu hút những nguồn vốn
khác.
• Vốn tiền gửi của khách hàng :
Trong tổng nguồn vốn hoạt động, vốn tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng
lớn nhất, bao gồm:
- tiền gửi có kỳ hạn
- tiền gửi không kỳ hạn
• Nguồn vốn đi vay gồm có:
- Vốn huy động từ việc phát hành các loại kỳ phiếu,trái phiếu chúng chỉ tiền gửi của ngân hàng …
nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của NH khi vốn tự có và vốn tiền gửi chưa đáp ứng đủ yêu cầu kinh
doanh
- vốn vay của NHNN
- Vốn vay của các NHTM và các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường tiền tệ ngắn hạn
- Vốn vay của các NH nước ngoài
Ngoaigiao.net Page 20
• Nguồn vốn tiếp nhận, những nguồn vốn mà NHTM uỷ thác từ các tổ chức trong hoặc ngoài nước
từ ngân sách nhà nước để cho vay trung, dài hạn thuộc kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của Nhà
nước, để thực hiện những chương trình và dự án có mục tiêu định trước trong sản xuất kinh doanh.
• Các nguồn vốn khác như vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của NH như khi làm đại lý,
dịch vụ thanh toán, bán chứng phiếu có giá…
1. Trình bày nghiệp vụ tài sản có
Là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn đã hình thành của ngân hàng.
1,Thiết lập dự trữ:
Dự trữ nhằm duy trì khả năng thanh toán thường xuyên của khách hàng và bản thân ngân hàng. Trong
nghiệp vụ này ,NH phải duy trì các khoản sau:
- Tiền mặt tại quỹ
- Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước,gồm 2 phần:
+) Phần tối thiểu theo quy định cuat NHNN về tỷ lệ dự trữ bắt buộc
+) Phần còn lại dùng để giao hoán séc và thanh toán nợ với các tổ chức tín dụng và NHTM khác.
• Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định từ 0-20% trên nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng
,mục đích của việc hình thành tỷ lệ này là: Đảm bảo hoàn trả tiền gửi của khách hàng khi ngân hàng
thương mại bị phá sản (NHTW sẽ lấy tiền dự trữ bắt buộc để trả cho người gửi, thêm vào đó là giá trị tài
sản của NH phá sản được phát mãi, các khoản bảo hiểm được bồi thường sẽ làm giảm đến mức thấp nhất
thiệt hại cho người gửi)
- Tiền gửi của các NHTM tại các NHTM và tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh
toán ,chuyển tiền khác địa phương của khách hàng
- Tiền đầu tư vào các chứng phiếu có giá. Những tín phiếu này có thể bán ra bất cứ lúc nào trên
thị trường chứng khoán.
2,Nghiệp vụ tín dụng của NHTM gồm có:
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá khác
Ngoaigiao.net Page 21
- Nghiệp vụ tín dụng thế chấp
- Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản
- Nghiệp vụ tín dụng thuê mua và tín dụng đầu tư
- Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng
3,Nghiệp vụ đầu tư:
Trong nghiệp vụ này ,NH thực hiện kinh doanh kiếm lãi như các doanh nghiệp khác như:
- Đầu tư chứng khoán
- Hùn vốn, liên doanh
Theo quy định,NHTM chỉ được phép dung nguồn vốn tự có để thực hiện nghiệp vụ đầu tư.
2. Trình bày nghiệp vụ trung gian
Đây là nghiệp vụ và ngân hàng thương mại thực hiện theo sự ủy nhiệm của khách hàng, nghiệp vụ này
bao gồm:
- Nghiệp vụ thanh toán hộ: Cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán
trong nước, dịch vụ thu và chi hộ các dịch vụ thanh toán khác do Ngân hàng Nhà nước quy định.
- Nghiệp vụ thu hộ: Ngân hàng đứng ra thay mặt khách hàng để thu các khoản kỳ phiếu đến hạn,
chứng khoán, hàng hóa đã bán, cổ tức…
- Nghiệp vụ tín thác mua bán hộ: Theo ủy nhiệm của khách hàng, ngân hàng đứng ra phát hành
hộ cổ phiếu hoặc trái khoán công ty hoặc trái khoán nhà nước, hoặc mua bán ngoại tệ, kim khí quý, đá
quý cho khách hàng.
- Nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp (thu chi hộ lẫn nhau)
30. Thế nào là nghiệp vụ thị trường mở ? Áp dụng nghiệp vụ thị trường mở trong tình hình
kinh tế của Việt Nam hiện nay như thế nào ?
* Nghi ệ p v ụ th ị tr ườ ng m ở : Là hoạt động mua bán giấy tờ có giá giữa NHTƯ và các tổ chức tíng dụng.
Thông qua hđ mua bán giấy tờ có giá, NHTƯ tđ trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín
Ngoaigiao.net Page 22
dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trg.
* Áp dụng đối với nền kt vn
Năm 2008, khi lạm phát có xu hướng gia tăng, NHNNVN đã áp dung nghiệp vụ thị trường mở; NHNN
đã tiến hành 3 phiên đấu giá trái phiếu cổ phần kì hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm với tổng giá trị 300tr USD
để thu hẹp khối tiền lưu thông trên thị trg => kiềm chế lạm phát
31. Nêu các chức năng của Ngân hàng trung ương.
1. Phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ. đây là chức năng quan trọng và cơ bản của
ngân hàng Tw. Thực hiện chức năng này ảnh hưởng tới mọi mặt của hoạt động kinh tế thậm
chí ảnh hưởng tới tình hình tiền tệ thế giới nữa. việc phát hành tiền phải đi đôi với điều tiết
lưu thông tiền tệ để bảo đủ phương tiện lưu thông vừa không gây lạm phát để giữ vững và ổn
định sức mua của đồng tiền.
2. Ngân hàng Tw là ngân hàng của ngân hàng. Thể hiện ở chỗ là các đối tượng giao dịch
chủ yếu trong nghiệp vụ của NHTw là các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dung khác
trong nền kinh tế.
- NHtw nhận tiền gửi và bảo quản tiền tệ cho ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng.
-Trực tiếp cấp vốn cho ngân hàng TM và các tổ chức tín dụng: nhằm đảm bảo cho nền kinh tế
quốc dân có đủ phương tiện thanh toán cần thiết trên cơ sở thực hiện mục tiêu của chính
sách tiền tệ. trong trường hợp này ngân hàng Tw luôn đóng vai trò là chủ nợ và là người cho
vay cuối cung và vì là người cho vay cuối cùng nên nghiệp cấp tín dụng cho NH thương mại
của NH Tw có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động tín dụng trong hoạt động kinh tế. cấp tín
dụng bằng nhiều cách như tái chiết khấu, cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân
hàng TM, cho vay bù lỗ trong thanh toán liên NH …
3. Ngân hàng Tw là NH nhà nước. nó thuộc quyền sở hữu của nhà nước, mở tài khoản và giao
dịch với kho bạc nhà nước, làm đại lí cho kho bạc nhà nước, tổ chức thanh toán giữa kho
bạc với ngân hàng . . với tư cách nhà nước, NH Tw đảm nhiệm các công việc thuộc chức
năng quản lí của nhà nước và thay mặt chính phủ làm đại diện tại các tổ chức tài chính tiền
tệ quốc tế.
Ngoaigiao.net Page 23
32. Với lãi suất 12%/ năm hiện nay, giá trị của khoản tiền 20 triệu sau 2 năm là bao nhiêu ?
Lãi suất đơn : 24.8 triệu
Lãi suất kép : 25.088 triệu
33. Với lãi suất 10%/năm, giá trị hiện tại của khoản thu nhập 100 triệu sau 2 năm nữa là bao nhiêu ?
Lãi suất đơn : 120 triệu
Lãi suất kép : 121 triệu
34. Nếu lượng cung tiền giảm, tác động tới lãi suất, đầu tư và tổng sản phẩm quốc dân như thế nào ?
Hiểu một cách cơ bản nhất thì khi ngân hàng trung ương gia tăng lãi suất chiết khấu tức là họ đang
nỗ lực làm cho lượng cung tiền trong xã hội giảm bằng cách tạo chi phí vay tiền đắt hơn.
Cung tiền giảm->lãi suất tăng->đầu tư giảm
35. Giá trị đồng tiền của một nước được quyết định bởi những yếu tố nào ?
Cơ sở để định giá đồng tiền của một quốc gia trên danh nghĩa đó là tỷ giá hối đoái (nếu Nhà nước
không thả nổi). Còn giá trị thực của đồng tiền của một đất nước bằng tổng lượng tiền phát hành còn
giá trị lưu thông chia cho tổng của cải vật chất của đất nước đó.
Theo thuyết 1 giá, tất cả các loại hàng hóa phải có giá chung khi quy về 1 đơn vị tiền tệ. người ta đưa
vào khái niệm một giỏ hàng (gồm nhiều mặt hàng) để đo giá cả của mặt hàng ở QG đó, từ đó người ta
sẽ định ra giá tương đối của các loại tiền tệ.
36. Nêu các thành phần của lượng cung tiền M1 và M2.
Cung ứng tiền tệ, gọi tắt là cung tiền, chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu
cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản, v.v của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp
- M1: bằng tổng lượng tiền mặt (M0) và tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân
hàng trung ương. M1 còn được gọi là đồng tiền mạnh.
- M2: bằng M1 cộng với chuẩn tệ (tiết gửi tiết kiệm có kỳ hạn).
Ngoaigiao.net Page 24
37. Bạn gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng theo lãi suất linh hoạt. Năm 2009 có mức lãi suất là
12%/năm, năm 2010 lãi suất là 10%/năm. Với khoản tiết kiệm 20 triệu hiện tại, tại thời điểm tất toán
năm 2010 bạn nhận được bao nhiều tiền ?
Lãi suất đơn : 24.4 triệu
Lãi suất kép : 24.74 triệu
38. Tốc độ quay vòng tiền tệ được xác định như thế nào ? Nêu ý nghĩa của tốc độ quay vòng tiền tệ.
Về lý thuyết, vòng quay tiền tệ là số lần một đơn vị tiền tệ trong lưu thông bình quân thực hiện mua
bán chi trả dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Trong kinh tế học vĩ mô, vòng quay tiền tệ
(V) được xác định bằng tổng thu nhập danh nghĩa chia cho lượng tiền trung bình trong một khoảng
thời gian nhất định (M). Hoặc có thể tính đơn giản V = GDP danh nghĩa/M2 trung bình (M2 = lượng
tiền lưu thông + tiền gửi kỳ hạn). Như vậy, vòng quay tiền tệ có thể bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như
thu nhập, lãi suất, lợi nhuận thu được từ chứng khoán, tâm lý người tiêu dùng
Vòng quay tiền tệ ổn định cũng tạo điều kiện cho việc dự báo tiền tệ, cũng như quá trình phân tích và
lập chương trình tiền tệ cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ và thực hiện khuôn khổ CSTT
hướngtớimụctiêulạmphát.
Tại các nước phát triển, vòng quay tiền tệ xấp xỉ 1 cho thấy, vòng quay tiền tệ ở Việt Nam đang dần
phù hợp với xu hướng quốc tế, phản ánh tính thị trường của nền kinh tế. Tuy nhiên, vòng quay tiền tệ
chậm lại cũng đồng nghĩa với lượng vốn đầu tư của doanh nghiệp vào nền kinh tế tăng.
39. Thế nào là Chính sách tiền tệ thắt chặt
Thế nào là Chính sách tiền tệ thắt chặt : là một hướng trong chính sách tiền tệ nhằm giảm lượng
cung tiền trong lưu thông bằng cách thu hút tiền trong lưu thông, Khi lượng cung tiền vượt quá
lượng cầu tiền, sẽ dễ dẫn đến lạm phát, do đó mục tiêu chính của thắt chặt tiền tệ nhằm giảm mức
lạm phát. Ngược lại với thắt chặt tiền tệ là nới lỏng tiền tệ.
Các biện pháp :
- Rút tiền trực tiếp tại các định chế tài chính như việc Ngân hàng Nhà nước phát hành trái phiếu
bắt buộc đến các ngân hàng thương mại và các ngân hàng này phải mua.
- Kiểm soát cho vay, tín dụng các loại, nhất là những khoản cho vay tiêu dùng. Thậm chí cắt giảm
cho vay tín dụng vì nó được thực hiện bằng tiền mặt và do đó cũng làm tăng lượng tiền mặt trong
lưu thông
Ngoaigiao.net Page 25