Tải bản đầy đủ (.pdf) (141 trang)

tài liệu ôn thi thị trường chứng khoán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 141 trang )

1. Phân tích các loại rủi ro hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro hệ
thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam 5
Phân tích các loại rủi ro phi hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro
phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam 7
Trình bày các phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán 10
Trình bày các phương thức đầu tư chứng khoán. Nhận xét của anh chị về hoạt động đầu tư chứng
khoán ở Việt Nam hiện nay 12
Trình bày thu nhập và phương pháp xác định thu nhập trong đầu tư chứng khoán theo các phương
thức đầu tư hưởng lợi, đầu tư nắm quyền kiểm soát và tạo lập thị trường 15
Phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán 16
Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư hưởng lợi 17
Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát
18
Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức tạo lập thị trường 19
Trình bày các phương pháp xác định chỉ số giá chứng khoán: Phương pháp Passcher; Phương pháp
Laspeyres; Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher; Phương pháp số bình quân giản đơn; Phương
pháp bình quân nhân giản đơn 19
Trình bày nội dung, ý nghĩa giả thuyết thị trường hiệu quả. Nhận xét của Anh (Chị) về mức độ hiệu
quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam 22
Trình bày các giả thuyết trong mô hình Markowitz 23
Trình bày nội dung và ý nghĩa của lý thuyết quản lý danh mục đầu tư Markowitz 24
Trình bày ý nghĩa và phương pháp xác định đường biên hiệu quả 32
Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa của đường CML 34
Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa đường SML 36
Trình bày các giả thuyết của mô hình CAPM 39
Trình bày nội dung, ý nghĩa của mô hình CAPM 40
Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định hệ số β 44
Trình bày nội dung cơ bản của mô hình CAPM mở rộng 46
Trình bày nội dung, ý nghĩa của mô hình APT 48
Trình bày nội dung, ý nghĩa của các báo cáo tài chính 52
Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định các tỷ số tài chính 55


Trình bày các phương pháp xác định giá cổ phiếu: Mô hình DDM; Mô hình DCF; Mô hình sử dụng
số nhân thu nhập; Cách các định dòng tiền FCFE, FCFF 57
Trình bày nội dung, ý nghĩa của phân tích thị trường chứng khoán. Nhận xét của anh chị về thị
trường chứng khoán Việt Nam 60
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Nhận xét của Anh (Chị) về TTCK Việt
Nam hiện nay 61
Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán (Tình hình kinh tế xã hội; luật
pháp; Lạm phát, lãi suất, tỷ giá, cán cân thương mại, v.v…) 65
Nhận xét của Anh (Chị) về ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam
66
Trình bày ý nghĩa của phân tích ngành kinh tế 67
Phân tích ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh tới các ngành kinh tế 68
Phân tích tác động của thay đổi trong cấu trúc kinh tế đến ngành kinh tế 71
Phân tích các giai đoạn trong chu kỳ sống của ngành 72
Phân tích 5 nhân tố cạnh tranh trong mô hình M. Porter 74
Áp dụng phân tích 5 nhân tố cạnh tranh cho 01 ngành kinh tế 77
Trên cơ sở lý thuyết phân tích ngành, lựa chọn 01 ngành để đầu tư trong giai đoạn hiện nay 79
Phân tích sự khác biệt giữa phân tích công ty và phân tích cổ phiếu 85
Phân tích các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp 86
Trình bày kh¸i niÖm, quy tr×nh, néi dung ph©n tÝch c«ng ty 87
Trình bày khái niệm và các chiến lược quản lý danh mục đầu tư cổ phiếu. Nhận xét của Anh (Chị) về
hoạt động quản lý DMĐT cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay 88
Trình bày khái niệm và các chiến lược quản lý danh mục đầu tư trái phiếu. Nhận xét của Anh (Chị)
về hoạt động quản lý DMĐT trái phiếu ở Việt Nam hiện nay 89
Trình bày khái niệm và các giải định trong phân tích kỹ thuật 91
Trình bày các dạng đồ thị cơ bản trong phân tích kỹ thuật 93
Trình bày các khái niệm cơ bản trong phân tích kỹ thuật: Xu thế và đường xu thế; Kênh; Mức hoàn
lại; Khung giao dịch; Mức kháng cự và hỗ trợ; Điểm đột phá. 94
Trình bày các hình mẫu kỹ thuật cơ bản trong phân tích kỹ thuật 95
Trình bày các nội dung cơ bản của lý thuyết DOW 97

Trình bày các nội dung cơ bản của lý thuyết sóng Elliott 101
Trình bày những khó khăn trở ngại trong phân tích kỹ thuật. Nhận xét về hoạt động PTKT ở Việt
Nam 105
1.Phân tích các phương pháp xác định rủi ro tài chính 108
2.Trình bày khái niệm, phương pháp xác định thu nhập của tài sản tài chính 111
3.Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định tỷ lệ yêu cầu của nhà đầu tư 113
4.Phân tích nội dung, ý nghĩa của giả thuyết thị trường hiệu quả 113
5.Phân tích nội dung các giả định của mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) 113
6.Phân tích ý nghĩa, phương pháp xác định đường thị trường vốn (CML) và đường thị trường chứng
khoán (SML) 113
7.Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) 113
8.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích thị trường chứng khoán 113
9.Khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích ngành 113
10.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích công ty 117
11.Trình bày kết luận, ý nghĩa, nội dung phương pháp phân tích báo cáo tài chính. Phân biệt phân
tích tài chính dưới giác độ DN và phân tích tài chính dưới giác độ TTCK 121
11.12.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phân tích kỹ thuật. Phân tích các điều kiện ứng
dụng phân tích kỹ thuật trên TTCK Việt Nam 123
13.Phân tích các giả định trong phân tích kỹ thuật 124
14.Trình bày các công cụ sử dụng trong phương pháp kỹ thuật, các hình mẫu kỹ thuật, các chỉ dẫn kỹ
thuật và các chỉ số động lượng, phân tích khối lượng giao dịch 126
15.Phân tích cơ sở lý luận của phân tích kỹ thuật 136
16.Trình bày các nội dung cơ bản mô hình DDM 136
17.Trình bày các nội dung cơ bản mô hình DCF 138
1. Phân tích các loại rủi ro hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về
rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Rủi ro được hiểu là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, là khả năng xảy ra những điều
không mong muốn và khi nó xảy ra thì mang lại những tổn thất. Khác với sự không chắc chắn, rủi
ro có thể đo lường được. Theo quan điểm truyền thống, rủi ro mang lại các tổn thất xấu. Trong tài
chính, rủi ro được định nghĩa là khả năng (hay xác suất) xảy ra những kết quả đầu tư ngoài dự kiến,

hay cụ thể hơn là khả năng làm cho mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai khác với mức
sinh lời dự kiến ban đầu.
Rủi ro hệ thống (systematic risk) là các yếu tố tác động lên tất cả các công ty trên thị
trường, và tất cả các công ty đều bị chi phối bởi rủi ro hệ thống, nhà đầu tư không thể đa dạng hoá
để giảm thiểu rủi ro hệ thống. Do đó, rủi ro này còn được gọi là rủi ro không thể đa dạng hoá (non-
diversifiable risks).Rủi ro hệ thống bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro sức mua và rủi
ro chính trị.
1) Rủi ro thị trường: là sự biến động giá chứng khoán do tâm ký của các nhà đầu tư. Gía
chứng khoán có thể giao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của DN vẫn
không thay đổi. Nguyên nhân của hiện tượng này khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận
của các nhà đầu tư về thị trường nói chung và một nhóm cổ phiếu nói riêng. Sự nhìn nhận khác
nhau này sẽ tác động vào giá chứng khoán và làm mức sinh lời của chứng khoán thay đổi. Rủi ro
thị trường xuất hiện khi có những phản ứng của các nhà đầu tư trước các sự kiện có thể là hữu hình
hoặc vô hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội.
Các sự kiện vô hình nảy sinh do tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường Yếu tố tâm lý làm thị
trường phản ứng với mức độ vượt quá tác động của các sự kiện hữu hình. Phản ứng dây chuyền
hay tâm lý bầy đàn lam cho thị trường luôn biến động, thiếu ổn định. Nhiều nhà đầu tư đã lợi dụng
yếu tố tâm ký này để thực hiện hành vi thao túng giá chứng khoán. Sở dĩ có hiện tượng bầy đàn là
do trên thị trường có sự tham gia của 3 nhóm đầu tư: nhóm thứ nhất là các nhà đầu tư thận trọng,
thứ hai là các nhà đầu tư “free rider” (rủi ro thị trường lớn khi tỷ trọng của nhóm này cao) và thứ ba
là các nhà đầu tư “vĩ nhân”.
Mức độ rủi ro thị trường ở các nước khác nhau là khác nhau. Ở các thị trường phát triển, thị
trường là nơi dành cho các nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư có tổ chức nên rủi ro thị trường sẽ không lớn.
Ngược lại ở những thị trường mới nổi và đang phát triển, thị trường chủ yếu là các nhà đầu tư cá
nhân với quy mô nhỏ, thiếu kiến thức và bản lính đầu tư, tâm lý ăn theo lớn làm cho rủi ro thị
trường rất cao.
Để giảm rủi ro thị trường, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hoạt động đào
tạo ,bồi dưỡng kiến thức cho nhà đầu tư, đồng thời cần minh bạch hóa về thông tin, kiểm soát chặt
chẽ nhằm hạn chế các hành vi phi đạo đức như thao túng giá, kinh doanh nội gián, đầu cơ. Cần
phát triển hoạt động tư vấn của các công ty chứng khoán cũng như tăng số lượng và chất lượng của

các nhà đầu tư có tổ chức nhằm tăng chất lượng đầu tư.
2) Rủi ro lãi suất là sự biến động giá chứng khoán do sự thay đổi của lãi suất gây ra. Khi đầu tư
vào các chứng khoán có thu nhập cố định, nếu lãi suất thị trường tăng lên, cơ hội đầu tư vào các tài
sản có mức lợi tức cao hơn sẽ mất đi. Trong đó sự tăng lên của lãi suất, giá thị trường của tài sản đã
đầu tư sẽ bị giảm và nhà đầu tư sẽ bị thiệt về giá khi bán các tái sản đó. Thời hạn của các tài sản
đầu tư càng lớn, ảnh hưởng của lãi suất tới giá thị trường của nó sẽ càng lớn, mức độ tổn thất giá trị
của chủ đầu tư sẽ càng cao. Điều này ít xảy ra với các chứng khoán có thu nhập biến đổi, chẳng
hạn trái phiếu có lãi suất thả nổi.
Lãi suất thay đổi làm cho chi phí và doanh thu của doanh nghiệp thay đổi. Sự thay đổi này phụ
thuộc vào cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của DN. Nếu DN sử dụng nhiều nợ, lãi suất tăng lên
làm tăng chi phí lãi vay phải trả và làm cho lợi nhuận của DN sụt giảm, giá cổ phiếu giảm và ngược
lại.
Để hạn chế rủi ro lãi suất, nhà đầu tư cần nghiên cứu đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
bao gồm: chu kỳ kinh tế, lạm phát, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của CPhủ, quan hệ cung cầu
về vốn trên thị trường tài chính…. Để dự báo được sự thay đổi của lãi suất trong tương lai; sử
dụng các công cụ dẫn suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
3) Rủi ro sức mua là sự thay đổi giá trị thực của chứng khoán do sự thay đổi sức mua của đồng
tiền. Nếu lạm phát vượt qua tỷ lệ lạm phát dự tính, giá trị thực của đồng tiền sẽ bị giảm và làm cho
giá trị thực của khoản đầu tư bị giảm giá trị.
Nếu coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, một người mua cổ phiếu đã bỏ lỡ cơ hội
mua hàng hóa hoặc dịch vụ trong suốt thời gian đầu tư. Trong khoảng thời gian đó, nếu giá cả dịch
vụ tăng , nhà đầu tư sẽ mất đi một phần sức mua. Thông thường các nhà đầu tư dự kiến trước mức
độ mất giá của đồng tiền qua tỷ lệ lạm phát dự kiến và họ sẽ chỉ chấp nhận đầu tư khi lợi tức thu
được bù đắp cho họ tổn thất này. Khi lạm phát thực tế khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến, rủi ro sức
mua sẽ phát sinh. Nói một cách khác. Cả giảm phát và lạm phát đều tác động tới giá chứng khoán
do đó nhà đầu tư sẽ yêu cầu tỷ lệ lợi tức khác đi.
4) Rủi ro chính trị là sự bất ổn giá chứng khoán do sự thay đổi về môi trường chính trị xã hội,
chẳng hạn: chiến tranh, bãi công, biểu tình, sự thay đổi về thể chế, chính sách… Sự thay đổi này sẽ
tác động tới thu nhập và rủi ro của luồng thu nhập của các DN, từ đó thay đổi giá trị của chứng
khoán. Sự thay đổi của chính trị cũng tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến

hành vi mua bán chứng khoán của họ.
Rủi ro hệ thống trên thị trường VN
Đối với thị trường chứng khoán, có khả năng nhà đầu tư nước ngoài phải thu hồi nguồn vốn
và bán chứng khoán. Điều này tác động đến dự trữ ngoại hối và giá cả trên thị trường chứng khoán.
Nhà đầu tư nước ngoài bán ra nhiều hơn mua vào sẽ làm giảm giá chứng khoán của Việt Nam.
Những tác động chính từ cuộc khủng hoảng hiện tại đối với hệ thống tài chính Việt Nam
chủ yếu là yếu tố tâm lý. Thấy Dow Jones sụp thì VN-Index cũng xuống theo, trong khi hai thứ
dường như không liên quan nhiều với nhau.Năm 2008 là năm mà VN chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.Trong khi chỉ số công nghiệp Dow Jones dẫn đầu vụ tụt
giá, với mức sút giảm hơn 5% và xuống dưới mức 10,000 điểm lần đầu tiên trong vòng 4 năm thì
chỉ số VN-Index giảm mạnh.Nếu tính từ số điểm đóng cửa của phiên giao dịch đầu tiên của năm
(2/1/2008), chỉ số VN-Index là 921,07 điểm, thì đóng cửa phiên giao dịch cuối năm (31/12/2008) ,
chỉ số này chỉ còn 315,62 điểm, tức đã mất đi 605,45 điểm (giảm 65,33%). Trong số 245 phiên
giao dịch của sàn HOSE, chỉ có 109 phiên chỉ số VN-Index tăng điểm, còn lại 136 phiên chỉ số này
đều lao dốc. Hiện nay, thị trương CK đã dần phục hồi, chỉ số VN Index đầu năm 2009 là 300,04
điểm, mức thấp nhất là 235,50 điểm(tháng 2 năm 2009), mức chỉ số ngày 30/10/2009 là 587,12
điểm gấp 2,49 lần so với thời điểm thấp nhất và tăng trưởng gần 100% so với đầu năm 2009.Bên
cạnh những tác động từ việc phục hồi của hầu hết các TTCK và kinh tế thế giới, những biến đổi
theo chiều hướng đi lên của TTCK VN trong thời gian gần đây phản ánh niềm tin của nhà đầu tư
vào thị trường, kết quả lạc quan của nền kinh tế với chính sách kích cầu của CPhủ.
Chính sách lãi suât của NHNN đc điều chỉnh một cách linh hoạt với mục tiêu vừa kiềm chế
lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế. Trong năm 2008, lãi suất cơ bản được điều chỉnh 8 lần từ 8,75%
(2/08), tăng lên 12% (5/08); 14%(6/08); xuống 13% (10/08); xuống 12% (5/11/08); 11%
(21/11/08); 10%(5/12/08); 8,5% (22/12/08). Đến 2009 lãi suất được điều chỉnh giảm xuống còn
7,0% từ 1/12/09 lên thành 8,0% .Việc thay đổi lãi suất nhanh như vậy ảnh hưởng không nhỏ đến
lợi nhuận cũng như quyết đinh đầu tư của các nhà đầu tư.
Để TTCK VN giữ đc mức tăng trưởng ổn định, yếu tố phát triển bền vững cần được xem
xét và thể chế hóa bằng các quy phạm pháp luật và chính sách phát triển của thị trường trong dài
hạn.
Phân tích các loại rủi ro phi hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về

rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk) là những yếu tố tác động gắn liền với từng công ty
riêng biệt, như rủi ro kinh doan, rủi ro tài chính của công ty đó, mà không ảnh hưởng đến các công
ty khác (trừ các công ty lớn). Để giảm thiểu rủi ro loại này, nhà đầu tư thường đa dạng hoá danh
mục của mình. Do vậy, rủi ro phi hệ thống còn được gọi là rủi ro có thể đa dạng hoá (diversifiable
risks).
Rủi ro phi hệ thống= Rủi ro DN – Rủi ro hệ thống
1) Rủi ro kinh doanh là sự không chắc chắn về thu nhập của DN do bản chất của hoạt động
kinh doanh. Sự không ổn định hay không chắc chắn này bắt nguồn từ những khó khăn trong các
khâu khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi mua nguyên vật liệu đầu vào, tiêu thụ
sản phấm.
Rủi ro kinh doanh được đo bằng các sai lệch của các dòng thu nhập thời gian qua.
RRKD= Độ lệch chuẩn của các luồng thu nhập hoạt động/ Thu nhập hoạt động trung bình
BR=




=
n
i
i
n
i
n
n
i
OE
OE
OE

1
1
2
/
/
)(

Trong đó: OEi là thu nhập từ hoạt động kinh doanh của công ty năm thứ i và n là số năm
Bên cạnh việc tính RRKD tổng thể,ta cần phải tính đến 2 nhân tố tác động đến sự biến đổi thu
nhập hoạt động là mức biến đổi sản lượng và đòn bẩy hoạt động
RRKD có thể xuất hiện do yếu tố nội sinh hoặc ngoại sinh. Yếu tố nội dinh phát sinh trong quá
trình vận hành hoạt động cuat DN như:yếu tố quản lý, cơ cấu và chất lượng tài sản. Yếu tố ngoại
sinh nằm ngoài sự kiểm soát của DN phụ thuộc vào môi trường hoạt động của DN như sự thay đổi
của chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, sự phân bổ dân số, vấn đề tăng trưởng và ổn định kinh
tế… Những DN có yếu tố nội sinh tốt sẽ dễ chống đỡ trước những thay đổi của môi trường bên
ngoài và ngược lại.
2) Rủi ro tài chính là loại rủi ro mà công ty phải đối mặt khi huy động vốn từ các khoản nợ để tài
trợ cho các hoạt động của công ty.RRTC liên quan đến việc sử dụng nợ- đòn bẩy tài chính của
DN. RR này tiềm ẩn trong cấu trúc vốn của DN. Mức độ rủi ro tài chính có thể chấp nhận được của
công ty phụ thuộc rất nhiều vào rủi ro kinh doanh. Với một công ty nào đó có mức độ RRKD
thấp(thu nhập từ hoạt động ổn định) các nhà đầu tư sẽ chấp nhận một RRTC cao hơn.
Trong phân tích RRTC, ta sử dụng 3 chỉ tiêu
• Tỷ lệ nợ với VCSH=Tổng nợ dài hạn/ Tổng VCSH
• Các tỷ lệ so sánh giữa thu nhập với chi phí cố định và chi phí trả lãi.
Khả năng thanh toán lãi vay = EBIT/Nợ phải trả
• Cho biết công ty sử dụng bao nhiêu % trong tổng số thu nhập của mình để trang
trải các gánh nặng nợ nần.
Khả năng thanh toán nợ=(EBIT+Chi phí trả lãi thuê dự tính)/(Tổng chi phí trả lãi + chi phí
trả lãi thuê dự tính)
• Các tỷ lệ so sánh dòng tiền với chi phí tài chính hoặc so sánh các dòng tiền với giá

trị sổ sách của các khoản nợ chưa trả.
(1) Tỷ lệ trang trải chi phí tài chính cố định bằng tiền mặt= (lượng tiền mặt ròng thu về từ
các hoạt động+ chi phí trả lãi+ chi phí trả lãi thuê dự tính)/(chi phí trả lãi+ chi phí trả lãi
thuê dự tính)
(2) Tỷ lệ dòng tiền mặt trên các khoản nợ phải trả lãi = Lượng tiền mặt ròng thu về từ các
hoạt động/(Tổng nợ dìa hạn+ Nợ phải trả lãi hiện hành)
Việc sử dụng nợ sẽ làm tăng nghĩa vụ tài chính đối với DN do phải trả vốn và lãi, đồng
thời do bị ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán, DN sẽ phải đối mặt với dòng tiền ra lớn
khi phải thanh toán nợ gốc và lãi. Khi DN k thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn, DN sẽ
gặp khó khăn về tài chính do uy tín sụt giảm, thậm chí đối mặt với nguy cơ phá sản.DN
k sử dụng nợ sẽ k có RRTC.
3) Rủi ro tỷ giá là khả năng biến động giá chứng khoán khi tỷ giá thay đổi.
Khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho giá trị của chứng khoán mua bằng ngoại tệ thay đổi, và thu
nhập của DN xuất- nhập khẩu thay đổi. Cụ thể: khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho giá vốn của DN nhập
khẩu thay đổi và chi phí lãi vay, khả năng trả nợ của DN vay nợ bằng ngoại tệ thay đổi.
Để hạn chế và khắc phục rủi ro tỷ giá các nhà đầu tư có thể sử dụng các công cụ phái sinh như
hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
4) Rủi ro thanh khoản là sự bất ổn của giá chứng khoán khi điều kiện giao dịch thay đổi. Các
loại chứng khoán khác nhau sẽ có độ thanh khoản khác nhau. Nếu số lượng chứng khoán lớn,
lượng chứng khoán khả mại sẽ nhiều. Số lượng cố đông lớn, đặc biệt là cổ đông bên ngoài DN sẽ
làm tính thanh khoản cao hơn.
Sự thay đổi của tính thanh khoản chứng khoán có thể do tác động của những thay đổi trong
cấu trúc cổ đông; do sự thay đổi về tâm lý nhà đầu tư; do sự thay đổi về phương thức giao dịch; sự
thay đổi chính sách; hoặc do sự thay đổi của thị trường. Như việc giảm thời gian thanh toán từ T+3
xuống T+1 sẽ làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán.
Bình luận về RR phi hệ thống trên TTCK VN
• Biến động của cổ phiếu trên thị trường VN nhìn chung là tương đối lớn Trong năm
2008, TTCK VN được ghi nhận là một trong những thị trường có mức sụt giảm mạnh nhất thế
giới khi chỉ số VN Index giảm khoảng 65% và chỉ số HASTC Index giảm tới 67,5% so với thời
điểm cuối năm 2007. Cổ phiếu của nhiều DN kinh doanh hiệu quả đã về gần mệnh giá, giá trị thị

trường chỉ bằng khoảng 50-70% giá trị sổ sách Tại HOSE:Nếu tính từ số điểm đóng cửa của phiên
giao dịch đầu tiên của năm (2/1/2008), chỉ số VN-Index là 921,07 điểm, thì đóng cửa phiên giao
dịch cuối năm (31/12/2008), chỉ số này chỉ còn 315,62 điểm, tức đã mất đi 605,45 điểm (giảm
65,33%).Trong 10 cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường, có 1 cổ phiếu tăng giá, 4 cổ
phiếu giảm giá. Có tới 5 mã đứng giá tham chiếu là STB, VIC, VNM, VPL, HAG với mức giá
đóng cửa tương ứng là 18.400 đồng/cổ phiếu, 79.500 đồng/cổ phiếu, 83.000 đồng/cổ phiếu,
66.000 đồng/cổ phiếu và 63.000 đồng/cổ phiếu. xét về mức tuyệt đối thì DHG là cổ phiếu tăng giá
mạnh nhất khi tăng 5.000 đồng lên mức 119.000 đồng/cổ phiếu, với tổng khối lượng giao dịch
hơn 31 nghìn cổ phiếu. Ngược lại, SFC là cổ phiếu giảm giá mạnh nhất khi giảm 2.400 đồng
xuống còn 47.600 đồng/cổ phiếu, với 990 cổ phiếu được giao dịch.
Trong 4 chứng chỉ quỹ đang niêm yết trên HoSE, có 2 mã tăng giá, 1 mã giảm sàn và 1 mã
đứng giá. Cụ thể, PRUBF1 giữ nguyên mức giá tham chiếu là 3.900 đồng/chứng chỉ quỹ. VFMVF1
tăng 100 đồng (tương đương 1,32%), đạt 7.700 đồng/chứng chỉ quỹ. VFMVF4 tăng 100 đồng
(tương đương 2,50%), đạt 4.100 đồng/chứng chỉ quỹ. MAFPF1 giảm 100 đồng (tương đương
2,70%), chỉ còn 3.600 đồng/chứng chỉ quỹ.
Đến năm 2009 Tính từ lúc VN-Index tạo lập đỉnh mới trong năm 2009 này là 624 điểm
(trong phiên đó có lúc tăng lên 633 điểm) vào ngày 22-10 cho đến ngày 10-11, VN-Index đã giảm
xuống còn 524 điểm, mất 100 điểm chỉ trong vòng 13 phiên giao dịch. Đây là đợt giảm sâu và có
độ dốc lớn nhất của biểu đồ VN-Index tính từ đầu năm đến nay
• Tính thanh khoản của thị trường bị sụt giảm mạnh trong những thánh đầu năm 2009, giá trị
giao dịch bình quân/ ngày chỉ con 301 tỷ đồng/ngày, trong khi đó con số này của năm 2008 là 754
tỷ đồng. Đến cuối năm 2009, tỷ lệ thanh khoản tăng, đạt mức kỷ lục vào ngày 23/10/09 với 137
triệu cổ phiếu đc chuyển nhượng, đạt giá trị gdich 6453 tỷ đồng trên sàn HOSE và 67 triệu cổ
phiếu với giá trị gdich 3049 trên sàn HASTC.
• Nguyên nhân: vì nền kinh tế nước ta chính thức mở cửa khoảng 23 năm,nền kinh tế còn non
trẻ.Các chính sách điều hành của NNước chưa thực sự linh hoạt với sự biến động bất thường của
nền kinh tế; hành lang pháp lý còn chưa hoàn thiện; năng lực hoạt động của các DN trong nước
chưa cao………………
Trình bày các phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Hai phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán cơ bản là: độ dao động và sử dụng

beta.
PP1 độ dao động: sử dụng chỉ tiêu phương sai và độ lệch chuẩn
1. Độ lệch chuẩn: σ=

− PiRERi *))((
2
với i=1 đến n
Trong đó Pi: Xác suất của từng trạng thái
Ri: Doanh lợi kỳ vọng ứng với từng trạng thái
2. Phương sai của danh mục đầu tư


=
Ps
RpERsE
*[
))(((
2
2
σ
s=1 tới n
Trong đó : E(Rs): Doanh lợi kỳ vọng của danh mục ứng với các trạng thái
E(Rp): Doanh lợi kỳ vọng của danh mục
Ps: Xác suất xảy ra của các tình huống
Theo mô hình Markowit
+)danh mục có N tài sản với tỷ trọng w=(
www
n
; ;;
21

)
• Vecto lợi suất kỳ vọng của các tài sản R= (
rrr
n
; ;;
21
)
• Lợi suất danh mục Rp =
r
w
k
k
*

• Phương sai của danh mục:
σσ
ijji
ww
**
2
∑∑
=
+) Danh mục gồm 2 chứng khoán:
r
w
r
w
r
p 2
2

1
1
**
+=
)(***2
2
*
21
*
1
21
21
2222
2
rr
ww
ww
Cov
++=
σσ
σ
Cov(
rr
ji
;
)=
N
rr
rr
jj

ii

−−
)(*)(
• Hệ số tương quan
σσ
ji
ij
ij
COV
r
*
=
• Hệ số tương quan càng nhỏ thì khả năng giảm thiểu rủi ro càng lớn.
• Nếu r = +1 thì không giảm được rủi ro.
PP2 Hệ số beta đo lường sự biến động tỷ suất lợi nhuận của từng cổ phiếu so với sự biến động
tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ thị trường
3.Xác định chuỗi return của giá chứng khoán để có được giá chứng khoán trong quá khứ.
Rt=
Pt
tPPt )1(
−−

Pt= Pđóng cửa * hệ số tách tích lũy + DPS* hệ số tách tích lũy
4.Xác định beta của chứng khoán đã niêm yết
• B1: Xác định chuỗi lợi suất Ri và Rm
• B2: Xác định hiệp phương sai Cov(Ri,Rm)=
1
)(*)(


−−

N
RmRmRiRi
 Var (Rm) =
1
)(
2



N
RmRm
• B3: Xác định β =
)(
),(
RmVar
RmRiCov
5.ƯL beta của chứng khoán chưa niêm yết
• B1: Xác định tỷ trọng đầu tư theo ngành tại DN
• B2: Tính beta của các ngàh hoặc DN điển hình
• B3: Tính theo công thức :
ββ
j
j
i
w
*

=

• Điều chỉnh hệ số beta khi tính đến tác động của đòn bẩy và thuếTNDN
E
D
T
L
UL
*)1(1 −+
=
β
β
EDTEDT
debtuL
/)1()/*)1(1(
−−−+=
βββ
Ta nhận thấy beta so sánh sự đồng biến động của chứng khoán và thị trường với sự biến
động riêng biệt của thị trường. Hệ số này càng lớn chứng tỏ sự biến động của chứng khoán càng
lớn so với sự biến động của thị trường.
Beta được xác định với đầu vào là các tỷ suất lợi nhuận, mà tỷ suất này được tính toán dựa
trên các mức giá của cổ phiếu theo thời gian. Xét về mặt toán học, beta chỉ là một công cụ đo lường
khả năng biến động giá của các cổ phiếu so với sự biến động của chỉ số thị trường, nhưng nó là một
đại diện cho rủi ro của doanh nghiệp. Ta có thể giải thích vấn đề này bằng EMH (Efficient Market
Hyppothesis - giả thuyết thị trường hiệu quả). Theo thuyết này, giá cả chứng khoán sẽ phản ánh tất
cả mọi hoạt động của doanh nghiệp. Và như vậy, beta đo lường rủi ro trong sự thay đổi mức giá
của cổ phiếu, cũng chính là đo lường rủi ro của doanh nghiệp.
Trình bày các phương thức đầu tư chứng khoán. Nhận xét của anh chị về hoạt động đầu tư
chứng khoán ở Việt Nam hiện nay
Đầu tư chứng khoán là một loại hình đầu tư tài chính. Trong hoạt động này nhà đầu tư bỏ tiền
ra để mua các chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh. Gía tri của các
chứng khoản phụ thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành và quan hệ cung cầu của chứng

khoán trên thị trường. Hoạt động đầu tư chứng khoán là hoạt động phức tạp, đòi hỏi các nhà đầu tư
phải có trinh độ chuyên môn cao, am hiểu về thị trường, đồng thời phải có thị trường chứng khoán
phát triển, tạo ra sự sẵn có của các công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao.
Các phương thức đầu tư chứng khoán:
1) Theo hình thức đầu tư:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy
tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà
đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Như vậy, đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào các tài sản thực, do vậy làm tăng năng lực sản xuất của nền
kinh tế còn đầu tư gián tiếp thi không.
2) Theo thời hạn đầu tư:
Đầu tư ngắn hạn: thương có kỳ hạn từ 1 năm trở xuống, chủ yếu là hoạt động đâut tư
ngân quỹ, hoạt động đầu tư hưởng lợi và hoạt động đầu tư phòng vệ.
Đầu tư dài hạn: có kỳ hạn trên 1 năm thường tập trung ở hoạt động đầu tư nắm quyền
kiểm soát, đầu tư góp vốn kinh doanh và hoạt động góp vốn của các nhà đầu tư chiến lược.
3) Theo mục đích đầu tư:
Đầu tư ngân quỹ: thường được thực hiện bới các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn.
Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng và dự trữ, thay vì phải nắm giữ một
lượng tiền khá lớn, các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn thường đầu tư vào các chứng khoán
ngắn hạn có tính thanh khoản cao như: tín phiếu kho bạc, CDs, kỳ phiếu ngân hàng, thương
phiếu…
• Đầu tư hưởng lợi: lợi nhuận từ hoạt động đầu tư có thể có từ lợi tức từ tài sản đầu tư
như cổ tức được phân phối hàng năm, hay lợi tức từ trái phiếu;chênh lệch giá chứng khoán và các
quyền lợi khác nếu có. Hoạt động đầu tư hưởng lợi có thể bao gồm:
• Kinh doanh chênh lệch giá: là hoạt động mua bán chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi
nhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá chứng khoán.
• Hoạt động đầu cơ: là hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ lợi
tức và chênh lệch giá trong dài hạn. Hoạt động đầu cơ làm cho chứng khoán trở nên khan hiếm, giá

chứng khoán tăng và nhà đầu tư có thể tìm kiếm đc lợi lớn từ tăng giá chứng khoán.
• Kinh doanh giảm giá: là hoạt động đầu tư hưởng lợi khi có hiện tượng giảm giá
chứng khoán. Khi dự báo giá chứng khoán giảm, nhà đầu tư sẽ bán chứng khoán để chờ hạ giá và
mua lại. Phần chênh lệch giá sau khi trừ đi chi phí giao dịch sẽ là thu nhập của nhà bán kinh doanh
giảm giá.
• Tạo lập thị trường: Là trường hợp nhà đầu tư, thường là các công ty chứng khoán,
các NHTM đảm nhận thị trường cho các loại chứng khoán trên thị trường OTC. Họ có thể thu đc
lợi tức đầu tư từ cổ tức, trái tức, chênh lệch tăng giá chứng khoán, tiền hoa hồng khi thực hiện môi
giới cho các nhà đầu tư, được miễn giảm thuế,miễn giảm chi phí giao dịch, được miễn phí thông
tin.Hoạt động tạo lập thị trường có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thanh khoản cho các
chứng khoán.
• Đầu tư phòng vệ: các công cụ phòng vệ nhằm giúp các nhà đầu tư phòng tránh rủi
ro như hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền mua…
• Đấu tư nắm quyền kiểm soát: Cổ phiếu cho phép CSH có quyền kiểm soát công ty
phát hành
• thông qua quyền được nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại đại hội cổ
đông. Số lượng cổ phiếu nắm giữ sẽ quyết định khả năng biểu quyết, kiểm soát của các nhà đàu tư.
Thông qua hoạt động đầu tư vốn, nhà đầu tư có thể tham gia hội đồng quản trị nhằm thực hiện hoạt
động quản lý.
Hoạt động đầu tư chứng khoán ở VN hiện nay: các nhà đầu tư lớn , có tổ chức còn
chiếm tỷ lệ nhỏ trong khi đó tỷ trọng của các nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ lệ lớn.
Năm 2007 phần lớn nhà đầu tư cá nhân mua chứng khoán để đầu cơ ăn chênh lệch nên có tâm lý
nóng vội, ít quan tâm xem công ty mình sở hữu CP hoạt động thế nào mà chỉ căn cứ vào tính thanh
khoản cao hay thấp, có khả năng “sốt” hay không. Nhiều nhà đầu tư cũng thú thực họ không đủ thì
giờ đi học và kiến thức để nắm bắt những công ty nào lãi thực, lãi giả và qui luật giao dịch của thị
trường mà chủ yếu ra các sàn “nghe hơi nồi chõ”, đầu tư theo những người khác. Bởi thế vẫn có
những đợt tụt dốc của những CP Vinamilk, Sacombank, TDH… dù các công ty này vẫn đang kinh
doanh tốt.
Tâm lý bầy đàn:Chứng minh bằng số liệu và mô hình thống kê toán cho thấy Hiệu ứng
bầy đàn rất mạnh ở Việt Nam, và theo số liệu của chúng tôi là mạnh nhất thế giới. Hiệu ứng này

đặc biệt mạnh khi giá thị trường tăng trong một khoảng thời gian liên tiếp khá dài.
Hệ quả trực tiếp là người đầu tư từ bỏ cả kỳ vọng cá nhân, để theo đuổi mức kỳ vọng của
đám đông trên thị trường, khiến cho khoảng cách chiến lược đầu tư tiến dần tới epsilon bé tí. Trong
khi đó, tính thanh khoản tạo ra do các Delta >> epsilon, và con người có các xu hướng giao dịch
trái chiều.
Hệ quả thứ hai, cũng trực tiếp, là tính thanh khoản giảm dần. Mà tính thanh khoản chính là
giá trị lớn nhất, duy nhất của TTCK (chứ không phải theo quan niệm sai lầm chung là tính năng
huy động vốn) Khi tính thanh khoản trở nên mờ nhạt không còn mang tính quyết định thì thị trường
biến thành Casino. Thực sự là Casino vì mọi người cho rằng nó là cỗ máy kiếm tiền, xay ra tiền,
nhào ra tiền, và đâu cũng là tiền Chúng ta bằng sự nhìn nhận bình thường sẽ hiểu rằng điều này
quá sai lầm và hoàn toàn tự huyễn hoặc.
Phần lớn nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận, và chỉ nhăm nhăm tới những thông tin
không xác thực ngoài luồng. Điều này thật sai lầm. Kiến thức khác thông tin. Kiến thức là một bộ
lọc thông tin có phương hướng, có chủ đích và có phương pháp. Việc chỉ chăm chắm đào bới các
thông tin ngoài luồng không làm các nhà đầu tư khôn ngoan hơn, có khi còn làm “loạn hết óc”
trong thời buổi thông tin bùng nổ. Chính vì không bổ sung kiến thức, nên thị trường hỗn loạn trong
các dòng chảy thông tin. Mệt mỏi với thông tin càng khiến cho người ta dễ từ bỏ các kỳ vọng cá
nhân, để hào hứng đi theo sự vẫy gọi của "hiệu ứng bầy đàn".
Năm 2009 Một yếu tố đáng chú ý trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm tới
thời điểm này là sự khác biệt tương đối lớn giữa sự lên xuống của giá các cổ phiếu. Dường như,
các nhà đầu tư Việt Nam cuối cùng đã lựa chọn kỹ hơn khi mua cổ phiếu, thay vì mua theo cảm
tính như trước đây.Ngoài ra, nhờ giá cổ phiếu tăng, nhóm cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường đủ
lớn để các nhà đầu tư ngoại rót vốn cũng tăng lên. Hiện đang có 8 cổ phiếu có giá trị vốn hóa từ
500 triệu USD trở lên, so với 4 cổ phiếu ở thời điểm cuối tháng 2.
Tuy nhiên, báo cáo của HSBC cũng cho thấy, các nhà đầu tư ngoại không phải là đối tượng
chèo lái đợt phục hồi này của thị trường chứng khoán Việt Nam. Lượng mua vào của khối ngoại đã
co lại tới mức gần như không có gì. Từ đầu năm tới nay, lượng mua ròng cổ phiếu Việt Nam của
khối ngoại chỉ là 3 triệu USD. Sau một thời gian bán ròng trong quý 4/2008, hoạt động của các nhà
đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam về cơ bản gần như là trung tính, với các
hoạt động bên phía mua và phía bán cùng ít.

Theo số liệu của HSBC, hiện khối ngoại vẫn chiếm khoảng 1/5 khối lượng giao dịch trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, nhưng có vẻ như lượng vốn nước ngoài mới chảy vào thị trường
này là rất hạn chế. Trong đó, các hoạt động của khối ngoại tập trung vào việc tái cân bằng danh
mục đầu tư của các quỹ quốc gia đóng.
Do sự thiếu minh bạch trong vấn đề công bố lợi nhuận cũng như xác định giá trị của các cổ
phiếu, ở thời điểm hiện tại, HSBC tiếp tục thận trọng về triển vọng thị trường chứng khoán Việt
Nam. Các chuyên gia của ngân hàng này cho rằng, thị trường Việt Nam vẫn là một thị trường nhiều
biến động và có độ minh bạch thấp nên rủi ro cho các nhà đầu tư lớn.
Trình bày thu nhập và phương pháp xác định thu nhập trong đầu tư chứng khoán theo các
phương thức đầu tư hưởng lợi, đầu tư nắm quyền kiểm soát và tạo lập thị trường
Thu nhập của một khoản đầu tư chứng khoán là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau
một khoảng thời gian đầu tư và vốn gốc mà nhà đầu tư phải bỏ ra ban đầu.
Khi đầu tư vào cổ phiếu, các nhà đầu tư thường kỳ vọng vào hai loại thu nhập, đó là thu nhập
từ cổ tức và từ mức tăng thị giá cổ phiếu. Thu nhập từ cổ tức tùy thuộc vào tình hình kinh doanh
của công ty và quyết định của Hội đồng quản trị. Thu nhập từ mức tăng thị giá cổ phiếu là biểu
hiện của mối quan hệ trực tiếp giữa triển vọng kinh doanh của công ty với nhu cầu mua cổ phiếu
trên thị trường.
• Theo phương thức đầu tư hưởng lợi: nhà đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận bao gồm cả lợi
tức và chênh lệch giá. Thu nhập từ hoạt dộng này bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chênh lệch giá: mua bán trong ngắn hạn để tìm
kiếm LN từ chênh lệch giá
- Thu nhập từ hđ đầu cơ: tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức và chênh lệch giá trong dài
hạn. Khi CK khan hiếm, NĐT bán và thu lợi nhuận.
- TN từ hđ kinh doanh giảm giá: Khi CK có dấu hiệu giảm giá NĐT bán CK rồi chờ
giá hạ và mua lại, khoản chênh lệch trừ đi cphis giao dịch sẽ la TN của NĐT. TH
đặc biệt là bán khống: vay CK của 1 cty để bán đi, đợi giá hạ sẽ mua trả để hưởng
chênh lệch.
• Theo hình thức đtư nắm quyền kiểm soát: cho phép CSH có quyền kiểm soát công ty PH
thông qua quyền dc nhận t.tin, q` tham dự và biểu quyết tại ĐH cổ đông. Số lượng cp nắm
giữ qđ khả năng kiểm soát, biểu quyết của NĐT. Thông qua nắm q` kiểm soát các NĐT

lớn sẽ t/hiện tái cấu trúc qlis cty,thay đổi công nghệ, từ đó năng cao hiệu quả hđ và cải
thiện h/a cty trong mắt công chúng từ đó thực hiện bán CP trên TT tập trung or OTC khi cp
tăng giá,đó chính là thu nhập của họ.
• Tạo lập thị trường: Là các NĐT,thường là các cty CK,NHTM đảm nhận tạo thị trường trên
tt OTC thực hiện mua bán theo y/cầu tạo tính thanh khoản cho CK. Thu nhập của họ dc tạo
ra từ cổ tức,trái tức,chênh lệch giá Ck,tiền hoa hồng khi thực hiện môi giới cho các NĐT.
Phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Khi đầu tư vào cổ phiếu, các nhà đầu tư thường kỳ vọng vào hai loại thu nhập, đó là thu nhập
từ cổ tức và từ mức tăng thị giá cổ phiếu. Thu nhập của một khoản đầu tư là phần chênh lệch
giữa kết quả thu được sau một khoảng thời gian đầu tư và vốn gốc mà nhà đầu tư phải bỏ ra
ban đầu.
Rủi ro được định nghĩa như là một sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng.
Theo các lý thuyết cũ, rủi ro là những yếu tố làm cho mức sinh lời giảm. hiện nay người ta
cho rằng cả mọi yếu tố làm cho thu nhập thay đổi so với dự tính dù là tăng hay giảm đều coi là
rủi ro.
Đầu tư vào cổ phiếu chứa đựng nhiều loại rủi ro bao gồm cả rủi ro hệ thống và phi hệ thống:
- rủi ro hệ thống bao gồm: + rủi ro tỷ giá
+ rủi ro thị trường
+ rủi ro lãi suất
+rủi ro sức mua
- Rủi ro phi hệ thống bao gồm: rui ro kinh doanh,rủi ro tài chính, rủi ro quản lý.
Cũng như các lĩnh vực đầu tư khác, trong đầu tư chứng khoán tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận
giữa mức thu nhập với mức rủi ro. Thu nhập càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn càng lớn.
Đường SML mô tả lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản riêng lẻ như là một hàm rủi ro của tài
sản (được đo bằng độ nhạy cảm của chứng khoán đó trước những biến động của thị trường).
Thước đo rủi ro phù hợp đối với tài sản riêng lẻ nằm trong một danh mục được đa dạng hóa tốt
không phải là độ lệch chuẩn hoặc phương sai của tài sản đó, mà là phần rủi ro của tài sản riêng lẻ
đóng góp vào rủi ro tổng thể của danh mục (được đo bằng hệ số beta của tài sản riêng lẻ). Sự hữu
dụng của SML nằm ở khả năng định giá tài sản riêng lẻ: một tài sản được định giá chính xác sẽ
nằm đúng trên đường SML

(vẽ hình)
1 điểm nằm trên đường SML (anpha > 0) -> định giá thấp
Nếu sử dụng mô hình CAPM để phân tích thi ta cũng có CT:
ks = Rrisk free + Beta * (Rmarket - Rrisk-free)
với ks là lãi suất kỳ vọng trên cổ phiếu.
Trong đó:
* Beta là chỉ số phản ánh rủi ro thị trường của một cổ phiếu. Beta có thể được dự đoán dựa trên các số liệu quá khứ
* Rrisk free là tỷ lệ phi rủi ro, và thường là lãi suất trái phiếu chính phủ vì loại lãi suất này được coi là không có rủi
ro thanh toán
* Rmarket là thu nhập thị trường kỳ vọng qua thời gian
Qua công thức trên ta cũng thấy rằng Beta càng cao tức rủi ro càng cao thì ks tức thu nhập kì vọng
càng lớn.
Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư hưởng lợi
• Theo phương thức đầu tư hưởng lợi: nhà đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận bao gồm cả lợi
tức và chênh lệch giá. Thu nhập từ hoạt dộng này bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chênh lệch giá: mua bán trong ngắn hạn để tìm
kiếm LN từ chênh lệch giá
- Thu nhập từ hđ đầu cơ: tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức và chênh lệch giá trong dài
hạn. Khi CK khan hiếm, NĐT bán và thu lợi nhuận.
- TN từ hđ kinh doanh giảm giá: Khi CK có dấu hiệu giảm giá NĐT bán CK rồi chờ
giá hạ và mua lại, khoản chênh lệch trừ đi cphis giao dịch sẽ la TN của NĐT. TH
đặc biệt là bán khống: vay CK của 1 cty để bán đi, đợi giá hạ sẽ mua trả để hưởng
chênh lệch.
Do đặc điểm của thu nhập của phương thức đtư hưởng lợi là ntren nên nó sẽ bao hàm những rủi ro
nsau: Đtư theo pp hưởng lợi thì nhà đtư sẽ phải gánh chịu cả rủi ro hệ thống và phi hệ thống:
-RR hệ thống: Vì các NĐT thực hiện đtư theo pp này chủ yếu tìm kiếm LN từ chênh lệch giá nên
họ phải chịu rủi ro rất lớn bởi những biến động của thị trường, khi thi trường diễn biến ngược lại so
với dự đoán của NĐT thì họ sẽ phải chịu tổn thất rất nặng nề: NĐT dự đoán CP tăng giá nhưng sau
đó lại giảm giá hay khi NĐT thực hiện bán CK ra nhug sức mua của thị trường lại thấp…
- RR phi hệ thống: RR kinh doanh,rủi ro tài chính,RR quản lí.

Khi 1 NĐT vay vốn để thực hiện hđ đtư của mình thì nghĩa cụ tài chính đvới họ sẽ tăng lên do họ
phải trả gốc và lãi cho khoản vay đó. Khi hđ đầu tư của họ thua lỗ nếu họ ko thể trả nợ thì rất dễ
dẫn đến tình trạng phá sản…
Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư nắm quyền
kiểm soát
Phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát: là việc đầu tư vào loai chứng khoán cho phép NĐT có
quyền kiểm soát công ty phát hành thông qua quyền nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại
ĐHCĐ. Số lượng cổ phiếu nắm giữ thường quyết định khả năng biểu quyết, kiểm soát của NĐT.
Một số NĐT lớn thường là NĐT tổ chức như DN hoặc ngân hàng lớn thường thực hiện phương thức
đầu tư nắm quyền kiểm soát.
- Thu nhập:
+ NĐT ngoài cổ tức và chênh lệch giá còn có quyền chủ động trong việc tạo lập thu nhập cho mình
thông qua việc nắm giữ quyền kiểm soát DN phát hành chứng khoán, tác động đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN.
+ Trong một số trg hợp, NĐT lựa chọn phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát vào các công ty
chưa phát triển, đặc biệt yếu kém về công nghệ quản lý. Thông qua nắm quyền kiểm soát, họ thực
hiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản lý, công nghệ từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động vả cải thiện
hình ảnh trong công chúng đầu tư và sẽ thực hiện bán cổ phiếu trên thị trường tập trung hoặc thị
trường OTC khi cổ phiếu tăng giá. Phương thức này có thể đem lại khoản lợi nhuân kỳ vọng trong
tương lai khổng lồ cho NĐT.
- Rủi ro:
+ giá CK trong hình thức đầu tư này thường cao, chi phí lớn
+ NĐT chịu tác động lớn trước những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của DN phát hành CK
hơn các phương thức đầu tư thông thường khác.
Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức tạo lập thị trường
Đầu tư theo phương thức tạo lập thị trường thường do các nhà tạo lập thị trường – trung gian tài
chính mua bán các công cụ tài chính hoạt động theo phương thức khớp giá, thực hiện chức năng đặt các
lệnh chào mua, chào bán, đảm bảo giao dịch của thị trường liên tục.
- Thu nhập
+ NĐT tạo lập thị trường với hai mục tiêu chủ yếu: Đảm bảo tính thanh khoản của thị trường và kiếm lợi

nhuận.
+ các nhà tạo lập thị trường tìm kiếm lợi nhuận thông qua hai hình thức sau
. Thứ nhất, đóng vai trò đối tác trong giao dịch, nếu lệnh đặt đến là lệnh mua NĐT sẽ bán CK tương ứng
nắm giữ. Nếu lệnh đặt đến là lệnh bán, thì ngược lại.
. Thứ hai, trong trường hợp lệnh đặt mua đến nhưng nhà tạo lập thị trường ko có đủ số CK đặt mua hoặc
lệnh đặt bán nhưng ko đủ khả năng mua toàn bộ CK của KH thì sẽ tìm một lệnh đối ứng khác thỏa mãn và
sẽ nhận được mộtkhoảnphí.
- Rủi ro
+ Tham gia đầu tư tạo lập thị trường, NĐT thường phải đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản
. Đối với rủi ro lãi suất: nếu lãi suất thị trường tăng lên, cơ hội đầu tư vào các tài sản có mức lợi tức cao
hơn sẽ mất đi.
. Đối với rủi ro thanh khoản: do đầu tư tạo lập thị trường thường phải nắm giữ một lượng CK lớn nên việc
phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, nắm giữ CK trong tay nhưng khả năng thanh khoản ngày càng thu
hẹp.
+ Để phòng ngừa rủi ro các nhà đầu tư tạo lập thị trường thưởng sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các
công cụ bảo hiểm khác, như repos
Trình bày các phương pháp xác định chỉ số giá chứng khoán: Phương pháp Passcher;
Phương pháp Laspeyres; Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher; Phương pháp số
bình quân giản đơn; Phương pháp bình quân nhân giản đơn
Phương pháp tính
Hiện nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp để tính chỉ số giá cổ phiếu, đó là:
Phương pháp Passcher:
Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với
quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán. Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu
quyền số thời kỳ tính toán:
Người ta dùng công thức sau để tính:
∑ qt pt
I p =
∑ qt po
Trong đó: Ip : Là chỉ số giá Passcher

pt : Là giá thời kỳ t
po : Là giá thời kỳ gốc
qt : Là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán ( t )
hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán.
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số
thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm
yết) thời tính toán.
Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh) ; TOPIX (Nhật) ; CAC (Pháp);
TSE (Đài Loan); Hangseng (Hong Kong); các chỉ số của Thuỵ Sĩ, và Vn- Index của Việt Nam áp
dụng phương pháp này.
Phương pháp Laspeyres.
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ
phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc:
∑qo pt
I l =
∑ qo po
Trong đó: IL : Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
pt: Là giá thời kỳ báo cáo
po : Là giá thời kỳ gốc
qo: Là khối lượng (quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ cấu của khối lượng c (số lượng cổ phiếu niêm
yết) thời kỳ gốc
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Có ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ, DAX của Đức.
Chỉ số giá bình quân Fisher
Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá
Laspayres: Phương pháp này trung hoà được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ
số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán

I F = Ö IP x I L
Trong đó:I F : Là chỉ số giá Fisher
IP: Là chỉ số giá Passcher
I L: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê không thấy nó áp dụng ở bất kỳ một
quốc giá nào.
Phương pháp số bình quân giản đơn:
Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được áp dụng.
Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính
toán:
∑ p
i

I
p
=
n
Trong đó: Ip: là giá bình quân;
Pi: là giá Chứng khoán i;
n: là số lượng chứng khoán đưa vào tính toán.
Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ; Nikkei 225 của Nhật; MBI của Ý áp dụng phương pháp này.
Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay độ lệch
chuẩn ) của nó thấp.
σ
(
Phương pháp bình quân nhân giản đơn
I p = Ö P Pi
Chúng ta chỉ nên dùng loại chỉ số này khi độ lệch chuẩn khá cao. Các chỉ số: Value line (Mỹ); FT-
30 (Anh) áp dụng phương pháp bình quân nhân giản đơn này.
Tuy nhiên về mặt lý luận, chúng ta có thể tính theo phương pháp bình quân cộng hoặc bình quân

nhân gia quyền với quyền số là số chứng khoán niêm yết.
Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng khoán niêm yết. Riêng
ở Đài Loan thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm quyền số, bởi vì tỷ lệ đầu tư của công
chúng rất cao ở đây (80 90%).
Trình bày nội dung, ý nghĩa giả thuyết thị trường hiệu quả. Nhận xét của Anh (Chị) về mức
độ hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Nội dung:
Thị trường vốn là hiệu quả nghĩa là chỗ nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phí giao
dịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởng đến
giá cả của một loại chứng khoán nào đó. Nói khác đi, giả định thị trường vốn là thị trường hiệu quả và
hoàn hảo.
Đầu tiên. Một thị trường hiệu quả nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường
với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn
toàn độc lập với nhau.
Thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự
động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau.
Thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh
nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh
chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau.
Cuối cùng, bởi tất cả các thông tin sẽ điều chỉnh giá chứng khoán, do đó những mức giá này sẽ phản ánh
tất cả các thông tin được công bố công khai tại bất kỳ thời điểm nào. Vì vậy, giá chứng khoán nào mà bất
biến tại mọi thời điểm có thể là do kết quả phản ánh sai thông tin và có thể mang lại rủi ro với người sở
hữu chứng khoán đó. Vì lẽ này, trong một thị trường hiệu quả, thu nhập kỳ vọng ẩn trong mức giá hiện tại
của chứng khoán cũng sẽ phản ánh rủi ro của nó.
Ý nghĩa:
Khi thị trường trở nên kém hiệu quả, quy luật cung cầu trên thị trường do NĐT cạnh tranh lẫn nhau
khai thác các hiện tượng đã được nhận biết để kiếm lợi nhuận. Và chính điều này sẽ đưa thị giá trở về
trạng thái cân bằng, đồng thời xóa bỏ hiện tượng đó.
Khi tham gia vào một thị trường hiệu quả, nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với những
người khác vì hiệu quả của thị trường chứng khoán sẽ khiến cho giá của các cổ phiếu hiện có trên thị

trường luôn gắn kết và cung cấp các thông tin tương thích. Các chứng khoán sẽ được mua/bán, trao đổi
ngang giá trên các sàn giao dịch chứng khoán. Người chơi luôn được tin tưởng rằng thị trường đối xử công
bằng với tất cả mọi người.
Liên hệ:
Chúng ta có thể khẳng định rằng thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa thực sự là thị trường hiệu
quả. Điều này xuất phát từ các lý do
Đầu tiên. Số lượng các nhà đầu tư chuyên nghiệp của thị trường còn ít. Đôi khi các nhà đầu tư hành động
theo xu hướng đám đông gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường. Ví dụ: trong giai đoạn 2006-
2007.
Thứ hai. Việc công bố thông tin của các doanh nghiệp còn hạn chế. Đến hạn nộp BCTC nhưng có nhiều
DN trì hoãn hay nộp muộn. Bên cạnh đó, có nhiều cá nhân biết trước các thông tin quan trọng hay có nhiều
tin đồn liên quan đến thị trường. Các cơ quan chức năng chưa giám sát chặt chẽ tới việc công bố thông tin
của DN. Điều này ảnh hưởng đến sự minh bạch của thị trường và ảnh hưởng tới hành động của NĐT, làm
ảnh hưởng tới giá chứng khoán trên thị trường.
Thứ ba, Giả thiết các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh
chính xác ảnh hưởng của thông tin chưa được đảm bảo.
Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước cần mạnh tay hơn nữa trong việc quản lý thị trường, chống
lại những thông tin sai lệch, hạn chế các thông tin nội gián, nạn đầu cơ làm lũng đoạn thị trường, làm cho
giá chứng khoán biến động bất thường. Việc công bố thông tin về tình hình tài chính của các doanh nghiệp
cũng cần phải được giám sát một cách chặt chẽ tránh việc công bố thông tin không chính xác như một số
doanh nghiệp trong thời gian vừa qua làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán trên thị trường.
Trình bày các giả thuyết trong mô hình Markowitz
Mô hình Markowitz dựa trên những giả định cơ sở như sau:
-
Các nhà đầu tư đều là những nhà đầu tư ngại rủi ro. Với một mức rủi ro cho trước nhà đầu
tư sẽ ưa thích phương án đầu tư nào có lợi nhuận kỳ vọng cao hơn. Tương tự, với một mức lợi
nhuận kỳ vọng cho trước nhà đầu tư sẽ ưa thích những phương án đầu tư có rủi ro thấp hơn.
-
Các nhà đầu tư không đơn thuần theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng mà là
mục tiêu tối đa hóa mức hữu dụng của khoản đầu tư .


-
Việc lựa chọn và quyết định các phương án đầu tư của nhà đầu tư chỉ dựa trên hai yếu
tố là thu nhập kỳ vọng và mức rủi ro của thu nhập. Mức độ hữu dụng của nhà đầu tư chỉ phụ
thuộc vào 2 yếu tố này.
-
Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong một khoảng thời gian nhất định.
-
Tất cả các nhà đầu tư đều có cùng thời hạn đầu tư như nhau.
- Nhà đầu tư xem mỗi sự lựa chọn đầu tư như một phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi
kỳ vọng.
- Nhà đầu tư tối đa hoá hữu dụng kỳ vọng và đường cong hữu dụng của họ biểu diễn giá
trị hữu dụng biên giảm dần.
- Nhà đầu tư ước lượng rủi ro dựa vào phương sai của tỷ suất sinh lợi.
- Căn cứ quyết định của nhà đầu tư chỉ dựa vào tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro, vì vậy
đường cong hữu dụng của họ là một hàm của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷ suất
sinh lợi.
Trình bày nội dung và ý nghĩa của lý thuyết quản lý danh mục đầu tư Markowitz
Công thức xác định tỷ suất sinh lợi:
Với một tài sản A, ta xác định tỷ suất sinh lợi thời điểm t như sau:

P Div

R ln



A

t t




At


P
A,t 1

Trong đó: R
At
: Tỷ suất sinh lợi của tài sản A thời điểm t, P
At
và P
A,t-1
: Giá trị tài sản A
thời điểm t và thời điểm t-1, Div
t
: Cổ tức (dòng tiền thu nhập) trong suốt thời kỳ từ t-1 đến t.
Với giả định tỷ suất sinh lợi chứng khoán là một đại lượng ngẫu nhiên. Do vậy, nó có
đầy đủ các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên như: kỳ vọng toán, phương sai, độ lệch
chuẩn, giá trị tin chắc nhất, mô men, hệ số bất đối xứng, hệ số nhọn…
Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục:
Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục. ký hiệu E(R
port
) được tính như sau:
E(

R


port
)
n

W
i
E(R
i
)
i 1
(1.1)
Trong đó, W
i
= tỷ trọng tài sản thứ i trong danh mục
E(R
i
) = tỷ suất sinh lợi của tài sản thứ i.
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản.
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản đôi khi ta còn gọi là

×