Tải bản đầy đủ (.pdf) (278 trang)

Nghiên cứu kỹ thuật khai thác mực xà bằng nguồn sáng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (15.13 MB, 278 trang )







BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
224 Lê Lai, Hải Phòng





BNN & PTNT
VNCHS
Báo cáo khoa học tổng kết đề tài:

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT KHAI THÁC MỰC XÀ
BẰNG NGUỒN SÁNG



ThS. Bách Văn Hạnh












9193




Hải Phòng, 12-2011

Bản quyền thuộc Viện Nghiên cứu Hải sản.

Đơn xin sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải được gửi đến Viện trưởng Viện Nghiên
cứu Hải sản trừ trường hợp sử dụng với mục đích nghiên cứu
.

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
224 Lê Lai, Hải Phòng






Báo cáo khoa học tổng kết đề tài:

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT KHAI THÁC MỰC XÀ
BẰNG NGUỒN SÁNG




ThS. Bách Văn Hạnh
























Hải Phòng, 12-2011





DANHSÁCHNHNGNGITHCHIN

STT HỌ VÀ TÊN CHỨC DANH ĐƠN VỊ
1 ThS. Bách Văn Hạnh Chủ nhiệm đề tài Viện Nghiên cứu Hải sản
2 ThS. Nguyễn Phi Toàn Thư ký khoa học
Viện Nghiên cứu Hải sản
3 ThS. Nguyễn Viết Nghĩa Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
4 KS. Nguyễn Duy Thành Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
5 CN. Trần Chu Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
6 ThS. Vũ Việt Hà Thành viên Viện Nghiên cứu Hải sản
7 ThS. Phạm Quốc Huy Thành viên Viện Nghiên cứu Hải sản
8 ThS. Nguyễn Văn Kháng Thành viên Viện Nghiên cứu Hải sản
9 ThS. Đặng Văn Thi Thành viên
Vi
ện Nghiên cứu Hải sản
10 ThS. Đoàn Văn Phụ Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
11 ThS. Phạm Văn Tuyển Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
12 KS. Trần Ngọc Khánh Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
13 KS. Nguyễn Sỹ Đoàn Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản
14 KS. Nguyễn Văn Hải Thành viên

Viện Nghiên cứu Hải sản
15 KS. Phạm Thành Đoàn Thành viên
Viện Nghiên cứu Hải sản



BÀI TÓM TẮT
Đề tài "Nghiên cứu kỹ thuật khai thác mực xà bằng nguồn sáng" hướng tới mục
tiêu đề xuất được các giải pháp sử dụng nguồn sáng phù hợp góp phần nâng cao
hiệu quả khai thác mực xà ở nước ta. Đề tài thử nghiệm 03 loại bóng đèn ngầm ánh
sáng vàng, xanh, trắng và 03 loại bóng đèn chiếu trên mặt nước cùng có các màu
vàng, xanh và trắng với một mức công suất chiếu sáng là 10kW/màu. Bóng đèn
ngầm được đặt
ở độ sâu 5m tính từ mặt nước biển. Các mẻ lưới được cố định thời
gian chong đèn là 01 giờ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy công nghệ khai thác mực xà bằng lưới chụp mực 4
tăng gông sử dụng nguồn sáng đèn ngầm nâng cao được sản lượng mực xà lên
khoảng 1,7 lần so với công nghệ khai thác sử dụng nguồn sáng chiếu trên mặt
nước. Trong đó, hai loại bóng đèn ngầm ánh sáng tr
ắng và xanh bắt được mực xà
có sản lượng cao nhất, lần lượt là 20,8kg/mẻ và 16,5 kg/mẻ; các loại bóng đèn còn
lại đều có sản lượng thấp và xấp xỉ bằng 10,0 kg/mẻ.
Bóng đèn ngầm ánh sáng trắng thu hút mực xà tốt nhất vào thời điểm từ 21-24
giờ đêm (30,0kg/mẻ) và kém nhất vào thời điểm từ 0-3 giờ sáng (13,4kg/mẻ). Bóng
đèn ngầm ánh sáng xanh cũng thu hút mực xà tốt nhất trong khoả
ng thời gian từ
21-24 giờ đêm (16,9kg/mẻ) nhưng kém nhất vào thời gian từ 18-21 giờ tối
(16,1kg/mẻ).
Công nghệ khai thác mực xà bằng lưới chụp mực 4 tăng gông sử dụng nguồn
sáng đèn ngầm giảm được khoảng 12% lượng cá tạp có trong thành phần sản lượng

các mẻ lưới so với công nghệ sử dụng nguồn sáng chiếu trên mặt nước. Thành phần
sản lượng mực xà bắt
được ở các mẻ lưới sử dụng bóng đèn ngầm lên tới 94,5%
trong khi đó tỷ lệ này ở các mẻ lưới sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước chỉ bằng
82,7%.
Khai thác mực xà bằng lưới chụp mực 4 tăng gông sử dụng nguồn sáng đèn
ngầm bắt được mực xà có chiều dài bao áo lớn hơn khoảng 0,5cm so với công nghệ
sử dụng nguồn sáng chiếu trên mặt n
ước. Trong đó, hai loại bóng đèn ngầm ánh
sáng xanh và trắng bắt được mực xà có chiều dài bao áo lớn nhất, trung bình lần
lượt là 14,0cm và 13,6cm.
i
MỤC LỤC
BẢNG CHÚ GIẢI iv
DANH MỤC BIỂU BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Mở đầu 1
2. Trích lược tóm tắt thuyết minh đề tài 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 9
1. Nghiên cứu trên thế giới 9
1.1. Tập tính của cá đối với ánh sáng tự nhiên 9
1.2. Ảnh hưởng của ánh sáng nhân tạo đến hoạt tính và khả năng tụ đàn của cá 10
1.3. Nghiên cứu sử dụng ánh sáng nhân tạo trong khai thác mực 11
1.3.1. Ánh sáng đối với mực 11
1.3.2. Sử dụng ánh sáng nhân tạo trong nghiên cứu và khai thác mực 12
2. Nghiên cứu trong nước 14
2.1. Nghiên cứu sử dụng ánh sáng nhân tạo trong khai thác hải sản 14
2.2. Nghiên cứu sử dụng ánh sáng trong khai thác mực xà 16
2.2.1. Khai thác mực xà thương phẩm 16

2.2.2. Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khai thác mực xà 17
2.2.3. Kỹ thuật khai thác mực xà kết hợp ánh sáng 18
2.3. Nghiên cứu nguồn lợi mực xà 19
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 23
1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 23
1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2. Phương pháp nghiên cứu 24
2.1. Trang bị nghiên cứu 24
2.1.1. Lựa chọn tàu thuyền 24
2.1.2. Trang bị lưới chụp mực 4 tăng gông 25
2.1.3. Trang bị tăng gông và bóng đèn chiếu sáng 27
2.1.4. Các trang thiết bị khác 28
2.2. Bố trí thí nghiệm 28
2.2.1. Bố trí nguồn sáng 28
2.2.2. Thời gian chong đèn và số lượng mẻ lưới 28
ii
2.3. Thu thập số liệu 29
2.3.1. Thông tin mẻ lưới 29
2.3.2. Kết quả đánh lưới 29
2.3.3. Thu thập số liệu sinh học 29
2.4. Phân tích số liệu 30
2.4.1. Chuẩn hóa số liệu 30
2.4.2. Xử lý và phân tích số liệu 30
2.4.3. Phương pháp đánh giá, so sánh 33
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 35
1. Kết quả thử nghiệm nguồn sáng chiếu trên mặt nước 35
1.1. Kết quả đánh bắt chung 35
1.1.1. Thành phần loài bắt gặp 35
1.1.2. Thành phần sản lượng 36

1.1.3. Sản lượng mẻ lưới 37
1.2. Sản lượng khai thác mực xà 38
1.2.1. Sản lượng loài 38
1.2.2. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian 39
1.3. Chiều dài khai thác mực xà 40
1.3.1. Chiều dài đánh bắt chung 40
1.3.2. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian 41
2. Kết quả thử nghiệm nguồn sáng đèn ngầm 43
2.1. Kết quả đánh bắt chung 43
2.1.1. Thành phần loài bắt gặp 43
2.1.2. Thành phần sản lượng 44
2.1.3. Sản lượng mẻ lưới 45
2.2. Sản lượng khai thác mực xà 46
2.2.1. Sản lượng loài 46
2.2.2. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian 47
2.3. Chiều dài khai thác mực xà 48
2.3.1. Chiều dài đánh bắt chung 48
2.3.2. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian 49
3. Quy trình công nghệ thử nghiệm nguồn sáng 51
3.1. Quy trình công nghệ thử nghiệm nguồn sáng chiếu trên mặt nước 51
3.1.1. Yêu cầu về tàu thuyền và ngư cụ 51
3.1.2. Lắp đặt hệ thống tăng gông và phụ kiện 52
3.1.3. Lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng 53
3.1.4. Quy trình và kỹ thuật khai thác mực xà 54
3.2. Quy trình công nghệ thử nghiệm nguồn sáng đèn ngầm 57
3.2.1. Yêu cầu về tàu thuyền và ngư cụ 57
3.2.2. Lắp đặt hệ thống tăng gông và phụ kiện 57
3.2.3. Lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng 57
3.2.4. Quy trình và kỹ thuật khai thác mực xà 58
iii

4. Một số đặc điểm nguồn lợi mực xà 60

4.1. Thành phần thế hệ khai thác 60
4.2. Phân bố tần suất chiều dài khai thác 60
4.2.1. Phân bố tần suất chiều dài đánh bắt chung 60
4.2.2. Phân bố tần suất chiều dài theo giới tính 61
4.2.3. Phân bố tần suất chiều dài theo giai đoạn thành thục 62
4.3. Giới tính và giai đoạn thành thục 62
4.4. Chiều dài thành thục 64
4.5. Độ no dạ dày và cường độ bắt mồi 66
CHƯƠNG 4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68
1. Thành phần loài đánh bắt 68
2. Thành phần sản lượng mực xà 70
3. Sản lượng khai thác mực xà 71
3.1. Sản lượng loài 71
3.2. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian 73
4. Chiều dài khai thác mực xà 75
4.1. Chiều dài đánh bắt chung 75
4.2. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian 76
5. Một số vần đề tồn tại và hạn chế 77
5.1. Trang bị nguồn sáng và bố trí thí nghiệm 77
5.2. Một số vấn đề tồn tại khác 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1. Kết luận 80
2. Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 88
Phụ lục 1. Thời gian và vị trí thực hiện các mẻ lưới thử nghiệm 88
Phụ lục 2. Biểu ghi kết quả đánh lưới 94
Phụ lục 3. Biểu phân tíchh sinh học 96

Phụ lục 4. Tổng hợp danh sách loài bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông 98
Phụ lục 5. Tỷ lệ % sản lượng các loài bắt gặp ở các loại bóng đèn chiếu trên mặt nướ
c. 99
Phụ lục 6. Tỷ lệ % sản lượng các loài bắt gặp ở các loại bóng đèn ngầm. 100
iv
BẢNG CHÚ GIẢI
Ký hiệu Ý nghĩa
FAO Tổ chức Nông lương thế giới (Food and Agriculture Organization of
the united nations)
FiSAT Phần mềm thống kê đánh giá quần đàn cá khai thác (FAO-ICLARM
Stock Assessment Tools)
Bhattacharya’s
method
Phương pháp phân tách thế hệ quần đàn khai thác dựa vào số liệu
phân bố tần số chiều dài đánh bắt với giả định tần số chiều dài của
mỗi thế hệ tuân theo phân bố chuẩn. Ứng dụng phương pháp này để
phân tách thế hệ cho các loài có vòng đời ngắn tốt hơn so với các loài
có vòng đời dài.
S.I. Separation Index: chỉ số phân tách thế hệ trong phương pháp phân
tách thế hệ Bhattacharya. Khi S.I. có giá trị nhỏ hơn 2 thì kết quả phân
tách thế hệ không đủ tin cậy.
Chong đèn Là khoảng thời gian thắp đèn dụ mực tập trung được tính từ lúc bắt
đầu thắp đèn đến khi tắt đèn.
Gom mực Là 01 công đoạn trong qui trình kỹ thuật khai thác mực xà kết hợp các
hoạt động tắt dần đèn dụ mực và sử dụng đèn gom để hướng mực nổi
dần lên mặt nước và di chuyển gần về phía tàu.
V
1
, X
1

, T
1
Bóng đèn ánh sáng vàng, xanh, trắng chiếu trên mặt nước.
V
2
, X
2
, T
2
Bóng đèn ngầm ánh sáng vàng, xanh và trắng.


Ký hiệu biểu thị giới hạn biến động của giá trị trung bình ước tính (
);
trong đó, biểu thị giá trị ±SE, biểu thị khoảng giới hạn ước tính
90% của giá trị trung bình.


v
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1. Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng lưới chụp mực 4 tăng gông 27
Bảng 2. Bảng kê thành phần họ, giống, loài bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước 35
Bảng 3. Số lượng loài và giới hạn ước tính 90% số loài trung bình mỗi mẻ lưới chụp mực 4
tăng gông sử dụng các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước. 35

Bảng 4. Thành phần sản lượng (%N, %W) của các loài/nhóm loài bắt được bằng lưới chụp
mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước 36

Bảng 5. Biến động thành phần sản lượng (%N, %W) và giới hạn ước tính 90% thành phần sản
lượng của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước. 37


Bảng 6. Biến động sản lượng mẻ lưới và giới hạn 90% sản lượng mẻ lưới chụp mực 4 tăng
gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước 37

Bảng 7. Biến động sản lượng mẻ lưới và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung bình mẻ lưới
của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước 38

Bảng 8. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung
bình của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước ánh sáng vàng 39

Bảng 9. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung
bình của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước ánh sáng xanh 39

Bảng 10. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung
bình của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước ánh sáng trắng. 40

Bảng 11. Chiều dài cá thể và giới hạn tin cậy 90% chiều dài đánh bắt trung bình của mực xà
bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước 40

Bảng 12. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% chiều
dài đánh bắt trung bình của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước ánh
sáng vàng 41

Bảng 13. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% chiều
dài đánh bắt trung bình của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước ánh
sáng xanh 41

Bảng 14. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% chiều
dài đánh bắt trung bình của mực xà bắt được ở bóng đèn chiếu trên mặt nước ánh
sáng trắng. 42


Bảng 15. Bảng kê thành phần họ, giống, loài bắt được ở các loại bóng đèn ngầm 43
Bảng 16. Số lượng loài và giới hạn ước tính 90% số loài trung bình mỗi mẻ lưới chụp mực 4
tăng gông sử dụng các loại bóng đèn ngầm. 43

Bảng 17. Thành phần sản lượng (%N, %W) của các loài/nhóm loài bắt được bằng lưới chụp
mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn ngầm 44

vi
Bảng 18. Biến động thành phần sản lượng (%N, %W) và giới hạn ước tính 90% thành phần
sản lượng của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm. 45

Bảng 19. Biến động sản lượng mẻ lưới và giới hạn 90% sản lượng mẻ lưới chụp mực 4 tăng
gông sử dụng bóng đèn ngầm 45

Bảng 20. Biến động sản lượng mẻ lưới và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung bình mẻ lưới
của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm 46

Bảng 21. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung
bình của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm ánh sáng vàng 47

Bảng 22. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung
bình của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm ánh sáng xanh 47

Bảng 23. Biến động sản lượng mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% sản lượng trung
bình của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm ánh sáng trắng. 48

Bảng 24. Chiều dài cá thể và giới hạn tin cậy 90% chiều dài đánh bắt trung bình của mực xà
bắt được ở các loại bóng đèn ngầm 49


Bảng 25. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% chiều
dài đánh bắt trung bình của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm ánh sáng vàng 49

Bảng 26. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% chiều
dài đánh bắt trung bình của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm ánh sáng xanh 50

Bảng 27. Biến động chiều dài đánh bắt mực xà theo thời gian và giới hạn tin cậy 90% chiều
dài đánh bắt trung bình của mực xà bắt được ở bóng đèn ngầm ánh sáng trắng. 50

Bảng 28. Bảng kết quả phân tách thế hệ mực xà bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông 60
Bảng 29. Thành phần giới tính mực xà bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông (N=1.628)
63

Bảng 30. Tỷ lệ % các giai đoạn chín muồi tuyến sinh dục của mực xà đực và cái bắt được
bằng lưới chụp mực 4 tăng gông (N=1.628) 63

Bảng 31. Chiều dài trung bình ước tính theo giai đoạn chín muồi tuyến sinh dục của mực xà
bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông sử dụng các loại bóng đèn chiếu trên mặt
nước và bóng đèn ngầm (N=1.628) 65

Bảng 32. Tỷ lệ % số con theo độ no dạ dày của mực xà bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng
gông (N=1.628). 66

Bảng 33. Tỷ lệ % số con theo độ no dạ dày phân theo giới tính của mực xà bắt được bằng lưới
chụp mực 4 tăng gông (N=1.628). 66

Bảng 34. Tỷ lệ % số con theo độ no dạ dày phân theo dạng thức ăn cũ, mới có trong dạ dày
của mực xà bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông (N=1.474) 67



vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ mô tả vùng biển triển khai các chuyến nghiên cứu thực nghiệm (các chấm đen
mô tả vị trí thực hiện các mẻ lưới). 24

Hình 2. Hình ảnh tàu BĐ95474TS sau khi lắp đặt hệ thống tăng gông và hệ thống đèn chiếu
sáng 25

Hình 3. Bản vẽ khai triển vàng lưới chụp mực 4 tăng gông 26
Hình 4. Sơ đồ mô tả cách lắp ráp chì và vòng khuyên 27
Hình 5. Sơ đồ lắp đặt hệ thống tăng gông trên tàu BĐ.95474.TS 52
Hình 6. Sơ đồ bố trí hệ thống bóng đèn chiếu trên mặt nước lắp đặt trên tàu BĐ.95474.TS 53
Hình 7. Sơ đồ bố trí nguồn điện chiếu sáng cho bóng đèn chiếu trên mặt nước lắp đặttrên tàu
BĐ.95474.TS 54

Hình 8. Sơ đồ định hình lưới chụp mực 4 tăng gông trên tàu BĐ.95474.TS 56
Hình 9. Sơ đồ bố trí hệ thống bóng đèn ngầm lắp đặt trên tàu BĐ.95474.TS 58
Hình 10. Sơ đồ bố trí nguồn điện chiếu sáng cho bóng đèn ngầm lắp đặt trên tàu
BĐ.95474.TS 58

Hình 11. Phân bố tần suất chiều dài đánh bắt chung (%) của mực xà bắt được bằng lưới chụp
mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm
(N=1.628). 61

Hình 12. Phân bố tần suất chiều dài (%) theo giới tính của mực xà bắt được bằng lưới chụp
mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm (mực
non: 64con; đực: 815con; cái: 749con). 62

Hình 13. Biểu đồ phân bố tần suất chiều dài (%) của mực xà thành thục và chưa thành thục
bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước và

bóng đèn ngầm (chưa thành thục: 1.413con; thành thục: 215con). 62

Hình 14. Biểu đồ biểu thị tỷ lệ % số cá thể thành thục theo nhóm chiều dài của mực xà bắt
được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông sử dụng bóng đèn chiếu trên mặt nước và
bóng đèn ngầm (N=749). 64

Hình 15. Biểu đồ so sánh số lượng họ, giống, loài hải sản bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng
gông giữa các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm (biểu thị kết quả
thống kê ở Bảng 2, Bảng 15) 68

Hình 16. Biểu đồ biểu thị giới hạn ước tính 90% số lượng loài trung bình mỗi mẻ lưới ở các
loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm (biểu thị kết quả thống kê ở
Bảng 3, Bảng 16) 69

Hình 17. Biểu đồ biểu thị giới hạn 90% tỷ lệ sản lượng trung bình của mực xà bắt được bằng
lưới chụp mực 4 tăng gông ở các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn
ngầm (biểu thị kết quả ước tính ở Bảng 5, Bảng 18). 70


viii
Hình 18. Biểu đồ biểu thị giới hạn 90% sản lượng mẻ lưới trung bình (kg, con) của mực xà
bắt được bằng lưới chụp mực 4 tăng gông ở các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và
bóng đèn ngầm (biểu thị kết quả ở Bảng 7, Bảng 20) 72

Hình 19. Biểu đồ biểu thị giới hạn 90% sản lượng trung bình của mực xà (con/mẻ) theo các
thời điểm khác nhau ở các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm
(biểu thị kết quả ở Bảng 8, Bảng 9, Bảng 10, Bảng 21, Bảng 22 và Bảng 23). 74

Hình 20. Biểu đồ biểu thị giới hạn 90% sản lượng trung bình của mực xà (kg/mẻ) theo các
thời điểm khác nhau ở các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm

(biểu thị kết quả ở Bảng 8, Bảng 9, Bảng 10, Bảng 21, Bảng 22 và Bảng 23). 75

Hình 21. Biểu đồ biểu thị giới hạn 90% chiều dài trung bình của mực xà bắt được bằng lưới
chụp mực 4 tăng gông ở bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn ngầm (biểu thị
kết quả ở Bảng 11, Bảng 24) 76

Hình 22. Biểu đồ biểu thị giới hạn 90% chiều dài đánh bắt trung bình của mực xà theo các
thời điểm khai thác khác nhau ở các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước và bóng đèn
ngầm (biểu thị kết quả ở Bảng 12, Bảng 13, Bảng 14, Bảng 25, Bảng 26 và Bảng 27).
77



1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Mở đầu
Ánh sáng nhân tạo đã và đang được ứng dụng có hiệu quả đối với các nghề khai
thác hải sản kết hợp ánh sáng ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Theo thống kê
của Yami (1976) thì trên thế giới có các nghề khai thác hải sản kết hợp ánh sáng như
nghề lưới vây, câu mực tự động, câu tay mực, chụp mực, Đối tượng khai thác chính
của các nghề này chủ yếu là các loài cá nổi nhỏ
, cá ngừ và mực, Ở nước ta cũng có
các nghề khai thác hải sản kết hợp ánh sáng như lưới vây, vó mành, câu tay mực, chụp
mực, khai thác các loài cá nổi nhỏ như cá nục, cá trích, cá cơm, mực ống và mực
xà,
Khai thác mực ống ở nước ta có hai hình thức là câu tay mực và chụp mực. Đặc
trưng của hai nghề này ở chỗ đều hoạt động ở vùng biển gần bờ, đều sử dụng bóng đ
èn
cao áp chiếu trên mặt nước để thu hút mực tập trung, sau đó tắt dần đèn chiếu sáng để
gom mực lại gần tàu rồi dùng câu tay và/hoặc lưới chụp mực để đánh bắt. Trong khi

đó nghề khai thác mực xà hoạt động ở vùng biển khơi, xa bờ, sử dụng bóng đèn chớp
để thu hút mực đến gần thúng câu trong suốt thời gian câu.
Đặc trưng của nghề khai thác mực xà ở nướ
c ta ở chỗ ngư dân trực tiếp câu mực
trên các thúng nhỏ được ‘thả’ từ các ‘tàu mẹ’. Các thúng câu thường được làm bằng
tre, kích thước nhỏ với đường kính miệng thúng chỉ khoảng 3m và chiều cao khoảng
1m nên dễ bị lật hoặc bị trôi ra xa ngoài tầm kiểm soát của tàu mẹ trong điều kiện sóng
to, gió lớn, nước chảy mạnh. Hàng năm, tuy không có số liệu thống kê chính thức
nhưng đều có người mấ
t tích trong khi câu mực trên thúng. Như vậy, nghề khai thác
mực xà hiện nay kém an toàn cho ngư dân khi mà họ phải ngồi trên các thúng nhỏ
được thả trôi trên biển trong suốt thời gian câu vào ban đêm. Do vậy, nghiên cứu để
lựa chọn được hình thức khai thác mực xà an toàn hơn cho ngư dân và có sản lượng
cao hơn là cần thiết.
Nghiên cứu đầu tiên về công nghệ khai thác mực xà ở nước ta được Viện Nghiên
cứu Hải sản thực hiện vào các năm 2000 và 2001 vớ
i các loại ngư cụ như lưới chụp
mực 4 tăng gông, câu mực có tời quay và lưới rê trôi. Kết quả cho thấy khai thác mực
xà bằng lưới chụp mực 4 tăng gông có sản lượng cao hơn nhiều so với câu mực có tời
quay và lưới rê trôi. Tuy nhiên, khi so sánh với hình thức câu mực trên thúng thì sản

2
lượng của lưới chụp mực vẫn thấp hơn. Đến năm 2005 và 2006, sau khi Viện Nghiên
cứu Hải sản cải tiến một số thông số kỹ thuật của loại lưới chụp mực 4 tăng gông trước
đây thì sản lượng các mẻ lưới thử nghiệm đã tăng lên đáng kể.
Thời gian gần đây đã có một số tàu chụp mực ống ở Bình
Định di chuyển ngư
trường đến vùng biển khơi miền Trung để khai thác mực xà. Tuy nhiên, hoạt động
khai thác này mang tính tự phát, đơn lẻ phát sinh từ một số chuyến biển mà ngư dân
không chụp được nhiều mực ống ở vùng biển gần bờ. Sản lượng chụp mực xà ở các

chuyến biển này tuy cao nhưng vẫn chưa thể thuyết phục được ngư dân chuyển đổi
ngư tr
ường khai thác đến vùng biển khơi miền Trung, một phần do giá thành của mực
xà vẫn thấp hơn nhiều so với mực ống. Mặc dù vậy, đây lại là dấu hiệu cho thấy ngư
dân có thể sử dụng lưới chụp mực để khai thác mực xà.
Như vậy, có thể khẳng định rằng ngư dân có thể sử dụng lưới chụp mực 4 tăng
gông để khai thác mực xà thay thế
dần hình thức câu mực trên thúng tiềm ẩn nhiều rủi
ro như hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao được sản lượng khai thác
mực xà cho lưới chụp mực 4 tăng gông ?.
Chúng ta biết rằng các nghề khai thác mực ống cũng như mực xà hiện nay đều sử
dụng ánh sáng nhân tạo để dụ mực tập trung. Đối với câu mực trên thúng, mỗi thúng
câu thường sử dụng 01 bóng đèn chớ
p công suất nhỏ thả nổi trên mặt nước để dụ mực.
Các bóng đèn này có thể được bọc ngoài bằng ống nhựa kín nước có màu sắc khác
nhau rồi treo lơ lửng trong nước biển ngay phía dưới đáy thúng câu. Qua tìm hiểu, tác
giả nhận thấy nếu treo bóng đèn lơ lửng trong nước thì ngư dân có thể câu được nhiều
mực xà hơn so với khi treo bóng đèn trên mặt nước. Như vậy, màu sắc chiếu sáng c
ủa
bóng đèn và vị trí đặt bóng đèn chiếu sáng có thể ảnh hưởng đến mật độ tập trung của
mực xà quanh nguồn sáng. Và nếu chúng ta có thể nghiên cứu lựa chọn được màu sắc
chiếu sáng cũng như vị trí đặt bóng đèn chiếu sáng phù hợp thì hoàn toàn có thể nâng
cao được hiệu quả khai thác mực xà cho lưới chụp mực 4 tăng gông.
Xuất phát từ các vấn đề tồn tại nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát tri
ển Nông thôn
đã phê duyệt triển khai đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật khai thác mực xà bằng nguồn
sáng”. Điểm mới của đề tài so với các nghiên cứu trước đây ở chỗ nguồn sáng được
thử nghiệm có nhiều màu chiếu sáng trên mặt nước và nguồn sáng đèn ngầm.

3

2. Trích lược tóm tắt thuyết minh đề tài
1 Tên đề tài 2 Mã số
Nghiên cứu kỹ thuật khai thác mực xà bằng nguồn sáng.

3 Thời gian thực hiện: 24 tháng

4 Cấp quản lý
Nhà nước Bộ
(Từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2011)
Cơ sở
Tỉnh
5 Kinh phí: 1.830,0 triệu đồng, trong đó:
Nguồn
Tổng số (triệu đồng)

- Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học
1.830,0

- Từ nguồn tự có của cơ quan

- Từ nguồn khác

6
Thuộc Chương trình (ghi rõ tên chương trình, nếu có)

Thuộc Dự án KH&CN (ghi rõ tên dự án KH&CN, nếu có)
Đề tài độc lập
7 Lĩnh vực khoa học
Tự nhiên; Nông, lâm, ngư nghiệp;


Kỹ thuật (Công nghiệp, XD, GT, ); Y dược.
8 Chủ nhiệm đề tài
Họ và tên: Bách Văn Hạnh
Năm sinh: 2/9/1974 Nam/Nữ: Nam
Học hàm: Năm được phong học hàm:
Học vị: Thạc sỹ sinh học và quản lý nghề cá Năm đạt học vị: 2004
Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên Chức vụ:
Điện thoại: Cơ quan: 031 3 826 986, Nhà riêng: 031 3 629 324,
Mobile: 098 4 556 559 Fax: +84-31 3 836 812 E-mail:
Tên cơ quan đang công tác: Viện Nghiên cứu Hải sản (RIMF)
Địa chỉ cơ quan: 224 Lê Lai, Hải Phòng
Địa chỉ nhà riêng: 6/18/18 Bùi Thị Từ Nhiên, Đông Hải I, Hải An, Hải Phòng
9 Cơ quan chủ trì đề tài
Tên cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Hải sản (RIMF)
Điện thoại: 031 3 836 135 Fax: +84-31 3 836 812 E-mail:

Địa chỉ: 224 Lê Lai, Hải Phòng
Họ và tên thủ trưởng cơ quan: Chu Tiến Vĩnh
Số tài khoản: 301.01.00.00003 tại Kho bạc nhà nước Hải Phòng
Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD)
10
Mục tiêu của đề tài (bám sát và cụ thể hoá mục tiêu đặt hàng - nếu có đặt hàng)
Đề xuất được các giải pháp sử dụng nguồn sáng phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả
khai thác mực xà ở Việt Nam.


4
12 Cách tiếp cận
(Luận cứ rõ việc lựa chọn cách tiếp cận phù hợp đối tượng nghiên cứu để đạt mục tiêu đặt ra)
12.1 Tiếp cận lịch sử

Trên cơ sở các nguồn số liệu, tài liệu lịch sử hiện có từ các nghiên cứu trước đây ở Việt
Nam, Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu tổng quan tình hình khai thác và một số vấn đề liên quan
đến nghề khai thác mực xà. Đây sẽ là c
ơ sở khoa học tin cậy cho việc thiết kế nghiên cứu,
thiết kế nghiên cứu thử nghiệm khai thác mực xà với các nguồn sáng khác nhau.
12.2 Tiếp cận điều tra nghiên cứu thực nghiệm
Đề tài sẽ thuê tàu khai thác mực xà của ngư dân để thực hiện các chuyến nghiên cứu
thử nghiệm nguồn sáng (màu sắc, cường độ) cho lưới chụp mực bốn tăng gông khai thác mực
xà.
12.3 Tiếp cận nghiên cứ
u tổng hợp
Trên cơ sở các nguồn số liệu lịch sử và kết quả điều tra nghiên cứu thực nghiệm, Đề tài
sẽ nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sử dụng nguồn sáng phù hợp góp phần nâng cao hiệu
quả khai thác mực xà ở biển Việt Nam.
13 Nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm
(Liệt kê và mô tả những nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm cần tiến
hành để đạt được mục tiêu đặt ra, trong đó, chỉ rõ những nội dung mới, nội dung quan
trọng nhất để tạo ra sản phẩm, công nghệ chủ yếu; những hoạt động để chuyển giao kết quả
nghiên cứu đến người sử dụng; dự kiến nhữ
ng nội dung có tính rủi ro và giải pháp khắc phục -
nếu có)

Nội dung 1: Nghiên cứu tổng quan tình hình khai thác và một số vấn đề liên quan đến nghề
khai thác mực xà ở Việt Nam dựa vào cơ sở dữ liệu hiện có.
Nội dung 2:
Nghiên cứu thử nghiệm nguồn sáng (màu sắc, cường độ) cho lưới chụp mực bốn
tăng gông khai thác mực xà.
Nội dung 2.1: Nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng nguồn sáng (màu sắc, cường độ) chiếu trên
mặt nước cho lưới chụp mực bốn tăng gông khai thác mực xà.
Nội dung 2.2: Nghiên cứu thử nghiệm ánh sáng đèn ngầm khai thác mực xà.

Nội dung 3:
Nghiên cứu tổng hợp và viết báo cáo tổng kết đề tài.
14 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
(Luận cứ rõ việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng phù hợp với từng
nội dung của đề tài; làm rõ tính mới, sáng tạo, độc đáo của các phương pháp nghiên cứu và kỹ
thuật sử dụng)

14.1 Phạm vi vùng biển nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là ngư trường khai thác mực xà ở vùng biển xa bờ miền Trung và Đông
Nam Bộ của Việt Nam.
14.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ
thuật sử dụng
14.2.2 Các phương pháp và kỹ thuật liên quan đến nội dung 2
a) Tàu thuyền và ngư cụ sử dụng:
Tàu thuyền:
Dự kiến sử dụng tàu khai thác mực xà của ngư dân có công suất máy chính

5
khoảng từ 300 - 350 cv để tiến hành các hoạt động nghiên cứu thử nghiệm.
Ngư cụ:
Ngư cụ sử dụng trong nghiên cứu là lưới chụp mực xà bốn tăng gông. Dựa trên mẫu
lưới đã được nghiên cứu thành công trong giai đoạn trước, đề tài sẽ tính toán thiết kế, cải tiến
mẫu lưới phù hợp với cỡ tàu sử dụng nghiên cứu.
b) Bố trí thí nghiệm
- Nguồn sáng màu xanh, vàng và trắng ở mức công suất chiếu sáng dự kiến là 10kw được
thử nghi
ệm để dụ mực xà tập trung. Độ cao treo bóng đèn so với mặt nước khoảng 3,0m và
góc chiếu sáng so với phương ngang là 40
0
được bố trí trong các mẻ lưới thử nghiệm nguồn

sáng chiếu trên mặt nước (Thí nghiệm 1). Trong các mẻ lưới thử nghiệm ánh sáng đèn ngầm
thì bóng đèn được thắp sáng ở độ sâu khoảng 5,0m tính từ mặt nước biển (Thí nghiệm 2).
- Nguồn sáng màu đỏ được sử dụng để gom mực xà khi chúng được dụ tập trung bằng các
nguồn sáng màu xanh, vàng và trắng nêu trên để tiến hành khai thác.
- Bố trí thí nghiệm: nguồn sáng với ba màu, cùng m
ức công suất chiếu sáng nêu trên sẽ được
bố trí xen kẽ qua các mẻ lưới ở cả hai thí nghiệm. Mỗi mẻ lưới sẽ chỉ sử dụng duy nhất một
màu nhất định để dụ mực xà tập trung. Tổng số mẻ lưới tối thiểu dự kiến cho cả hai thí
nghiệm là 180 mẻ, được tính theo công thức dưới đây:
Đề tài bố trí ba chuyến nghiên cứu thử nghiệm triển khai vào các thời điểm khai thác
chính của nghề khai thác mực xà. Tùy vào điều kiện thực tế trên biển, mỗi chuyến có thể thử
nghiệm được 60-80 mẻ lưới (khoảng từ 18-20 ngày thử nghiệm cho mỗi chuyến).
c) Thu thập số liệu
Sản lượng khai thác được thu thập theo từng mẻ của từng loại màu sắc và công suất
phát sáng của nguồn sáng. Sản lượng thu được của mẻ lưới được phân tích thành phần loài;
sau đó đếm số con, cân khối lượng để phân tích thành phần sản lượng của mỗi loài. Mực xà sẽ
được tách riêng để lấy mẫu đo tần xuất chiều dài và phân tích sinh học (đo chiều dài-khối
lượng, xác định giới tính và giai đoạn chín muồi tuyến sinh dục,…).
14.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
14.3.5 Phân tích số li
ệu nghiên cứu thử nghiệm nguồn sáng
a) Năng suất đánh bắt
Số liệu năng suất đánh bắt được xử lý riêng cho từng nguồn sáng được sử dụng. Năng
suất đánh bắt trung bình (
) được tính bằng công thức:

Trong đó,
là năng suất mẻ lưới thứ của lưới chụp mực xà thứ (đụt lưới
thứ
) sử dụng nguồn sáng thứ . Đơn vị năng suất tính bằng .


15 Hợp tác quốc tế

6
Tên đối tác
(Người và tổ chức
khoa học và công nghệ)

Nội dung hợp tác
(Ghi rõ nội dung, lý do, hình thức hợp tác,
kết quả thực hiện hỗ trợ cho đề tài này)
Đã
hợp
tác

Tên đối tác
(Người và tổ chức
khoa học và công
nghệ)
Nội dung hợp tác
(Ghi rõ nội dung cần hợp tác; lý do hợp tác; hình thức thực
hiện; dự kiến kết quả hợp tác đáp ứng yêu cầu của đề tài)
Dự
kiến
hợp
tác


16 Tiến độ thực hiện (phù hợp với những nội dung đã nêu tại mục 13)
Các nội dung, công

việc chủ yếu cần được
thực hiện (các mốc
đánh giá chủ yếu)
Sản phẩm phải đạt



Thời
gian (bắt
đầu, kết
thúc)
Người, cơ quan
thực hiện


16.1 Nội dung 1: Nghiên
cứu tổng quan tình
hình khai thác và một
số vấn đề liên quan đến
nghề khai thác mực xà
ở Việt Nam dựa vào cơ
sở số liệu hiện có.
Báo cáo chuyên đề
nghiên cứu tổng quan
tình hình khai thác và
một số vấn đề liên quan
đến nghề khai thác mực
xà ở Việt Nam.
1/2010-
3/2010

Bách Văn Hạnh,
Nguyễn Viết Nghĩa,
Đoàn Văn Phụ,
Nguyễn Phi Toàn,
Viện Nghiên cứu H
ải
sản
16.2 Nội dung 2: Nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng nguồn sáng (màu sắc, cường độ) cho
lưới chụp mực bốn tăng gông khai thác mực xà.
Nội dung 2.1: Nghiên
cứu thử nghiệm ứng
dụng nguồn sáng (màu
sắc, cường độ) chiếu
trên mặt nước cho lưới
chụp mực bốn tăng
gông khai thác mực xà.
Báo cáo chuyên đề
nghiên cứu thử nghiệm
ứng dụng nguồn sáng
(màu sắc, cường độ)
chiếu trên mặt nước cho
lưới chụp mực bốn tăng
gông khai thác mực xà.
4/2010-
9/2011
Nội dung 2.2: Nghiên
cứu thử nghiệm ánh
sáng đèn ngầm khai
thác mực xà.
Báo cáo chuyên đề

nghiên cứu thử nghiệm
ánh sáng đèn ngầm khai
thác mực xà.
4/2010-
9/2011
Đoàn Văn Phụ,
Nguyễn Phi Toàn,
Nguyễn Văn Kháng,
Bách Văn Hạnh,
Nguyễn Viết Nghĩa,
Viện Nghiên cứu Hải
sản.
16.3 Nội dung 3: Nghiên
cứu tổng hợp và viết
báo cáo tổng kết đề tài.
Báo cáo khoa học tổng
kết Đề tài.
10/2011-
12/2011
Bách Văn Hạnh,
Viện Nghiên cứu Hải
sản.
Các nhiệm vụ và hoạt động khác
16.4
Nghiệm thu Đề tài

7
++ Nghiệm thu Đề tài cấp
cơ sở
Đề tài được nghiệm thu. 12/2011 Bách Văn Hạnh,

RIMF
++ Nghiệm thu Đề tài cấp
Bộ
Đề tài được nghiệm thu. 12/2011 Bách Văn Hạnh,
RIMF
17 Dạng kết quả dự kiến của đề tài
Dạng kết quả I Dạng kết quả II Dạng kết quả III Dạng kết quả IV
Mẫu
(model,maket)
Nguyên lý ứng
dụng
Sơ đồ, bản đồ Bài báo
Sản phẩm (có thể
trở thành hàng hoá,
để thương mại hoá)
Phương pháp Số liệu, Cơ sở dữ
liệu
Sách chuyên
khảo
Vật liệu Tiêu chuẩn Báo cáo phân tích Kết quả tham
gia đào tạo sau đại
học
Thiết bị, máy
móc
Quy phạm Tài liệu dự báo
(phương pháp, quy
trình, mô hình, )
Sản phẩm đăng
ký bảo hộ sở hữu trí
tuệ

Dây chuyền công
nghệ
Phần mềm máy
tính
Đề án, qui hoạch
Giống cây trồng Bản vẽ thiết kế Luận chứng kinh
tế-kỹ thuật, báo cáo
nghiên cứu khả thi

Giống vật nuôi Quy trình công nghệ
Khác Khác Khác Khác
23 Kinh phí thực hiện đề tài phân theo các khoản chi (đơn vị: triệu đồng)
Trong đó
Nguồn kinh phí
Tổng
số
Công
lao
động
(khoa
học,
phổ
thông)
Nguyên,vật
liệu, năng
lượng
Thiết
bị,
máy
móc

Xây
dựng,
sửa
chữa
nhỏ
Chi
khác

Tổng kinh phí 1.830,0 82,0 1.117,3 55,0 575,7

Trong đó:
1 Ngân sách SNKH:
1.830,0 82,0 1.117,3 55,0 575,7
-Năm thứ nhất (2010) 500,0 17,0 322,3 55,0 105,7
-Năm thứ hai (2011) 1.330,0 65,0 795,0 0,0 470,0
2 Các nguồn vốn khác


-Vốn tự có của cơ sở



8
-Khác (vốn huy
động, )



9


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu trên thế giới
1.1. Tập tính của cá đối với ánh sáng tự nhiên
Cá có khả năng nhìn được trong nước là nhờ có mắt. Tuy nhiên, nếu nước biển
không có ánh sáng chiếu vào thì cá không thể nhìn thấy được các vật thể xung quanh.
Như vậy, đối với các loài cá có cơ quan thị giác thì chúng cần phải có ánh sáng mới có
thể nhìn thấy nhau để kết đàn, nhìn thấy con mồi khi kiếm ăn hay nhìn thấy cá dữ để
lẫn trốn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy ánh sáng tự nhiên có tác
động tới tập tính kết đàn và di
cư ngày đêm theo cột nước của đa số các loài cá sống nổi. Theo Ben-Yami (1988) và
Freon & Misund (1999), cá có thể kết thành các đàn lớn và duy trì trạng thái kết đàn
đến chừng nào ánh sáng vẫn còn chiếu trong nước và chỉ phân tán vào ban đêm khi
tầm nhìn của chúng bị hạn chế. Lúc này, tuy không ở trạng thái kết đàn nhưng cá vẫn
tập trung gần nhau và dễ dàng tụ đàn trở lại khi trời sáng. Như vậ
y, theo thời gian, các
hoạt động của cá như kết đàn vào ban ngày và phân tán vào ban đêm rồi tụ đàn trở lại
khi có ánh sáng trở thành thói quen hay tập tính hướng quang của mỗi loài.
Trong tự nhiên, hầu hết các loài cá sống nổi có thói quen bơi dần lên tầng nước bề
mặt vào ban đêm và lặn xuống tầng nước sâu hơn vào ban ngày. Theo Ben-Yami
(1988), mỗi loài cá thường chỉ thích ứng với một ngưỡng chiếu sáng nhất định. Có loài
ưa ánh sáng mạnh như
cá thu đao (saury) có thể thể hoạt động ngay ở tầng nước mặt
trong nhiều giờ vào những ngày nắng to. Có nhiều loài lại sợ ánh sáng mạnh (cá trích,
mực…) nên phải di chuyển xuống tầng nước sâu hơn ngay khi có mặt trời mọc; đến
tối, khi ánh sáng yếu dần, chúng mới di chuyển dần lên tầng nước bề mặt.
Tuy nhiên, thói quen di chuyển lên xuống theo ngày đêm của các loài cá nổi còn
có thể liên tới các hoạt động tìm kiế
m thức ăn. Ben-Yami (1988) cũng cho rằng nhiều
loài động vật phù du cũng có tính hướng quang, chúng xuất hiện ở tầng nước mặt

quanh thời điểm mặt trời lặn và di chuyển xuống tầng nước sâu hơn khi trời sáng. Như
vậy, các loài cá ăn động vật phù du vì thế mà cũng di chuyển lên xuống theo cột nước
để bắt mồi, kéo theo là các loài cá lớn ăn cá bé.

10

1.2. Ảnh hưởng của ánh sáng nhân tạo đến hoạt tính và khả năng tụ đàn của cá
Cá không giống như con người có thể thể phân biệt được ánh sáng tự nhiên và ánh
sáng nhân tạo. Nghĩa là, cá sẽ phản ứng với ánh sáng do con người tạo ra theo thói
quen như đối với ánh sáng tự nhiên. Các nghiên cứu về tập tính của cá trong vùng sáng
nhân tạo cho thấy phản ứng đầu tiên của cá là bơi về phía có ánh sáng nhưng lại giữ
mộ
t khoảng cách nhất định với mỗi nguồn sáng. Cũng có trường hợp cá bị choáng khi
ánh sáng chiếu đột ngột, chúng nhảy vọt lên và lao đến nguồn sáng nhưng rồi sau đó
tản ra và tập trung ở vùng chiếu sáng có cường độ chiếu sáng phù hợp (Zucser, 1958).
Các nghiên cứu trước đây cho thấy hoạt tính của cá trong và quanh vùng chiếu
sáng phụ thuộc vào độ rọi sáng của ánh sáng truyền trong nước và phụ thuộc vào mỗi
loài. Kết quả nghiên c
ứu đề cập trong báo cáo của Hsiao (1952) cho thấy cá ngừ
thường phân bố tập trung trong vùng sáng có độ rọi dao động từ 700-4.500 lux. Trong
khi đó, độ rọi sáng phù hợp đối với cá trích dao động từ 20-4.000 lux, khi tăng đến
khoảng 65.000 lux thì hoạt tính của chúng lại giảm (Uthed, 1955). Trong một nghiên
cứu khác, Uda (1959) chỉ ra rằng cá non ở hầu hết các loài thí nghiệm đều có phản ứng
mạnh và nhạy cảm hơn với ánh sáng so với các cá thể lớn hơ
n. Trong mùa sinh sản
hoặc đẻ trứng, các đàn cá thường có tính hướng quang giảm hoặc không có phản ứng
với ánh sáng nhân tạo.
Một số nghiên cứu khác về tập tính của cá đối với ánh sáng nhân tạo cho thấy màu
sắc chiếu sáng có ảnh hưởng tới hiệu quả thu hút cá tập trung và phụ thuộc vào loài.
Trong phần tổng quan tài liệu nghiên cứu, Đoàn Văn Phụ (2010) đã cung cấp thông tin

cho thấy cá bị thu hút tới nguồn sáng phụ thu
ộc vào bước sóng ánh sáng và đa số các
loài cá bị thu hút mạnh bởi ánh sáng màu xanh lá cây và xanh nước biển trong khi đó
ánh sáng màu đỏ có khả năng lôi cuốn cá kém hơn. Nghiên cúu trên đối tượng cá trích
thấy rằng cá có thể bị quyến rũ bởi nhiều loại ánh sáng màu, trong đó có ánh sáng
trắng, vàng, xanh lá cây và xanh lục. Khi cá đi thành đàn thì chúng thích màu xanh lá
cây và xanh da trời nhưng khi đi riêng cá lại không thích các màu đó.
Ngoài ảnh hưởng của màu sắc chiếu sáng, hiệu quả thu hút cá tập trung của nguồn
sáng còn phụ thu
ộc vào cường độ chiếu sáng và vị trí đặt bóng đèn. Hayase et al
(1983) cho rằng, nguồn sáng có mức công suất chiếu sáng lớn có thể làm tăng hiệu quả
tập trung đàn cá trên diện rộng nhưng không có hiệu quả để giữ đàn cá gần nguồn

11
sáng. Mặt khác, khi thử nghiệm ánh sáng chiếu trên mặt nước thì với nguồn sáng có
cùng mức công suất chiếu sáng nếu được nâng cao vị trí treo bóng đèn thì có thể sẽ
cho hiệu quả tập trung cá tốt hơn. Hayase et al (1983) cũng cho rằng nếu bóng đèn
được đặt dưới mặt nước thì sẽ tăng được độ sáng theo chiều thẳng đứng đồng thời có
thể giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của nguồ
n sáng tới ấu trùng sống trôi nổi gần bề mặt
nước biển nếu bóng đèn được đặt cách mặt nước từ 5m trở lên.
Tuy nhiên, khi cường độ chiếu sáng ở mức quá lớn sẽ hạn chế khả năng thu hút
của ánh sáng đối với một số loài cá như cá thu chấm, cá ngừ, cá mòi và cá cơm vì khi
đó chúng mất cảm giác màu sắc và không thể phân biệt được con mồi dưới nguồn sáng
của các bóng
đèn (Kawamura, 1983).
1.3. Nghiên cứu sử dụng ánh sáng nhân tạo trong khai thác mực
1.3.1. Ánh sáng đối với mực
− Thị giác của mực:
Nhờ có cơ quan thị giác là mắt nên mực có thể nhìn thấy con mồi, cá dữ hay các

vật thể xung quanh khi có ánh sáng chiếu vào trong nước. Tuy nhiên, người ta cho
rằng mắt mực không có thị giác màu nên ánh sáng với các màu chiếu sáng khác nhau
đối với chúng chỉ như những luồng ánh sáng có độ chói khác nhau. Kết quả nghiên
cứu của Pouius (1976) cho thấy mắt mực chỉ cảm nhận được ánh sáng dưới dạng màu
đen đậm hay nhạt đố
i với các mồi câu giả có màu sắc khác nhau. Như vậy, ánh sáng
đối với mực đóng vai trò tạo nền làm tăng hay giảm độ tương phản của các sinh vật có
trong vùng chiếu sáng, nhờ đó làm tăng hay giảm sự nhìn thấy của mực ở trong nước.
− Tập tính của mực trong vùng sáng:
Nhiều nghiên cứu của các học giả cho thấy phần lớn các loài mực có phản xạ
dương với ánh sáng nhưng
ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, mực lại không bơi đến
gần nguồn sáng có cường độ mạnh mà thường chỉ tập trung ở vùng chiếu sáng có
cường độ chiếu sáng vừa phải. Theo Yami (1976), thời gian bơi đến và rời khỏi vùng
chiếu sáng đối với mực là không cố định và khó dự đoán. Chúng có thể đột nhiên lao
vào nguồn sáng nhưng cũng nhanh chóng bơi đi, rồi lại bất thình lình xuất hiện trở lạ
i
trong và quanh vùng chiếu sáng. Yami (1976) cho rằng sự xuất hiện đột ngột rồi biến
mất của mực trong vùng sáng có thể do có cá dữ đến kiếm ăn làm chúng hoảng sợ nên
có phản ứng hỗn loạn, hoặc do mực lớn xua đuổi mực nhỏ để dành thức ăn trong vùng

12
sáng. Một số loài mực chủ động bơi đến nguồn sáng để bắt mồi, đôi khi có phản ứng
phụt mực đen ra khỏi cơ thể rồi bơi đi rất nhanh để trốn tránh cá dữ; trong khi đó cũng
có một số loài lại di chuyển thụ động trên mặt nước trong vùng chiếu sáng dưới tác
động của dòng chảy.
1.3.2. Sử dụng ánh sáng nhân tạo trong nghiên cứu và khai thác mực
Ánh sáng nhân tạo đã và đang được sử dụng có hiệu quả trong lĩnh vực khai thác
hải sản nói chúng và trong khai thác mực nói riêng. Khai thác mực kết hợp ánh sáng
hiện nay phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước như Nhật Bản, Hàn

Quốc, Trung Quốc và Thái Lan, với các nghề như câu mực tự động, câu tay mực và
chụp mực.
Theo thống kê của FAO (© 2004-2012), nguồn sáng nhân tạo được sử dụng phổ

biến hiện nay được thắp sáng từ các loại bóng đèn điện có các mức công suất chiếu
sáng khác nhau và có các màu như xanh lá cây, xanh nước biển, vàng, đỏ và màu
trắng,… Ngoài các loại bóng đèn chiếu trên mặt nước, người ta còn đưa vào sử dụng
các loại bóng đèn ngầm để dụ mực tập trung cho nghề câu mực tự động.
Trong nghiên cứu và khai thác mực người ta có thể chỉ sử dụng bóng đèn chiếu
trên mặt n
ước hoặc bóng đèn ngầm nhưng cũng có thể kết hợp cả hai loại bóng đèn
này để tăng hiệu quả dụ mực tập trung nâng cao năng suất đánh bắt. Theo mô tả của
Yami (1976) và Ben-Yami (1988) thì bóng đèn ngầm tuy có ưu điểm là mở rộng được
phạm vị chiếu sáng trong nước nên thu hút được nhiều mực tập trung hơn so với bóng
đèn chiếu trên mặt nước có cùng mức công suấ
t chiếu sáng nhưng lại có nhược điểm là
mực tập trung xa nguồn sáng hơn. Ngoài ra bóng đèn ngầm còn có ưu điểm là có thể
chiếu sáng để khai thác mực vào thời điểm ban ngày khi mực di chuyển xuống tầng
nước sâu hơn.
− Nghiên cứu sử dụng ánh sáng chiếu trên mặt nước:
Đặc trưng đối với nguồn sáng chiếu trên mặt nước là các bóng đèn được lắp đặt
trên tàu, có thể
ở giữa trục tàu và/hoặc ở hai bên boong tàu ở độ cao cách mặt nước
khoảng từ 2,2-6,5m tùy thuộc vào kích cỡ của các tàu khai thác mực kết hợp ánh sáng
(Polutov, 1970; Yami, 1976). Cách bố trí bóng đèn như thế này sẽ tạo ra vùng bán dạ -
là nơi giáp ranh giữa vùng tối phía dưới thân tàu với vùng được chiếu sáng mạnh hai
bên mạn tàu. Theo mô tả của Yami (1976) và Ben-Yami (1988) thì vùng bán dạ chính

13
là nơi có mực tập trung nhiều nhất. Trên cơ sở này, người ta sẽ lựa chọn độ sâu phù

hợp để thả câu hay thả lưới chụp mực nhằm bắt được nhiều mực nhất.
Nghiên cứu xác định độ sâu phù hợp để thả câu bắt được nhiều mực nhất được đề
cập trong các báo cáo của Palutor (1970) và Nguyễn Long et. al (2001). Palutor đã
tiến hành thí nghiệm câu mực ở các độ sâu 10m, 20m, 30m, 40m, 50m, 60m và 70m
trong vùng chiế
u sáng thì thấy rằng sản lượng mực câu được cao nhất ở tầng nước có
độ sâu từ 10-30m, trong khi đó ở tầng nước có độ sâu từ 40-70m thì sản lượng mực
thấp hơn. Tương tự, trong nghiên cứu của Nguyễn Long et al. (2001), sản lượng mực
câu được cao nhất ở tầng nước có độ sâu nhỏ hơn 20m, nhưng giảm đi khoảng 50%
khi thả lưỡi câu ở độ sâu từ 20-30m và sả
n lượng không đáng kể ở tầng nước có độ sâu
trên 30m.
− Nghiên cứu sử dụng ánh sáng đèn ngầm:
Khác với ánh sáng chiếu trên mặt nước ở chỗ ánh sáng đèn ngầm được phát ra từ
các bóng đèn được đặt sâu trong lòng nước. Cách bố trí này không tạo ra vùng bán dạ
giống với trường hợp của bóng đèn chiếu trên mặt nước nhưng ánh sáng đèn ngầm lại
truyền sâu hơn và rộng hơn
ở trong nước. Các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này đều cho
rằng ánh sáng đèn ngầm thu hút cá, mực tốt hơn so với ánh sáng chiếu trên mặt nước.
Theo thống kê của FAO (© 2004-2012), bóng đèn ngầm chủ yếu được ứng dụng
cho nghề câu mực tự động và phổ biến ở Nhật Bản, chưa thấy đề cập ở các nghề câu
tay mực hay chụp mực. Hiện nay, bóng đèn ngầm được chế
tạo có khả năng chiếu
sáng ở độ sâu tới 300m nên ngư dân có thể thả câu ở nhiều độ sâu khác nhau miễn là
có mực tập trung. Không những thế, kết quả nghiên cứu đề cập trong báo cáo của
Inada, Hirikawa & Yatsu (1996) còn cho thấy nghề câu mực tự động hoàn toàn câu
mực có hiệu quả vào các đêm có trăng, thậm chí vào ban ngày. Trong nghiên cứu của
họ, bóng đèn ngầm được thả ở độ sâu 180m tính từ mặt nước biể
n đã thu hút được
mực mực xà Ommastrephes bartramii tập trung trong khoảng thời gian trước khi mặt

trời lặn từ 90-30 phút.

×