Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Ứng dụng mô hình Value At Risk vào quản trị rủi ro tín dụng cho hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.31 MB, 87 trang )

I



ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VALUE AT RISK VÀO QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC BẢNG vii
LỜI MỞ ĐẦU viii
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI viii
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU viii
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ix
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ix
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI ix
6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI ix
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DANH MỤC CHO VAY, RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA DANH MỤC CHO VAY, QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DANH MỤC
CHO VAY TẠI NHTM – PHƯƠNG PHÁP VALUE AT RISK TRONG ĐO LƯỜNG
TỔN THẤT DANH MỤC CHO VAY 1
1.1. Danh mục cho vay và rủi ro tín dụng của danh mục cho vay 1
1.1.1. Rủi ro tín dụng 1
1.1.1.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng 1
1.1.1.2. Tính tất yếu của rủi ro tín dụng 2
1.1.1.3. Rủi ro tín dụng của danh mục cho vay 2
1.1.2. Tổng quan về danh mục cho vay của NHTM 3
1.1.2.1. Khái niệm danh mục cho vay 3
1.1.2.2. Cơ cấu danh mục cho vay 4
1.1.3. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng của danh mục cho vay 9
II





1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của danh mục cho vay tại NHTM 11
1.2.1. Khái niệm 11
1.2.2. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng danh mục cho vay 11
1.2.2.1. Tối đa hóa lợi nhuận ở mức chấp nhận được 11
1.2.2.2. Giám sát danh mục tín dụng và xử lí những biến động nhằm đảm bảo an
toàn cho hoạt động kinh doanh 11
1.2.3. Qui trình quản trị rủi ro tín dụng danh mục cho vay 12
1.2.3.1. Nhận diện rủi ro 12
1.2.3.2. Đo lường rủi ro 12
1.2.3.3. Kiểm soát rủi ro 13
1.2.3.4. Tài trợ rủi ro 14
1.3. Tổng quan về phương pháp Value at Risk để đo lường tổn thất danh mục cho
vay 14
1.3.1. Tổng quan về Value at Risk 15
1.3.1.1. Khái niệm VaR 17
1.3.1.2. Các thông số đầu vào để tính VaR 13
1.3.1.3. Mục tiêu của việc ứng dụng VaR để đo lường rủi ro tín dụng danh mục cho
vay 17
1.3.2. Các mô hình đo lường VaR thông dụng 18
1.3.2.1. Mô hình Creditmetrics 19
1.3.2.2. Mô hình Creditrisk Plus 20
1.3.2.3. Mô hình CreditPortforlio View 21
1.3.2.4. So sánh giữa các mô hình 22
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG CỦA NHTM VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 24
2.1. Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam trong những năm gần đây 24
III




2.1.1. Lịch sử phát triển ngành ngân hàng ở Việt Nam 24
2.1.2. Mạng lưới hoạt động 25
2.1.3. Qui mô vốn điều lệ 25
2.1.4. Hệ số an toàn vốn 28
2.1.5. Môi trường hoạt động 29
2.2. Thực trạng hoạt động đo lường rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 30
2.2.1. Tầm quan trọng của hoạt động cho vay đối với NHTM Việt Nam 30
2.2.2. Thực trạng hoạt động đo lường rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 32
2.2.2.1. Thực trạng đo lường rủi ro tín dụng 33
2.2.2.2. Thực trạng hoạt động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM Việt
Nam 33
2.2.3. Những hạn chế trong hoạt động đo lường rủi ro tín dụng tại NHTM Việt
Nam 38
2.2.3.1. Chưa đo lường rủi ro tín dụng dưới góc độ danh mục cho vay 38
2.2.3.2. Chưa sử dụng mô hình nội bộ rộng rãi để phân loại nợ và trích lập dự
phòng rủi ro 40
2.2.3.3. Chưa tính đến hiệu quả đa dạng hóa của danh mục cho vay và tương tác
giữa các khoản vay trên danh mục 42
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG VALUE AT RISK TRONG ĐO LƯỜNG TỔN THẤT TÍN
DỤNG 44
3.1. Ví dụ tính Value at risk bằng mô hình Creditmetrics 46
3.1.1. Giả thiết và các yếu tố đầu vào của mô hình 47
3.1.2. Xác định Value at risk bằng mô hình Creditmetrics 49
3.1.2.1. Value at risk của từng món vay riêng lẻ 49
3.1.2.2. Tương quan giữa các món vay trên danh mục 52
3.1.2.3. Tác động của yếu tố ngành đến doanh nghiệp 53
IV




3.1.2.4. Tương quan giữa các biến loga chuẩn hóa của tài sản doanh nghiệp 53
3.1.2.5. Xác suất chuyển hạng chung của một cặp doanh nghiệp vay nợ 55
3.1.2.6. VaR của toàn bộ danh mục cho vay 56
3.1.2.7. VaR của danh mục cho vay gồm n khoản vay 57
3.1.3. Kết luận 58
3.1.4. Ưu điểm của Value at Risk 59
3.1.4.1. Cung cấp phương pháp đo lường rủi ro hiện đại 59
3.1.4.2. Tạo cơ sở cho việc thiết lập dự phòng rủi ro và vốn kinh tế hợp lí 60
3.2. Kiến nghị 61
3.2.1. Kiến nghị đối với các NHTM Việt Nam 61
3.2.1.1. Đây nhanh việc xây dựng hệ thống phân loại nội bộ 62
3.2.1.2. Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin 63
3.2.1.3.Tổ chức quản lí rủi ro tín dụng và phân tích thông tin kinh tế 63
3.2.2. Kiến nghị với NHNN Việt Nam 65
3.2.2.1. Ban hành hướng dẫn xây dựng hệ thống xếp hạng nội bộ 65
3.2.2.2. Định hướng quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ danh mục cho các ngân
hàng thương mai 66
3.2.2.3. Nâng cao năng lực hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng 67
3.2.2.4. Xây dựng thị trường mua bán nợ 68
3.2.2.5. Ghi nhận các giá trị khoản vay theo chuẩn mực kế toán quốc tế 69
Phụ lục 1: Bảng tính phương sai và kì vọng của món vay B a
Phụ lục 2: Giá trị của danh mục vào cuối năm 1 với 64 trường hợp có thể xảy ra b
Danh mục tài liệu tham khảo d


V




DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BIS Bank of International Settlement, Ngân hàng thanh toán quốc tế
CAR Capital Adequacy Ratio, hệ số an toàn vốn.
EAD Exposure of Default, tổng dư nợ của khác hàng tại thời điểm không trả
được nợ
EL Expected loss, tổn thất kì vọng
IAS International Accounting Standard, chuẩn mực kế toán quốc tế
LGD Loss given Default, tổn thất ước tính
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
NHTM Ngân hàng thương mại
PD Probability of Default, Xác suất khác hàng không trả được nợ
VaR Value at Risk, giá trị chịu rủi ro
VAS Vietnam Acounting Standard, chuẩn mực kế toán Việt Nam.



VI



DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ về rủi ro tín dụng
Biểu đồ 1.2: Phân phối xác suất của giá cổ phiếu A
Biểu đồ 3.1: Phân phối giá trị khoản vay của doanh nghiệp A cuối năm 1
Biểu đồ 3.2: Phân phối giá trị danh mục cho vay cuối năm 1





















VII



DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh các mô hình đo lường VaR
Bảng 2.1 Số lượng chi nhánh và phòng giao dịch của một số NHTM đến hết
năm 2010
Bảng 2.2 Qui mô vốn của một số NHTM các quốc gia trong khu vực ASEAN
Bảng 2.3 Hệ số an toàn vốn của một số NHTM Việt Nam
Bảng 2.4 Tỉ lệ tín dụng trên tổng tài sản của các ngân hàng
Bảng 2.5 Tỉ lệ thu nhập lãi trên tổng thu nhập của các ngân hàng
Bảng 2.6 Bảng xếp hạng tín nhiệm khách hàng

Bảng 3.1 Thông tin cơ bản về các món vay
Bảng 3.2 Lãi suất cho vay tham chiếu của ngân hàng cho các khoản vay
Bảng 3.3 Xác suất chuyển hạng tín dụng sau 1 năm của các mức xếp hạng A và
BBB
Bảng 3.4 Tác động của yếu tố ngành đến doanh nghiệp
Bảng 3.5 Giá trị thị trường của các khoản vay trong danh mục cuối năm 1.
Bảng 3.6 Bảng tính phương sai và kì vọng của món vay A
Bảng 3.7 Giá trị tới hạn chuẩn của khoản vay của doanh nghiệp A ( hạng A )
Bảng 3.8 Giá trị tới hạn chuẩn của khoản vay doanh nghiệp B ( hạng BBB )
Bảng 3.9 Bảng xác suất chuyển hạng đồng thời của doanh nghiệp A và B





VIII



LỜI MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bài nghiên cứu xuất phát từ tình hình bất ổn trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM
Việt Nam trong những năm gần đây. Trong những năm qua, không khó để chúng ta có thể
thấy các dấu hiệu chỉ báo về sự mất cân đối trong thanh khoản của một số ngân hàng trong
hệ thống NHTM Việt Nam. Điển hình như các ngân hàng đã tạo ra một cuộc đua lãi suất
huy động đẩy mặt bằng chi phí huy động vốn lên rất cao mặc dù NHNN đã dùng nhiều biện
pháp kể cả biện pháp hành chính. Chỉ báo thứ hai đó là đường cong lãi suất đã bị thay đổi,
lãi suất cho các khoản tiền gửi ngắn hạn lại cao hơn lãi suất cho các khoản tiền gửi dài hạn,
lãi suất liên ngân hàng các kì hạn ngắn cũng bị đẩy lên rất cao. Điều này cho thấy trong hệ
thống đã xuất hiện một số cá thể mất thanh khoản và sẵn sàng chấp nhận vay bằng bất cứ

giá nào. Chỉ báo thứ ba đó là các khoản nợ xấu của các NHTM tăng trong những năm gần
đây, theo các chuyên gia thì nếu tính theo chuẩn mực quốc tế thì các khoản nợ đó sẽ còn
phình to hơn rất nhiều so với các con số đã được báo cáo. Giải thích cho vấn đề này thì
nhiều ý kiến cho rằng thứ nhất là do các điều kiện vĩ mô bất ổn, lạm phát cao đã bắt NHNN
phải sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, đặt ra hạn mức tín dụng. Chính những biện pháp
đó đã làm cho chi phí vốn tăng cao và gánh nặng dồn lên hết đôi vai doanh nghiệp. Số
doanh nghiệp mất khả năng chi trả ngày càng nhiều khiến cho nợ xấu tăng lên và các
NHTM mất khả năng thanh khoản. Luồng ý kiến thứ hai nhắm vào chính sách hoạt động
của các NHTM cụ thể là các NHTM đã dùng các khoản tiền gửi có kì hạn ngắn để cấp tín
dụng cho các dự án có kì hạn dài và chính điều này đã làm cho các NHTM rơi vào trạng
thái căng thẳng thanh khoản. Dù với lí do thế nào đi nữa, thiết nghĩ nếu các NHTM có biện
pháp quản trị rủi ro tốt đối với các khoản tín dụng cụ thể ở đây là các công cụ quản trị đủ
mạnh thì sẽ hạn chế được các tác động tiêu cực từ bên ngoài. Bài học khủng hoảng năm
2008 ở Mỹ còn đó, nhiều ngân hàng đã sụp đổ nhưng cũng có nhiều ngân hàng áp dụng các
công cụ quản trị rủi ro mạnh đã đứng vững, cụ thể như Goldman Sachs. Vì vậy, chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài về việc ứng dụng công cụ quản trị rủi ro tín dụng hiện đại
nhằm mục đích cung cấp thêm các lá chắn an toàn cho các NHTM tại Việt Nam và định
hướng phát triển về lĩnh vực này trong tương lai cho toàn hệ thống.

IX



2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xuyên suốt đề tài này. Mục tiêu chính của chúng tôi đó là làm rõ các khía cạnh liên quan
đến vấn đề rủi ro tín dụng và tiến hành xây dựng công cụ định lượng cu thể là VaR nhằm
mục đích ứng dụng cho các NHTM tại Việt Nam hiện nay. Chúng tôi đi từ các vấn đề cơ
bản nhất của rủi ro tín dụng, các mô hình VaR thông dụng để đo lường rủi ro tín dụng, tiến
hành phân tích tình hình quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM trong những năm gần đây
để đưa ra các khuyến nghị thích hợp về mặt hoạt động của các NHTM cũng như về mặt

chính sách cho NHNN.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu của chúng tôi sử dụng các phương pháp định tính, định lượng, tổng hợp, so
sánh, phân tích các dữ liệu tập hợp được để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Vì khó khăn
trong thu thập số liệu nợ xấu của các NHTM tại Việt Nam nên trong phần định lượng chúng
tôi sẽ đưa ra một ví dụ đo lường VaR cụ thể là dùng mô hình Creditmetrics làm cơ sở thực
hành ứng dụng.
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu của chúng tôi được chia làm ba phần chính.
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về danh mục cho vay, rủi ro tín dụng của danh mục cho vay
và lý thuyết về mô hình VaR.
Chương 2: Tình hình hoạt động và thực trạng đo lường rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt
Nam trong những năm gần đây.
Chương 3: Ứng dụng mô hình VaR cụ thể là Creditmetrics trong đo lường tổn thất tín dụng.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Yếu tố đóng góp cơ bản của đề tài này thứ nhất là chỉ ra tình hình yếu kém trong hoạt động
quản trị rủi ro của các NHTM hiện nay từ đó đưa ra hướng khắc phục. Đóng góp quan trọng
thứ hai đó là giới thiệu việc ứng dụng các mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiện đại của các
định chế tài chính lớn trên thế giới từ đó khuyến nghị các NHTM tại Việt Nam nên áp dụng
trên tinh thần hiệp ước Basel III.

X



6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình VaR nhằm mục đích ứng dụng cho
hệ thống NHTM tại Việt Nam để quản trị rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, để áp dụng được mô
hình loại này thì cần các yếu tố cơ sở quan trọng mà cụ thể là hạng tín dụng của các khoản
cho vay mà NHTM cấp cho các đối tượng có nhu cầu. Vì thế việc tiến hành nghiên cứu một

đề tài về việc xây dựng hạng tín dụng cho các khoản vay tại NHTM là cần thiết và phù hợp
với lộ trình phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam.







1

___

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DANH MỤC CHO VAY, RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
DANH MỤC CHO VAY, QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DANH MỤC CHO VAY
TẠI NHTM – PHƯƠNG PHÁP VALUE AT RISK TRONG ĐO LƯỜNG TỔN THẤT
DANH MỤC CHO VAY
1.1. Danh mục cho vay và rủi ro tín dụng của danh mục cho vay
Hoạt động tín dụng ra đời từ rất sớm trong xã hội loài người và góp phần quan trọng
trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thuật ngữ tín dụng (tiếng Việt) hay Credit
(tiếng Anh) vốn xuất phát từ tiếng La Tinh là Credo có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm.
Khó có thể đưa ra được một khái niệm chuẩn xác về tín dụng mà tùy vào góc độ nghiên
cứu mà sẽ tiếp cận tín dụng với những khái niệm khác nhau. Trong bài nghiên cứu này chỉ
tập trung vào quan hệ tín dụng ngân hàng do đó khái niệm về tín dụng được hiểu là giao
dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng) chuyển giao quyền sử dụng
tài sản cho bên nhận tín dụng trong một khoản thời gian nhất định trên cơ sở bên nhận tín
dụng phải hoàn trả vô điều kiện cả gốc lẫn lãi khi đến hạn thanh toán.
Tài sản trong giao dịch tín dụng ngân hàng rất đa dạng, nó có thể biểu hiện dưới hình thái
tiền tệ, tài sản thực hay tài sản vô hình (uy tín). Trong phạm vi bài nghiên cứu này chúng

tôi chỉ bàn về tài sản giao dịch tín dụng dưới hình thái tiền tệ thông qua hình thức cấp tín
dụng là cho vay.
1.1.1. Rủi ro tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo Hiệp ước Basel II của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel thì rủi ro tín dụng được định
nghĩa như sau: “ Rủi ro tín dụng là rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả
năng hoăc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi nghĩa vụ trong hợp đồng ”.
Trong phạm vi lĩnh vực cho vay có thể thấy từ định nghĩa trên những đặc trưng của rủi ro
tín dụng như sau:
 Rủi ro tín dụng xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của khách hàng, vi
phạm ở đây có thể là thanh toán trễ hạn hoặc không thanh toán.
2

___

 Rủi ro tín dụng luôn gắn với tổn thất của ngân hàng về mặt tài chính.
Hầu hết nguyên nhân của các vụ sụp đổ của ngân hàng đều có bắt nguồn từ rủi ro tín dụng.
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ năm 2008 do phần lớn các khoản cho vay vào thị trường bất
động sản không thể thu hồi được khiến cho nhiều ngân hàng tại Mỹ rơi vào tình trạng
khủng hoảng và một số ngân hàng đã phải phá sản. Hoạt động ngân hàng sử dụng một đòn
bẩy tài chính rất lớn do vai trò là trung gian tín dụng của nó, do đó chỉ cần một tỷ lệ nhỏ
các khoản vay không thu hồi được có thể đẩy ngân hàng vào bờ vực sụp đổ. Sự phá sản
của một ngân hàng có thể khiến cho dân chúng mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng, khi
đó hiệu ứng Domino có thể xuất hiện và kéo theo sự sụp đổ của nhiều ngân hàng khác.
1.1.1.2. Tính tất yếu của rủi ro tín dụng
Do không phải ngẫu nhiên mà người ta dùng từ “ credo ” hay “ tín ” để chỉ hoạt động cấp
tín dụng mà qua đó nhằm thể hiện rằng hoạt động này dựa trên cơ sở của niềm tin. Để có
thể đủ “ niềm tin ” là khách hàng sẽ hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi khi đến hạn thanh toán,
ngân hàng phải phải xác định rõ hai yếu tố là thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ của khách
hàng trong đó thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình, không thể cân đo đong đếm được.

Bên cạnh đó trong quan hệ tín dụng, ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thông tin bất
cân xứng mà ngân hàng luôn là người ít thông tin hơn về khách hàng hay dự án được cấp
tín dụng. Hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là sự lựa chọn bất lợi (
adverse selection ) và rủi ro đạo đức ( moral hazard ), những hành vi này của người vay có
thể gây tổn hại đến ngân hàng do họ thường là những người có nhiều thông tin hơn ( Huỳnh
Thế Du, Nguyễn Minh Kiều, 2008 ).
Chính vì thế có thể thấy rằng rủi ro tín dụng xảy ra khi một trong hai hay cả hai yếu tố cấu
thành nên niềm tin không được hình thành đầy đủ. Rủi ro tín dụng là một tất yếu khách
quan xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng mà bản thân ngân hàng không thể triệt
tiêu, loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể kiểm soát, hạn chế nó.
1.1.1.3. Rủi ro tín dụng của danh mục cho vay
Cấu trúc của rủi ro tín dụng có thể chia làm hai phần là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro danh mục gồm có hai phần là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại xuất
phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập
3

___

trung là việc danh mục cho vay dồn vào một hoăc một nhóm khách hàng có quan hệ chặt
chẽ hoặc một nhóm ngành kinh tế, khu vực địa lý…hay nói cách khác rủi ro tập trung sẽ
xuất hiện khi các khoản vay có tương quan chặt chẽ với nhau. Rủi ro nội tại khác với rủi ro
tập trung ở chỗ việc tập trung cao vào một ngành kinh tế có thể ít rủi ro hơn tập trung thấp
vào một ngành khác. Trước đây các ngân hàng thường tập trung vào quản lý rủi ro giao
dịch nhưng xu hướng hiện nay là quản trị rủi ro của cả danh mục bắt đầu được chú trọng.
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ về rủi ro tín dụng

1.1.2. Tổng quan về danh mục cho vay của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm danh mục cho vay
Theo bách khoa toàn thư Wikipedia


thì danh mục ( portfolio ) là “ tập hợp các khoản đầu tư
do cá nhân hay tổ chức nắm giữ bao gồm chứng khoán, trái phiếu, chứng chỉ vàng, bất
động sản, hợp đồng tương lai, option…nhằm để giảm thiểu rủi ro nhờ việc đa dạng hóa
các loại tài sản trong danh mục ”. Như vậy bản thân của từ danh mục cũng đã thể hiện
trong đó sự đa dạng các tài sản dưới những hình thức khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro
của sự tập trung. Chính vì thế có thể đưa ra khái niệm về danh mục cho vay tại ngân hàng
thương mại như sau: Danh mục cho vay của
ngân hàng là tập hợp các khoản cho vay
thuộc sở hữu của ngân hàng tại một
thời điểm nhất định, được sắp xếp theo các tiêu
thức khác nhau phục vụ cho các mục đích cụ thể của ngân hàng ( Bùi Diệu Anh, 2010 ).
Danh mục cho vay có thể hình thành một cách ngẫu nhiên hay hình thành theo kế hoạch.
Danh mục cho vay ngẫu nhiên là danh mục hình thành một cách tự phát theo nhu cầu của
khách hàng hay nói cách khác là bị thị trường dẫn dắt, ngân hàng ở thế bị động. Điều này
4

___

có thể dẫn đến một danh mục cho vay có tỷ trọng các khoản vay bất hợp lý và dẫn đến
rủi ro tín dụng cao cho ngân hàng ( Bùi Diệu Anh, 2010 ). Danh mục cho vay hình thành
theo kế hoạch có nghĩa là một danh mục đã được định hướng với tỷ trọng các khoản vay
được thiết kế ngay từ đầu. Ngân hàng chủ động hơn trong việc xét duyệt các khoản vay.
Danh mục cho vay được thiết kế tối ưu có thể giảm thiểu rủi ro tập trung tín dụng.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, cung cấp rất nhiều
sản phẩm do đó danh mục tài sản có của ngân hàng rất đa dạng nhưng với bản chất là
trung gian tài chính thì tín dụng vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong danh mục tài sản
có. Tại các ngân hàng thương mại ở các quốc gia có thị trường tài chính kém phát triển thì
lợi nhuận mang về từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lợi nhuận
nhưng ngược lại tại các quốc gia có thị trường tài chính lớn mạnh thì tỷ trọng lợi nhuận từ
hoạt động cho vay thấp hơn, phần còn lại là lợi nhuận từ hoạt động thu phí. Tuy tỷ trọng

lợi nhuận mang về từ hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại hiện đại không
chiếm ưu thế nhưng đây là hoạt động tiềm ẩn nhiều rất nhiều rủi ro bởi ngân hàng có đòn
bẩy tài chính rất cao, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ các khoản vay không hoàn trả được thì có thể
đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản. Chính vì thế danh mục cho vay đóng một vai trò quan
trọng tại bất kỳ ngân hàng thương mại nào.
1.1.2.2. Cơ cấu danh mục cho vay
Danh mục cho vay tại ngân hàng thương mại rất đa dạng, nó tập trung rất nhiều các khoản
vay khác nhau. Tùy vào mục đích sử dụng khác nhau của nhà quản trị mà danh mục cho
vay được phân loại theo những tiêu thức khác nhau như phân loại theo thời hạn cho vay,
lĩnh vực cho vay, hình thức bảo đảm tiền vay, chất lượng của khoản vay, khu vực địa lý cho
vay…
 Phân loại theo thời hạn cho vay
Đối tượng cho vay của ngân hàng rất đa dạng xuất phát từ mục đích vay vốn phong phú
của khách hàng. Đối tượng cho vay có thể là nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình
sản xuất, nhu cầu vốn để mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng… Do mỗi đối
tượng cho vay có chu kỳ luân chuyển khác nhau do đó yêu cầu thời hạn cho vay khác
nhau. Nhìn chung thời hạn cho vay tại ngân hàng thương mại thường được phân làm ba
5

___

nhóm là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
 Vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Các khoản
cho vay này thường dùng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp hay các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
 Vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 13 đến 60 tháng. Thông
thường các khoản vay trung hạn dùng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên,
mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng của doanh nghiệp hoặc mua sắm tài sản
có giá trị lớn của cá nhân.
 Vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Đối tượng tài trợ

của các khoản vay dài hạn cũng giống như các khoản vay trung hạn.
Phân loại danh mục cho vay theo thời hạn cấp tín dụng giúp ngân hàng quản lý được nguồn
vốn để đáp ứng qua đó nhằm đảm bảo khả năng thanh toán bởi vốn dĩ ngân hàng còn phải
đối mặt với rủi ro do sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.
 Phân loại theo tình trạng đảm bảo tiền vay
Khi phân loại danh mục cho vay theo tiêu thức là tình trạng bảo đảm tiền vay thì danh mục
cho vay có thể được phân thành 2 nhóm là không có tài sàm bảo đảm và có tài sản bảo
đảm.
 Cho vay không có tài sản bảo đảm: ở các khoản vay không có tài sản bảo
đảm, ngân hàng chỉ dựa vào nguồn thu nợ thứ nhất là dòng tiền từ chính phương án kinh
doanh của khách hàng. Những khách hàng được vay không cần tài sản đảm bảo thường là
khách hàng có uy tín trong quan hệ tín dụng và phương án kinh doanh thực sự hiệu
quả.
 Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Bên cạnh nguồn thu nợ thứ nhất từ dòng
tiền của phương án vay vốn, ngân hàng còn bổ sung nguồn thu nợ thứ hai là từ tài sản cầm
cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay hay tài sản của bên thứ ba bảo lãnh. Ngân
hàng cho vay có tài sản bảo đảm đối với khách hàng khi còn nghi ngờ về thiện chí trả nợ
và khả năng trả nợ từ phương án kinh doanh. Bên cạnh đó yêu tài sản đảm bảo còn là cách
để hạn chế rủi ro đạo đức (moral hazard) và sự lựa chọn bất lợi (adverse selection), (Huỳnh
Thế Du, Nguyễn Minh Kiều, 2008).
 Phân loại theo lĩnh vực cho vay
6

___

Khách hàng vay vốn tại ngân hàng rất đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi lĩnh vực
trong nền kinh tế có đặc thù riêng về mức độ rủi ro và mức sinh lời bình quân do đó phân
loại theo lĩnh vực cho vay giúp ngân hàng quản lý tốt hơn rủi ro của khách hàng vay vốn
trong mối tương quan với môi trường hoạt động của họ.
 Cho vay nông nghiệp

 Cho vay công nghiệp
 Cho vay thương mại dịch vụ
 Cho vay các định chế tài chính
 Cho vay tiêu dùng
 Cho vay bất động sản
 Cho vay các lĩnh vực khác
 Phân loại theo chất lượng của khoản vay
Khi khách hàng vay vốn, ngân hàng tiến hành đánh giá, xếp hạng các khoản cho vay và
định kỳ tái xét theo các quy định của cơ quan quản lý nhà nước hoặc theo hệ thống xếp
hạng nội bộ của ngân hàng. Khi đó các khoản cho vay được ngân hàng phân loại vào các
nhóm nợ có mức độ rủi ro khác nhau.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì các khoản vay được phân thành năm nhóm nợ
theo thứ tự tăng dần mức độ rủi ro. Ngân hàng có thể phân loại dựa theo các tiêu chuẩn
định lượng (chủ yếu theo số ngày quá hạn và số lần cơ cấu lại thời hạn cho vay) hoặc các
tiêu chuẩn định tính (theo hệ thống xếp hạng nội bộ của ngân hàng)
 Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
 Nhóm 2: Nợ cần chú ý
 Nhóm 3: Nợ dưới chuẩn
 Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
 Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Từ kết quả phân loại nợ giúp ngân hàng phần nào nhận thấy mức độ rủi ro của từng
khoản vay và của toàn danh mục. Từ đây các quỹ dự phòng được hình thành. Mỗi nhóm
nợ có mức độ rủi ro khác nhau do đó mức trích dự phòng sẽ biến thiên từ 0 đến 100%.
 Phân loại theo loại tiền cho vay
7

___

Ngân hàng không chỉ cho vay bằng đồng bản tệ mà còn đa dạng nhiều loại đồng tiền khác
nhau ví dụ như ngân hàng Việt Nam ngoài cho vay bằng VND còn cho vay bằng USD,

EUR, vàng… Mỗi loại tiền có kênh huy động, lãi suất huy động, cho vay không giống
nhau. Tương quan giữa huy động và cho vay của từng loại tiền khác nhau từ đó dẫn đến rủi
ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, thanh khoản của từng đồng tiền sẽ khác nhau. Một danh mục cho
vay được phân loại theo từng loại tiền tệ như vậy sẽ giúp nhà quản trị ngân hàng nhìn thấy
rủi ro của từng loại tiền cho vay từ đó có những biện pháp quản trị thích hợp với từng loại
tiền.
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến danh mục cho vay
Danh mục cho vay có thể hình thành ngẫu nhiên hoặc hình thành theo kế hoạch. Để có thể
đưa ra danh mục cho vay kế hoạch có tỷ trọng các khoản cho vay được phân bổ một cách
hợp lý, phù hợp với mục tiêu của ngân hàng thì cần phải xem xét các yếu tố bên trong
ngân hàng như quy mô vốn tự có, nguồn vốn huy động, thị trường mục tiêu…và các yếu
tố bên ngoài như quy định pháp luật, tình hình chính trị, xã hội, diễn biến kinh tế vĩ mô….
 Các yếu tố bên trong ngân hàng
 Vốn tự có của ngân hàng
Quy mô vốn tự có của ngân hàng là yếu tố không thể thiếu khi xem xét để thiết kế danh
mục cho vay. Về mặt quản lý, cơ quan quản lý quy định vốn tự có của ngân hàng được hợp
thành từ hai loại là vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2. Vốn tự có cấp 1 bao gồm các vốn
điều lệ, các quỹ dự trữ và lợi nhuận giữ lại. Vốn tự có cấp 2 là các nguồn vốn tự bổ sung
hoặc có nguồn gốc bên ngoài của ngân hàng. Hoạt động cấp tín dụng phải tuân thủ các
giới hạn theo mức vốn tự có của ngân hàng. Các giới hạn cấp tín dụng theo quy mô vốn
tự có là phù hợp với các yêu cầu của quản trị ngân hàng quốc tế cụ thể là theo Hiệp ước
an toàn vốn Basel. Vốn tự có như là tấm đệm cho hoạt động kinh doanh khi có rủi ro xảy
ra do đó ngân hàng phải thiết kế danh mục cho vay với mức độ rủi ro phù hợp với khả
năng chịu đựng của vốn tự có của mình.
 Tiềm lực huy động vốn
Vốn huy động

là nguồn vốn quan trọng để ngân hàng cấp tín dụng hay nói cách khác đây
là cơ sở để ngân hàng phát triển các hoạt động sử dụng vốn trong đó có hoạt động cho vay.
8


___

Ngân hàng có tiềm lực huy động vốn mạnh sẽ có nhiều thuận lợi để mở rộng danh mục cho
vay. Hơn nữa trong hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn có sự chênh lệch về kỳ hạn giữa
tài sản có và tài sản nợ chính vì thế kỳ hạn của nguồn vốn huy động sẻ ảnh hưởng đến kỳ
hạn của các khoản cho vay trong danh mục của ngân hàng. Do đó danh mục cho vay cần có
sự phù hợp về quy mô và thời hạn với nguồn vốn huy động nhằm hình thành một danh mục
cho vay có độ ổn định cao
giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro
lãi suất…
 Thị trường mục tiêu của ngân hàng
Mỗi ngân hàng đều có thị trường mục tiêu của mình. Thị trường mục tiêu có thể là nhóm
khách hàng, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý…mà ngân hàng nhắm tới. Tại thị trường mục
tiêu của mình ngân hàng có thể phát huy được thế mạnh và tạo sự khác biệt để cạnh tranh
với ngân hàng đối thủ. Chính vì thế danh mục cho vay của ngân hàng cũng phải thể hiện
được thị trường mục tiêu được nhắm tới thông qua tỷ trọng các khoản cho vay nằm trong
thị trường mục tiêu của mình.
 Cơ sở vật chất và nhân lực của ngân hàng
Nhân tố quan trọng đối với ngân hàng hoạt động tốt trong thời đại số ngày nay chính là hệ
thống công nghệ thông tin. Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại giúp cho ngân hàng
quản lý thông tin khách hàng, cập nhật tình hình kinh tế, xã hội rộng khắp từ đó giúp cho
nhà quản trị đưa ra hoặc điều chỉnh danh mục cho vay kịp thời với các xu hướng biến động
trên thị trường. Bên cạnh đó nếu ngân hàng có hệ thống chi nhánh rộng khắp cũng giúp đa
dạng hóa danh mục cho vay về mặt địa lý, đối tượng khách hàng, ngành nghề tốt hơn để
hạn chế rủi ro tập trung tín dụng. Hệ thống chi nhánh phân bổ rộng còn giúp ngân hàng
tăng cường hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn trong đó có hoạt động cho vay. Vấn
đề nhân lực nhất là nhân lực cấp cao có trách nhiệm quản trị tín dụng dưới góc độ danh
mục là nhân tố quan trọng tác động đến chất lượng danh mục. Nếu nhà quản trị giỏi, có tầm
nhìn thì một danh mục cho vay hợp lý sẽ được hình thành, nhưng nếu một nhà quản trị tồi

thì danh mục cho vay sẽ trở thành một hiểm họa rủi ro cho ngân hàng.
 Các yếu tố bên ngoài ngân hàng
 Qui định của pháp luật
9

___

Ngân hàng thường được ví như “ mạch máu ” của nền kinh tế tuy nhiên hoạt động ngân
hàng rất nhạy cảm. Một ngân hàng sụp đổ có thể ảnh hưởng đến an nguy của cả hệ thống và
ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế do bản chất là trung gian tín dụng nên ngân hàng liên
quan đến nhiều chủ thể khác nhau. Chính vì thế các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra rất
nhiều luật và văn bản dưới luật nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cho “ hệ thống mạch máu
” này. Hành lang pháp lý sẽ ảnh hưởng đến danh mục cho vay của ngân hàng thông qua các
quy định về giới hạn tín dụng, lĩnh vực cấp tín dụng, đối tượng khách hàng…từ đó tác
động đến cơ cấu và quy mô của danh mục.
 Tình hình kinh tế xã hội
Những yếu tố kinh tế vĩ mô dưới sự điều hành của nhà nước có tác động mạnh mẽ đến
các ngành kinh tế với mức độ, chiều hướng khác nhau và tác động đến bản thân ngân
hàng. Ví dụ như khi lạm phát tăng cao thì ngân hàng trung ương sẽ thắt chặt tiền tệ từ đó
ảnh hưởng đến việc mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng và lãi suất tăng cao gây
khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp trong những ngành
có hệ số nợ cao. Những yếu tố kinh tế-xã hội nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng
thế nên khi chúng biến động theo hướng thuận lợi cho các ngành nghề trong nền kinh tế
thì ngân hàng sẽ được lợi do giảm bớt rủi ro cho danh mục cho vay của mình nhưng nếu
biết động theo chiều hướng ngược lại thì lại có thể khiến cho ngân hàng phải gánh chịu
những rủi ro nhất định từ danh mục cho vay hiện có. Nhà quản trị phải thường xuyên chú
ý, cập nhật tình hình kinh tế, xã hội để điều chỉnh cơ cấu, độ lớn của danh mục cho vay
nhằm tối đa hóa lợi nhuận tương ứng với mức rủi ro dự kiến.
1.1.3. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng của danh mục cho vay
Trong rủi ro danh mục cho vay thì rủi ro nội tại có tính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó

xuất phát từ bản tính vốn có của mỗi chủ thể vay vốn, mỗi ngành kinh tế, mỗi phương
thức cấp tín dụng. Rủi ro tập trung là loại rủi ro xuất phát từ sự thiếu đa dạng trong danh
mục cho vay, đi ngược lại với nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh.
Theo đinh nghĩa của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel thì rủi ro tập trung là bất kỳ rủi ro
đơn lẻ hoăc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn liên quan đến mức vốn
của ngân hàng, tài sản của ngân hàng hoặc tổng tổn thất của ngân hàng.
10

___

Rủi ro tập trung của danh mục cho vay xuất phát từ sự thiếu đa dạng của danh mục.
Tập trung vào một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng, một lĩnh vực kinh tế, một khu
vực địa lý nhất là khi các đối tượng, khu vực kinh tế, địa lý đó có rủi ro nội tại càng cao thì
xác suất xảy ra cũng như mức độ thiệt hại càng lớn. Lý do dẫn đến một danh mục cho vay
thiếu sự đa dạng:
 Sai lầm trong nhận định định xu hướng phát triển của ngành kinh tế, khu vực địa
lý…từ đó dẫn đến việc tập trung cao các khoản cho vay vào các đối tượng trên. Khi có
những diễn biến xấu trái với dự đoán ban đầu khiến sự lao dốc của ngành kinh tế hay
thiên tai xảy ra ở khu vực địa lý nào đó thì phần lớn các khoản cho vay trong danh mục
trở thành những khoản nợ xấu. Một tỷ trọng các khoản nợ xấu quá lớn sẽ ăn mòn vốn tự có
của ngân hàng và sụp đổ là điều tất yếu.
Một ví dụ điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ cũng bắt nguồn từ nguồn vốn tín
dụng của nhiều ngân hàng chảy vào thị trường bất động sản quá lớn khi thị trường còn
nóng và khi bong bong bắt đầu xì hơi thì những khoản cho vay này thành những khoản nợ
khó đòi khổng lồ.
 Áp lực canh tranh và áp lực lợi nhuận cao khiến ngân hàng quá nghiêng về một
đối tượng vay vốn nào đó, nhất là các đối tượng có rủi ro cao vì nguyên tắc đánh đổi giữa
lợi nhuận và rủi ro. Những ngân hàng nhỏ có trình độ quản trị hạn chế, cạnh tranh kém
trên thị trường khiến họ phải chấp nhận sự thiếu đa dạng để đạt được chỉ tiêu lợi nhuận đề
ra.

Nhìn chung rủi ro tín dụng của danh mục cho vay chủ yếu là do rủi ro tập trung tín dụng.
Rủi ro tập trung này càng được khuếch đại khi sự tập trung rơi vào các đối tượng có rủi ro
nội tại cao. Có thể nhận thấy rằng nguyên nhân của sự thiếu đa dạng hóa rủi ro danh mục
bắt nguồn từ yếu tố chủ quan trong quá trình quản trị nên các ngân hàng có thể khắc phục
được bằng việc nâng cao chất lượng của hoạt động quản trị rủi ro.
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của danh mục cho vay tại NHTM
1.2.1. Khái niệm
Quản trị rủi ro danh mục cho vay được hiểu như một quá trình bao gồm nhiều hoạt
động của nhà quản trị như nhận dạng, đo lường, giám sát và tài trợ rủi ro nhằm tối đa hóa
11

___

lợi nhuận ở mức rủi ro có thể chấp nhận được.
1.2.2. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng danh mục cho vay
1.2.2.1. Tối đa hóa lợi nhuận ở mức chấp nhận được
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại. Thông
thường rủi ro của hoạt động kinh doanh chủ yếu tập trung vào danh mục cho vay. Trên
thực tế không thể có một danh mục cho vay nào không tồn tại rủi ro, dù ít hay nhiều thì
bản thân mỗi khoản cho vay đều tiềm ẩn một mức độ rủi ro nhất định. Quản trị rủi ro tín
dụng không phải loại bỏ triệt để rủi ro của danh mục mà là lựa chọn rủi ro ở mức độ nào.
Hơn nữa quản trị rủi ro danh mục cần có cái nhìn lợi nhuận và rủi ro ở gốc độ toàn danh
mục chứ không phải từng khoản tín dụng riêng lẻ. Có thể trong danh mục có những món
vay có rủi ro cao nhưng cũng có những món vay hiệu quả, điều mà nhà quản trị quan tâm là
mức sinh lời mang lại của cả danh mục có đủ đắp rủi ro và đảm bảo một mức lợi nhuận
nhất định hay không. Do đó mục tiêu cơ bản của quản trị danh mục cho vay chính là tối đa
hóa lợi nhuận ở mức rủi ro có thể chấp nhận được.
1.2.2.2. Giám sát danh mục tín dụng và xử lí những biến động nhằm đảm
bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh
Một danh mục cho vay được đánh giá là an toàn thì cũng không thể duy trì cố định mà

luôn luôn biến đổi theo thời gian. Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng diễn ra liên tục,
những khoản vay mới được hình thành và những khoản vay cũ đáo hạn do đó nhà quản trị
không thể xem xét danh mục cho vay trong trạng thái tĩnh mà phải đặt trong thái động
dưới tác động của những biến đổi của môi trường kinh doanh. Ngoài ra, việc quản trị
danh mục tín dụng cũng nhằm phát hiện và ước lượng những rủi ro mà danh mục cho
vay gặp phải qua đó đưa ra hướng xử lý nhằm đảm bảo sự an toàn cho danh mục cho vay.
1.2.3. Qui trình quản trị rủi ro tín dụng danh mục cho vay
Trong hoạt động cho vay, ngân hàng luôn đối mặt với tình trạng thông tin không cân xứng
trong đó ngân hàng không thể hiểu rõ mức độ rủi ro của người vay, dự án cho vay bằng
chính bản thân họ chính vì thế ngân hàng thường rơi vào thế lựa chọn bất lợi. Nhưng lợi
nhuận luôn gắn liền với rủi ro. Một người quản lý giỏi không phải né tránh và sợ rủi ro
mà phải làm sao để kiểm soát và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất tương ứng với mức lợi
12

___

nhuận đề ra. Một quy trình quản lý tín dụng của danh mục cho vay thông thường gồm có
bốn bước chính đó là nhận diện, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro.
1.2.3.1. Nhận diện rủi ro
Để quản trị được rủi ro thì trước hết phải nhận diện được rủi ro. Như đã phân tích ở các
phần trên, rủi ro danh mục cho vay chính là sự kết hợp của rủi ro nội tại và rủi ro tập
trung. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tập trung chính là do sự thiếu đa dạng hóa danh mục
cho vay, đi ngược với nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh tiền tệ. Nhận diện rủi ro
chính là tìm ra các biểu hiện và các yếu tố tác động có thể dẫn đến các rủi ro trên. Ngân
hàng phải thường xuyên xem xét tổng thể cơ cấu danh mục cho vay của mình kết hợp
với phân tích rủi ro nội tại của các đối tượng cho vay trên danh mục từ đó nhận diện
được những biểu hiện hay những yếu tố tác động làm gia tăng rủi ro tín dụng cho danh mục
cho vay của mình.
1.2.3.2. Đo lường rủi ro
Trong quy trình quản trị rủi ro tín dụng thì đo lường rủi ro là một bước quan trọng, nhất là

trong quan điểm quản trị rủi ro hiện đại. Không chỉ dừng lại ở mức độ là nhận dạng ra
rủi ro mà nhà quản trị phải đo lường được mức độ rủi ro mà ngân hàng gặp phải. Rủi ro
tín dụng bao hàm hai đặc trưng là: (1) luôn gắn liền với tổn thất của ngân hàng về mặt tài
chính; (2) xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của khách hàng. Từ đây ta có thể
thấy được rằng rủi ro tín dụng chính là khả năng xảy ra biến cố gắn liền với tổn thất về
mặt tài chính của ngân hàng. Chính vì thế đo lường rủi ro tín dụng của danh mục cho vay
thực chất đo lường xác suất xảy ra biến cố và mức tổn thất nếu biến cố đó xảy ra trong
một khoản thời gian nhất định (Bùi Diệu Anh, 2010).
Ngân hàng có thể tiếp cận nhiều cách khác nhau để đo lường rủi ro. Không có phương
pháp đo lường nào phù hợp với mọi ngân hàng, mỗi ngân hàng cần xây dựng cho mình
một phương pháp đo lường phù hợp với tình hình thực tế tại ngân hàng mình.
Mục tiêu của đo lường rủi ro tín dụng chính là giúp ngân hàng lượng hóa được rủi ro mà
mình gặp phải trong một khoảng thời gian nhất định qua đó có những biện pháp chống
đỡ rủi ro thích hợp như thiết lập mức dự trữ để bù đắp tổn thất…
1.2.3.3. Kiểm soát rủi ro
13

___

Kiểm soát rủi ro là việc dùng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến thuật…để ngăn
ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu nhưng tổn thất do rủi ro mang đến cho ngân hàng. Mỗi thời
điểm ngân hàng có thể đối mặt với những loại rủi ro khác nhau do đó tùy tình hình thực tế
mà ngân hàng lựa chọn cho mình cách thức kiểm soát rủi ro thích hợp sau khi đã nhận diện
và đo lường được chúng. Kiểm soát rủi ro là một nghệ thuật, nó đòi hỏi sự sáng tạo, linh
hoạt và mềm dẻo. Nhìn chung các biện pháp kiểm soát rủi ro có thể được phân thành ba
nhóm sau đây:
 Né tránh rủi ro
Né trảnh rủi ro nghĩa là né tránh những hoạt động hay những nguyên nhân có thể phát sinh
tổn thất. Đây là cách thức kiểm soát rủi ro đơn giản và có chi phí thấp. Tuy nhiên lợi nhuận
và rủi ro thường song hành tồn tại. Rủi ro được hiểu như là sự không chắc chắn do đó né

tránh rủi ro có thể làm cho ngân hàng mất đi lợi nhuận cao nếu rủi ro không xảy ra.
 Ngăn ngừa rủi ro
Ngăn ngừa rủi ro là việc dùng các biện pháp nào đó để giảm xác suất xuất hiện rủi ro. Các
biện pháp này có thể là tác động vào nguyên nhân gây ra rủi ro hay ngừa sự tương tác giữa
các nhóm nguyên nhân. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Do rủi
ro nội tại xuất phát từ bản chất của đối tượng cho vay của ngân hàng nên ngân hàng khó có
thể tác động làm thay đổi nó. Rủi ro tập trung thường là do nguyên nhân chủ quan từ công
tác quản trị danh mục cho vay chính vì thế đa dạng hóa danh mục cho vay là biện pháp
nhằm ngăn ngừa rủi ro tập trung tín dụng và cũng ngăn ngừa sự tương tác sự khuếch đại
rủi ro khi tập trung cao vào những đối tượng có rủi ro nội tại cao.
 Giảm thiểu tổn thất
Đây là các biện pháp nhằm giảm thiểu những mất mát, thiệt hại do rủi ro gây ra. Ví dụ như
ngân hàng yêu cầu tài sản đảm bảo khi cho vay hay các khoản trích lập dự phòng để
chống đỡ những tổn thất khi xảy ra rủi ro tín dụng.
1.2.3.4. Tài trợ rủi ro
Rủi ro chính là sự không chắc chắn do đó dù có kiểm soát đến đâu cũng không thể ngăn
chặn hoàn toàn sự xuất hiện của rủi ro. Do đó khi rủi ro xảy ra thì cần có biện pháp thích
14

___

hợp để giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do rủi ro gây ra. Thông thường hoạt động tài
trợ rủi ro thường được phân chia thành hai nhóm là tự khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi
ro.
 Tự khắc phục rủi ro
Là phương pháp mà khi rủi ro xảy ra thì ngân hàng tự khắc phục các tổn thất. Để có thể tự
khắc phục các rủi ro thì trước tiên ngân hàng cần phải thiết lập các quỹ dự phòng đầy đủ.
Tổn thất bao gồm hai loại là tổn thất dự kiến và tổn thất ngoài dự kiến. Những tổn thất dự
kiến ngân hàng dùng quỹ dự phòng để bù đắp, tổn thất ngoài dự kiến thì ngân hàng phải
lấy vốn tự có của mình để chống đỡ. Nếu tổn thất vượt quá sự chống đỡ của vốn tự có của

mình ngân hàng có thể đi đến bờ vực phá sản.
 Chuyển giao rủi ro
Là phương pháp mà ngân hàng dùng các nguồn lực bên ngoài để giúp khắc phục rủi ro
như chuyển giao rủi ro bằng cách bán các khoản nợ, khoản đền bù của các hãng bảo
hiểm…
1.3. Tổng quan về phương pháp Value at Risk để đo lường tổn thất danh mục
cho vay
1.3.1. Tổng quan về Value at Risk
Từ khi hiệp ước Basel II của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ra đời năm 2004 đã có
những nỗ lực đáng kể trong việc đo lường và quản trị rủi ro của danh mục tín dụng của
ngân hàng. Mục đích quan trọng của Basel II là đảm bảo ngân hàng có một quy trình
quản lý rủi ro lành mạnh qua đó đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính nói chung. Một
trong những yêu cầu của Basel II là các ngân hàng cần phải có một quy trình để xác định
mức an toàn vốn tương ứng với mức rủi ro của mình và các biện pháp để duy trì mức vốn
của ngân hàng. Bên cạnh phương pháp chuẩn hóa, Basel II khuyến khích các ngân hàng
dựa vào cách tiếp cận nội bộ để đo lường rủi ro chính xác, thực chất là cách xác định vốn
kinh tế dựa vào khung Value at Risk (VaR).
1.3.1.1. Khái niệm VaR
Kể từ khi BIS ( Bank for International Settlements) thông báo về dự định thiết lập yêu
15

___

cầu vốn cho rủi ro thị trường của danh mục cho vay của ngân hàng vào năm 1993 thì nhiều
nhà nghiên cứu đã giới thiệu và phát triển phương pháp VaR. Bắt đầu từ cuối năm 1996 ở
Châu Âu và năm 1998 ở Mỹ, các ngân hàng lớn đã triển khai ứng dụng VaR trong các
mô hình nội bộ để tính yêu cầu vốn cho rủi ro thị trường của tài sản của họ.
VaR dùng để đo lường tồn thất tối đa của tài sản ví dụ như danh mục đầu tư chứng khoán,
danh mục cho vay…trong một khoảng thời gian cho trước với một mức tin cậy nhất định (
thường là ở mức 95%, 97% và 99%). VaR được tính toán dựa trên nền tảng của toán xác

suất, thống kê phức tạp. Ví dụ như có một nhà đầu tư đang nắm giữa một cổ phiếu A có
mức giá thị trường ngày hôm nay là 80000 đồng và mức giá của cố phiếu này có độ lệch
chuẩn (σ) là 10000 đồng. Các nhà đầu tư thường sẽ tự hỏi “ Nếu ngày mai là một ngày xấu
thì tôi sẽ mất bao nhiêu tiền từ cổ phiếu này với mức độ tin cậy nào đó? ” hay nói cách
khác “ Nếu ngày mai là một ngày xấu thì VaR của cổ phiếu tôi đang nắm giữ là bao nhiêu
? ”. Phương pháp VaR sẽ trả lời cho nhà đầu tư biết rằng nếu biến cố xấu xuất hiện vào
ngày mai thì ông ta sẽ mất tối đa bao nhiêu tiền từ cổ phiếu của mình với một mức tin cậy
nhất định. Như vậy có thể thấy rằng VaR có 3 đặc điểm:
 Đo lường tổn thất của một tài sản hoặc một danh mục tài sản
 Đo lường trong một khoảng thời gian cho trước
 Đo lường trong một khoảng tin cậy cho trước
Giả định rằng phân phối giá của cổ phiếu A là phân phối chuẩn xung quanh giá trị 80000
đồng, thông qua đồ thị 1.2 dễ dàng thấy được rằng 98% các quan sát nằm giữa -2.33 và
2.33 độ lệch chuẩn từ giá trị trung bình. Như vậy sẽ có 1% khả năng là giá cổ phiếu A
tăng trên (80,000 + 2.33σ) đồng và 1% giảm dưới (80,000 – 2.33σ) đồng. Do giá trị của σ
là 10,000 đồng do đó có thể nói rằng 99% giá của cổ phiếu A sẽ giảm không quá 23,300
đồng. Như vậy 23,300 đồng chính là VaR của cổ phiếu A ở mức tin cậy 99%, nó ngụ ý
rằng nếu ngày mai là ngày xấu thì giá của cổ phiếu này chỉ có 1% là giảm trên 23,300 đồng.



×