Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Những đặc điểm của nền kinh tế nhật bản giai đoạn 1952-1973

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (108.1 KB, 18 trang )

I/ Phần mở đầu
Trong nhiều năm gần đây , cũng nh các nớc đang phát triển khác ở Châu á và
Châu Phi , chúng ta đang phải đối mặt với hiện tợng tăng dân số quá nhanh cùng với
những tác ®éng cđa nã mang l¹i , ®· biÕn níc ta trở thành một trong số những nớc
đông dân vào loại cao trên thế giới . Đầu công nguyên , nớc ta míi chØ cã 1 triƯu ngêi
( b»ng 0,4% d©n số thế giơí ) , trong thế kỷ XX này , dân số nớc ta dao động trong
khoảng 1,2 - 1,3% dân số thế giới . Đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX , dân số nớc ta tăng
vọt một cách đáng kể so với thời gian trớc đó . Đỉnh cao của thời kỳ sau kháng chiến
(1954-1960) , mức tăng dân đạt kỷ lục là 3,93%/ năm . Do những nỗ lực của Đảng và
Nhà nớc ta trong xây dựng chính sách , tuyên truyền vận động và kế hoạch hoá dân
số ... mà từ những năm 70 trở lại đây , tốc độ dân số có giảm , tuy vẫn dao động ở
mức 2,1- 2,2%/ năm ( mức trung bình của thế giới là 1,65%/ năm ) , cao hơn tỷ lệ
tăng dân số của 41 nớc (2%/ năm) trong tổng số 82 nớc đang phát triển trên thế giới .
Tính đến giữa năm 1997, dân số nớc ta là 76,7 triệu ngời, đứng thứ 13 trên thế giới và
đứng thứ 2 ở Đông Nam á ( chỉ sau Indonesia ) . Sự tăng nhanh của dân số nh vậy đÃ
làm cản trở lớn tới tốc độ phát triển kinh tế xà hội , hạn chế việc nâng cao chất lợng
cuộc sống ; đồng thời nó làm nảy sinh nhiều hiện tợng tiêu cực trong xà hội nh thiếu
việc làm , tệ nạn mại dâm , ma tuý , tội phạm thanh thiếu niên gia tăng...
Tuy nhiên , tốc độ gia tăng cũng có chiều hớng giảm trong những năm gần đây
( trung bình gần 0,1%/năm ) , điều đó cũng đà có những tác động tích cực đến phát
triển kinh tế - xà hội , mà trực tiếp là đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân . Mặc dầu vậy , với tốc độ tăng dân số nh hiện nay , dân số nớc ta sẽ
nhanh chóng đạt đến con số 100 triệu ngời vào đầu thế kỷ tới . Đây là kết quả của
một thời kỳ dài với mức sinh của dân c cao . Khoảng thời gian để nớc ta tăng lên gấp
đôi có xu hớng ngày một ngắn lại : từ 17 triệu ngời ( năm 1931) lên 34 triệu ngời
( năm 1965 ) phải mất 35 năm , nhng để tăng dân số từ 30 triệu ngời ( năm 1960) lên
60 triệu ngời ( năm 1985 ) chỉ mất có 25 năm . Với tốc độ tăng nh vậy , hàng năm n-

1



ớc ta có thêm từ 1,5 đến 1,6 triệu công dân mới , đòi hỏi phải đợc chăm sóc và bảo
đảm về mọi mặt từ lơng thực , thực phẩm đến các dịch vụ xà hội khác . Trong khi đó ,
không phải khi nào nền sản xuất xà hội và tài nguyên thiên nhiên cũng nh mức tăng
trởng của nền kinh tế đều có thể luôn luôn tạo ra đủ của cải vật chất để đáp ứng đợc
nhu cầu này . Đây là thách thức không phải của riêng nớc ta mà là của rất nhiều nớc
đang phát triển khác . Trong điều kiện đó , chúng ta đà thực hiện nhiều chính sách cụ
thể, thiết thực để nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân . Theo đánh giá của UNDP
( năm 1998 ) , Việt Nam vẫn duy trì đợc sự phát triển con ngời . Xếp hạng các nớc
theo chỉ tiêu HDI ( chỉ tiêu tổng hợp của tuổi thọ , học vấn và thu nhập bình quân đầu
ngời ) , thì HDI của Việt Nam cao hơn 26 bậc so với mức xếp hạng về giá trị GDP
bình quân đầu ngời . Điều đó cã nghÜa lµ , tuy møc thu nhËp cđa níc ta còn thấp , nhng chúng ta đà quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển con ngời một cách toàn diện .
UNDP thừa nhận " Việt Nam đà thành công trong việc chuyển hoá thành quả của sự
tăng trởng kinh tế thành chất lợng cao hơn tơng ứng cho cuộc sống của ngời dân "
Từ nhận định trên đây về dân số Việt Nam trong những năm qua , chúng ta thấy
rằng : tình hình dân số ngày một tăng lên với số lợng không ngừng đà và đang là
thách thức không chỉ đối với Đảng , Nhà nớc mà còn đối với toàn xà hội . Một xà hội
có phát triển hay không cũng còn phụ thuộc nhiều yếu tố tác động đến nó nhng yếu
tố quan trọng nhất vẫn là làm sao có thể kiểm soát đợc tình hình gia tăng dân số để từ
đó nêu ra những biện pháp hành động thích hợp , đồng thời sử dụng và đào tạo có
hiệu quả nhất nguồn nhân lực dồi dào này để có thể phục vụ cho việc phát triển đất nớc . Vì vậy , chúng ta vẫn luôn ý thức đợc rằng sự gia tăng dân số có ảnh hởng rất
lớn đến quá trình phát triĨn kinh tÕ - x· héi cđa ®Êt níc .

II/ Néi dung chÝnh :

2


1/ ảnh hởng của sự phát triển dân số tới sự phát triển kinh tế nớc ta :
Dân số vừa là lực lợng sản xuất , vừa là lực lợng tiêu dùng trong xà hội . Vì vậy ,
quy mô , cơ cấu và sự gia tăng dân số có liên quan mật thiết tới nền kinh tế nói riêng

và với toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung . Bàn về ảnh hởng của quá
trình tăng dân số đối với kinh tế có những vấn đề sau đây :
a/ Dân số - Lao động - Việc làm :
Trong vòng 20 năm qua , các nớc phát triển đà trải qua thời kỳ quá độ dân số ,
chun tõ møc sinh vµ møc tư vong cao xng dần đến mức thấp . Ngày nay , quá
trình quá độ dân số ở các nớc đang phát triển diễn ra nhanh hơn là nhờ công tác bảo
vệ sức khoẻ và y học phòng bệnh đà đợc cải thiện trong các thập niên vừa qua làm
cho tỷ lệ tử vong , đặc biệt là ở trẻ sơ sinh , giảm xuống và tuổi thọ trung bình tăng
lên rõ rệt . Tuy vậy , vẫn còn nhiều quốc gia đang phát triển ( phần lỡn thuộc Châu
Phi ) , mức sinh và mức chết đà giảm nhng vẫn còn cao .
Riêng ë ViƯt Nam , d©n sè cịng trong thêi kú quá độ tơng tự nh các nớc đang phát
triển khác và nguồn lao động qua từng năm cũng đang còn nhiều biến động . Kết quả
nghiên cứu cho thấy , từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ này , tỷ
lệ gia tăng dân số cũng nh mức sinh ở Việt Nam đà giảm rõ rệt . Nếu nh năm 1960 ,
tỷ lệ tăng dân số nớc ta là 3,4% và số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ ( tuổi từ 15 đến 49) là 6,3 con thì vào năm 1989 , tỷ lệ tơng ứng là 2,29% và
số con là 3,8 ; năm 1996 là 1,87% và 2,7 . Tỷ lệ gia tăng dân số ở nớc ta tuy đang
giảm dần nhng vẫn còn cao và do mức sinh cao trong mấy thập niên trớc , nên đà gia
tăng dân số hiện nay còn lớn . Số lợng dân số tăng mỗi năm khoảng 1,5 triệu ngời ( tơng đơng dân số của một tỉnh trung bình ) . Tuy nhiên , để có thể đáp ứng cho nhu
cầu sống và phát triển của một lợng dân số ngày càng tăng lên nh vậy , cần phải có
một lực lợng tham gia vào quá trình sản xuất t liệu sinh hoạt để con ngời tiêu dùng
vào trong cuộc sống nh : lơng thực , thực phẩm , vải vóc , nhà ở , phơng tiện giao
thông liên lạc , thuốc phòng chữa bệnh .... Song không phải toàn bộ d©n sè tham gia

3


vào sản xuất , mà chỉ có một bộ phận có đủ sức khoẻ và trí tuệ thực hiện đợc điều đó .
Khả năng đó , nói chung chỉ gắn với 1 độ tuổi nhất định , thông thờng từ 15 đến 59
tuổi , gọi là " độ tuổi lao động ". Luật pháp một số nớc quy định " độ tuổi lao động "

dài hơn . Chẳng hạn từ 15 đến 64 tuổi . Đối với nữ giới , giới hạn trên của tuổi lao
động có thể thấp hơn . ở nớc ta và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân
số đang còn tăng lên cả về tuyệt đối và tơng đối .
Dân sè ViƯt Nam trong ®é ti lao ®éng qua mét số năm gần đây:
Đơn vị : Triệu ngời
1/ Tổng dân số

1991
67,774

1993
71,025

1995
73,962

1997
75,709

1999
76,325

2/ Dân số trong độ

34,690

37,245

39, 854


42,575

45,03

51,18%

52,43%

53,88%

56,23%

59%

tuổi lao động
3/tỷ lệ (%) so với
tổng số dân
Từ số liệu trên cho thấy , dân số trong độ tuổi lao động ở nớc ta tăng dần từ năm
1991 đến năm 1999 , năm sau nhiều hơn năm trớc phản ánh tỷ suất sinh đang giảm ,
tuổi thọ bình quân tăng lên . Dân số nớc ta thuộc diện dân số trẻ nguồn nhân lực dồi
dào , đó là d lợi dân số để phát triển kinh tế , đồng thời cũng là áp lực về việc làm của
ngời lao động đà và đang đặt ra đối với Đảng và Nhà nóc ta trong giai đoạn hiện nay
và vài thập niên nữa .
Tuy nhiên , không phải mọi ngời trong độ tuổi lao động đều tham gia hoạt động
kinh tế và ngợc lại , không phải cứ ai ngoài độ tuổi lao động thì không tham gia hoạt
động kinh tế .Trong nghiên cứu nguồn lao ®éng , ngêi ta rÊt chó ý ®Õn d©n sè hoạt
động kinh tế trong độ tuổi lao động , vì đây là lực lợng nòng cốt nhất của mỗi quốc
gia . Dân số hoạt động kinh tế bao gồm những ngời đang hoạt động hoặc đang tích
cực tìm cách tham gia hoạt động trong một nghành nào đó của nền kinh tế trong một
khoảng thời gian xác định .

4


Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động so với dân số từ đủ 15 tuổi trở lên ở nớc ta năm
1997 thấp hơn năm 1996 là 1,72% phù hợp víi xu híng chung . Nhê kinh tÕ ph¸t
triĨn , dân số trên độ tuổi lao động phần lớn đợc nghỉ ngơi , không phải đi làm thêm
ngày càng tăng và trẻ em ở độ tuổi vị thành niên ( trong độ tuổi lao động ) không đợc
đi học phải tham gia lao động ngày càng giảm . Cũng tỷ lệ này , bình quân trên thế
giới giảm nhanh hơn ở Việt Nam ( năm 1995 là 63,63% ; năm 1996 là 61,07% , giảm
2,56% ) .
Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động ở Việt Nam năm 1996 cao hơn tỷ lệ bình quân
toàn thế giới 12,95% vì còn nhiều ngời đà hết tuổi lao động và trẻ em vị thành niên
trong độ tuổi đến trờng ở nớc ta vẫn phải tham gia lao động . Đồng thời , tỷ lệ tham
gia lao động của dân số trong độ tuổi lao động năm sau ( 1997 ) thấp hơn năm trớc
( 1996 ) . Đây là một biểu hiện không bình thờng . Một mặt , do tác động của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
trong khu vực đà làm cho số ngời bị mất việc làm trong độ tuổi lao động tăng lên .
Mặt khác , vì cha làm tốt chính sách phát triển nguồn nhân lực đà khiến cho nhiều
ngời bớc vào tuổi lao động mà cha đợc đào tạo , không thể tìm đợc việc làm ngay
trong năm .
Đối với ngời lao động mà nói , trình độ văn hoá là cơ sở rất quan trọng để nâng
cao trình độ năng lực và kỹ năng làm việc . Số ngời biết đọc , biết viÕt trë lªn ë níc ta
chiÕm 94,23% - 94,87% lùc lợng lao động là tỷ lệ khá cao và có xu hớng tăng lên qua
mỗi năm . Số ngời tốt nghiệp cấp II ( trung học cơ sở ) và cấp III (trung học phổ
thông) chiếm 45,53% - 46,49% và cũng có xu hớng tăng dần lên cho thấy khả năng
tiềm ẩn về đào tạo nghề và nâng cao tay nghề của lực lợng nớc ta là khá lớn . Tuy
nhiên , số ngời cha qua đào tạo nghề còn rÊt lín , chiÕm tõ 87,69% - 87,71% lùc lỵng lao động và có xu hớng tăng dần . Điều này cũng dễ hiểu , vì 80% lực lợng lao
động ở nớc ta còn làm việc ở địa bàn nông thôn và hầu nh cha qua đào tạo . Tỷ lệ
công nhân kỹ thuật còn thấp , chỉ có 4,37% , điều đáng lu ý ở chỗ có đến một nửa
trong số họ đợc đào tạo nhng không có bằng cấp . Rõ ràng , đào tạo nghề cho ngời

5


lao động đang là vấn đề bức xúc đối với lực lợng lao động ở nớc ta . Dân số ngày một
tăng lên , kéo theo nó la` nguồn nhân lực dồi dào , nếu nh ta biết cách quản lý và tích
cực đào tạo về trình độ , tay nghề cho ngời lao động , chắc chắn đây sẽ trở thành một
tiềm lực vững mạnh để phát triển các mặt kinh tế - xà hội cho đất nớc .
Nền kinh tế nớc ta , sản xuất nông nghiệp còn là chủ yếu nên lực lợng lao động có
việc làm thờng xuyên trong khu vực này chiếm tỷ lệ gần 70% . Song do tác động của
quá trình công nghiệp hoá nên lao động nông nghiệp có xu hớng giảm dần , năm
1996 : 69,8% ; năm 1997 : 65,84% . Lao động trong khu vực công nghiệp , xây dựng
và dịch vụ tăng dần , năm 1996 : 30,2% ; năm 1997 : 34,16%, trong đó tăng lên chủ
yếu ở khu vực dịch vụ . Mặc dù vậy, cho ®Õn nay , ViƯt Nam vÉn cã mét c¬ cÊu lao
động theo nghành hết sức lạc hậu . Tuy lao động trong công nghiệp và dịch vụ có
tăng lên , nhng cha đáng kể , và điều đáng nói ở đây là lao động chủ yếu vẫn làm việc
trong khu vực nông , lâm ng nghiêp . Việc cải thiện cơ cấu lạc hậu này diễn ra rất
chậm chạp . Điều này phụ thuộc nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố mức sinh ở
nông thôn luôn cao khoảng gấp đôi ở thành phố . Do vậy , lao động tích tụ ở đây cũng
ngày một nhiều và tỷ trọng giảm chậm , mặc dù đà diễn ra luồng di dân mạnh mẽ từ
nông thôn ra thành thị kèm theo sự chuyển đổi nghành nghề .
Trong nông nghiệp , khi số dân và lao động khu vực này tăng lên nhanh chóng thì
quỹ đất canh tác lại có hạn. Hơn nữa . quá trình công nghiệp hoá đất nớc càng diễn ra
mạnh mẽ thì đất nông nghiệp càng phải chuyển giao cho công nghiệp , dịch vụ , các
công trình công cộng khác . Diện tích đất nông nghiệp không ngừng giảm xuống
trong thời gian qua . Năm 1921 , bình quân 0,4 ha/ngời ; năm 1993 còn 0,098 ha/ngời. Bình quân hộ giàu ở nông thôn Việt Nam mới có 1,2 ha đất canh tác trong khi ở
Mỹ là 80ha , ở Châu Âu là 9ha . Chính sức ép về đất đai hạn hẹp đà gây ra tình trạng
thiếu việc làm trở nên phổ biến ở nông thôn nớc ta.
Công nghiệp , các nghành dịch vụ là những nghành cần tập trung vốn đầu t lớn nhng do quy mô dân số tăng nhanh , cơ cấu dân số trẻ đòi hỏi cần sử dụng nhiều thu

6



nhập quốc dân sử dụng cho giáo dục , y tế , phúc lợi xà hội ... dẫn đến tình trạng thiếu
trầm trọng vốn tích luỹ đầu t cho công nghiệp , dịch vụ .
Một trong những vấn đề đáng lu tâm hiện nay có liên quan đến việc sử dụng có
hiệu quả nguồn lao động trong nớc đi làm việc , lao động ở nớc ngoài đó là chiến lợc
xuất khẩu lao động ở nớc ta . Nếu nh những năm 1991, 1992 , xuất khẩu lao động khi
mới chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới , còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong việc
tìm kiếm , khai thác thị trờng mới nên số lao động đa đi còn khiêm tốn và không ổn
định, đặc biệt năm 1998 đợc coi là một năm khó khăn cho xuất khẩu lao động Việt
Nam , lợng lao động giảm tử 18000 ngời năm 1997 xuống còn 10300 ngời năm 1998
do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ; thì đến năm 2002 , số lợng lao động của
Việt Nam đà tăng vọt lên 46120 ngời nhờ khai thác đợc thị trờng Malaysia . Riêng
trong năm 2002 , với 43 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động đà đa đợc 20
nghìn lao ®éng ViƯt Nam sang lao ®éng ë Malaysia . Và cho đến nay , Việt Nam đÃ
có gần 400 ngàn lao động đang làm việc tại 40 nớc và vùng lÃnh thổ , trong 30
nghành nghề khác nhau ( xây dựng , cơ khí , điện tử , dệt may , chế biến hải sản ,
dịch vụ , vận tải biển , chuyên gia y tế , giáo dục, giúp việc gia đình , khám hộ ...) .
Nh vậy , bằng con đờng xuất khẩu lao động đi làm việc ở nớc ngoài , Chính phủ ta
đà giải quyết ®ỵc mét lỵng lao ®éng d thõa trong níc ®ang rất cần việc làm , đem lại
cho đất nớc một khoản ngoại tệ mỗi năm khoảng 1,4 tỷ USD ( theo báo Diễn đàn
doanh nghiệp , số 32 , ngày 18/4/2003 ) , tạo điều kiện cho kim nghạch xuất khÈu lao
®éng ë níc ta chØ ®øng sau xt khÈu dầu mỏ , dệt may , thuỷ sản và du lịch. Không
những thế đà đem lai công ăn việc làm cho số lợng lao động ngày một tăng , tạo điều
kiện nâng cao đời sống vật chất - tinh thần cho ngời dân Việt Nam .
Mặc dù đà có những kết quả khả quan , song xuất khẩu lao động cđa ViƯt Nam so
víi nh÷ng níc trong khu vùc nh : Philipines , Thái Lan , Indonesia vẫn còn thua kÐm .
HiƯn nay , xt khÈu lao ®éng cđa ViƯt Nam mới đợc gần 400 ngàn ngời , trên 40 nớc
và vùng lÃnh thổ , thu về cho đất nớc mỗi năm hơn 1 tỷ USD , trong khi đó Philipines
- nớc xuất khẩu lao động đứng đầu trong khu vực hiện có khoảng 5 - 6 triệu lao động

7


đang làm việc ở 133 nớc trên khắp các châu lục mỗi năm thu đợc từ 8 - 10 tỷ USD từ
xuất khẩu lao động . Thái Lan cũng thu đợc mỗi năm 3 tỷ USD từ hoạt động này .
Trong xu thÕ héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ , việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trờng quốc tế là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Để xuất khẩu lao động của Việt
Nam có thể cạnh tranh đợc với xuất khẩu lao động của các nớc trong khu vực , trớc
hết xuất khẩu lao động cần phải đợc coi nh 1 nghành xuất khẩu mang lại nguồn ngoại
tệ lớn cho đất nớc , mà sản phẩm hàng hoá của nó là sức lao động và trình ®é tay
nghỊ cđa ngêi lao ®éng xt khÈu . Xt khẩu lao động cần phải đợc đầu t thoả đáng
nhằm nâng cao năng lực quản lý , nâng cao chất lợng lao động xuất khẩu và mở rộng
thị trờng . Tức là phải giải quyết cả 3 yếu tố quyết định : nguồn nhân lực , thị trờng và
công tác quản lý .
Song bên cạnh đó, với các nớc trong khu vực và trên thế giới , tỷ lệ thất nghiệp
của Việt Nam hiện nay tơng đối cao và không ổn định .Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê từ năm 1976 đến năm 1994 và kết quả điều tra lao động - việc làm trong 3
năm 1996, 1997 , 1998 th× tØ lƯ thÊt nghiƯp ë níc ta khi chuyển sang kinh tế thị trờng
đều ở mức xấp xỉ 6% trở lên .

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam phân theo vùng :
Đơn vị : %
Vùng
Miền núi và trung du phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ
Duyên hải miền Trung
Đông Nam Bộ
Tây Nguyên
Đồng bằng sông Cửu Long


1996
6,13
7,31
6,67
5,3
5,3
4,08
5,59
8

1997
6,01
7,56
6,69
5,2
5,79
4,48
4,56

1998
6,25
8,25
7,28
6,67
6,44
5,88
6,44


Bình quân cả nớc


5,62

5,81

6,85

Lực lợng thất nghiệp thờng tập trung ở các vùng đông dân và đô thị lớn . Năm
1996 , tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là 5,62% trong khi đó ở Trung Quốc và
Malaysia là 3% , Thái Lan là 2% . Cho đến năm 2002 , số lao động thất nghiệp và
thiếu việc làm của nớc ta là hơn 8,2 triệu ngời . Điều đáng nói ở đây là : tuy lực lợng
lao động đông đảo về số lợng nhng chất lợng thì lại rất kém . Sự thiếu hụt và yếu kém
của lao động có trình độ chuyên môn , cha đáp ứng đợc yêu cầu của các doanh
nghiệp . Điều đó nói lên tính bức bách của việc nâng cao hơn nữa hệ thống đào tạo :
từ trờng lớp , cơ sở vật chất - kỹ thuật , giáo viên , giáo trình ....Với mục tiêu hớng tới
xây dựng một nền kinh tế tri thức , đòi hỏi từ bây giờ cần có một chiến lợc phát triển
dân số một cách hợp lý , một hệ thống giáo dục - đào tạo đợc đầu t thoả đáng. Về lâu
dài , trong chiến lợc nâng cao chất lợng nguồn lao động , đáp ứng cho nhu cầu công
nghiệp hoá - hiện đại hoá : ngời lao động cần phải đợc trang bị cả chuyên môn nghiệp
vụ và ngoại ngữ . Việc dạy ngoại ngữ cho ngời lao động phải đợc thực hiện có hiệu
quả từ các cấp phổ thông , sao cho khi bớc vào độ tuổi lao động , họ có thể sử dụng đợc một ngoại ngữ thông dụng trên thế giới .
b/ Gia tăng dân số và phát triển kinh tế :
Để phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải tăng cờng sức sản xuất xà hội , từ đó
nâng cao thu nhập quốc dân . Muốn đẩy nhanh quá trình này đòi hỏi phải tăng mức
đầu t . Tuy nhiên , do sự gia tăng dân số , do tác động của mức sinh còn quá cao; tất
cả đà dẫn tới một thực trạng là tỷ lệ dân số phụ thuộc trong tổng số dân (hoặc trong
tổng số dân làm việc ) cao lên . Đây là gánh nặng đối với từng gia đình và toàn bộ
nền kinh tế , vì tỷ lệ tiêu dùng lớn lên , tỷ lệ tích luỹ ắt sẽ giảm đi và dẫn đến làm
giảm khả năng đầu t để tăng năng lực cần thiết cho nền sản xuất xà hội . Mặt khác ,
do tỷ lệ dân số phụ thuộc lớn mà phải tăng đầu t cho y tế , cho giáo dục và các loại

phúc lợi xà hội khác , đầu t trực tiếp cho sản xuất phải giảm đi .... Hậu quả là sản xuất
tăng chậm. Hơn nữa , dân số tăng nhanh có thể làm cho chất lợng vốn con ngêi gi¶m
9


xuống ở mức thấp và hầu nh không cải thiện đợc . Điều này trớc hết liên quan đến
việc cung cấp không đủ dinh dỡng và chăm sóc y tế cho trẻ em và cả ngời lao động ,
trình độ học vấn thấp và lao động phần lớn không đợc đào tạo . Do đó , năng suất lao
động không cao , khiến cho Tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm . Sức sản xuất tăng
chậm đợc thể hiện càng rõ hơn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ trong
khu vực trở nên trầm trọng và có xu hớng kéo dài , làm giảm đầu t nớc ngoài vào Việt
Nam , công nghiệp và dịch vụ tăng trởng chậm lại , nguồn thu ngân sách không đảm
bảo yêu cầu chi thờng xuyên , nhiều công trình xây dựng cơ bản phải giảm tiến độ
xây dựng , hàng hoá ứ đọng , công nhân thiếu việc làm dẫn đến tình trạng một số
doanh nghiệp phải tạm ngừng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất.... Điều này dẫn đến việc
mọi nỗ lực nhằm gia tăng vốn đầu t cho sản xuất giảm ( hoặc tăng chậm) thì thu nhập
quốc dân tăng chậm . Trong khi đó , tỷ lệ tăng dân số vẫn cao làm quy mô dân số lớn
lên , dẫn đến thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời không tăng hoặc tăng chậm .
Đối với yếu tố c«ng nghƯ , cã nhiỊu lËp ln cho r»ng quy mô dân số lớn và tăng
trởng nhanh sẽ tạo ra sức ép làm nảy sinh các phát minh khoa học và đẩy nhanh tiến
bộ công nghệ . Những thành tựu trong nông nghiệp là một ví dụ . Dân số đông , thị
trờng lớn , triển vọng về mức thu lợi lớn hơn làm cho các nhà đầu t dễ chấp nhận triển
khai các công nghệ mới tăng thêm sản lợng để thu lợi nhiều hơn . Ngời ta cũng cho
r»ng " hiƯu qu¶ s¶n xt tû lƯ thn víi quy mô sản xuất " . Điều này cũng có nghĩa
là tỷ lệ thuận với quy mô dân số và tốc độ tăng trởng của nó . Tuy nhiên , tiến bộ kỹ
thuật cũng cần phải có thời gian vả lại cần những đầu t lớn nh thuỷ lợi , thuỷ điện ...
Hơn nữa , nếu đông dân mà nghèo , sức mua kém thì cũng không có thị trờng lớn .
Từ những lập luận trên đây có thể thấy rằng : Tăng nhanh dân số ở các nớc nghèo
và đang phát triển là bất lợi cho tăng trởng kinh tế . Các chuyên gia dân số cho rằng :
khi dân số tăng lên 1% thì GDP phải tăng lên từ 3% đến 4% mới đáp ứng đợc nhu cầu

dân c và nền kinh tế khi đó mới phát triển bình thờng .
Từ thực tế trên cho thấy , muốn thực hiện đợc mục tiêu phát triển kinh tế thì ngoài
phần đầu t trực tiếp cho các chơng trình , dự án phát triển sản xuất cụ thể ; Nhà níc
10


cần đa vào quy hoạch , kế hoạch tạo việc làm cho lực lợng lao động ngày một tăng để
có thể giảm bớt áp lực từ phía tỷ lệ dân phụ thuộc . Trớc mắt , Nhà nớc và các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần tập trung giải quyết việc làm cho số lao động
mất việc tạm thời trong các năm trớc trên cơ sở phục hồi và mở rộng sản xuất , kinh
doanh . Việc tạo thêm việc làm mới cho số lao động bổ sung từ các nguồn cần thực
hiện phơng châm : Nhà nớc , doang nghiệp và nhân dân cùng làm , không thể chỉ
trông chờ vào nhà nớc . Vấn đề nâng cao chất lợng lao động và tạo việc làm phù hợp
với trình độ cho số lao động d thừa trong nớc sẽ làm cơ sở cho việc chuyển dịch cơ
cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp cũng cần phải đợc quan tâm và
giải quyết đồng bộ , bắt đầu lại từ quy hoạch thị trờng lao động , từ đầu vào , dạy
nghề , đến đầu ra phải có các chính sách khuyến khích học nghề và dạy nghề ,
chuyển mạnh trọng tâm và đầu t kinh phí ngân sách từ đào tạo " thầy" sang đào tạo
"thợ" theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc . Nhằm thực
hiên mục tiêu tăng trởng kinh tế qua mỗi năm và giảm thiểu bớt những tác động tiêu
cực của quá trình tăng dân số mang lại .
c/ ảnh hởng của dân số đến tiêu dùng và tích luỹ :
Trớc hết , tiêu dùng là một yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triĨn , më réng thÞ trêng .
Cã nhiỊu u tè xác định khối lợng và cơ cấu vật phẩm tiêu dùng và các loại dịch vụ
nhng quy mô , cơ cấu dân số là những yếu tố quan trọng .
Nghiên cứu tác động của dân số đến tiêu dùng trên phạm vi toàn xà hội trớc tiên
cho thấy khối lợng vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào dân số .
Khẩu phần ăn chủ yếu của nớc ta hiện nay là lơng thực . Mức ăn bình quân nhân khẩu
hàng năm phải đạt trên 300kg lơng thực quy thóc mới đảm bảo đủ calo cho cơ thể .
Cho đến năm 1989 , sản lợng lơng thực sản xuất qua các năm có tăng , song do tỷ lệ

gia tăng dân số cao nên lơng thực quy thóc bình quân đầu ngời giảm và cha đạt mức
300 kg/ ngời/ năm . Từ năm 1940 đến 1980 , sản lợng lơng thực nớc ta tăng lên 2,6
lần nhng dân số tăng 2,8 lần nên bình quân lơng thực lai giảm từ 298kg/ ngời/ năm
còn 268 kg . Từ năm 1989 trở lại đây , nhờ đờng lối đổi mới , sản xuất nông nghiệp
11


phát triển sản lợng lơng thực tăng nhanh , tỷ lệ tăng dân số lại giảm dần nên lơng thực
bình quân đầu ngời đà đạt mức trên 300kg . Điều đáng lu ý , tuy tỷ lệ tăng dân số đÃ
giảm đáng kể nhng còn ở mức cao , nên tỷ lệ tăng lơng thực bình quân đầu ngời vẫn
thấp so với tỷ lệ tăng tổng sản lợng lơng thực quy thóc cùng kỳ .Do đó ta thấy, nếu
chỉ nâng cao tổng sản lợng lơng thực mà không chú ý đến giảm tốc độ tăng dân số thì
khó có thể nâng cao bình quân lơng thực đầu ngời ; và để sự gia tăng lơng thực bình
quân đầu ngời thực sự bền vững thì năng suất cây lơng thực phải tăng nhanh hơn tốc
độ tăng dân số và tốc độ suy giảm diện tích đất canh tác dành cho cây lơng thực .
Nh vậy , tăng dân số nhanh là áp lực lớn về lơng thực , thực phẩm và là nguyên
nhân chủ yếu của tình trạng đói nghèo . Đối với các sản phẩm tiêu dùng khác nh vải
vóc , diƯn tÝch líp häc , giÊy bót , ®å gỗ , nhiên liệu ...tình hình cũng diễn ra nh vậy .
Cùng với quy mô tiêu dùng ngày càng lớn , việc quản lý , khai thác sử dụng tài
nguyên , khoáng sản lại thiếu chặt chẽ , đồng bộ đà làm cho tài nguyên ở nớc ta đang
bị cạn kiệt dần , môi trờng bị tàn phá ngày càng trầm trọng . Tốc độ khai thác và sử
dụng khoáng sản ở nớc ta cũng khá nhanh . Trong vòng 8 năm từ 1991 đến 1998 , sản
lợng khai thác dầu , than và đá đều gấp hơn 2 lần trong khi trữ lợng của chúng thì lại
có hạn .
Bên cạnh tác động của quy mô dân số đến quy mô tiêu dùng , thì cơ cấu tiêu dùng
cũng bị ảnh hởng mạnh bởi các yếu tố dân số nh : cơ cấu theo độ tuổi , giới tính ...
Chính sự khác biệt lớn về nhu cầu sử dụng hàng hoá , dịch vụ sinh hoạt giữa trẻ em
và ngời già , nữ và nam đà tạo nên cơ cấu sản xuất và tiêu dùng xà hội khác nhau .
Xét về mặt giá trị chi phí tiêu dùng trong năm của con ngời phụ thuộc nhiều vào
độ tuổi của họ . Các nhà nghiên cứu đà xác định quy luật : hệ số chi phí tiêu dùng

tăng dần từ độ tuổi 0 , đạt lớn nhất là nằm trong khoảng tuổi từ 25 đến 29 sau đó
giảm dần ở các tuổi tiếp theo . Trong cơ cấu dân số Việt Nam , khoảng tuổi có chi phí
tiêu dùng cao nhất lại cũng đang chiếm u thế , do vậy tiêu dùng lớn là lẽ tất nhiên .
Tuy nhiên , trong xà hội của chúng ta luôn luôn có những nhóm ngời mà chi phí
tiêu dùng vợt quá thu nhập do lao động của họ mang lại hoặc họ không có thu nhËp ,
12


chẳng hạn nh trẻ em cha đến tuổi lao động hoặc ngời già . Ngợc lại cũng tồn tại
những nhóm ngời mà thu nhập do họ tạo ra vợt quá mức tiêu dùng của bản thân . F
Ănghen viết :" Những ngời đà trởng thành có thể sản xuất nhiều hơn cái họ tiêu dùng
. Nếu ngợc lại , xà hội không thể phát triển đợc , thậm chí không tồn tại đợc vì trẻ con
sống bằng gì ?". Do đó , để xà hội phát triển , những ngời lao động phải sản xuất
không chỉ đủ tiêu dùng cho họ mà còn cả những ngời phụ thuộc vào họ và còn phải
nhiều hơn thế mới có tích luỹ mở rộng sản xuất .
Sự tăng trởng kinh tế của một quốc gia đợc quyết định bởi 2 yếu tố cơ bản là tích
luỹ và đầu t , do tích luỹ chính là để tạo thêm vốn đầu t , mở rộng sản xuất , tăng sản
phẩm xà hội . Nhng tích luỹ lại phụ thuộc trực tiếp vào tiêu dùng xà hội , đặc biệt khi
tổng sản phẩm xà hội không đổi . Để xà hội phát triển , ngời lao động phải sản xuất
không chỉ đủ tiêu dùng cho họ mà cho cả những ngời phụ thuộc vào họ và nhiều hơn
thế mới có tích luỹ mở rộng sản xuất . Ngời ta cũng chứng minh đợc rằng , khối lợng
tích luỹ của mỗi quốc gia phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số , nhất là cơ cấu dân
số theo độ tuổi vì nó có liên quan đến lực lợng lao động sản xuất ra của cải vật chất
và chi phí tiêu dùng khác nhau ở mỗi độ tuổi .
ở Việt Nam , từ năm 1990 về trớc , nền kinh tế tăng trởng thấp và không ổn định ,
tốc độ gia tăng dân số lại tơng đối cao nên cha có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc
dân . Giai đoạn 1991- 1995 , GDP tăng ở mức cao , bình quân 8,3%/năm , trong khi
tỷ lệ tăng dân số giảm đáng kể đà tạo đợc nguồn tích luỹ và đầu t trong nớc . Mấy
năm gần đây, phần dành cho tích luỹ đầu t hàng năm đà chiếm trên 1/4 giá trị tổng
sản phẩm trong nớc , gấp hơn 2 lần trớc năm 1987. Có thể thấy từ năm 1997 , mức

tăng trởng kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định nên khối lợng tiết kiệm và đầu t vẫn đợc
mở rộng . Đây là kết quả tổng hợp của các chính sách mới về kinh tế , xà hội trong đó
có tác dụng tích cực của chính sách dân số . Việc giảm mức sinh , quy mô gia đình
nhỏ , tỷ lệ phụ thuộc ngày càng thấp đà làm tăng khả năng tích luỹ , tiết kiệm của các
hộ , tạo điều kiện để các gia đình tăng vốn đầu t ngày một nhiều hơn ...Nhận rõ tác
động to lớn của dân số , chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cøu trong lÜnh vùc x©y dùng
13


và thực hiện chính sách dân số nhằm sớm hạ thấp mức sinh , ổn định quy mô dân số ,
phân bố dân c hợp lý và nâng cao chất lợng dân số nhằm phát triển bền vững đất nớc .
2/ ảnh hởng của sự phát triển dân số tới các vấn đề xà hội ở nớc ta :
Trong quá trình phát triển , các yếu tố cuả qúa trình dân số ( sinh , chết , di dân)
không tồn tại độc lập với các yếu tố kinh tế - xà hội . Trái lại , chúng luôn có quan hệ
mật thiết và tác động qua lại với nhau . ở đây ta xét đến mối quan hệ qua lại giữa dân
số và các nhân tố xà hội . Tuy nhiên , các nhân tố xà hội là một tổng thĨ rÊt phøc
t¹p , bao gåm nhiỊu u tè nh : Gi¸o dơc ; y tÕ ; møc sèng cđa dân c ; bình đẳng giới
và phát triển dân số ... do đó chúng ta cần đi sâu xem xét từng vấn đề để có thể hiểu
đợc những tác động của dân số tới các vấn đề xà hội trên
a/ Dân số và giáo dục :
Trớc hết , giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức , có mục đích , có kế hoạch
nhằm truyền cho lớp ngời mới những kinh nghiệm trong đấu tranh và sản xuất ,
những tri thức về tự nhiên , về xà hội và về t duy , để họ có đủ khả năng tham gia vào
lao động và đời sống xà hội
Hoạt động xà hội đợc tổ chức một cách chặt chẽ nhất là ở nhà trờng . Các lớp học
đợc sắp xếp theo một chơng trình thống nhất hợp lý và do những ngời có trình độ
chuyên môn cao hớng dẫn . Giáo dục còn có thể diễn ra ngoài nhà trờng do các tổ
chức xà hội hoặc do cha mẹ hớng dẫn . Hoạt động giáo dục có thể tiến hành một cách
chính quy hoặc không chính quy . Các loại giáo dục trên đều có mối quan hệ qua lại
với dân số . Dân số tăng nhanh đà trở thành một trong những cản trở không nhỏ tới

những hoạt động giáo dục trong nớc , dẫn tới những hiện tợng bất công bằng trong
giáo dục , đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn .
Gia tăng dân số nhanh với số trẻ em bớc vào độ tuổi đi học cao hàng năm cùng với
sự chênh lệch trong điều kiện giáo dục ở khu vực thành thị và nông thôn là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự bất công bằng trong giáo dục . ở Việt Nam , sù bÊt

14


công bằng này thể hiện rõ nhất theo khu vực nông thôn , thành thị và theo giới tính
trong tuyển sinh nói riêng và trong việc tiếp cận giáo dục nãi chung .
Sù ph¸t triĨn cđa hƯ thèng gi¸o dơc Việt Nam trong vài thập kỷ gần đây đà đem lại
nhiều cơ hội ngang bằng cho cả nam giới và phụ nữ . Xu hớng chung cho thấy càng ở
độ tuổi trẻ , bình đẳng giới trong hởng thụ giáo dục đang trở thành một thực tế khó
phủ nhận đợc ë ViƯt Nam . Tû lƯ biÕt ®äc , biÕt viết chung của dân c từ 10 tuổi trở lên
là 86,6% , trong đó phụ nữ là 82,3% , nam giới là 91,4% . Từ độ tuổi 25 - 29 trë
xng , tû lƯ nam giíi , phơ n÷ biÕt chữ tơng đơng nhau . Sự chênh lệch theo giới tính
bắt đầu diễn ra từ độ tuổi 30 - 34 trở lên , ở độ tuổi trên 65 chỉ có 27,1% nữ giới biết
chữ , trong khi đó con số này của nam giới là 74,5% . Số năm đi học trung bình của
nữ giới là 4,95 và của nam giới là 5,89 . Nh vậy , trong hơn hai mơi năm trở lại đây ,
chính sách giáo dục quốc gia đà có tác động mạnh mẽ đến việc xoá bỏ nạn mũ chữ và
nâng cao trình độ học vấn của ngời dân không phân biệt giới tính , đặc biệt là thế hệ
trẻ .
Tuy nhiên, trong khi sự bình đẳng giới về cơ hội giáo dục đang trở thành hiện thực
thì khoảng cách bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị vẫn cha đợc thu hẹp
nhiều . Mặc dù tỷ lệ biết chữ nói chung là cao nhng vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các
vùng do ở thành thị và các vùng đông dân , kinh tế thờng phát triển hơn . Vì vậy ở
những nơi này hệ thống giáo dục thờng phát triển hơn , nên trẻ em có nhiều cơ hội đợc đến trờng hơn những vùng kém phát triển , dân c tha thớt . Lai Châu - Tỉnh miền
núi phía Bắc - có tû lƯ ngêi mï ch÷ 49% , trong sè ngêi biết chữ nam giới nhiều gấp
đôi nữ giới . Trong khi các dân tộc ít ngời chiếm trên 13% dân số Việt Nam , thì số

con em dân tộc đi häc chØ chiÕm cã 4% sè häc sinh . Ngoµi ra , một số quốc gia
không chú ý đến sự phát triển giáo dục ở một số vùng hẻo lánh và nhiều giáo viên
không muốn đến làm việc ở những vùng này . Mật độ dân số cũng ảnh hởng đến số lợng và chất lợng của giáo dục . Mật độ dân số quá lớn , số trẻ em đến tuổi đi học cao
gây ra sự quá tải , học sinh phải học cả ca 3 . Ngợc lại , ở nơi dân c quá tha thớt , số

15


trẻ em trong tuổi đi học không nhiều , khoảng cách từ nhà đến trờng lớn cũng là một
yếu tố gây khó khăn cho nghành giáo dục .
Theo tổng điều tra dân số vào năm 1989 , trong khi 91% trẻ em thành thị đà đi học
lúc bảy tuổi , thì một phần t ở nông thôn khi bảy tuổi vẫn còn ở nhà và cha đi học .
Tuy nhiên, những năm sau đó , tình hình này đà đợc cải thiện , vào năm 1995 , 90%
trẻ em nông thôn và 97% trẻ em thành thị đà đến trờng khi bớc vào 10 tuổi . Theo số
liệu điều tra về giáo dục - đào tạo năm 1991 của Việt Nam , số ngời đi học trên
10000 dân ở thành thị là 2225, ở nông thôn là 1959 .
Tuy nhiên , giáo dục cũng có tác động ngợc trở lại đến vấn đề dân số thông qua các
yếu tố : kết hôn , sinh , chết và di dân . Tuy nhiên , tác động của giáo dục đến dân số
không mang tính tức thời, mà hiệu quả của giáo dục đến dân số phải trải qua một thời
kỳ mới đợc kiểm nghiệm . Ví dụ : Tác động của giáo dục đến việc giảm mức sinh
phải bắt đầu từ việc chuyển biến từ nhận thức truyền thống " đông con hơn nhiều của
" sang nhận thức " gia đình ít con , ấm no hạnh phúc " , đễn việc chấp nhận và thực
hiện các biện pháp tránh thai và sinh ít con . Tất nhiên , không chỉ có giáo dục mà
còn nhiều yếu tố khác cũng tác ®éng ®Õn viƯc chun biÕn nhËn thøc nµy . ChÝnh vì
vậy , đội khi ngời ta không nhận thức đợc kết quả của giáo dục tới dân số . Tuy
nhiên , khi trình độ giáo dục của nhân dân đợc nâng cao , sau một thời gian nhất định
ngời ta cũng nhận thấy ảnh hởng của trình độ giáo dục khá rõ nét đến quá trình dân
số theo nhiều khía cạnh khác nhau .
Trớc hết là trên khía cạnh hôn nhân. ảnh hởng của giáo dục đến hôn nhân thể hiện
qua quyền lựa chọn bạn đời ; tuổi kết hôn lần đầu và ly hôn . Thanh niên nam nữ có

trình độ học vấn cao , đặc biệt là phụ nữ , có quyền tự do lựa chọn ngời bạn đời mà
mình chung sống , lựa chọn thời điểm kết hôn và quyết định ly hôn khi cần thiết .
Tiếp đó phải kể đến ảnh hởng của giáo dục tới mức sinh . Trên thế giới có rất
nhiều công trình nghiên cứu ảnh hởng của giáo dục đến mức sinh . Hầu hết các công
trình này đều khẳng định rằng giáo dục có vai trò quyết định trong việc giảm mức
sinh . ảnh hởng đó đợc thể hiện ở chỗ : Nếu nâng cao trình độ học vẫn sẽ là thay ®ỉi
16


nhận thức về việc sinh đẻ , về số con và thời điểm sinh con . Điều đó thúc đẩy sù tù
ngun sư dơng c¸c biƯn ph¸p tr¸nh thai , làm giảm mức sinh . Số lợng trẻ em sinh ra
ít lại tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ học vấn . Trình độ học vấn cao lại tạo
điều kiện tiền đề để hạ thấp mức sinh .
Thật vậy , có trình độ học vấn cao ngời phụ nữ mới có kiến thức về các biện pháp
tránh thai và lựa chọn cho mình biện pháp tránh thai thích hợp đạt hiệu quả tránh thai
cao .Do vậy , phụ nữ có trình độ học vấn thờng có ít con , vì họ kiểm soát đợc tất cả
các nhân tố nh thu nhập gia đình , tiếp cận các dịch vụ về sức khoẻ và kế hoạch hoá
gia đình , và chính điều đó có thể giúp giảm nhẹ phí tổn cần thiết để cung cấp dịch vụ
đó .
Tuy nhiên không phải khi phụ nữ có trình độ học vấn càng cao thì họ thôi không
sinh con nữa. Nhiều công trình nghiên cứu đà chứng minh rằng để giáo dục có ảnh
hởng đến việc giảm sinh thì trình độ học vấn của dân số phải đạt đến một mức gọi là
ngỡng và đến một ngỡng nhất định thì mức sinh không giảm nữa . Ngỡng học vấn
ảnh hởng đến mức sinh ở các nớc khác nhau thì khác nhau , tuỳ thuộc vào điều kiện
kinh tế xà hội của nớc đó .
Trớc tình hình đó , muốn giải quyết mối quan hệ giữa dân số và phát triển giáo
dục , cùng một lúc phải giảm sự gia tăng dân số , đồng thời tăng cờng đầu t cho giáo
dục . Giảm sự tăng dân số là yếu tố quyết định sự ổn định kế hoạch phát triển giáo
dục . Ngợc lại , thông qua giáo dục và bằng giáo dục , quá trình giảm mức sinh và
tăng tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên sẽ ổn định và bền vững hơn .

b/ Dân số và y tế :
Sức khoẻ là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con ngời . Sức
khoẻ tốt là cơ sở để lao động có năng suất cao , có tinh thần trách nhiệm , tâm hồn
lành mạnh , trong sáng và là mục tiêu quan trọng của quá trình phát triển . Sức khoẻ
là khái niệm khó xác định . Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới , sức khoẻ là
trạng thái thoải mái về chất , tinh thần và xà hội , nó không chỉ bó hẹp trong nghĩa là
không có bệnh tật hoặc không bị thơng tật .
17


Trong đó , y học và y tế là hai mặt hoạt động bảo vệ , chăm sóc sức khoẻ nhân dân
. Y học đi sâu vào vấn đề nghiên cứu lý thuyết , y tế đi sâu vào các biện pháp tổ
chức , chỉ đạo , thực hiện cụ thể phòng chữa bệnh trong cuộc sống . Mối quan hệ giữa
dân số có tính chất tơng hỗ . Một mặt ngày nay y tế tác động đến toàn bộ quá trình
sản xuất dân số , mặt khác sự " bùng nổ dân số " cũng đang tạo sức ép mạnh mẽ đối
với ngành y tế .
Dân số tác động đến y tế ở nhiều khía cạnh khác nhau . Trớc hết , phải kể đến quy
mô và tỷ lệ gia tăng dân số có ảnh hởng đáng kể đế hƯ thèng y tÕ . NhiƯm vơ cđa hƯ
thèng y tế là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân . Vì vậy quy mô
dân số quyết định số lợng y bác sĩ và số lợng cơ sở y tế . Chẳng hạn , nếu số lần khám
và chữa bệnh của một ngời dân trong một năm không đổi thì tổng số lợt khám và
chữa bệnh trong năm đó sẽ tăng theo số dân và gia tăng theo tỷ lệ gia tăng của quy
mô dân số . Thật vậy , dân số tăng nhanh lại tập trung ở nớc nghèo , khả năng dinh dỡng hạn chế , tỷ lệ mắc bệnh tăng lên , trớc hết là bệnh suy dinh dỡng dễ thấy ở trẻ
em . Dân số đông và tăng quá nhanh dẫn đến nhà ở thêm chật chội , vệ sinh không
đảm bảo nhất là nguồn nớc sinh hoạt . Dinh dỡng kém và môi trờng bị ô nhiễm là
những điều kiện thuận lợi cho bệnh tật phát triển . ở các nớc đang phát triển nh nớc ta
, nhiều ngời không có việc làm , quản lý xà hội khó khăn nên tệ nạn xà hội , tai nạn
giao thông tăng lên . Những nguyên nhân này cũng góp phần làm tăng bệnh tật và thơng tật . Đồng thời , dân số tăng nhanh dẫn đến việc đẩy mạnh kế hoạch hoá gia
đình , do đó cũng nâng cao số cầu đối với y tế .
Không những thế , sức khoẻ , tình trạng mắc bệnh , nhu cầu kế hoạch hoá gia đình

phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi giới tính cđa con ngêi . ë løa ti thanh niªn , trung
niên , có sức khoẻ tốt hơn và do đó có tỷ lệ mắc bệnh và mức chết thấp hơn so với trẻ
em và ngời già . Nhu cầu kế hoạch hoá gia đình cũng cao hơn các nhóm tuổi khác .
Mặt khác , cơ cấu dân số theo giới cũng tác động đến y tế . Do các đặc điểm tâm sinh
lý và các nhu cầu khác nhau của phụ nữ và nam giới trong cuộc sống nên tình trạng
ốm đau , bệnh tật , nhu cầu kế hoạch hoá gia đình của phụ nữ khác nam giới
18


Đồng thời , với những thành tựu to lớn của khoa học nói chung và y học nói riêng ,
ngày nay , con ngời đà có những phơng pháp và phơng tiện điều chỉnh hành vi sinh
đẻ , đấu tranh chống lại bệnh tật , giảm bớt mức chết , kéo dài tuổi thọ. Khoa học kỹ
thuật , đặc biệt là y tế đang can thiệp trực tiếp vào toàn bộ quá trìn sản xuất dân số ,
giúp cho quá trình này chuyển nhanh tới giai đoạn cân bằng hợp lý .
c/ Dân số và mức sống :
Mức sống của dân c là một khái niệm rất rộng , bao gồm nhiều mặt của đời sống
xà hội . Theo Các Mác :" Mức sống không chỉ là sự thoả mÃn những nhu cầu của đời
sống vật chất , mà còn là sự thoả mÃn những nhu cầu nhất định đợc sản sinh ra bởi
chính những điều kiện con ngời đang sèng vµ trëng thµnh " . Nh vËy cã thĨ hiểu ,
mức sống của dân c là trình độ thoả mÃn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của
mọi thành viên trong xà hội . Mức sống của dân c cao hay thấp phụ thuộc vào hai
điều kiện cơ bản là trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật và chế độ chính trị của mỗi nớc . Hai điều kiện đó liên quan mật thiết với nhau . Tríc hÕt , møc sèng cđa d©n c phơ
thc vào trình độ phát triển của lực lợng sản xuất . Sản xuất càng phát triển , năng
suất lao động xà hỗi ngày càng cao , sản phẩm xà hội càng dồi dào càng tạo tiền đề
nâng cao mức sống cho ngời dân . Mặt khác , mức sống của nhân dân còn phụ thuộc
vào chế độ chính trị của mỗi nớc , thể hiện ở chính sách và phơng thức phân phối , sử
dụng tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập quốc dân .

19



III/ Kết luận :
Giữa dân số và phát triển có mối quan hệ biện chứng , gắn bó hữu cơ . Đây là hai
quá trình kinh tế - xà hội , trong nghiên cứu , nhận thức và điều khiển chóng ta cã thĨ
t¸ch ra , song thùc ra chóng hoà quyện vào nhau , nh hai mặt của một chỉnh thể thống
nhất . Khi nói tới quá trình phát triển ( kinh tế - xà hội ) đà hàm chứa tăng trởng kinh
tế và công bằng - tiến bộ xà hội . Mục tiêu của phát triển là vì con ngời , mặt khác
động lực của sự phát triển cũng chính là con ngời .
Ngợc lại , quá trình phát triển lại tạo ra tiền đề và điều kiện để phát triển dân số
theo đúng định hớng do Đảng và Nhà nớc ta đề ra . Sự phát triển kinh tế - xà hội
mang lại của cải vật chất và giá trị tinh thần để nâng cao dân sinh , dân trí và dân chủ
cho nhân dân . Chính trong điều kiện đó , từng ngời dân , từng gia đình sẽ tự ý thức
và tự hành động trong quá trình dân số . ở phạm vi quốc gia , điều kiện do phát triển
kinh tế - xà hội tạo ra là đảm bảo cho sự phát triển dân số đúng hớng , xả về quy mô ,
cơ cấu và chất lợng .
Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về mối quan hệ biện chứng - khách quan nêu trên là
cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc hoạch định hệ thống chính sách kinh tế
- xà hội nói chung, chính sách dân số và phát triĨn nãi riªng .

-----------------------------------------

20


Mục lục
Trang
I/ Phần mở đầu

1


II/ Nội dung chính

3

1/ ảnh hởng của sự phát triển dân số tới sự phát triển kinh tế nớc ta

3

a/ Dân số - Lao động - Việc làm

3

b/ Gia tăng dân số và phát triển kinh tế

10

c/ ảnh hởng của dân số đến tiêu dùng và tích luỹ
2/ ảnh hởng của sự phát triển dân số tới các vấn đề xà hội ở nớc ta

12
14

a/ Dân số và giáo dục

15

b/ Dân số và y tế

18


c/ Dân sè vµ møc sèng

20

III/ KÕt luËn

21

21



×