Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

tiểu luận hoạt động nhượng quyền thương mại, ưu nhược điểm nhượng quyền thương mại và các tình huống tranh chấp phổ biến

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (379.24 KB, 22 trang )


1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ LUẬT
LỚP B2LK92DB





BÀI TIỂU LUẬN LUẬT THƯƠNG MẠI II

CHỦ ĐỀ: HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI, ƯU
NHƯỢC ĐIỂM NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ CÁC TÌNH
HUỐNG TRANH CHẤP PHỔ BIẾN


GVHD: TS. Lê Văn Hưng
NHÓM 5:
1/ Nguyễn Thị Quỳnh Anh
2/ Lưu Tấn Bảo
3/ Lê Thị Cẩm Hằng
4/ Lê Thị Hồng Thắm
5/ Hồ Thị Minh Thảo
6/ Phùng Nguyễn Thanh Xuân
7/ Lê Xuân An
8/ Bùi Đạt

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19 tháng 12 năm 2011

2



Mục Lục Trang
Lời nói đầu
I. Tìm hiểu chung về nhượng quyền thương mại 4
1. Khái niệm 4
2. Các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại 4
3. Quyền và nghĩa vụ các bên tham gia nhượng quyền thương mại 5
II. Hoạt động nhượng quyền thương mại 6
1. Hợp đồng nhượng quyền thương mại 6
2. Mâu thuẫn giữa các bên trong nhượng quyền thương mại 8
3. Phí trong hoạt động nhượng quyền thương mại 10
4. Chuyển nhượng hợp đồng nhượng quyền 11
5. Đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại 11
III. Ưu điểm và nhược điểm của nhượng quyền thương mại 12
1. Ưu điểm 12
2. Nhược điểm 13
3. Những khó khăn của các nhà nhượng quyền do sự thiếu hoàn chỉnh của
pháp luật về nhượng quyền thương mại 13
IV. Kết Luận 15
V. Tình huống tranh chấp 16






3
Lời nói đầu
 Khi bắt đầu hoạt động kinh doanh có rất nhiều con đường mà những nhà
kinh doanh có thể lựa chọn như tự mình thành lập một công ty mới bắt đầu từ

con số không, cũng có những người có vốn lớn họ mua lại cổ phần của nhiều
cổ đông trong công ty cổ phần hay mua lại phần vốn góp trong công ty trách
nhiệm hữu hạn và trở thành những ông chủ mới của các công ty đó để thực
hiện việc kinh doanh của mình… trong các con đường như vậy thì những
người bắt đầu tham gia kinh doanh có thể lựa chọn hình thức nhượng quyền
thương mại.
 Hoạt động nhượng quyền thương mại đã có mặt ở Việt Nam được
khoảng 16 năm. Đây là một hoạt động thương mại tương đối phổ biến ở Việt
Nam với sự phát triển mạnh của một số thương hiệu trong lĩnh vực này như
các hệ thống cửa hàng như lottemart, gà rán Kentucky, phở 24 và cà phê
Trung Nguyên…đã làm cho hoạt động của loại hình kinh doanh này ở Việt
Nam ngày càng trở nên hấp dẩn.
 Và hiện tại thì pháp luật cũng rất chú ý đến việc điều chỉnh trong lĩnh
vực này. Những quy định chính của pháp luật về hoạt động nhượng quyền
được quy định trong bộ luật thương mại 2005 trong phần chương VI một số
hoạt động nhượng quyền thương mại cụ thể khác từ điều 284 tới điều 291 và
trong nghị định 35/2006/NĐ-CP nghị định chính phủ về hoạt động nhượng
quyền thương mại.
 Bài nghiên cứu này của nhóm về hoạt động nhượng quyền thương mại
mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu thế nào là hoạt động nhượng quyền thương
mại, quyền nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động nhượng quyền thương
mại và mục đích cuối cùng cũng quan trọng nhất đó là nhóm nghiên cứu
mong các bạn sẽ nắm được những điều cơ bản trong hoạt động nhượng quyền
thương mại cần có là gì.
 Tuy nhóm đã nghiên cứu nhiều để hoàn thành bài nghiên cứu này nhưng
bài nghiên cứu cũng không thể tránh khỏi những sai xót, mong nhận được góp
ý của Thầy và các bạn. Nhóm 5 xin cảm ơn.














4
I. Tìm hiểu chung về nhượng quyền thương mại:
1. Khái niệm:
 Nhượng quyền thương mại theo điều 284 luật thương mại 2005 là hoạt
động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận
quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các
điều kiện sau:
 Điều kiện thứ nhất là việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ phải
được tiến hàng theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy
định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh
doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên
nhượng quyền.
 Điều kiện thứ hai là bên nhượng quyền có quyền kiểm soát, trợ giúp bên
nhận quyền trong việc điều hành kinh doanh.
2. Các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại:
 Bên nhượng quyền: là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả
Bên nhượng quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp.
 Bên nhượng quyền thứ cấp là thương nhân có quyền cấp lại quyền
thương mại mà mình đã nhận từ Bên nhượng quyền ban đầu cho Bên nhận
quyền thứ cấp.

 Điều kiện với bên nhượng quyền thương mại: theo điều 5 nghị định
35/2006/NĐ-CP thương nhân nhượng quyền thương mại phải thỏa mản 3 diều
kiện sau đây:
Thứ nhất là Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã
được hoạt động ít nhất 01 năm.
Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên
nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo
phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi
tiến hành cấp lại quyền thương mại.
Thứ hai là Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan
có thẩm quyền theo quy định Nghị định này.
Thứ ba là Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền
thương mại không vi phạm quy định của Nghị định này.
 Bên nhận nhượng quyền: là thương nhân được nhận quyền thương
mại, bao gồm cả Bên nhận quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhượng
quyền thứ cấp.

5
 Bên nhận quyền sơ cấp là thương nhân nhận quyền thương mại từ Bên
nhượng quyền ban đầu. Bên nhận quyền sơ cấp là Bên nhượng quyền thứ cấp
trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp.
 Bên nhận quyền thứ cấp là thương nhân nhận lại quyền thương mại từ
Bên nhượng quyền thứ cấp.
Điều kiện của bên nhận quyền là bên nhận quyền phải là thương nhân.
3. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia nhượng quyền thương mại:
 Đối với bên nhượng quyền có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại
Điều 286 và Điều 287 LTM 2005. Bao gồm:
 Về quyền: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng
quyền có các quyền sau đây:
 Nhận tiền nhượng quyền;

 Tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng
lưới nhượng quyền thương mại;
 Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm bảo
đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về
chất lượng hàng hoá, dịch vụ.
 Về nghĩa vụ: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng
quyền có các nghĩa vụ sau đây:
 Cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mại cho
bên nhận quyền;
 Đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho thương
nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyền
thương mại;
 Thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí
của thương nhân nhận quyền;
 Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng
nhượng quyền;
 Đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống
nhượng quyền thương mại.
 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền được quy định tại Điều 288 và
Điều 289 LTM 2005 như sau:
 Về quyền: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền
có các quyền sau đây:
 Yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ trợ giúp kỹ thuật
có liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại.

6
 Yêu cầu thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với các thương
nhân nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại.
 Về nghĩa vụ: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận
quyền có các nghĩa vụ sau đây:

 Trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại;
 Đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các
quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao;
 Chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền;
tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ
của thương nhân nhượng quyền;
 Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi
hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc chấm dứt;
 Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc
hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng
quyền thương mại;
 Điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại;
 Không được nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấp thuận
của bên nhượng quyền.
II. Hoạt động nhượng quyền thương mại:
1. Hợp đồng nhượng quyền thương mại
a. Những quy định chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại:
 Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại phải là văn bản hoặc
hình thức có giá trị tương đương.
 Ngôn ngữ được sử dụng trong hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
là tiếng việt trừ trường hợp nhượng quyền từ trong nước ra nước ngoài thì
ngôn ngữ được sử dụng trong hợp đồng do các bên tự thỏa thuận.
Thời hạn của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên tự thỏa
thuận. Tuy nhiên hợp đồng nhượng quyền có thể kết thúc trước hạn trong các
trường hợp sau:
Bên nhận quyền không còn Giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị
tương đương mà theo quy định của pháp luật Bên nhận quyền phải có để tiến
hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại.

Bên nhận quyền bị giải thể hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật
Việt Nam.

7
Bên nhận quyền vi phạm pháp luật nghiêm trọng có khả năng gây thiệt
hại lớn cho uy tín của hệ thống nhượng quyền thương mại
Bên nhận quyền không khắc phục những vi phạm không cơ bản trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại trong một thời gian hợp lý, mặc dù đã
nhận được thông báo bằng văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm đó từ Bên
nhượng quyền.
Thời điểm hợp đồng nhượng quyền có hiệu lực: Hợp đồng nhượng
quyền thương mại có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp các bên có
thoả thuận khác. Nếu trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có phần nội
dung về chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ thì phần đó có
hiệu lực theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Nhượng lại hợp đồng nhượng quyền thương mại: là việc bên nhận
quyền thương mại tiếp tục nhượng lại quyền thương mại cho một bên nhận
quyền thứ cấp khác.
Điều kiện để bên nhận quyền có thể nhượng lại hợp đồng nhượng quyền
thương mại là phải được bên nhượng quyền đồng ý.
b. Những điều khoản quan trọng trong hợp đồng nhượng quyền thương
mại.
 Sự huấn luyện và hỗ trợ phát triển từ bên nhượng quyền: Mỗi nhà
nhượng quyền có một chương trình huấn luyện riêng cho các cửa hàng nhận
quyền và nhân viên của bên nhận quyền, việc huấn luyện có thể diễn ra tại nơi
làm việc của họ hoặc trụ sở chính của công ty hay liên kết hỗ trợ từ một bên
thứ 3. Hầu hết các bên nhượng quyền thường đề nghị hỗ trợ về quản trị và kỹ
thuật.
 Khu vực được nhượng lại : Hợp đồng nhượng quyền sẽ chỉ định rõ khu
vực mà bên nhận quyền sẽ tiến hành hoạt động hoặc có hay không có sự độc

quyền khu vực.
 Thời hạn của hợp đồng nhượng quyền: Điều khoản này quy định thời
gian mà bên nhận quyền được quyền sử dụng các quyền thương mại.
 Phí sử dụng các quyền thương mại và tổng đầu tư được định trước:
Những nhà nhận quyền phải trả một khoản phí ban đầu cho việc sử dụng các
quyền thương mại được nhượng lại và việc điều hành hệ thống, đồng thời dự
tính mức đầu tư bên nhượng quyền phải đầu tư cho mỗi địa điểm thực hiện
việc kinh doanh.
 Thương hiệu, các sáng chế, cách thức sử dụng
 Điều này quy định cách thức mà bên nhượng quyền sẽ sử dụng thương
hiệu và các sáng chế được bên nhượng quyền nhượng lại quyền sử dụng.

8
 Quyền lợi và các khoản phí khác bên nhận quyền phải trả: Hầu hết
bên nhượng quyền yêu cầu bên nhận quyền phải trả phí để có quyền sử dụng
thương hiệu và các quyền khác thông thường từ 4 – 8% tổng doanh thu mỗi
tháng.
 Quảng cáo
 Nhà nhượng quyền sẽ thực hiện việc quảng cáo cho cả hệ thống và yêu
cầu bên nhận quyền đóng góp một vào chi phí quảng cáo chung
 Phương thức vận hành
 Quy định rõ phương thức mà bên nhận quyền sử dụng để vận hành việc
kinh doanh của mình
 Tiếp tục, chấm dứt, hủy bỏ
 Những điều khoản này quy định điều kiện để các quyền thương mại
được chuyển quyền sử dụng trong hợp đồng được tiếp tục thực hiện hay chấm
dứt hoặc hủy bỏ. Một số nhà nhượng quyền quy định trọng tài giải quyết các
vấn đề này, các nhà nhận quyền phải sử dụng các quyền thương mại được
chuyển nhượng theo cách thức mà bên nhượng quyền cho phép nếu không
một trọng tài sẽ xem xét việc này thay vì đưa nhau ra tòa.

 Quyền nhượng lại
 Bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền nhượng lại các quyền được
cấp phép.Tuy nhiên, việc nhượng lại các quyền được phép sử dụng cho các
nhà nhận quyền thứ cấp của bên nhận quyền sơ cấp như thế nào phải đảm bảo
những yêu cầu của nhà nhượng quyền ban đầu, bên nhượng quyền ban đầu
thực hiện điều này nhằm đảm bảo tính nhất quán cho cả hệ thống. Trên đây là
một số điều khoản quan trọng nhất trong một hợp đồng nhượng quyền thương
mại. Căn cứ vào từng quan hệ cụ thể mà mỗi bên khi tham gia vào mối quan
hệ này có thể tham khảo để xây dựng một hợp đồng hoàn chỉnh.
c. Sở hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, ít nhất là
chung nhãn hiệu, chung tên thương mại, chung cách trình bày, chung bí mật
kinh doanh. Trường hợp bên chuyển giao cho bên nhận quyền quyền sử dụng
các đối tượng sở hữu công nghiệp thì phần chuyển giao quyền sử dụng các
đồi tương sở hữu công nghiệp đó chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu
công nghiệp.
2. Mâu thuẫn giữa các bên trong nhượng quyền thương mại
Mâu thuẫn giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền về giới hạn kiểm soát
luôn tồn tại và thường là không thể tránh khỏi bởi do tính đặc thù của loại
hình kinh doanh này. Bên nhận quyền độc lập kinh doanh, tự mình quản lý cơ

9
sở kinh doanh, tuy phải tuân theo những tiêu chuẩn của bên nhượng quyền
song đối với bên nhận quyền cơ sở đó vẫn là tài sản của anh ta, đối với bên
nhượng quyền cơ sở kinh doanh nhượng quyền là một phần trong hệ thống
nhượng quyền thương mại cho dù bên nhận quyền chưa chắc đã là như vậy,
nói cách khác bên nhận quyền và cơ sở kinh doanh nhượng quyền do bên
nhận quyền điều hành không hẳn đồng nhất nhau trong mối quan hệ với bên
nhượng quyền. Chính bởi vậy bên nhượng quyền sẽ tìm cách kiểm soát càng
nhiều càng tốt với công việc kinh doanh của cơ sở kinh doanh nhượng quyền,

trong khi đó bên nhận quyền lại mong muốn hạn chế thậm chí là trốn tránh
khỏi sự kiểm soát để có thể có nhiều sự độc lập hơn trong công việc kinh
doanh và tạo ra bản sắc riêng cho mình.
Nếu sự kiểm soát càng chặt chẽ thì nó trở thành gánh nặng cho bên nhận
quyền và kết quả là bên nhận quyền lại càng muốn tránh được càng nhiều
càng tốt. Kể cả với một bên nhận quyền thiếu kinh nghiệm lúc ban đầu thì khi
đã vững vàng hơn không ít người cũng cảm thấy những sự kiểm soát, ban đầu
là cần thiết, nay trở thành những rào cản cho việc phát triển các cơ hội kinh
doanh của anh ta. Mâu thuẫn phát sinh có thể dẫn tới những thiệt hại cho công
việc kinh doanh của cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền, đó là một điều
không mong muốn từ các bên song họ lại không nhận thức được.
Để giải quyết mâu thuẫn này, hay nói đúng hơn là ngăn chặn mâu thuẫn xảy
ra, pháp luật về nhượng quyền thương mại ở các nước có phát triển loại hình
kinh doanh này thường quy định bên nhượng quyền phải cung cấp cho bên
nhận quyền bản sao hợp đồng nhượng quyền và bản giới thiệu về nhượng
quyền thương mại của mình cho bên nhận quyền trong một thời hạn nhất định
trước khi hai bên ký kết hợp đồng nhượng quyền.Trong thời hạn đó bên nhận
quyền được khuyên nên đọc kỹ các văn bản được cung cấp, xin ý kiến các
luật sư chuyên về lĩnh vực nhượng quyền thương mại và có những tính toán
cần thiết và đầy đủ về các vấn đề trong hợp đồng, trong đó có vấn đề họ có
thể chấp nhận được sự kiểm soát được áp dụng cho mình hay không. Việc
được cung cấp trước và nghiên cứu trước các điều khoản về hợp đồng nhượng
quyền có ý nghĩa quan trọng với bên nhận quyền tiềm năng trong việc ra
quyết định có đầu tư vào việc kinh doanh nhượng quyền này hay không. Bởi
vậy luật pháp cũng quy định buộc bên nhượng quyền phải cung cấp chính xác
và đầy đủ hợp đồng nhượng quyền và các thông tin về bên nhượng quyền, sự
vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin này sẽ dẫn tới trách nhiệm pháp lý cho
bên nhượng quyền làm sai nếu bên nhận quyền khởi kiện và bên nhượng
quyền không chứng minh được việc thực hiện đúng nghĩa vụ công bố thông
tin.

Lời khuyên cuối cùng cho nhà đầu tư muốn khởi nghiệp bằng hình thức kinh
doanh nhượng quyền là nên tích luỹ càng nhiều kiến thức càng tốt về lĩnh vực

10
nhượng quyền thương mại và không nên ký kết hợp đồng nhượng quyền khi
chưa có sự nghiên cứu kỹ các tài liệu được cung cấp và nên tham khảo ý kiến
của những người có kinh nghiệm. Còn đối với bên nhượng quyền nên thiết
lập cơ chế kiểm soát cần thiết và vừa đủ hoặc không quá khắc nghiệt nếu
không kết quả thu được có thể trái với mong muốn thực sự của họ.
3. Phí trong hoạt động nhượng quyền thương mại
Về cơ bản có hai loại phí bên nhận quyền phải trả
đối
với nhượng quyền
thương mại, đó là phí trả trước và
phí
thường xuyên. Phí trả trước, là
khoản phí mà bên nhận quyền phả
i

trả
cho bên nhượng quyền để có được
các quyền khai t
rương

doanh
nghiệp của bên nhận quyền. Thực chất là
bên
nhận quyền sẽ mua các quyền sử dụng các thương
hiệu,
phương thức

kinh doanh, và các quyền phân phối của công ty đó. Thông thường khoản phí
này dựa trên giá trị của khu
vực đất đai
hay khu vực buôn bán của người
mua nhượng
quyền thương
mại, nên thị trường của bên nhận quyền càng
lớn thì
khoản
phí mà bên nhận quyền phải trả cũng càng
lớn.
Khoản phí trả trước này có thể nằm ngoài những chi phí
khởi
sự khác
mà bên nhận quyền sẽ phải chịu. Phí nhượng quyền thương mại ban đầu
có thể bao gồm hoặc không bao gồm các
chi
phí khác như chi phí đào tạo;
chi phí khuyến mãi khai trương;
kho
hàng; chi phí xây cất (một số bên
nhượng quyền đòi hỏi
không

gian
bán hàng của bên nhận quyền phải có
những yếu tố kiến
trúc
riêng); chi phí cho các trang thiết bị đồ đạc cố định
(bên

nhận
quyền có thể được yêu cầu mua hoặc thuê các trang thiết bị và
đ

đạc cố định riêng của công ty); và bất kỳ khoản phí tốn nào
khác
cần
trả để có thể khai trương doanh nghiệp của bên nhận
quyền.
Bên nhận quyền cũng sẽ phải trả phí thường xuyên để duy
trì
được
nhượng quyền thương mại đã mua. Hầu hết những
bên
nhượng quyền
đều đòi hỏi được trả phí bản quyền. Phí bản
quyền
thường dao ñộng từ 1%
đến tận 15%, mặc dù mức phổ biến là
5%.
Bên nhận quyền sẽ phải trả
khoản phí này trên cơ sở tổng
doanh
thu của bên nhận quyền. Một số
công ty lại thu phí ñịnh kỳ
thay
cho phí bản quyền. Loại phí này có thể là
một phần của mức
tăng
giá mà bên nhận quyền phải trả cho các hàng hoá

và dịch vụ
phải
mua từ công
ty.
Thông thường những người mua nhượng quyền thương mạ
i
đều phải
trả một phần chi phí cho việc quảng cáo và khuyến
mãi
mà bên nhượng
quyền thực hiện trên phạm vi
địa
phương, khu vực hay toàn quốc. Chi phí
này thường được gộp vào một quỹ quảng cáo tập thể sẽ có lợi cho tất cả
những doanh nghiệp mua nhượng quyền thương mại đó bởi thương hiệu
kinh
doanh của họ sẽ được biết nhiều
hơn.
Ngoài các chi phí, bên nhận quyền thường còn phải đầu


một
khoản
tiền khá lớn vào cửa hàng, cửa hiệu của mình. Các
chi
phí đó bao gồm chi
phí đào tạo, mua sắm hay thuê địa điểm,
máy
móc, bàn ghế hay các vật


11
dụng khác. Các bên phải thoả thuận về
chi
phí này. Tuy nhiên, bên nhượng
quyền có thể phải chịu trách
nhiệm
nếu đã có lỗi khi tạo niềm tin cho bên
nhận quyền. Việc
bồi
thường thiệt hại có thể được tiến hành dưới hình thức
bồi
thường
thiệt hại ngoài hợp
đồng.
4. Chuyển nhượng hợp đồng nhượng quyền
Việc chuyển nhượng hợp đồng nhượng quyền phải có sự đồng
ý
của bên
nhượng quyền. Theo điều 20 của Nghị định 35/2006/NĐ-CP,
Bên
nhận
quyền có thể chuyển nhượng quyền thương mại cho
bên
dự kiến nhận quyền
khác với một số điều kiện, trên thực
tế
đây là khoản nguy hiểm, vì quá
rủi ro cho Bên nhượng quyền. Các dịch vụ cao cấp như nhà hàng KFC
không thể cho bất cứ
người

nào vào kinh doanh cũng ñược. Bên nhượng
quyền có quyền
xem
xét độ tin cậy, khả năng tài chính, tay nghề của bên
nhận
quyền
trước khi nhận. Nếu không, mọi thiệt hai do bên nhận quyền
gây
ra sẽ ảnh hưởng đến uy tín của tòan bộ hệ thống nhượng
quyền
5. Đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại
Hoạt động nhượng quyền thương mại, bao gồm việc ký kết, g
ia
hạn,
chuyển nhượng hoặc bổ sung hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
được đăng ký tại Sở Thương mại nơi bên
nhận
quyền có trụ sở. Bộ
Thương mại thực hiện đăng ký đối với
hai
trường hợp sau: (i) nhượng
quyền thương mại từ nước ngoài
vào
Việt Nam và (ii) nhượng quyền
thương mại từ Việt Nam ra
nước
ngoài. Hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động
nhượng quyền thương
mại
bao

gồm:
+ Đơn
đăng ký hoạt đ ộng nhượng quyền thương mại t
heo
mẫu,
Chú ý: mẫu nộp cho Bộ Thương mại có một
số
điểm khác với mẫu
nộp cho các Sở thương mạ
i;

+ Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu
;

+ Bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đ ă n g


kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đ
ương;

+ Bản sao có công chứng văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài trong trường
hợp
có chuyển giao
quyền sử dụng các đối tượng sở
hữu

công

nghiệp.

+
Giấy tờ chứng minh sự chấp thuận về việc cho
phép
nhượng quyền
lại của bên nhượng quyền ban đầu
trong
trường hợp thương nhân
đăng ký hoạt động nhượng quyền là bên nhượng quyền thứ
cấp.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ

quan
đăng ký có trách nhiệm phải đ ăng ký hoặc ra quyết đ
ịnh

từ
chối và thông
báo bằng văn bản cho người nộp đơn. Các
thông
tin về tình hình đ ăng ký
hoạt động nhượng quyền thương mại
sẽ
được đăng lên website của Bộ
Thương mạ
i.

12
Hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mạ
i
phải

đ ược gửi đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền không chậm quá
15 ngày làm việc kể từ ngày hai Bên ký
hợp

ñồng.
Tuy nhiên, nếu các bên
không đ ăng ký hợp đồng mà
vẫn
tiến hành thì hợp đồng nhượng quyền
vẫn có hiệu lực, song
Bên
không đăng ký có thể bị phạt và kiểm tra xem
việc thực hiện
hợp
đồng có tuân thủ quy định pháp luật
không.

III. Ưu điểm và nhược điểm của nhượng quyền thương mại
1. Ưu điểm
a. Đối với bên nhượng quyền
- Mở rộng được quy mô kinh doanh và hệ thống phân phối của mình một
cách nhanh nhất.
- Giảm chi phí phát triển thị trường và thêm nguồn thu ổn định từ khoản phí
nhượng quyền.
- Tạo dựng cho một hệ thống liên kết mạnh về thương mại và tài chính.
- Thâm nhập và thăm dò hiệu quả đầu tư trên các thị trường mới một cách
nhanh chóng với chi phí rủi ro thấp nhất.
- Tận dụng nguồn lực “địa phương” để thâm nhập hiệu quả vào thị trường nội
địa của các quốc gia đang phát triển mà không phải đối mặt với bất kỳ một
rào cản thương mại hoặc pháp lý nào…

b. Đối với bên nhận quyền
- Kinh doanh một thương hiệu có uy tín với số vốn đầu tư nhỏ
- Giảm thiểu các rủi ro do không phải đầu tư xây dựng một thương hiệu mới.
- Sản phẩm, dịch vụ và hệ thống họat động được chuẩn hóa.
- Hệ thống tài chính và số sách kế toán được thực hiện theo một chuẩn mực.
- Được đào tạo, huấn luyện về quản lý và kinh doanh.
- Hỗ trợ từ các chương trình tiếp thị và khuyến mãi của thương hiệu.
- Quảng cáo tại nơi bán hàng.
- Các họat động hỗ trợ trọn gói, thống nhất

13
- Có phương pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm đồng bộ.
2. Nhược điểm
a. Đối với bên nhượng quyền
- Mất quyền kiểm soát và quyền năng trong kinh doanh.
- Sự tranh chấp của các cơ sở kinh doanh.
- Thiên vị cho một bên nhận nhượng quyền nào đó.
- Hoạt động không kém của một đơn vị sẽ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu…
b. Đối với bên nhận quyền
- Không phải là thương hiệu riêng của mình.
- Chia sẽ rủi ro kinh doanh của bên nhượng quyền.
- Sự bùng nỗ của các đối thủ cạnh tranh trong cùng hệ thống.
- Hoạt động kinh doanh theo khuôn khổ được qui định trước.
- Không phát huy được khả năng sáng tạo trong kinh doanh.
- Giúp thương hiệu của bên nhượng quyền ngày càng lớn mạnh…
3. Những khó khăn của các nhà nhượng quyền do sự thiếu hoàn chỉnh
của pháp luật về nhượng quyền thương mại
Nếu nhìn qua một mục của Luật Thương mại [Mục 8, Chương VI, 1],
một nghị định và một thông tư về hoạt động nhượng quyền thương mại của
Việt Nam thì ta thấy dường như các nhà xây dựng luật Việt Nam vẫn chưa có

quan tâm đúng mức với hoạt động kinh doanh này.
Pháp luật về nhượng quyền thương mại hiện nay của Việt Nam chủ yếu
quy định vấn đề đăng ký, quản lý nhà nước với hoạt động này mà thiếu những
hướng dẫn cần thiết cho các nhà nhượng quyền cũng như các bên nhận quyền
trong hoạt động nhượng quyền thương mại, chưa quy định những vấn đề như
bên nhượng quyền có thể thiết lập sự kiểm soát đến mức nào, có giới hạn cho
vấn đề này hay không, trách nhiệm pháp lý của bên nhận quyền khi vi phạm
vào các tiêu chuẩn và có hành vi xâm hại các quyền sở hữu trí tuệ của bên
nhượng quyền, vấn đề chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng nhượng quyền do lỗi của
một bên. Với những thiếu sót như vậy các nhà nhượng quyền Việt Nam đang
phải tự mình tích luỹ kinh nghiệm từ những thành công cũng như thất bại từ

14
thực tiễn hoạt động nhượng quyền thương mại để xây dựng hệ thống nhượng
quyền của mình và vẫn trông chờ vào sự thay đổi và hoàn thiện của các quy
định pháp luật về vấn đề này.
Mặt khác, chúng ta chưa có nền tảng pháp lý để giải quyết những tranh
chấp có thể xảy ra giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền và với bên thứ
ba có liên quan tới hoạt động kiểm soát đã trình bày ở trên. Ví dụ, khi một
bên nhận quyền trốn tránh khỏi nghĩa vụ bị kiểm soát bởi bên nhượng quyền
thì bên nhượng quyền có thể đơn phương huỷ bỏ hợp đồng với bên nhận vi
phạm nếu không may bên nhượng không thiết lập vấn đề này trong hợp đồng
nhượng quyền?; hay khách hàng có thể kiện đòi bồi thường từ một bên
nhượng quyền với các thiệt hại xảy ra do các khiếm khuyết của hàng hóa
cung cấp bởi bên nhận quyền và bên nhượng quyền có thể thoả thuận trong
hợp đồng nhượng quyền về việc tránh khỏi trách nhiệm đó hay không?…
Trong thực tế hoạt động nhượng quyền phần nhiều các nhà làm luật chỉ
chú trọng đến việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ dùng trong kinh doanh, dù
các quy định trong vấn đề này cũng chưa hoàn toàn rõ ràng, mà quên đi hoạt
động kiểm soát của bên nhượng quyền và các vấn đề đi kèm với nó, trong khi

đó bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền luôn gắn
liền với hoạt động kiểm soát này. Bởi vậy sẽ là một trở ngại để giải quyết
những tranh chấp phát sinh từ hoạt động nhượng quyền thương mại có liên
quan tới việc thiết lập và thực thi cơ chế kiểm soát của bên nhượng quyền với
công việc kinh doanh của bên nhận quyền.
Trong thời gian gần đây, các nhà nhượng quyền thương mại nước ngoài
đang bành trướng hệ thống và thương hiệu của nình tại thị trường Việt Nam,
từ các đại gia trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống như KFC, Lotteria, Gloria Jean
Café (Coffee Bean & Tea Leaf, Bread Talk, Pizza Hut, Luis Vuitton,
Gucci)… cho đến các nhà nhượng quyền trong lĩnh vực bất động sản quốc tế
như Sotheby’s International Realty Affiliates, Inc. (hay Coldwell Banker Real
Estate Corporation), nhiều chuyên gia kinh tế cũng đã dự báo một xu thế
nhượng quyền thương mại mạnh mẽ trong tương lai của các nhà nhượng
quyền quốc tế và Việt Nam trong mọi lĩnh vực, kể cả tài chính kế toán. Khó
khăn chung cho các nhà nhượng quyền Việt Nam sẽ là sự thiếu kinh nghiệm
hơn so với các nhà nhượng quyền nước ngoài và như vậy họ cũng sẽ gặp khó
khăn khi cạnh tranh với các nhà nhượng quyền nước ngoài do thua kém về
chất lượng hàng hoá dịch vụ và khả năng kiểm soát với hệ thống nhượng
quyền và các bên nhận quyền. Nguyên nhân một phần do pháp luật về nhượng
quyền thương mại của chúng ta còn thiếu quá nhiều những quy định cần thiết
để tạo điều kiện cho các nhà nhượng quyền trong nước nhượng quyền thành
công và bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ dùng trong kinh doanh và giúp họ
tiếp cận gần hơn với hoạt động nhượng quyền quốc tế.

15
IV. KẾT LUẬN
Với những dự đoán khả quan về sự phát triển của hoạt động nhượng
quyền thương mại trong tương lai, chúng ta cần có những nhận thức đầy đủ
về nó, đặc biệt trong vấn đề kiểm soát của bên nhượng quyền đối với công
việc kinh doanh của bên nhận quyền. Trong hệ thống nhượng quyền thương

mại, hoạt động của bên nhận quyền có ảnh hưởng lớn tới thương hiệu chung
mà hai bên, bên nhận quyền và bên nhượng quyền đang cùng sử dụng. Chính
bởi vậy bất cứ nhà nhượng quyền nào cũng cần có đánh giá đúng mức và có
kế hoạch kiểm soát hợp lý với các bên nhận quyền trong hệ thống nhượng
quyền. Một sự kiểm soát tốt có thể tạo nên cấu trúc bền vững giữa bên
nhượng quyền và bên nhận quyền trong mạng lưới nhượng quyền thương mại
và giữa mạng lưới nhượng quyền đó với khách hàng và các bên thứ ba khác.
Để thiết lập một cơ chế kiểm soát hợp lý bên nhượng quyền cần thực hiện
nhiều bước và các bước đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong một tổng
thể chung của hoạt động kiểm soát của bên nhượng quyền, từ lúc thu thập
thông tin ban đầu cho đến lúc hết hiệu lực của hợp đồng. Tuỳ thuộc vào hệ
thống nhượng quyền và tính chất của thương hiệu bên nhượng quyền có thể
thiết lập những sự kiểm soát khác nhau với hoạt động kinh doanh của các bên
nhận quyền, song sự kiểm soát đó phải dựa trên những ý kiến chuyên môn,
trên những phân tích khoa học và những tính toán khả thi về năng lực của bên
nhận quyền tương lai và của cả bên nhượng quyền. Thiết lập và thực thi được
một sự kiểm soát hiệu quả đem lại nhiều lợi ích cho bên nhượng quyền và bên
nhận quyền, hạn chế được những tranh chấp và thiệt hại không đáng có cho cả
hai bên. Để được như vậy thì bên nhượng quyền cũng cần cẩn trọng trong
việc thiết lập các điều khoản về kiểm soát trong hợp đồng nhượng quyền.
Một môi trường kinh doanh tốt cần có một nền tảng pháp luật vững vàng và
minh bạch, yêu cầu này đúng với cả hoạt động nhượng quyền thương mại.
Các nhà làm luật cần hoàn thiện các quy định pháp luật về nhượng quyền
thương mại nói chung và vấn đề kiểm soát của bên nhượng quyền nói riêng.
Những thiếu sót của pháp luật về kiểm soát trong nhượng quyền cần được bổ
sung căn cứ trên những nghiên cứu thực tiễn và khoa học về nhượng quyền
thương mại.
Để hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh
mẽ và đúng hướng cần thực hiện tốt các yêu cầu đã nêu để lý luận và thực tiễn
hoạt động kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền phù hợp

với nhau, pháp luật về hoạt động kiểm soát có tính khả thi và hỗ trợ được cho
hoạt động nhượng quyền.
V. Tình huống tranh chấp

16
Tình huống Tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa ông Đoàn
Minh Phúc và DNTN Ba Huân:
Căn cứ vào hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa ông Đòan
Minh Phúc và DNTN Ba Huân do bà Phạm Thị Huân làm chủ (bà Phạm Thị
Kim Anh đại diện ký hợp đồng) và lời khai nhận của các bên đương sự tại
phiên tòa thì ông Đòan Minh Phúc có chuyển giao công nghệ chế biến trứng
vịt bắc thảo cho DNTN Ba Huân với giá thỏa thuận là 40.000.000 đồng, ông
Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng
Lẽ ra, sau khi được chuyển giao công nghệ, nếu có khiếu nại về chất lượng
sản phẩm thử nghiệm (nghĩa là khiếu nại về hiệu quả của công nghệ) thì
DNTN Ba Huân phải có trách nhiệm lưu giữ kết quả thử nghiệm để nhờ cơ
quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu
giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả
thử nghiệm mà không có lý do chính đáng.
Do đó, khiếu nại của DNTN Ba Huân cho rằng kết quả thử nghiệm không đạt
là không có cơ sở để được chấp nhận.
Bản án số : 1929/2007/KDTM-ST Ngày : 16/10/2007
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong các ngày 11 và 16 tháng 10 năm 2007, tại phòng xử án của Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số
337/2007/TLST-KDTM ngày 25 tháng 5 năm 2007 về tranh chấp hợp đồng
chuyển giao công nghệ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1806/2007/QĐST-KDTM ngày 03 tháng 10 năm 2007 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Ông ĐÒAN MINH PHÚC
Địa chỉ : 165 đường Lò Hột, Phường 5, TX. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (Có mặt)

Bị đơn : Bà PHẠM THỊ HUÂN – Chủ DNTN BA HUÂN
Địa chỉ : 28 Nguyễn Đình Chi, Phường 9, Quận 6, TPHCM
Đại diện : Ông Đặng Minh Thành, GUQ ngày 25/7/2007 (Có mặt)
Bảo vệ quyền lợi cho bị đơn : Luật sư Trần Văn Sỹ,
Đòan luật sư tỉnh Vĩnh Long
NHẬN THẤY

17
- Nguyên đơn trình bày :
Ngày 22/3/2007, ông Đòan Minh Phúc có ký hợp đồng chuyển giao công
nghệ chế biến hột vịt bắc thảo cho Doanh nghiệp tư nhân Ba Huân với giá trị
chuyển giao là 40.000.000 đồng. Các bên đã tiến hành thử nghiệm đạt yêu cầu
nhưng DNTN Ba Huân không chịu thanh tóan số tiền còn lại là 35.000.000
đồng (ông Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng).
Do đó, ông Phúc khởi kiện yêu cầu DNTN Ba Huân phải thanh tóan tiếp số
tiền còn lại của hợp đồng là 35.000.000 đồng.
- Bị đơn trình bày :
Xác nhận có ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ chế biến
hột vịt bắc thảo với ông Đòan Minh Phúc với trị giá 40.000.000 đồng, ông
Phúc đã ứng trước 5.000.000 đồng và cũng đã tiến hành thử nghiệm. Tuy
nhiên, DNTN Ba Huân không đồng ý thanh tóan tiếp số tiền còn lại của hợp
đồng là 35.000.000 đồng vì kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu và ông
Phúc cũng không đồng ý thử nghiệm lại theo đề nghị của DNTN Ba Huân.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, các bên đương sự vẫn
giữ nguyên ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay :
- Nguyên đơn : Yêu cầu Chủ DNTN Ba Huân phải thanh tóan số tiền còn nợ
của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 là 35.000.000 đồng.
- Bị đơn : Không đồng ý thanh tóan tiếp cho nguyên đơn số tiền còn lại của
hợp đồng là 35.000.000 đồng vì kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu

- Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn :
+ Các bên đã cùng kiểm tra kết quả thử nghiệm, kết quả không đạt (so với
thành phẩm của một cơ sở khác).
+ Lẽ ra, DNTN Ba Huân có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước (5.000.000
đồng) nhưng vì thiện chí, DNTN Ba Huân không yêu cầu ông Phúc phải trả
lại.
+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa hai bên có thể bị vô hiệu vì ông
Phúc có thể đã sử dụng công nghệ thuộc quyền sở hữu của người khác mà
không được phép. Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì ông Phúc cũng không có
quyền đòi thanh tóan số tiền còn lại của hợp đồng.

18
+ Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định :
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án :
Đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại (chuyển giao công nghệ) giữa
các cá nhân đều có mục đích lợi nhuận, bị đơn có địa chỉ kinh doanh và cư trú
tại TPHCM. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2, Điều 29, khỏan 1 Điều 34, khoản 1
Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; vụ tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân TPHCM theo thủ tục tố tụng dân sự.
2. Về thời hiệu khởi kiện :
Ngày 22/3/2007, các bên ký hợp đồng. Đầu tháng 5/2007, phát sinh tranh
chấp. Ngày 04/5/2007, nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án.
Căn cứ vào điểm a, khoản 3, Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã
làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án trong thời hạn quy định (2 năm kể từ
ngày quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm), do đó, cần
được chấp nhận thụ lý để giải quyết.

3. Về nội dung tranh chấp :
Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi Chủ DNTN Ba Huân phải thanh tóan số
tiền còn nợ của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 là
35.000.000 đồng:
Căn cứ vào hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa ông Đòan
Minh Phúc và DNTN Ba Huân do bà Phạm Thị Huân làm chủ (bà Phạm Thị
Kim Anh đại diện ký hợp đồng) và lời khai nhận của các bên đương sự tại
phiên tòa thì ông Đòan Minh Phúc có chuyển giao công nghệ chế biến trứng
vịt bắc thảo cho DNTN Ba Huân với giá thỏa thuận là 40.000.000 đồng, ông
Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng. Các bên cũng đã thống nhất xác
nhận:
Từ ngày 18 đến ngày 28 tháng 3 năm 2007, ông Phúc đã tiến hành chuyển
giao công nghệ cho DNTN Ba Huân bằng việc chế biến thử nghiệm 10 ổ
trứng vịt bắc thảo với sự chứng kiến của đại diện DNTN Ba Huân. Việc thử
nghiệm đã hòan tất và các bên đã tiến hành kiểm tra kết quả thử nghiệm. Tuy

19
nhiên, tại thời điểm này, bắt đầu phát sinh tranh chấp vì hai bên không thống
nhất ý kiến đánh giá kết quả thử nghiệm: ông Phúc cho rằng kết quả đã đạt
yêu cầu (5/10), còn DNTN Ba Huân cho rằng không đạt (chỉ đạt 2/5). Ông
Phúc yêu cầu niêm phong chờ giải quyết nhưng DNTN Ba Huân không đồng
ý và đã tự đem tiêu hủy tòan bộ sản phẩm thử nghiệm (10 ổ trứng vịt) mà
không có sự đồng ý và cũng không có sự chứng kiến của ông Phúc hoặc đại
diện chính quyền địa phương hoặc cơ quan chức năng.
Lẽ ra, sau khi được chuyển giao công nghệ, nếu có khiếu nại về chất lượng
sản phẩm thử nghiệm (nghĩa là khiếu nại về hiệu quả của công nghệ) thì
DNTN Ba Huân phải có trách nhiệm lưu giữ kết quả thử nghiệm để nhờ cơ
quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu
giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả
thử nghiệm mà không có lý do chính đáng (DNTN Ba Huân cho rằng do lo sợ

dịch cúm gia cầm và ô nhiễm môi trường là không có cơ sở vì trứng nguyên
liệu do chính DNTN Ba Huân cung cấp, phải bảo đảm không nhiễm vi rút
trước khi đưa vào thử nghiệm,và việc ô nhiễm môi trường phải có cơ quan y
tế xác nhận mới có cơ sở). Trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án cũng như tại
phiên tòa hôm nay, các bên đương sự không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám
định công nghệ đã được chuyển giao theo hợp đồng.
Do đó, khiếu nại của DNTN Ba Huân cho rằng kết quả thử nghiệm không đạt
là không có cơ sở để được chấp nhận. Yêu cầu của ông Đòan Minh Phúc phù
hợp với quy định của pháp luật tại các điều 292 và 297 Luật thương mại năm
2005; Điều 412 Bộ luật dân sự năm 2005, nên có cơ sở để được chấp nhận
4. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 15, 18 và 19
Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án :
- Chủ DNTN Ba Huân phải chịu án phí sơ thẩmtrên số tiền phải trả cho ông
Đòan Minh Phúc.
- Ông Đòan Minh Phúc không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số
tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 292 và 297 Luật thương mại năm 2005; Điều 412 Bộ luật
dân sự năm 2005; Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự;

20
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị Huân
- Chủ DNTN Ba Huân, phải thanh tóan cho ông Đòan Minh Phúc số tiền còn
nợ của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa hai bên là
35.000.000 đ (ba mươi lăm triệu đồng).
2. Về án phí :
- Bà Phạm Thị Huân phải chịu án phí sơ thẩm là 1.750.000 đ ( một triệu bảy
trăm năm chục ngàn đồng).

- Ông Đòan Minh Phúc không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 875.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 002029 ngày 23
tháng 5 năm 2007 của Thi hành án dân sự TPHCM).
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Đòan Minh Phúc, nếu bà
Phạm Thị Huân không chịu thanh toán số tiền nói trên thì còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân
hàng Nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Tóm tắt tình huống trên:
Căn cứ vào hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa ông Đòan
Minh Phúc và DNTN Ba Huân do bà Phạm Thị Huân làm chủ (bà Phạm Thị
Kim Anh đại diện ký hợp đồng) thì ông Đòan Minh Phúc có chuyển giao
công nghệ chế biến trứng vịt bắc thảo cho DNTN Ba Huân với giá thỏa thuận
là 40.000.000 đồng, ông Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng.
Từ ngày 18 đến ngày 28 tháng 3 năm 2007, ông Phúc đã tiến hành chuyển
giao công nghệ cho DNTN Ba Huân bằng việc chế biến thử nghiệm 10 ổ
trứng vịt bắc thảo với sự chứng kiến của đại diện DNTN Ba Huân. Việc thử
nghiệm đã hòan tất và các bên đã tiến hành kiểm tra kết quả thử nghiệm. Tuy
nhiên, tại thời điểm này, bắt đầu phát sinh tranh chấp vì hai bên không thống
nhất ý kiến đánh giá kết quả thử nghiệm. Ông Phúc yêu cầu niêm phong chờ
giải quyết nhưng DNTN Ba Huân không đồng ý và đã tự đem tiêu hủy tòan
bộ sản phẩm thử nghiệm (10 ổ trứng vịt) mà không có sự đồng ý và cũng
không có sự chứng kiến của ông Phúc hoặc đại diện chính quyền địa phương
hoặc cơ quan chức năng.
Lẽ ra, sau khi được chuyển giao công nghệ, nếu có khiếu nại về chất lượng
sản phẩm thử nghiệm (nghĩa là khiếu nại về hiệu quả của công nghệ) thì
DNTN Ba Huân phải có trách nhiệm lưu giữ kết quả thử nghiệm để nhờ cơ

21

quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu
giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả
thử nghiệm mà không có lý do chính đáng (DNTN Ba Huân cho rằng do lo sợ
dịch cúm gia cầm và ô nhiễm môi trường là không có cơ sở vì trứng nguyên
liệu do chính DNTN Ba Huân cung cấp, phải bảo đảm không nhiễm vi rút
trước khi đưa vào thử nghiệm,và việc ô nhiễm môi trường phải có cơ quan y
tế xác nhận mới có cơ sở).
Nguyên đơn : Yêu cầu Chủ DNTN Ba Huân phải thanh tóan số tiền còn nợ
của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 là 35.000.000 đồng.
Bị đơn : Không đồng ý thanh tóan tiếp cho nguyên đơn số tiền còn lại của
hợp đồng là 35.000.000 đồng vì kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu.
Quyết định của Tòa án:
Áp dụng các điều 292 và 297 Luật thương mại năm 2005; Điều 412 Bộ luật
dân sự năm 2005; Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị
Huân - Chủ DNTN Ba Huân, phải thanh tóan cho ông Đòan Minh
Phúc số tiền còn nợ của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày
22/3/2007 giữa hai bên là 35.000.000 đ (ba mươi lăm triệu đồng).













22
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Luật thương mại 2005
2. Nghị định 35/2006/N Đ-CP qui định chi tiết Luật thương mại về hoạt
động nhượng quyền thương mại
3. Thông tư số 09/2006/TT_BTM hướng dẫn đăng kí hoạt động nhượng
quyền thương mại
4.
5. />d%E1%BB%93ng-nh%C6%B0%E1%BB%A3ng-quy%E1%BB%81n-
franchise-agreement/
6. />dieu-khoan-chinh-cua-mot-hop-dong-nhuong-quyen-thuong-mai/3668.html
7. www.phapluattp.vn

×