Tải bản đầy đủ (.pdf) (303 trang)

Luận án hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 303 trang )

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tác động của cuộc cách mạng cơng
nghiệp 4.0, có nhiều vấn đề các ngành kinh tế cũng như các doanh nghiệp sản xuất phải
quan tâm để chọn được mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Hiện nay, ngành
công nghiệp sản xuất giấy là một trong những ngành được Chính phủ hết sức quan tâm.
Tuy nhiên, ngành cơng nghiệp sản xuất giấy đang phải đối mặt với một loạt các thách
thức để duy trì tính cạnh tranh trong một lĩnh vực mà chi phí nguyên liệu và năng
lượng chiếm một phần rất lớn trong chi phí sản xuất. Thách thức lớn nhất hiện nay đó
là giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động cùng với các phương pháp xanh
hơn để sản xuất giấy với chất lượng tốt, đồng thời tuân thủ các quy định nghiêm ngặt
về môi trường. Mặt khác, ngành công nghiệp sản xuất giấy nước ta đang có nguy cơ thua
ngay trên sân nhà khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế ngày càng sâu và rộng với khu
vực và thế giới bởi giấy của các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonexia, Malaixia
và các nước khác trên thế giới sẽ tràn vào Việt Nam, đe dọa sự sống còn của các doanh
nghiệp sản xuất giấy nội địa. Để đứng vững và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp sản
xuất giấy Việt Nam phải có những biện pháp mang tính tổng lực nhằm tận dụng thời cơ
và sức mạnh, đồng thời khắc phục khó khăn và thách thức.
Quy hoạch phát triển ngành cơng nghiệp sản xuất giấy Việt Nam đến năm 2025
với quan điểm chủ đạo phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy theo hướng hiện đại,
bền vững gắn với nhiệm vụ bảo vệ mơi trường. Theo đó, đẩy mạnh áp dụng công nghệ
tiên tiến trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm; giảm tiêu
hao nguyên nhiên vật liệu, tiết kiệm năng lượng; tập trung xây dựng thương hiệu, nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; huy động mọi nguồn lực xã hội để đầu tư, sản
xuất; xây dựng các tập đồn đủ mạnh, có tiềm năng tài chính, nhà máy có cơng suất lớn
và chất lượng sản phẩm cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tăng khả năng xuất khẩu.
Quy hoạch cũng đặt ra các mục tiêu đến năm 2025, tỷ lệ thu hồi giấy các loại trong nước
đạt 65%; đáp ứng khoảng 75-80% nhu cầu tiêu dùng trong nước, giảm tỷ lệ nhập khẩu;
không cấp phép và dần loại bỏ các nhà máy giấy lạc hậu đang tồn tại với quy mô dưới
10.000 tấn/năm.


Mặc dù có thị trường khá rộng nhưng ngành công nghiệp sản xuất giấy là một
trong số những ngành có mức độ cạnh tranh gay gắt, nhất là với các sản phẩm ngoại
nhập. Hiện nay sức cạnh tranh của giấy nội với giấy ngoại rất thấp. Ngành công nghiệp
sản xuất giấy Việt Nam có trình độ cơng nghệ lạc hậu, quy mô không lớn, giá giấy cao
trong khi chất lượng giấy thấp chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Trong khi đó, giấy
ngoại nhập có sức cạnh tranh rất lớn, giá rẻ, chất lượng lại tốt hơn. Nhiều chuyên gia kinh


2
tế cho rằng đây cũng là khó khăn chung của ngành công nghiệp sản xuất giấy trong nước,
tồn tại từ nhiều năm nay. Vấn đề lớn nhất của các doanh nghiệp nội địa là thiếu vốn cho
đầu tư, nâng cấp trang thiết bị cơng nghệ, cùng với chi phí đầu vào biến động tăng khơng
ngừng, dẫn đến sản phẩm có mẫu mã, chất lượng kém, giá thành cao. Do vậy để từng
bước vượt qua khó khăn và phát triển, khơng còn cách nào khác là phải tận dụng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật sẵn có, đẩy mạnh nghiên cứu, sáng tạo nhằm tiết kiệm chi phí, tăng năng
suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để cạnh tranh.
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận quan trọng của hệ thống KTQT doanh
nghiệp, có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí nhằm mục tiêu lập dự tốn,
xây dựng định mức, kiểm sốt chi phí, ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất kinh
doanh tối ưu,…Để phục vụ tốt hơn cho việc quản trị chi phí ở các doanh nghiệp và đưa ra
các quyết định hợp lý cần có sự hiểu biết đầy đủ, khoa học về bản chất, vai trò và nội
dung của kế tốn quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ,
cơng tác kế tốn chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy ở Việt Nam hiện nay mới
chỉ tập trung chủ yếu vào thông tin kế tốn tài chính phục vụ cho việc lập các báo cáo tài
chính. Việc cung cấp thơng tin kế tốn chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định hay lập
các kế hoạch sản xuất kinh doanh vẫn đang là vấn đề chưa được quan tâm và đầu tư đúng
mức. Điều này khiến cho các doanh nghiệp giấy ở Việt Nam khó có thể đứng vững trong
mơi trường cạnh tranh khu vực và thế giới. Thêm vào đó, trong môi trường cạnh tranh
ngày càng khốc liệt vượt tầm biên giới quốc gia, KTQT chi phí ngày càng thể hiện vai trò
quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà quản trị ra các quyết định hiệu quả. Tăng cường hệ

thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra
các quyết định là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị
thế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố
ngẫu nhiên đến việc áp dụng KTQT chi phí trong các DNSX giấy để có các giải pháp tác
động phù hợp giúp cho hệ thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy được hồn thiện trở
thành yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ lý luận và
thực tiễn đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế tốn quản trị chi phí trong
các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam” nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà
quản lý trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt cũng như tăng cường khả
năng thích ứng của doanh nghiệp trước tác động của cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra một
cách sâu rộng trên phạm vi toàn cầu.
2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Nhân tố quan trọng dẫn đến sự thành bại của các doanh nghiệp trên thương trường
chính là thơng tin cung cấp cho các nhà quản trị để từ đó đưa ra quyết định tối ưu trong
SXKD. Nền tảng cơ bản để doanh nghiệp giữ vững và phát triển vị thế của mình trên


3
thương trường chính là sử dụng KTQT chi phí. Các nghiên cứu cơ bản về KTQT chi phí
đã được thực hiện từ rất sớm tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển với các phương
pháp quản trị hiện đại, tiên tiến, sau đó được kế thừa và phát triển trên nhiều phương diện
tại nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
2.1. Các nghiên cứu về nội dung kế tốn quản trị chi phí
2.1.1. Nghiên cứu về nhận diện chi phí
Tại Mỹ, vào những năm đầu của thế kỉ XIX, sự phát triển mạnh cả về quy mô và
phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm
soát và đánh giá được hoạt động của chúng. Hoạt động KTQT chi phí bắt đầu từng bước
được áp dụng trong các ngành khác nhau. Tác giả Johnson, H. Thomas (1972) trong bài
viết về kế tốn chi phí phục vụ kiểm sốt quản trị nội bộ đã chỉ ra một trong các doanh
nghiệp áp dụng KTQT đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills. Để xác định được hiệu

quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ
phận, công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí
nhân cơng và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày [73].
Theo Nguyễn Quốc Thắng (2011), chi phí trong doanh nghiệp được phân loại theo
nhiều tiêu thức khác nhau: Phân loại theo tính chất kinh tế, nội dung kinh tế ban đầu của
chi phí; phân loại theo chức năng hoạt động; phân loại theo đầu vào của quá trình SXKD;
phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khoản mục trên báo cáo tài chính; phân loại
theo mối quan hệ của chi phí và khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế tốn chi
phí; phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động và phân loại chi phí
phục vụ ra quyết định. Kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp giống cây trồng cho thấy
các doanh nghiệp chỉ phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu của chi phí dưới góc
độ phục vụ cơng tác kế tốn tài chính. Mức độ coi trọng, đầu tư vào công tác phân loại
chi phí phục vụ hạch tốn nội bộ chưa cao. Để tăng cường chất lượng thơng tin KTQT
chi phí, tác giả đề xuất các doanh nghiệp ngành giống cây trồng áp dụng phân loại chi phí
theo mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động [37]. Theo Phạm Hồng Hải (2013),
Hồng Khánh Vân (2017), chi phí có thể được phân loại theo các tiêu thức như phân loại
theo chức năng, phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (theo cách ứng xử của
chi phí), phân loại theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí, phân loại theo sự ảnh
hưởng tới việc lựa chọn các phương án và phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát. Qua
kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp, các tác giả nhận định 100% các doanh nghiệp chỉ
phân loại chi phí theo yếu tố chi phí và theo khoản mục chi phí trong giá thành nhằm
phục vụ cho việc hạch tốn chi phí, tính giá thành sản phẩm và lập báo cáo tài chính.
Cách phân loại này chưa thực sự giúp cho việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Từ đó
các tác giả đề xuất việc phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động để làm


4
cơ sở cho việc thực hiện các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định quản lý.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các doanh nghiệp trong ngành nghiên cứu vận
dụng việc phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí để giúp nhà

quản trị có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của từng đối tượng, từ đó đưa ra được các
quyết định phù hợp [22], [44].
2.1.2. Nghiên cứu về xây dựng định mức và lập dự toán chi phí
Song song với tầm quan trọng ngày càng tăng của các hoạt động KTQT trong việc
đạt được mục tiêu tổ chức, các nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực KTQT chi phí đã tăng
lên trong những năm 2000 ở các thị trường mới nổi tiếp nối các nghiên cứu tiến hành tại
các thị trường đã phát triển. Các cơng trình này bao gồm phân loại chi phí, phân bổ chi
phí, phương pháp tính giá thành sản phẩm (xác định chi phí theo cơng việc, xác định chi
phí theo q trình sản xuất, xác định chi phí dựa trên hoạt động), chi phí tiêu chuẩn, lập
kế hoạch ngân sách, phân tích điểm hòa vốn và các chủ đề khác trong KTQT chi phí.
Nghiên cứu so sánh do Joshi (2001) tiến hành cho thấy rằng các công ty sản xuất Ấn Độ
dựa rất nhiều vào kỹ thuật KTQT truyền thống như biến phí, ngân sách cho hoạt động
hàng ngày, cơng cụ lập ngân sách vốn, đánh giá hiệu suất lợi nhuận trên vốn đầu tư và
đánh giá hiệu suất. Tuy nhiên, tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật phát triển gần đây như phân tích
giá trị cổ phiếu, đánh giá hiệu suất (các biện pháp định tính), xác định chi phí theo chu kỳ
sống của sản phẩm, lập ngân sách theo hoạt động, phân tích chuỗi giá trị, đo điểm chuẩn
và thẻ điểm cân bằng khá thấp và chậm [75].
Phạm Thị Thủy (2007) nghiên cứu về KTQT chi phí gắn với ngành sản xuất, đó là
ngành sản xuất dược phẩm. Vấn đề xây dựng định mức chi phí chưa được tác giả đề cập
trong hệ thống hóa về mặt lý luận. Vấn đề lập dự tốn chi phí được tác giả xem xét trên
cơ sở ước tính chi phí hỗn hợp với hai thành phần tách biệt: Chi phí biến đổi và chi phí cố
định. Tác giả nhận định doanh nghiệp cần lập dự tốn chi phí kinh doanh để có thể sử
dụng chi phí một cách có hiệu quả. Trên cơ sở các dự tốn kinh doanh, doanh nghiệp có
thể chủ động trong việc sử dụng các nguồn lực có hạn và có cơ sở để đánh giá hiệu quả
sử dụng chi phí của mình. Tác giả đã đề cập đến hai phương pháp lập dự tốn chi phí là
dự tốn tĩnh và dự toán linh hoạt [39]. Trần Thị Dự (2013) đã hệ thống hóa về mặt lý luận
cả hai phương diện xây dựng định mức và lập dự toán chi phí trong DNSX. Về xây dựng
định mức chi phí, tác giả xác định có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết
hợp các phương pháp: Phương pháp kỹ thuật, phương pháp phân tích số liệu lịch sử và
phương pháp điều chỉnh. Theo tác giả, định mức chi phí là chìa khóa để kiểm sốt chi phí

và là cơ sở để tổ chức kế tốn trách nhiệm vì định mức chi phí là một trong những thước
đo để đánh giá kết quả thực hiện của các trung tâm trách nhiệm, đặc biệt là các trung tâm
chi phí. Về lập dự tốn chi phí, tác giả đề cập đến dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt và vai


5
trị của từng loại dự tốn này trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Theo đó, dự tốn
tĩnh tốt cho việc lập kế hoạch nhưng lại không phù hợp cho việc đánh giá nhà quản lý
kiểm sốt chi phí có tốt hay khơng. Ngược lại, dự tốn linh hoạt sẽ có tác dụng cho mục
đích kiểm sốt và đánh giá nhà quản lý kiểm sốt chi phí, nhưng lại khơng hữu ích cho
việc lập dự tốn ngân sách. Đánh giá thực trạng xây dựng định mức và lập dự toán chi
phí tại các doanh nghiệp khảo sát, tác giả nhận định các doanh nghiệp vừa và lớn có tỷ lệ
xây dựng định mức và lập dự tốn chi phí cao hơn doanh nghiệp nhỏ, thực trạng xây
dựng định mức và lập dự tốn chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn ni
có mối liên hệ với quy mô doanh nghiệp [17]. Năm 2014, tác giả Trần Thị Thu Hường
trong nghiên cứu về Xây dựng mơ hình KTQT chi phí trong các DNSX xi măng Việt Nam
nhấn mạnh định mức chi phí và dự tốn chi phí là bộ cơng cụ hữu hiệu để kiểm sốt chi
phí. Định mức chi phí là cơ sở để lập dự tốn, ngược lại, dự toán là cơ sở để đánh giá,
kiểm tra định mức để có biện pháp hồn thiện định mức. Tác giả phân chia định mức
thành định mức lý tưởng và định mức thực tế. Về xây dựng định mức chi phí, tác giả giới
thiệu hai phương pháp là thống kê kinh nghiệm và kinh tế kỹ thuật. Doanh nghiệp có thể
kết hợp cả hai phương pháp để đem lại hiệu quả cao hơn trong việc xây dựng hệ thống
định mức chi phí. Về dự tốn chi phí, tác giả trình bày hai phương pháp lập dự tốn chi
phí là lập từ trên xuống và lập từ dưới lên. Kết quả khảo sát tại các DNSX xi măng cho
thấy các doanh nghiệp đã xây dựng định mức chi phí căn cứ vào định mức kinh tế kỹ
thuật của ngành và điều kiện sản xuất riêng của doanh nghiệp. Hệ thống dự toán được lập
dưới dạng dự toán tĩnh. Theo tác giả, để đảm bảo tính linh hoạt, chủ động trong kinh
doanh, các DNSX xi măng cần lập cả dự toán linh hoạt bên cạnh việc lập dự toán tĩnh
[28].
2.1.3. Nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí

Đến thập kỉ 80 của thể kỷ XIX, các nghiên cứu về KTQT chi phí bắt đầu phát
triển. Tuy nhiên, ở thời điểm đó thì vấn đề đặt ra cho KTQT chi phí chủ yếu chỉ là tính
tốn, xác định được chi phí phát sinh để có biện pháp tiết kiệm chi phí. KTQT chi phí có
những bước phát triển mới và bắt đầu được chuẩn hoá với sự ra đời của cuốn sách “The
Cost of Manufactures and the Administration of Workshops, Public and Private” của
Henry Metcalfe năm 1885, đưa ra một phương pháp mới để kiểm soát sản xuất và một hệ
thống kế toán mới dựa trên nguyên tắc trực tiếp phân bổ chi phí NVL và chi phí lao động
theo công việc [66].
Đến thập niên 60 của thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế
châu Âu – châu Á, đặc biệt là nền kinh tế Nhật Bản, cạnh tranh giữa các nền kinh tế ngày
càng gay gắt dẫn đến nhu cầu cần có một hệ thống KTQT chi phí hiệu quả hơn, hiện đại
hơn. KTQT chi phí khơng chỉ cần thiết ở các đơn vị sản xuất mà còn cần thiết trong các


6
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Có nhiều phương pháp KTQT chi phí mới ra đời nhằm
xác định chính xác hơn chi phí cho các đối tượng chịu chi phí như: Phương pháp chi phí
mục tiêu, phương pháp chi phí tiêu chuẩn. Tác giả Monden, Y. và Hamada, K. (1991),
Tanaka, T. (1993) cho thấy các phương pháp KTQT chi phí hiện đại được áp dụng có
hiệu quả tại các cơng ty sản xuất ô tô ở Nhật Bản. Nghiên cứu này phù hợp với các
DNSX có quy mơ lớn và quy trình sản xuất tiên tiến như áp dụng các tiêu chuẩn quản lý
ISO [83], [96]. Trong khi đó, một số nghiên cứu đã cho thấy rằng quy mơ có một ảnh
hưởng lớn trong việc áp dụng các phương pháp KTQT chi phí tiên tiến; tỷ lệ áp dụng cao
hơn ở các doanh nghiệp lớn hơn. Trong một nghiên cứu tiến hành trên 40 công ty công
nghiệp ở Ai Cập, Van Triest, S. and Elshahat, M.F. (2007) đã kết luận rằng thơng tin kế
tốn chi phí ở Ai Cập có sẵn ở mức độ cơ bản và được sử dụng nhiều hơn cho các mục
đích bên ngồi (định giá) hơn là cho mục đích nội bộ (hiệu suất). Họ cũng nhận thấy rằng
việc sử dụng các kỹ thuật kế toán chi phí tiên tiến, chẳng hạn như hệ thống chi phí dựa
trên hoạt động dường như khơng có [101].
Về phương pháp xác định chi phí, các nghiên cứu trong nước hầu hết tiếp cận theo

hai nhóm: Nhóm phương pháp truyền thống và nhóm phương pháp hiện đại. Nhóm
phương pháp truyền thống được hầu hết các nghiên cứu trong nước đề cập bao gồm
phương pháp xác định chi phí theo đơn đặt hàng (theo công việc) và phương pháp xác
định chi phí theo q trình sản xuất. Nguyễn Hoản (2012), Nguyễn Thanh Huyền (2015),
Lê Thị Minh Huệ (2016) tiếp cận phương pháp xác định chi phí truyền thống bao gồm
phương pháp chi phí trực tiếp, phương pháp chi phí tồn bộ, phương pháp chi phí thực tế
và phương pháp chi phí tiêu chuẩn [25], [29], [27]. Một số tác giả tiếp cận nhóm phương
pháp xác định chi phí truyền thống cịn giới thiệu thêm phương pháp chi phí thơng
thường. Nhóm phương pháp hiện đại bao gồm phương pháp xác định chi phí theo hoạt
động (ABC), phương pháp chi phí mục tiêu (Target Costing) và phương pháp chi phí
Kaizen (Kaizen costing). Ngồi ra, một số tác giả còn tiếp cận xác định chi phí theo chu
kỳ sống của sản phẩm. Theo Phạm Thị Thủy (2007), KTQT chi phí sẽ áp dụng các
phương pháp xác định chi phí khác nhau trong từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sản
phẩm nhằm tăng cường hiệu quả quản trị chi phí trong tồn bộ chu kỳ sống của sản
phẩm, cụ thể: Ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm, tác giả cho rằng phương
pháp xác định chi phí hợp lý nhất là phương pháp chi phí mục tiêu. Ở giai đoạn triển
khai, tăng trưởng, doanh nghiệp phải liên tục cải thiện chi phí thực tế sản xuất sản phẩm
nên phương pháp hợp lý là phương pháp chi phí Kaizen. Cuối cùng, ở giai đoạn bão hịa
và suy thối, phương pháp chi phí thích hợp là phương pháp chi phí tiêu chuẩn [39].
Nguyễn Thị Mai Anh (2014) chỉ rõ mục tiêu của phương pháp xác định chi phí theo chu
kỳ sản phẩm là xây dựng giá bán sản phẩm có khả năng bù đắp tất cả các chi phí phát


7
sinh trong chuỗi giá trị của sản phẩm đó [11]. Kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp
thuộc các đề tài nghiên cứu của các tác giả về việc áp dụng phương pháp xác định chi phí
cho thấy phương pháp hiện đại hầu như chưa được áp dụng mà chỉ tập trung vào một số
phương pháp truyền thống. Các tác giả đều đề xuất bên cạnh việc sử dụng phương pháp
truyền thống, các doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và quy
trình sản xuất mà kết hợp áp dụng phương pháp xác định chi phí hiện đại phù hợp để

nâng cao chất lượng thơng tin chi phí cung cấp cho nhà quản trị thực hiện các chức năng
quản trị doanh nghiệp. Tác giả Lê Thị Minh Huệ (2016) đề xuất các DNSX mía đường
Thanh Hóa với đặc thù sản xuất theo quy trình khép kín, trải qua nhiều cơng đoạn nên
cần tập hợp chi phí theo q trình sản xuất kết hợp với phương pháp chi phí thực tế và
định mức, từng bước áp dụng phương pháp chi phí Kaizen [27]. Đào Thúy Hà (2015) lại
căn cứ vào đặc điểm về tổ chức quản lý và quy trình sản xuất của các DNSX thép để đề
xuất áp dụng phương pháp xác định chi phí phù hợp, cụ thể: Đối với các doanh nghiệp có
cơ cấu tổ chức bộ phận đơn giản và bộ phận chức năng tham gia 1 hoặc 2 giai đoạn trong
chuỗi chế biến sẽ áp dụng phương pháp chi phí tiêu chuẩn; đối với các doanh nghiệp có
cơ cấu tổ chức bộ phận chiến lược tham gia 2 giai đoạn trong chuỗi chế biến sẽ áp dụng
phương pháp chi phí Kaizen; đối với các doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức bộ phận chiến
lược tham gia 3-4 giai đoạn trong chuỗi chế biến hoặc cơ cấu bộ phận chức năng – 3 giai
đoạn sẽ áp dụng thí điểm phương pháp ABC tại giai đoạn luyện thép, các giai đoạn khác
vẫn áp dụng phương pháp chi phí Kaizen. Khi việc áp dụng phương pháp ABC được
đánh giá là hiệu quả và được vận dụng thơng suốt thì sẽ lần lượt triển khai ở tất cả các
giai đoạn và toàn doanh nghiệp [21].
2.1.4. Nghiên cứu về phân tích chi phí
Tác giả Jan Richard Heier (2010) trong nghiên cứu “The foundations of modern
cost management:The life and work of Albert Fink” cho thấy KTQT chi phí cũng được áp
dụng tại cơng ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đường sắt vào năm 1840
khi phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công việc xử lý ngày càng
phức tạp. Sau Nội chiến, ngành đường sắt của Mỹ gặp khó khăn về lợi nhuận vì họ thiếu
hiểu biết về lợi ích của lợi nhuận ngắn hạn khi họ liên quan đến các khoản đầu tư dài hạn,
đặc biệt là đầu tư phải được nâng cấp và mở rộng liên tục. Vào đầu những năm 1870,
Albert Fink, Tổng giám đốc Louisville và Nashville Railroad, đã thử nghiệm một hệ
thống phân tích chi phí. Nói chung, mục đích của hệ thống do Fink đưa ra là đánh giá lợi
nhuận và hiệu quả của các hoạt động của đường sắt theo các khái niệm mang tính cách
mạng sau đó về chi phí biến đổi, chi phí cố định và phân bổ chi phí cho nhiều kỳ kế toán.
Các số liệu thống kê hoạt động của Fink, như doanh thu và chi phí trên mỗi tấn và dặm



8
hành khách, đã trở thành các tiêu chuẩn trong ngành công nghiệp và đã giúp Fink được
coi là "Cha đẻ của ngành kinh tế đường sắt" [71].
Trần Thị Dự (2012) tiếp cận phân tích chi phí trên các khía cạnh phân tích biến
động chi phí thơng qua phân tích thơng tin q khứ (định mức chi phí, dự tốn chi phí);
phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm; phân tích biến động
chi phí thơng qua báo cáo giá thành và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; phân tích
thơng tin thích hợp cho quá trình ra quyết định và dự báo tương lai. Tác giả giới thiệu các
phương pháp trong phân tích hoạt động kinh doanh như phương pháp so sánh, phương
pháp loại trừ để xác định mức biến động và nguyên nhân gây ra biến động của các nhân
tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu chi phí [17]. Nguyễn Thị Mai Anh (2014) quan tâm đến phân
tích chi phí chênh lệch; phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận; phân tích,
đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm và phân tích thơng tin chi phí
cho việc ra quyết định ngắn hạn như quyết định tiếp tục hay chấm dứt hoạt động của một
bộ phận, quyết định tự sản xuất chi tiết sản phẩm hay mua ngoài, quyết định tiếp tục sản
xuất sản phẩm hoàn chỉnh hay tiêu thụ ngay bán thành phẩm [11]…Hầu hết các nội dung
phân tích trên cũng được tác giả Đào Thúy Hà (2015) tập trung xem xét trong nghiên cứu
về Hoàn thiện KTQT chi phí trong các DNSX thép ở Việt Nam [21]. Nguyễn Phương
Ngọc (2016) với quan điểm coi các trung tâm trách nhiệm chi phí là đối tượng quản trị
chi phí cho rằng việc phân tích thơng tin chi phí thể hiện qua hai nội dung: (1) Đánh giá
hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm chi phí và (2) Phân tích thơng tin chi
phí cho việc ra quyết định tương lai. Tuy nhiên, kết quả khảo sát thực tế cơng tác phân
tích chi phí tại các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch lại phản ánh công tác này chưa
được coi trọng và còn khá đơn giản, chủ yếu dưới dạng so sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa
thực tế với kế hoạch. Tác giả đề xuất áp dụng lập báo cáo theo các nhóm định hướng hoạt
động, so sánh kết quả hoạt động và cung cấp thông tin chi phí cho việc ra quyết định để
đáp ứng u cầu cung cấp thơng tin chi phí cho quản trị doanh nghiệp [33].
2.1.5. Nghiên cứu về báo cáo kế tốn quản trị chi phí
Tác giả Alfred D. Chandler Jr. (1977) trong nghiên cứu của mình cho thấy trong

ngành luyện kim, KTQT chi phí được áp dụng từ rất sớm. Andrew Carnegie – Một doanh
nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng KTQT để QLDN của mình từ năm 1872. Dựa trên ý
tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, ơng đã chia
doanh nghiệp của mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán. Carnegie sử
dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tư và nhân cơng sử dụng ở từng bộ phận để kiểm
soát và đánh giá hoạt động của chúng. Việc kiểm soát chất lượng và cơ cấu vật liệu cũng
được thực hiện trong quá trình sản xuất. Bằng cách này Carnegie đã giảm được chi phí
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản xuất và đưa ra được giá


9
bán hợp lý. Không chỉ trong ngành đường sắt, luyện kim, KTQT chi phí trong giai đoạn
này cịn được áp dụng cả trong các ngành dầu khí, hố chất và cơ khí chế tạo. Tuy nhiên,
trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm soát được các CPSX trực tiếp và các
thơng tin chi phí chủ yếu tập trung vào làm thế nào để có lợi ích hơn đối với quản lý nội
bộ [49].
Tổ chức hệ thống báo cáo chi phí thực hiện và tổ chức hệ thống báo cáo chi phí để
ra quyết định ngắn hạn được tác giả Hồ Mỹ Hạnh (2014) giới thiệu trong các nội dung về
tổ chức hệ thống thơng tin chi phí thực hiện và tổ chức hệ thống thông tin kiểm sốt chi
phí và phân tích chi phí để ra quyết định [24]. Trần Thị Thu Hường (2014) nghiên cứu về
báo cáo bộ phận trong doanh nghiệp. Tác giả cho rằng để đánh giá trách nhiệm của bộ
phận thường thông qua việc phân tích báo cáo bộ phận sau một kỳ hoạt động hoặc dự
đoán các chỉ tiêu kinh tế cho kỳ tới. Báo cáo bộ phận thường có sự thay đổi khi thay đổi
cơ cấu tổ chức quản lý trong doanh nghiệp hoặc thay đổi các sản phẩm, dịch vụ, khu vực
kinh doanh hoặc thay đổi nhu cầu thông tin phục vụ cho hoạt động quản trị nội bộ. Từ mơ
hình quản lý doanh nghiệp và quy trình kiểm sốt chi phí của các DNSX xi măng theo
các trung tâm chi phí, tác giả đề xuất hệ thống báo cáo KTQT chi phí của các DNSX xi
măng cần chia thành 2 nhóm: Báo cáo bộ phận được lập tại các trung tâm chi phí và báo
cáo kế tốn về chi phí được lập chung tại phịng kế tốn doanh nghiệp. Tại các trung tâm
chi phí lập báo cáo để kiểm sốt và đánh giá chi phí phát sinh ở trung tâm lên các cấp

quản lý theo quy định. Tại phòng kế tốn, kế tốn chi phí, giá thành lập báo cáo tổng hợp
tồn doanh nghiệp để phân tích thơng tin chi phí và ra quyết định kinh doanh [28].
Nguyễn Phương Ngọc (2016) nhận định rằng KTQT chi phí cung cấp thơng tin chi phí
phục vụ kiểm sốt và đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm, trung
tâm trách nhiệm chi phí thơng qua hệ thống báo cáo KTQT chi phí. Đây là những báo cáo
được lập theo nhu cầu của nhà quản trị cho từng trung tâm trách nhiệm hoặc từng bộ
phận như phân xưởng, tổ, đội sản xuất, phòng, ban...trong doanh nghiệp. Để phục vụ cho
đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi bộ phận hoặc trung tâm trách nhiệm, trung tâm
trách nhiệm chi phí, báo cáo KTQT chi phí thường được lập theo dạng báo cáo so sánh
phản ánh lãi trên biến phí. Khi lập báo cáo KTQT chi phí cho từng bộ phận chức năng
(báo cáo bộ phận), chi phí cố định được tách thành chi phí cố định trực tiếp và chi phí cố
định chung [33]. Theo Lê Thị Minh Huệ (2016), nội dung và kết cấu của báo cáo KTQT
chi phí phải thể hiện được mục đích và mong muốn của nhà quản trị trong việc theo dõi,
phân tích, đánh giá các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu về
tính thích hợp, tính kịp thời và tính hiệu quả. Kết quả khảo sát tại các DNSX mía đường
Thanh Hóa cho thấy báo cáo KTQT chi phí trong các doanh nghiệp cịn mang tính tự
phát, chưa hệ thống và đồng bộ và điều này làm ảnh hưởng đến thơng tin KTQT chi phí


10
cung cấp. Tác giả đề xuất các DNSX mía đường cần lập hệ thống báo cáo KTQT chi phí
theo các nhóm: Báo cáo định hướng hoạt động kinh doanh, báo cáo quản trị phục vụ cho
kiểm sốt chi phí và báo cáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định [27].
Các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngồi chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu
và trình bày các phương pháp và các mơ hình KTQT hiện đại nhằm phục vụ thơng tin cho
quản trị chi phí. Những nghiên cứu về DNSX chủ yếu liên quan đến hệ thống quản lý chi
phí và quản lý kiểm sốt như phương pháp Activity – Based Cost (ABC) với các nghiên
cứu cụ thể như nghiên cứu của tác giả Henry Quesada-Pineda (2010) - The ABCs of Cost
Allocation in the Wood Products Industry [67], Ali Uyar (2010) - Cost and Management
Accounting Practices: A Survey of Manufacturing Companies [48], Nitin Kumar,

Dalgobind Mahto (2013) - Current Trends of Application of Activity Based Costing
(ABC) [85],…Như vậy, KTQT chi phí đã được các tác giả trên thế giới nghiên cứu từ rất
sớm với nhiều góc độ khác nhau.
Vấn đề KTQT chi phí gắn với từng ngành được nhiều tác giả trong nước nghiên
cứu như ngành Dược phẩm của các tác giả Phạm Thị Thủy (2007) – Xây dựng mơ hình
KTQT chi phí trong các DNSX dược phẩm Việt Nam và Nguyễn Thị Bình (2018), Hồn
thiện kế tốn quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa, ngành Giống cây trồng của tác giả Nguyễn Quốc Thắng (2011) – Tổ
chức KTQT chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây
trồng Việt Nam; ngành Bánh kẹo của tác giả Nguyễn Hoản (2012) – Tổ chức KTQT chi
phí trong các DNSX bánh kẹo của Việt Nam; ngành May của các tác giả Hồ Mỹ Hạnh
(2014) – Tổ chức hệ thống thơng tin KTQT chi phí trong các doanh nghiệp may Việt Nam
và Nguyễn Hải Hà (2016) – Hồn thiện tổ chức KTQT chi phí trong các doanh nghiệp
may Việt Nam; ngành Xi măng của tác giả Trần Thị Thu Hường (2014) - Xây dựng mơ
hình KTQT chi phí trong các DNSX xi măng Việt Nam; ngành Nhựa của tác giả Nguyễn
Thị Mai Anh (2014) – Hoàn thiện KTQT chi phí trong các CTCP nhựa niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam; ngành Thép của tác giả Đào Thúy Hà (2015) - Hồn thiện
KTQT chi phí trong các DNSX thép ở Việt Nam; ngành Mía đường của tác giả Lê Thị
Minh Huệ (2016) - Hoàn thiện KTQT chi phí trong các doanh nghiệp mía đường trên địa
bàn tỉnh Thanh Hố, ngành Dầu khí của tác giả Nguyễn Đào Tùng (2012) – Tổ chức
KTQT chi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí Việt Nam;
ngành Chế biến thức ăn chăn nuôi của tác giả Trần Thị Dự (2013) – Hồn thiện kế tốn
chi phí với việc tăng cường quản trị chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn
chăn nuôi; ngành Chế biến gỗ của tác giả Phạm Hồng Hải (2013) – Nghiên cứu quản trị
chi phí kinh doanh theo q trình hoạt động (ABC/M) trong các doanh nghiệp chế biến
gỗ Việt Nam; ngành Khai thác chế biến đá ốp lát của tác giả Lê Thị Hồng (2016), Hoàn


11
thiện hệ thống thơng tin kế tốn quản trị chi phí trong các doanh nghiệp khai thác chế

biến đá ốp lát ở Việt Nam; ngành Kinh doanh dịch vụ của các tác giả Nguyễn Phương
Ngọc (2016) - Hoàn thiện KTQT chi phí trong các cơng ty SXKD nước sạch thuộc khu
vực miền Bắc và Đặng Lan Anh (2019), Hoàn thiện hệ thống thơng tin kế tốn quản trị
chi phí tại các khách sạn thuộc tập đồn Mường Thanh,…Trong các cơng trình này, các
tác giả đã hệ thống hóa các nội dung cơ bản về KTQT nói chung và các vấn đề cụ thể của
KTQT chi phí nói riêng, đề xuất phương hướng ứng dụng vào các ngành cụ thể theo
phạm vi nghiên cứu của từng đề tài.
2.2. Các nghiên cứu về các vấn đề kế toán tại doanh nghiệp sản xuất giấy
Bùi Tiến Dũng (2018) nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp
sản xuất giấy – Nghiên cứu tại Tổng công ty giấy Việt Nam và các doanh nghiệp liên kết.
Tác giả tiếp cận tổ chức KTQT tại Tổng công ty Giấy Việt Nam và các doanh nghiệp liên
kết dưới góc độ tổ chức KTQT phục vụ cho 5 chức năng của nhà quản trị, đó là lập dự
tốn SXKD, quản trị chi phí – giá thành, đánh giá thành quả hoạt động, hỗ trợ việc ra
quyết định và hỗ trợ quản trị chiến lược. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã tiến
hành khảo sát 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giấy thành phẩm là Tổng
công ty giấy Việt Nam và 7 doanh nghiệp liên kết phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung,
Nam. Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm, luận án đã đánh giá mức độ áp dụng KTQT tại
các DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu, đồng thời xem xét vai trò của KTQT với tư
cách là cơng cụ hỗ trợ cho q trình quản lý trong doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho
thấy mặc dù chủ yếu dựa vào các kỹ thuật truyền thống, nhưng các kỹ thuật hiện đại của
KTQT cũng được các DNSX giấy bước đầu áp dụng ở mức độ nhất định trên cả 5 nội
dung cơ bản của tổ chức KTQT, gồm: KTQT chi phí, dự tốn SXKD, đánh giá thành quả,
hỗ trợ ra quyết định và hỗ trợ quản trị chiến lược. Về kế tốn quản trị chi phí, các đối
tượng được hỏi đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau của KTQT chi phí: Về phương pháp
xác định chi phí sử dụng phổ biến là phương pháp xác định chi phí theo q trình. Về
phương pháp tính giá thành sản phẩm chủ yếu các doanh nghiệp áp dụng phương pháp
tồn bộ. Về hệ thống dự tốn SXKD, nhìn chung hệ thống dự toán SXKD đã được tổ
chức áp dụng tại các DNSX giấy, đáng chú ý có dự toán về sản phẩm sản xuất và dự toán
CPSX sử dụng khá phổ biến. Tiếp theo là dự toán bán và dự tốn mua. Dự tốn báo cáo
tài chính và dự toán lưu chuyển tiền tệ áp dụng khá hạn chế. Các loại dự toán được các

doanh nghiệp lập chủ yếu thực hiện theo phương pháp truyền thống dựa vào dữ liệu quá
khứ là căn cứ để lập, tiếp đó là dự toán tĩnh. Phương pháp lập dự toán hiện đại như dự
toán linh hoạt chưa được quan tâm sử dụng. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc đánh giá cao vai
trị của KTQT trong doanh nghiệp chính là nhân tố quan trọng để thúc đẩy áp dụng các
kỹ thuật KTQT hiện đại trong thời gian tới tại các DNSX giấy Việt Nam, phù hợp yêu


12
cầu quản lý doanh nghiệp với lộ trình phát triển của ngành cũng như hội nhập quốc tế
[16].
Watchaneeporn Setthasakko (2010) nghiên cứu về rào cản phát triển kế toán quản trị
mơi trường thơng qua nghiên cứu thăm dị trong các cơng ty giấy và bột giấy ở Thái Lan.
Mục đích của nghiên cứu này là cố gắng đạt được sự hiểu biết về nguyên nhân gốc rễ của
các rào cản đối với sự phát triển của KTQT môi trường trong các tổ chức. Nghiên cứu sử
dụng các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các đối tượng trả lời phỏng vấn kèm theo quan
sát địa điểm. Những người cung cấp thơng tin chính bao gồm các nhà điều hành, quản lý
mơi trường và giám đốc kế tốn của 3 cơng ty giấy và bột giấy ở Thái Lan. Kết quả
nghiên cứu xác định nguyên nhân gốc rễ của các rào cản bao gồm thiếu xây dựng tổ chức
học tập, quan điểm hạn hẹp về hiệu quả kinh tế của các nhà quản lý và khơng có hướng
dẫn về KTQT mơi trường. Theo truyền thống, việc theo đuổi lợi nhuận được coi là tiền
đề chính khi hoạt động kinh doanh. Các cơng ty Thái Lan có xu hướng tập trung nhiều
hơn vào ngắn hạn hơn là dài hạn và thường từ chối bất kỳ dự án nào gây ra tổn thất ngày
hôm nay mặc dù họ sẽ phát triển trong tương lai. Họ cũng không xem xét những tác động
tiêu cực của các hoạt động của họ đối với cộng đồng. Sự tập trung hạn hẹp này vào lợi
ích kinh tế là bất lợi trong việc thực hiện trách nhiệm với môi trường và quản lý chuỗi
cung ứng xanh. Kết quả nghiên cứu hàm ý về mặt thực tiễn phát triển KTQT mơi trường
địi hỏi phải tăng kiến thức “xanh” và tạo ra một quan niệm rộng hơn về trách nhiệm của
cơng ty trong suốt q trình hoạt động. Ngồi ra, các cơ quan chính phủ phải đóng một
vai trị quan trọng trong việc thúc đẩy KTQT môi trường. Nghiên cứu này đóng góp cho
sự hiểu biết sâu sắc hơn về sự phát triển của các cơ chế tổ chức học tập và vai trị của các

chính phủ trong việc phát triển KTQT môi trường. Hạn chế của nghiên cứu thể hiện đây
chỉ là một nghiên cứu thăm dò tại một số DNSX giấy và bột giấy tại Thái Lan, những
phát hiện của nghiên cứu không thể được ngoại suy cho phạm vi rộng hơn [103].
2.3. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị
chi phí trong doanh nghiệp
Đã có những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước chỉ ra mối quan hệ và
ảnh hưởng của một số nhân tố đến việc áp dụng KTQT nói chung cũng như KTQT chi
phí nói riêng trong các doanh nghiệp. Khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp
dụng KTQT chi phí trong doanh nghiệp, tác giả nhận thấy phần lớn các nhà khoa học tập
trung xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung. Tác giả cho
rằng, KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống KTQT doanh nghiệp nên các nhân tố
ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT cũng sẽ tác động đến việc áp dụng KTQT chi phí.
Đồng thời, bằng phương pháp định tính và định lượng, các nghiên cứu đã xem xét và


13
đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung và KTQT chi phí nói
riêng ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Chenhall, R.H. & Langfield-Smith, K. (1998) trong một nghiên cứu về vận dụng và
lợi ích của thực hành KTQT tại các công ty sản xuất ở Australia đã giải thích lý do các
cơng ty sản xuất lớn có tỷ lệ vận dụng KTQT hiện đại cao hơn, đó là sự tăng lên về quy
mơ tổ chức sẽ dẫn đến sự phức tạp của cơ chế quản lý nên đòi hỏi các doanh nghiệp lớn
vận dụng các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn. Các doanh nghiệp quy mơ lớn thường có nhu
cầu thơng tin quản trị nhiều hơn cũng như có tiềm lực tài chính để tăng cường sử dụng
các phương pháp KTQT phức tạp hơn [56].
Wu, Junjie and Boateng, Agyenim (2010) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự
thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về
các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc. Phân tích đa
biến cho thấy quy mơ của cơng ty, đối tác nước ngồi và trình độ hiểu biết của các nhà
quản lý và nhân viên kế tốn có ảnh hưởng tích cực đến những thay đổi trong thực tiễn

KTQT của các liên doanh đối tác nước ngồi. Quy mơ doanh nghiệp và mức độ kiến thức
của các nhà quản lý cấp cao dường như ảnh hưởng đến những thay đổi trong thực tiễn
KTQT. Tuy nhiên, khơng có sự hỗ trợ nào được đưa ra cho giả thuyết rằng Chính phủ
Trung Quốc có ảnh hưởng đáng kể đến những thay đổi trong thực tiễn KTQT của các liên
doanh và doanh nghiệp Nhà nước [106].
Ahmad, K. (2012) nghiên cứu về việc thực hành KTQT trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Malaysia. Nghiên cứu chỉ ra rằng cạnh tranh ngày càng tăng dẫn đến các doanh
nghiệp phải sử dụng nguồn lực và ra quyết định hiệu quả hơn, từ đó làm phát sinh nhu
cầu thơng tin phục vụ quản trị doanh nghiệp. Do vậy, các phương pháp KTQT được các
doanh nghiệp tích cực áp dụng để đáp ứng nhu cầu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy áp
lực cạnh tranh trên thị trường có ảnh hưởng tích cực đến mức độ áp dụng KTQT của các
doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mơ doanh nghiệp cũng là yếu
tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Malaysia [48].
Halbouni, S. S. (2014) trong nghiên cứu thực nghiệm về các động lực của đổi mới
KTQT tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất cho thấy cơng nghệ thơng tin có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến sự thay đổi của KTQT. Trong thời đại bùng nổ khoa học kỹ thuật và
công nghệ, công nghệ thông tin có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh
của đời sống xã hội. Tác động của cơng nghệ thông tin đến KTQT cũng không phải là
một ngoại lệ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và máy tính vào KTQT làm cho thơng
tin được cung cấp kịp thời, phù hợp và hữu ích hơn. Nghiên cứu của Halbouni cũng cho


14
thấy 71,5% số người được hỏi tin rằng công nghệ thơng tin có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
sự thay đổi của KTQT [65].
Rapina (2014) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống thơng
tin kế tốn và ý nghĩa của nó đối với chất lượng của thơng tin kế tốn
Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của các yếu tố: Sự cam kết của nhà
quản lý, văn hóa doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp đến chất

lượng của hệ thống thơng tin kế tốn và ý nghĩa của nó đối với chất lượng thơng tin kế
tốn. Đối tượng khảo sát là nhân viên kế toán của 33 doanh nghiệp ở Bandung-Indonesia.
Kết quả cho thấy cả 3 yếu tố trên đều có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của hệ thống
thơng tin kế tốn [89].
Nghiên cứu của Leite, A. A., Fernandes, P. O., & Leite, J. M. (2015) về các yếu tố
ngẫu nhiên ảnh hưởng đến việc sử dụng thực hành KTQT trong lĩnh vực dệt may Bồ Đào
Nha cho thấy sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ
áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp. Nhà quản trị là người trực tiếp sử dụng thông tin
KTQT để ra quyết định, do vậy nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản trị có ảnh hưởng
quan trọng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp. Ngồi nhu cầu thơng tin, sự
ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các kỹ thuật KTQT mới và vận dụng vào
doanh nghiệp cũng là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến sự vận dụng KTQT trong doanh
nghiệp [78].
Anh, D. N. P. (2016) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng và
hiệu quả của thực hành KTQT trong nền kinh tế chuyển đổi đã chỉ ra nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến mức độ áp dụng KTQT của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là mức độ cạnh
tranh. Thông qua dữ liệu khảo sát từ 220 doanh nghiệp Việt Nam có quy mơ vừa và lớn,
kết quả nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng tích cực của nhân tố mức độ cạnh tranh đến
việc sử dụng các công cụ KTQT hiện đại trong các doanh nghiệp [51]. 
Lê Thị Hồng (2016) trong cơng trình nghiên cứu Hồn thiện hệ thống thơng tin
KTQT chi phí trong các doanh nghiệp khai thác chế biến đá ốp lát ở Việt Nam cho rằng
để hệ thống thơng tin KTQT chi phí thực sự hiệu quả đối với hoạt động SXKD của đơn
vị, đáp ứng tối đa yêu cầu quản lý, khi xây dựng hệ thống thơng tin KTQT chi phí cần
tính đến các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng hệ thống thơng tin KTQT chi phí để xây
dựng một cách phù hợp nhất. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu liên quan, luận án đã
đưa ra nhận định “Hệ thống thơng tin KTQT chi phí trong doanh nghiệp chịu tác động
bởi các nhân tố chủ quan và khách quan, trong đó hệ thống thơng tin KTQT chi phí chủ
yếu phục vụ cho mục đích quản trị trong đơn vị nên nhân tố chủ quan đóng vai trị quan
trọng và có tính quyết định đến xây dựng cũng như phát triển hệ thống thơng tin KTQT
chi phí trong doanh nghiệp”. Theo đó, tác giả tổng kết nhóm nhân tố chủ quan bao gồm:



15
(1) Đặc điểm ngành nghề SXKD và tổ chức SXKD, (2) Cơ cấu, phân cấp quản lý trong
đơn vị, (3) Nhận thức của nhà quản trị về vai trò của hệ thống thơng tin KTQT chi phí và
(4) Trình độ trang bị máy móc thiết bị và trình độ đội ngũ nhân viên kế tốn. Về nhóm
nhân tố khách quan, tác giả đã tổng hợp kết quả của các công trình nghiên cứu với các
nhân tố cơ bản sau: (1) Cơ chế chính sách và văn bản nhà nước quy định về công tác
KTQT trong doanh nghiệp và (2) Điều kiện và môi trường kinh doanh. Bằng phương
pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, tác giả đã kiểm định các giả thuyết nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hệ thống thơng tin KTQT chi phí, bao gồm:
Năng lực nhân viên kế toán, điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật, mức độ
ủng hộ của nhà quản trị và nhận thức của nhà quản trị về vai trị của hệ thống thơng tin
KTQT chi phí. Qua phân tích các biến quan sát trong quan hệ với nhân tố cho thấy các
biến đều thể hiện các giá trị dương có nghĩa là nếu các điều kiện về cơ sở vật chất, về sự
ủng hộ của nhà quản trị và nhận thức của nhà quản trị càng cao thì điều kiện năng lực
thực hiện các giải pháp trong đơn vị để hoàn thiện hệ thống thông tin KTQT càng được
thực hiện một cách tốt nhất [26].
Bùi Tiến Dũng (2018) trong nghiên cứu về Tổ chức kế toán quản trị tại các doanh
nghiệp sản xuất giấy – Nghiên cứu tại Tổng Công ty Giấy Việt Nam và các doanh nghiệp
liên kết đã tiến hành khảo sát 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giấy
thành phẩm. Với việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, kết quả
nghiên cứu cho thấy các nhân tố cơ bản ảnh hưởng thuận chiều đến tổ chức KTQT tại
Tổng công ty giấy Việt Nam và các doanh nghiệp liên kết, đó là: Mức độ cạnh tranh của
thị trường, sự tham gia của nhà quản trị và trình độ của nhân viên kế tốn. Nghiên cứu
cũng chỉ ra quy mô của doanh nghiệp (đo lường bằng số lượng nhân cơng trực tiếp) có
ảnh hưởng đến tổ chức KTQT tại các doanh nghiệp khảo sát ở các mức độ khác nhau cả
thuận chiều và ngược chiều, trong đó quy mơ doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều
tới KTQT chi phí và ngược chiều với hệ thống dự toán SXKD [16].
Đặng Lan Anh (2019) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thông tin

KTQT chi phí tại các khách sạn thuộc tập đồn Mường Thanh, từ đó xác định và đánh giá
sự tác động đến chất lượng của thơng tin KTQT chi phí tại các khách sạn này. Dựa trên
cơ sở dữ liệu đã tổng hợp, tác giả xây dựng mơ hình nghiên cứu định lượng gồm các nhân
tố sau: Trình độ cơng nghệ thông tin, hiểu biết của nhà quản trị về cơng nghệ thơng tin và
kế tốn, đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý và trình độ nhân viên kế tốn. Kết quả nghiên
cứu cho thấy trình độ cơng nghệ thông tin là nhân tố tác động cùng chiều và tác động
mạnh nhất tới tính hữu hiệu của hệ thống thơng tin KTQT chi phí, tiếp theo là nhân tố
hiểu biết của nhà quản trị về công nghệ thông tin và kế toán, đặc điểm cơ cấu tổ chức


16
quản lý, và cuối cùng là trình độ nhân viên kế tốn có ít tác động đến hệ thống thơng tin
KTQT chi phí tại các khách sạn này [10].
Như vậy, một số cơng trình khoa học đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến nhu
cầu thơng tin chi phí của nhà quản trị, nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thơng tin KTQT
chi phí, nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT trong doanh nghiệp, nhân tố gây ra
hạn chế của KTQT chi phí bằng phương pháp nghiên cứu định tính hoặc phương pháp
nghiên cứu định lượng nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trong phạm vi từng đề tài. Có
thể tổng hợp các nhân tố đã được các nhà nghiên cứu tiền nhiệm phát hiện thông qua kết
quả nghiên cứu trong bảng MĐ.1 như sau:
Bảng MĐ.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT
trong các cơng trình nghiên cứu liên quan
TT

Nguồn nghiên cứu

Nhân tố ảnh hưởng

1


Chenhall, R.H. &
Langfield-Smith, K.
(1998)

- Quy mô DN

2

Wu, Junjie and Boateng,
Agyenim(2010)

- Quy mơ của cơng ty
- Trình độ hiểu biết của các nhà quản lý

3

Ahmad, K. (2012)

4

Halbouni, S. S. (2014)

- Áp lực cạnh tranh trên thị trường
- Quy mô DN
- Công nghệ sản xuất
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin

5

Leite, A. A., Fernandes, P.

O., & Leite, J. M. (2015)

6

Anh, D. N. P. (2016)

7

Lê Thị Hồng (2016)

- Các điều kiện về cơ sở vật chất
- Sự ủng hộ của nhà quản trị và nhận thức của nhà
quản trị

8

Bùi Tiến Dũng (2018)

- Quy mô DN
- Mức độ cạnh tranh của thị trường
- Yếu tố công nghệ và kỹ thuật sản xuất
- Sự tham gia của nhà quản trị
- Trình độ của nhân viên kế tốn

9

Đặng Lan Anh (2019)

- Trình độ công nghệ thông tin
- Hiểu biết của nhà quản trị về công nghệ thông tin


- Sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT
- Sự ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các
kỹ thuật KTQT mới và vận dụng vào DN
- Sự phân quyền
- Mức độ cạnh tranh


17
và kế toán
- Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý
- Trình độ nhân viên kế tốn
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trong các nghiên cứu tiền nhiệm, các các tác giả hầu như chưa tiếp cận các nhân tố
ảnh hưởng một cách toàn diện và hệ thống mà thường tập trung nghiên cứu vào một vài
nhân tố rời rạc theo mục tiêu của từng đề tài. Mặt khác, nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ vận dụng KTQT chi phí trong DNSX nói chung và các DNSX giấy
nói riêng cũng chưa được thực hiện. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của các tác giả tiền
nhiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của KTQT nói chung và
KTQT chi phí nói riêng sẽ được tác giả kế thừa nhằm hệ thống hóa về mặt lý luận và xây
dựng mơ hình nghiên cứu theo phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài.
2.4. Nhận xét rút ra về kết quả các cơng trình nghiên cứu, khoảng trống nghiên
cứu và định hướng nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá các cơng trình nghiên cứu về nội dung KTQT chi phí, các
nghiên cứu liên quan đến các vấn đề kế toán tại DNSX giấy, các nghiên cứu về các nhân
tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT chi phí của các nhà khoa học trên thế giới cũng
như trong nước, tác giả rút ra nhận xét khái quát về kết quả các cơng trình nghiên cứu
tiền nhiệm, xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận án như
sau:
(1) Trong các cơng trình nghiên cứu, các tác giả đã hệ thống hóa các nội dung cơ

bản của KTQT chi phí theo chu trình kế tốn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện ứng
dụng cụ thể vào các doanh nghiệp thuộc phạm vi nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu đã
đi sâu vào nội dung KTQT chi phí với vai trị cung cấp thơng tin phục vụ cho các chức
năng quản trị doanh nghiệp, coi trọng đánh giá nhu cầu thơng tin KTQT chi phí của nhà
quản trị là tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Đây là những kết quả nghiên
cứu mà tác giả sẽ vận dụng, kế thừa và phát triển trong phạm vi đề tài luận án.
(2) Các cơng trình nghiên cứu đã quan tâm đến cơng tác phân tích biến động của
từng yếu tố chi phí, tuy nhiên nội dung phân tích cịn mang tính khái qt mà chưa đi vào
phân tích chi tiết để chỉ ra những nguyên nhân tác động và từ đó có những giải pháp cải
thiện phù hợp. Bên cạnh đó, việc lập báo cáo phân tích chi phí cung cấp cho nhà quản trị
là hết sức cần thiết nhằm giúp nhà quản trị có nguồn thơng tin chi tiết và tồn diện cho
việc ra quyết định còn chưa được các nghiên cứu tiền nhiệm đề cập cả về lý luận và thực
tiễn vận dụng tại các doanh nghiệp. Mặt khác, các báo cáo KTQT chi phí cung cấp thơng
tin phục vụ nhà quản trị ra quyết định mặc dù đã được các cơng trình nghiên cứu xem xét


18
song chưa có tính hệ thống từ khâu lập kế hoạch đến giai đoạn ra quyết định quản trị.
Đây là những “khoảng trống” về nội dung nghiên cứu sẽ được đề tài luận án hồn thiện.
(3) Trong các cơng trình nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến các nội dung cơ bản
của KTQT chi phí với vai trị cung cấp thông tin phục vụ cho các chức năng quản trị
doanh nghiệp cả về mặt lý luận và thực tiễn triển khai tại các doanh nghiệp thuộc phạm vi
đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, một trong những yếu tố tác động đến mức độ áp dụng
KTQT chi phí cũng như mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT chi phí của nhà quản
trị, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0, đó là phương tiện kỹ thuật
xử lý và cung cấp thông tin KTQT chi phí lại chưa được các tác giả quan tâm. Đây là
“khoảng trống” về nội dung sẽ được đề tài luận án nghiên cứu.
(4) Kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trước, đề tài luận án sẽ xem xét
các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT chi phí trong DNSX nói chung và
DNSX giấy nói riêng bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp

nghiên cứu định lượng nhằm tạo cơ sở tiền đề tin cậy cho việc đề xuất các giải pháp hoàn
thiện cũng như các điều kiện thực hiện các giải pháp hồn thiện KTQT chi phí trong các
DNSX giấy một cách phù hợp và có tính khả thi. Thêm vào đó, để các giải pháp đề xuất
có thể triển khai tại các doanh nghiệp nghiên cứu, các tác giả đã kiến nghị các điều kiện
thực hiện giải pháp liên quan đến các chủ thể bên ngoài cũng như các điều kiện xuất phát
từ chính các doanh nghiệp thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, các kiến nghị
chưa gắn với bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên phạm
vi tồn cầu, vì vậy tính hội nhập và đổi mới đối với các điều kiện triển khai các giải pháp
đề xuất trong các cơng trình nghiên cứu chưa cao. Đây là những “khoảng trống” về nội
dung nghiên cứu sẽ được luận án xem xét ở khía cạnh giải pháp hồn thiện KTQT chi phí
trong các doanh nghiệp thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
(5) Các cơng trình nghiên cứu của các tác giả đã khai thác cơng dụng của KTQT chi
phí trong công tác quản lý đối với nhiều ngành SXKD khác nhau. Song cho đến nay tác
giả chưa nhận thấy có cơng trình nghiên cứu nào đi khai thác cơng dụng của KTQT chi
phí đối với ngành sản xuất giấy Việt Nam. Đây là một ngành sản xuất có vai trị quan
trọng trong nền kinh tế với những đặc thù nhất định u cầu cần quản lý và kiểm sốt chi
phí một cách hiệu quả. Đây là “khoảng trống” về không gian sẽ được đề tài luận án tập
trung nghiên cứu.
Từ những “khoảng trống” trong nghiên cứu trên đây, đề tài luận án sẽ tiếp cận
KTQT chi phí tại các DNSX giấy Việt Nam theo chu trình kế tốn để phát huy tính hữu
hiệu của KTQT chi phí trong cơng tác quản trị doanh nghiệp, bao gồm 5 nội dung: (1)
Nhận diện chi phí, (2) Xây dựng định mức và lập dự tốn chi phí, (3) Phương pháp xác
định chi phí, (4) Phân tích chi phí và (5) Báo cáo kế tốn quản trị chi phí. Thơng qua


19
nghiên cứu thực trạng về KTQT chi phí, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận
dụng KTQT chi phí trong các DNSX giấy, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện và
điều kiện thực hiện các giải pháp hồn thiện KTQT chi phí trong các DNSX giấy Việt
Nam gắn với bối cảnh cuộc CMCN 4.0 để sản phẩm khoa học sẽ mang tính ứng dụng

cao.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu và tìm ra các giải pháp để hồn thiện KTQT chi
phí trong các DNSX giấy Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản lý
trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt cũng như tăng cường khả năng thích
ứng của doanh nghiệp trước tác động của cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra một cách sâu
rộng trên phạm vi tồn cầu.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hố cơ sở lý luận về KTQT chi phí trong các DNSX; tìm hiểu kinh
nghiệm KTQT chi phí tại một số quốc gia trên thế giới để từ đó có phương hướng vận
dụng nhằm hồn thiện cơng tác này đối với các DNSX giấy Việt Nam;
- Khảo sát và đánh giá nhu cầu thơng tin KTQT chi phí của nhà quản trị; nội dung
KTQT chi phí; phương tiện kỹ thuật xử lý và cung cấp thơng tin KTQT chi phí trong các
DNSX giấy Việt Nam;
- Khảo sát và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT chi phí
tại các DNSX giấy Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện các giải pháp nhằm hồn thiện
KTQT chi phí trong các DNSX giấy Việt Nam, giúp các nhà quản trị điều hành tốt hoạt
động của doanh nghiệp.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
(1) Cơ sở lý luận về KTQT chi phí trong DNSX?
(2) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT chi phí trong DNSX?
(3) Thực trạng nhu cầu thơng tin KTQT chi phí của nhà quản trị; thực trạng nội
dung KTQT chi phí; thực trạng áp dụng phương tiện kỹ thuật xử lý và cung cấp thông tin
KTQT chi phí trong các DNSX giấy Việt Nam như thế nào?
(4) Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT chi phí trong các DNSX
giấy Việt Nam?
(5) Giải pháp hoàn thiện và điều kiện thực hiện các giải pháp hồn thiện KTQT
chi phí tại các DNSX giấy Việt Nam phù hợp với đặc điểm hoạt động và đáp ứng nhu cầu

thơng tin KTQT chi phí của nhà quản lý trong bối cảnh CMCN 4.0?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


20
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là KTQT chi phí trên các khía cạnh lý luận, thực
tiễn và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT trong các DNSX giấy Việt
Nam.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu KTQT các chi phí SXKD sản phẩm giấy mà
khơng đề cập đến chi phí tài chính và các chi phí khác có liên quan (Bởi phạm vi rất
rộng).
- Luận án chỉ nghiên cứu KTQT các chi phí SXKD của các doanh nghiệp có chức
năng sản xuất giấy thành phẩm các loại và tập trung nghiên cứu KTQT các chi phí SXKD
của quy trình sản xuất giấy thành phẩm từ giai đoạn đưa bột giấy vào dây chuyền sản
xuất đến khi sản xuất ra giấy thành phẩm các loại tại các DNSX giấy Việt Nam. Thực tế
cho thấy, tùy theo đặc điểm và quy mô hoạt động, việc sản xuất giấy thành phẩm tại các
doanh nghiệp có thể được thực hiện theo quy trình khép kín nhiều cơng đoạn khác nhau:
Từ khâu phát triển vùng cây nguyên liệu (gỗ, tre, nứa...) để phục vụ chế biến bột giấy đến
khâu sản xuất ra giấy thành phẩm hoặc quy trình sản xuất từ khâu sử dụng giấy phế liệu
để chế biến bột giấy đến khâu sản xuất giấy thành phẩm hoặc quy trình sản xuất chỉ thực
hiện một cơng đoạn từ ngun liệu chính là bột giấy mua ngồi đưa vào dây chuyền sản
xuất để sản xuất ra giấy thành phẩm. Cho dù doanh nghiệp áp dụng theo quy trình sản
xuất nào thì việc sản xuất giấy thành phẩm đều thơng qua cơng đoạn đưa bột giấy ngun liệu chính vào dây chuyền sản xuất đến khi tạo ra giấy thành phẩm vì đây là quy
trình chung bắt buộc của cơng nghệ sản xuất giấy.
Về không gian:
Luận án tập trung nghiên cứu các DNSX giấy của Việt Nam, không nghiên cứu
các DNSX giấy có vốn đầu tư nước ngồi. Luận án chỉ nghiên cứu đối với các DNSX

giấy của Việt Nam có quy mơ cơng suất từ 10.000 tấn/năm trở lên, điều này xuất phát từ
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam đến năm 2025 với quan
điểm chủ đạo là phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy theo hướng hiện đại, bền
vững gắn với nhiệm vụ bảo vệ mơi trường. Theo đó, khơng cấp phép và dần loại bỏ các
nhà máy giấy lạc hậu gây ô nhiễm môi trường đang tồn tại với quy mô dưới 10.000
tấn/năm. Ngành công nghiệp sản xuất giấy phải được quy hoạch phát triển theo các khu
vực tập trung với quy mô đủ lớn: Công suất nhà máy giấy tối thiểu sẽ là 50.000 tấn/năm;
ưu tiên, khuyến khích các nhà máy có cơng suất trên 100.000 tấn/năm.
Về thời gian:


21
Tác giả khảo sát, nghiên cứu số liệu về KTQT chi phí tại các DNSX giấy Việt
Nam trong khoảng thời gian 2015 - 2018.
6. Phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu của luận án
6.1. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
luận án sử dụng kết hợp với những phương pháp cơ bản của khoa học kinh tế như
phương pháp so sánh, thống kê, phân tổ, chọn mẫu, phân tích, diễn giải, quy nạp...để
nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn; đồng thời sử dụng linh hoạt các phương pháp
nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng.
6.1.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Tác giả sử dụng phương pháp tra cứu tài liệu để tìm hiểu tình hình nghiên cứu về
vấn đề liên quan tới nội dung nghiên cứu để tìm khoảng trống nghiên cứu và để đưa ra
dẫn liệu cho việc nghiên cứu của tác giả. Các tài liệu sử dụng đã được tác giả thu thập
gồm:
Thứ nhất, các giáo trình, bài giảng, sách tham khảo trong và ngồi nước liên quan
đến đề tài.
Thứ hai, các luận án tiến sĩ, các cơng trình nghiên cứu khoa học đạt giải cao, các
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện, cấp Trường và cấp Bộ đã công bố.

Thứ ba, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành và các chính
sách, văn bản pháp luật.
Thứ tư, tài liệu thu thập từ các DNSX giấy như kế hoạch SXKD, chứng từ kế tốn,
sổ kế tốn, báo cáo kế tốn…có liên quan đến đề tài.
Thứ năm, tài liệu trên internet thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
6.1.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
6.1.2.1. Khảo sát thực địa
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu điển hình 5 DNSX giấy đại diện cho các nhóm
doanh nghiệp có quy mơ cơng suất khác nhau thuộc phạm vi nghiên cứu, đó là: Tổng
cơng ty Giấy Việt Nam - Đại diện cho nhóm DNSX giấy có quy mô công suất lớn (Từ
100.000 tấn/năm trở lên); Công ty cổ phần Giấy Việt Trì, Cơng ty cổ phần Giấy An Bình
- Đại diện cho nhóm DNSX giấy có quy mô công suất vừa (từ 50.000 đến dưới 100.000
tấn/năm); Công ty cổ phần Giấy Xương Giang và Công ty TNHH Giấy Bình Chiểu - Đại
diện cho nhóm DNSX giấy có quy mơ cơng suất nhỏ (từ 10.000 đến dưới 50.000
tấn/năm).
Tại các doanh nghiệp được khảo sát, tác giả đã thực hiện quan sát thực địa nhằm
thu thập thông tin về quy trình cơng nghệ sản xuất, nhận diện các hoạt động sản xuất và
dòng CPSX sản phẩm; quan sát hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác kế tốn nói


22
chung và KTQT chi phí nói riêng; quan sát q trình thu thập, phân tích, xử lý và cung
cấp các thơng tin kinh tế - tài chính phát sinh ở doanh nghiệp.
Mặt khác, tác giả thực hiện phỏng vấn trực tiếp các nhà lãnh đạo doanh nghiệp với
mục đích tìm hiểu quan điểm của nhà quản lý về nhu cầu thơng tin KTQT chi phí và lấy ý
kiến đánh giá của các nhà quản lý về việc tổ chức thực hiện cũng như hiệu quả cơng tác
KTQT chi phí; phỏng vấn các cán bộ một số phịng chức năng có liên quan như phịng kế
tốn, phịng kinh doanh, phịng vật tư, các quản đốc, tổ trưởng và người lao động tại các
phân xưởng sản xuất để thu thập thông tin về tổ chức các hoạt động sản xuất, thông tin về
chi phí phát sinh trong các giai đoạn của quy trình sản xuất.

6.1.2.2. Gửi phiếu điều tra
Mục đích của việc gửi phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin, dữ liệu liên quan
đến đối tượng nghiên cứu của đề tài; khảo sát quan điểm, ý kiến của những người sử
dụng thơng tin KTQT chi phí và những người thiết lập thơng tin KTQT chi phí của các
DNSX giấy thơng qua việc gửi phiếu câu hỏi trực tiếp, gửi qua bưu điện, gửi qua email
hoặc phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điện thoại cho hai đối tượng là nhà quản trị cấp
cao và lãnh đạo bộ phận kế toán của doanh nghiệp.
Chọn mẫu điều tra:
Theo số liệu thống kê của Cục Công nghiệp - Bộ Công thương cho thấy ngành
công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam hiện có khoảng 305 doanh nghiệp nhưng đa phần có
quy mơ cơng suất siêu nhỏ (dưới 10.000 tấn/năm) và công nghệ lạc hậu. Số lượng doanh
nghiệp có quy mơ cơng suất dưới 10.000 tấn/năm là 240 doanh nghiệp nhưng tổng công
suất chỉ chiếm 16,3% tồn ngành. Quy hoạch phát triển ngành cơng nghiệp sản xuất giấy
Việt Nam đến năm 2025 với quan điểm chủ đạo là phát triển ngành công nghiệp sản xuất
giấy theo hướng hiện đại, bền vững gắn với nhiệm vụ bảo vệ mơi trường. Theo đó, khơng
cấp phép và dần loại bỏ các nhà máy giấy lạc hậu gây ô nhiễm môi trường đang tồn tại
với quy mô dưới 10.000 tấn/năm. Theo phạm vi nghiên cứu của luận án, sau khi loại ra
các DNSX giấy có quy mơ cơng suất siêu nhỏ (dưới 10.000 tấn/năm), số lượng doanh
nghiệp còn lại là 65 doanh nghiệp có quy mơ cơng suất từ 10.000 tấn/năm trở lên. Trong
số 65 doanh nghiệp có quy mơ công suất từ 10.000 tấn/năm trở lên mà tác giả nêu trên có
8 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi – là loại hình doanh nghiệp khơng thuộc phạm
vi nghiên cứu của đề tài. Sau khi loại ra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, mẫu
điều tra còn 57 doanh nghiệp. Các DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài xét
về mặt vị trí địa lý được phân bố từ Bắc vào Nam, trong đó có 32 doanh nghiệp thuộc
khu vực miền Bắc, 8 doanh nghiệp thuộc khu vực miền Trung và 17 doanh nghiệp thuộc
khu vực miền Nam (phụ lục 1C).
Đối tượng, nội dung điều tra:


23

Theo phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả đã gửi phiếu điều tra tới các nhà
quản trị cấp cao và kế toán trưởng của 57 DNSX giấy.
+ Đối với nhà quản trị cấp cao: Tác giả gửi phiếu điều tra (phụ lục 1A) với mục
đích tìm hiểu các thông tin chung về doanh nghiệp; đánh giá nhu cầu thơng tin KTQT chi
phí của nhà quản trị; đánh giá của nhà quản trị về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận
dụng KTQT chi phí trong doanh nghiệp. Tại mỗi doanh nghiệp thuộc phạm vi nghiên cứu
của đề tài, tác giả gửi 02 phiếu điều tra tới các nhà quản trị cấp cao của doanh nghiệp là

những người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động SXKD của các DNSX giấy
(bao gồm Giám đốc và Phó giám đốc phụ trách kế toán của doanh nghiệp). Như vậy, với
57 DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đã gửi tổng số 114 phiếu điều
tra dành cho nhà quản trị cấp cao của doanh nghiệp. Kết quả số lượng phiếu thu về đạt
tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu là 86 phiếu, đạt tỷ lệ 75%.
+ Đối với kế toán trưởng doanh nghiệp: Tác giả đã gửi phiếu điều tra (phụ lục 1B)
nhằm thu thập dữ liệu về thực trạng cơng tác KTQT chi phí, đánh giá về các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ vận dụng KTQT chi phí trong doanh nghiệp. Tại mỗi doanh nghiệp
thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả gửi 01 phiếu điều tra tới kế toán trưởng của
doanh nghiệp. Như vậy, với 57 DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả
đã gửi tổng số 57 phiếu điều tra dành cho kế toán trưởng và thu về được 42 phiếu đạt tiêu
chuẩn đưa vào nghiên cứu, đạt tỷ lệ 74%.
Nội dung chính của các phiếu điều tra được trình bày tại bảng MĐ.2.
Bảng MĐ.2. Nội dung chính của phiếu điều tra
Phần

Nội dung chính

Dạng câu hỏi

Cơng cụ
xử lý


Kết quả
xử lý

Phiếu điều tra dành cho nhà quản trị cấp cao
1

Thông tin chung về doanh nghiệp

Trả lời ngắn, trắc
nghiệm lựa chọn
phương án

Excel

Phụ lục 1D

2

Đánh giá nhu cầu thông tin KTQT Thang đo Likert 1-5
chi phí của nhà quản trị

Excel

Phụ lục 1D

3

Đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng Thang đo Likert 1-5
đến mức độ vận dụng KTQT chi phí

trong doanh nghiệp

SPSS

Phụ lục 1G

Excel

Phụ lục 1E

Phiếu điều tra dành cho kế tốn trưởng
1

Thơng tin chung về bộ máy kế tốn

Trả lời ngắn, trắc
nghiệm lựa chọn
phương án


24
2

Thơng tin về nội dung KTQT chi phí Trắc nghiệm lựa
trong doanh nghiệp
chọn phương án

Excel

Phụ lục 1E


3

Đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng Thang đo Likert 1-5
đến mức độ vận dụng KTQT chi phí
trong doanh nghiệp

SPSS

Phụ lục 1G

Nguồn: Tác giả
6.1.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
Các tài liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra để phát hiện những thiếu sót
trong q trình ghi chép để bổ sung, hồn thiện, sau đó được tổng hợp và sắp xếp theo
từng nội dung nghiên cứu và phân thành 3 nhóm: Lý luận, thực tiễn và tài liệu khảo sát
của các doanh nghiệp. Việc xử lý, tổng hợp và đánh giá kết quả khảo sát được thực hiện
bằng phương pháp định tính kết hợp với phương pháp định lượng, bao gồm: Thống kê
tốn học, phân tích, các phương pháp kinh tế khác; phương pháp trình bày kết hợp diễn
giải và quy nạp, sơ đồ mơ hình hóa; phần mềm ứng dụng Excel và phần mềm SPSS 20.0.
- Sử dụng phần mềm SPSS 20.0:
Xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 được tác giả tiến hành đối với “Phần 3:
Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng kế tốn quản trị chi phí trong
doanh nghiệp”của phiếu điều tra dành cho nhà quản trị cấp cao và phiếu điều tra dành
cho kế toán trưởng của doanh nghiệp. Sau khi dữ liệu được thu thập đầy đủ, tác giả tiến
hành xử lý và phân tích dữ liệu với các kỹ thuật sau: Đánh giá độ tin cậy của các thang đo
bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm tra sự phù hợp của mơ
hình, kiểm định mơ hình và các giả thuyết nghiên cứu.
+ Đánh giá độ tin cậy của các thang đo bằng Cronbach’s Alpha:
Công cụ Cronbach’s Alpha được sử dụng trước khi phân tích nhân tố EFA để loại

các biến khơng phù hợp. Thang đo được đánh giá là chấp nhận được khi có hệ số
Cronbach’s Alpha lớn hơn hoặc bằng 0,6; các biến quan sát có hệ số tương quan biến
tổng nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại (Nguyễn Đình Thọ, 2013).
+ Phân tích nhân tố khám phá (EFA):
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis, gọi
tắt là phương pháp EFA) giúp đánh giá hai loại giá trị quan trọng của thang đo là giá trị
hội tụ và giá trị phân biệt. Trong phân tích nhân tố, phương pháp trích Principal
Components Analysis đi cùng với phép xoay Varimax là cách thức được sử dụng phổ
biến nhất. Theo Hair & cộng sự (2009), hệ số tải nhân tố (Factor loading) là chỉ tiêu để
đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA: Nếu hệ số tải nhân tố nằm trong khoảng từ 0,30,4 được xem là đạt mức tối thiểu; hệ số tải nhân tố nằm trong khoảng từ 0,4-0,5 được
xem là quan trọng; hệ số tải nhân tố > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn. Hệ số KMO


25
(Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố.
Trị số KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp. Kiểm định Bartlett có ý nghĩa
thống kê (Sig. < 0.05) là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến
khơng có tương quan trong tổng thể. Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0.05)
thì các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể. Phần trăm phương sai
toàn bộ (Percentage of variance) thể hiện phần trăm biến thiên của các biến quan sát.
Nghĩa là xem biến thiên là 100% thì giá trị này cho biết phân tích nhân tố giải thích được
bao nhiêu %. Điều kiện để phân tích nhân tố khám phá là phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
Hệ số tải nhân tố > 0,5; 0.5 ≤ KMO ≤ 1; Phần trăm phương sai toàn bộ > 50% (Nguyễn
Đình Thọ, 2013).
+ Kiểm tra sự phù hợp của mơ hình (Model Fit):
Đây là kỹ thuật đưa tồn bộ thang đo các biến vào một mơ hình để đánh giá sự phù
hợp của mơ hình nhằm kiểm tra và có thể loại bỏ các biến quan sát khơng phù hợp. Theo
Hair và cộng sự (2009), các chỉ số chính đo độ phù hợp của mơ hình bao gồm: CFI
(Comparative Fix Index), CFI dao động từ 0-1, càng lớn càng tốt, ngưỡng giá trị chấp
nhận là > 0,9; TLI (Tucker–Lewis Index) với ngưỡng giá trị chấp nhận là > 0,9; RMSEA

(Root Mean Square Errors of Approximation) với ngưỡng giá trị chấp nhận là < 0,08.
+ Kiểm định mơ hình và các giả thuyết nghiên cứu:
Sử dụng phân tích phương sai (Analysis of variance-ANOVA), kiểm định hiện
tượng đa cộng tuyến trong mơ hình, kiểm định hiện tượng tự tương quan để xem xét sự
phù hợp của mơ hình nghiên cứu; đồng thời kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để đo
lường và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT chi phí trong các
DNSX giấy Việt Nam.
- Sử dụng phần mềm Excel:
Xử lý dữ liệu bằng phần mềm Excel được tác giả tiến hành đối với các phần còn
lại của phiếu điều tra dành cho nhà quản trị cấp cao và phiếu điều tra dành cho kế toán
trưởng của doanh nghiệp.
6.2. Khung nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả xây dựng khung nghiên cứu
của luận án tại sơ đồ MĐ.1.


×