Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

LUẬN VĂN Những bản chất, nguồn gốc của những yếu tố bên trong nền kinh tế thị trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (365.89 KB, 27 trang )











LUẬN VĂN:

Những bản chất, nguồn gốc của những yếu tố
bên trong nền kinh tế thị trường




Phần mở đầu


Môn kinh tế chính trị tư bản bắt nguồn tử chủ nghĩa trọng thương. Nó thống trị
tư duy kinh tế của chủ nghĩa tư bản thế kỷ XV đến thế kỷ XVII và tồn tại trong đầu thế
kỷ XVIII. A. Mông Grêchiên nhà trọng thương người Pháp (1575-1629), là người đầu
tiên sử dụng thuật ngữ “kinh tế chính trị học” trong tác phẩm “chuyển luận về kinh tế
chính trị học” ông xem kinh tế chính trị là khoa học về kế toán Nhà nước, ông nghiên
cứu sự tham gia tích cực của nhà nước vào đời sống kinh tế, sự hộ trợ của Nhà nước
cho quá trình tích luỹ ban đầu. Lý luận của chủ nghĩa trọng thương là sự thử nghiệm
đầu tiên việc nghiên cứu về lý luận phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong thời
ký này tư bản thương nghiệp chiếm địa vị thống trị và thực sự chỉ có lĩnh vực lưu
thông hàng hoá mang tính chất tư sản. trong khi nhận thức đúng đắn rằng sự săn đuổi


lợi nhuận là động lực của chủ nghĩa tư bản nguồn gốc của lợi nhuận là tư thương
nghiệp mà trước hết là từ ngoại thương, do đó họ không giải thích được bản chất của
lợi nhuận và của tiền tệ.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho luận điểm của chủ nghĩa trọng
thương lỗi thời. Vì theo đã phát triển của chủ nghĩa tư bản không đơn thuần là tích luỹ
tiền nữa, mà là tái sản xuất mở rộng. Trọng tâm của các nhà kinh tế tư bản chuyển từ
lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Chủ nghĩa trọng nông nhường chỗ cho chủ
nghĩa trọng thương.
Chủ nghĩa trọng nông đặt trọng tâm vào sản xuất Nông nghiệp. Công lao của
các nhà trọng nông là chuyển việc nghiên cứu nguồn gốc của cải từ lĩnh vực lưu thông
sang lĩnh vực sản xuất. Họ quan điểm một cách hạn chế rằng, chỉ có Nông nghiệp mới
tạo ra sản phẩm ròng (tức là chỉ thu thuế từ chủ trang trại và chủ sở hữu ruộng đất).
Chính sách thuế này khuyến khích sự phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp. Họ
phân tích một cách khoa học về tư bản cố định và tư bản ứng dụng trước hàng năm.
Ph.Kênê là người đầu tiên nêu lên phạm trù “tái sản xuất ” và sơ đồ tái sản xuất trong
“Biểu kinh tế ” mà sau này C.Mác kế thừa khi nghiên cứu lý luận tái sản xuất và lưu
thông tổng tư bản xã hội. Mặc dù là giai đoạn cao hơn so với chủ nghĩa trọng thương,
chủ nghĩa trọng nông còn hạn chế, đặc biệt chỉ giới hạn ở lĩnh vực sản xuất trong

Nông nghiệp và chưa có khái niệm đúng đắn về giá trị. Chủ nghĩa trọng nông nhường
chỗ cho kinh tế chính trị tư sản cổ điển.
Kinh tế chính trị tư sản cổ điểm quan niệm đối tượng của kinh tế chính trị là
nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của của cải, sự giầu có của các dân tộc và sự phân
phối của cải đó giữa các tầng lớp xã hội. Kinh tế chính trị tư bản cổ điển khẳng định,
lao động sản xuất là nguồn gốc của giá trị hàng hoá, còn lợi nhuận, lợi tức, địa tô là
những khoản khấu trừ vào sản phẩm của lao động hay là vào giá trị của những sản
phẩm đó. Do.Ricardo, tiêu biểu cho trường phái này đã nhận rõ lợi nhuận bắt nguồn gừ
lao động không được trả công. Vì vậy có mâu thuẫn giữ tiền công và lợi nhuận.
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh mở đầu từ U.Pðtti (W.Petty) (1622-1687) đến
A.Ximít (A.Ximít) là nhà kinh tế của thời kỳ công thương thủ công của chủ nghĩa tư

bản. Còn Đ.Ricácđo là nhà kinh tế của thời kỳ đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư
bản, là đỉnh cao của lý luận của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển.
Học thuyết kinh tế của Mác ra đời vào giữa thế kỷ Xĩ đây là thời kỳ lịch sử mà
giai cấp tư sản đã giành được chính quyền đã hoàn thành cuộc cách mạng chủ nghĩa,
đã củng cố vững chắc sự thống trị của mình, đồng thời, chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu
bộc lộ những mâu thuẫn đối kháng, những cuộc khủng hoảng kinh tế đã pháp hoại nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế chính trị học do C,Mác và Ph-Ăngghen sáng lập là một cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật chính trị vì nó dựa trên phương pháp biện chứng duy vật, của giai
cấp công nhân. C.mác đã xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư - hòn đá tảng trong
học thuyết kinh tế Mácxít.
- C.Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu lịch sử xã
hội, bắt đầu các phạn trù kinh tế, vạch rõ sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất cơ sở của sự phát triển lịch sử xã hội, các quy luật kinh tế chi phối
sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chỉ ra quan hệ giữa người với
người ẩn giấu đằng sau quan hệ giữa vật với vật trong sản xuất hàng hoá nói chung và
trong tư bản chủ nghĩa nói riêng.
- Nhờ phân biệt được sức lao động và lao động trong sản xuất hàng hoá, đặc
biệt là tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá (lao động cụ thể và lao động
trừu tượng). C.Mác đã giải đáp được nhiều bế bắt trong các học thuyết của trường phái

kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh (thí dụ: vì sao trao đổi theo đúng giá trị mà
vẫn thu được giá trị thặng dư), từ đó C.Mác hoàn thiện lý luận giá trị, tìm ra nguồn gốc
và bản chất của tiền tệ, đưa đến phát hiện về giá trị thặng dư, vạch rõ cơ chế bóc lột tư
bản chủ nghĩa và những hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư trên bề mặt cuộc
sống như: lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô tư
bản chủ nghĩa.
Yêu cầu đặt ra là chúng ta phải hiểu rõ những bản chất, nguồn gốc của những
yếu tố bên trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là yếu tố quyết định, thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế thị trường. Đó chính là lợi nhuận.


Nội dung
I. Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.
1. Quan điểm của trường phái trọng thương về lợi nhuận.
Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào thời kỳ quá độ mà kinh tế phong kiến bước
vào thời kỳ suy đồi và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành. Nó ra đời phản
ánh những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản vào thời kỳ tiền tư bản và nó được
phát triển rộng rãi ở cả nước Tây Âu. Mặc dù thời kỳ nà chưa biết đến quy luật kinh tế
và còn hạn chế về tính quy luật nhưng hệ thống quan điểm học thuyết kinh tế trọng
thương đã tạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho các lý luận kinh tế thị trường sau
này phát triển. Điều này được thể hiện ở chỗ họ đưa ra quan điểm sự giầu có không
phải là giá trị sử dụng mà là giá trị tiền. Mục đích hoạt động của kinh tế hàng hoá thị
trường là lợi nhuận.
“Học thuyết kinh tế trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông
mua bán, trao đổi sinh ra. Nó là kết quả của việc mau ít bán nhiều, mua sẽ bán đắt mà
có”.
Nhưng trong giai đoạn này các nhà kinh tế học chưa hiểu quan hệ giữa lưu
thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Vì đó ở giai đoạn đầu của thời kỳ này các nhà
nước tư bản đã đưa ra các chính sách làm tăng của cải tiền tệ, giữ cho khối lượng tiền
tệ không ra ngoài, tập chung buôn bán để nhà nước dễ kiểm tra, bắt buộc các thương
nhân nước ngoài, tập chung buôn bán phải dùng số tiền mà họ có mua hết số hàng
mang về nước họ ở giai đoạn sau họ dùng chính sách xuất siêu để có chênh lệch,
mang tiền ra nước ngoài để thực hiện mua rẻ bán đắt
Với những chính sách đưa ra nhằm đạt được như trên của các nhà tư bản chỉ
mang tính chất bề mặt nông cạn. Chứng tỏ quan điểm về lợi nhuận cũng như kinh tế
chưa có “Chiều sâu thực chất chính sách này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong nền
kinh tế. Đòi hỏi phải thoát khỏi phương pháp kinh nghiệm thuần tuý phải phân tích
kinh tế xã hội với tư cách là một chính thế”

2. Quan điểm của trường phái cổ điển về lợi nhuận.

Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong
lĩnh vực lưu thông. Do quá trình phát triển của công thương thủ công, tư bản đã
chuyển sang lĩnh vực sản xuất, lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất đã vượt qua khả
năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương và học thuyết kinh tế cổ điển xuất
hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên
cứu lĩnh vực lưu thông các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường. Những
phạm trù lợi nhuận, địa tô, lợi tức trong đó có một số quan điểm về lợi nhuận nổi bật
là quan điểm của Kene, A.Đ.Smith, Ricacđô
a. Quan điểm của Kene.
Kene được các Mac đánh giá là con đẻ của kinh tế chính trị học cổ điển và ông
có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế Kene đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu sản
phẩm tức là nền móng cho việc nghiên cứu quan hệ thặng dư sau này. Ông đã đưa ra
những quan điểm kinh tế để tiến hành phê phán chủ nghĩa trọng thương. Kene cho
rằng trao đổi thương mại chỉ đơn thuần là việc trao đổi giá trị này lấy giá trị sử dụng
khác theo nguyên tắc ngay giá. Hai bên không có gì để mất hoặc được cả. Bởi vậy
thương nghiệp không đẻ ra tiền được. Theo ông lợi nhuận thương nghiệp có được do
tiết kiệm các khoản chi về thương mại và của cải chỉ có thể tạo ra trong lĩnh vực sản
xuất Nông nghiệp. Chính quan điểm này đã chuyển việc nghiên cứu của cải từ lĩnh vực
lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra ông còn có lý luận về sản phẩm thặng dư.
Ông cho rằng sản phẩm thặng dư chỉ đựơc tạo ra sản xuất Nông nghiệp kinh doanh
theo kiểm tư bản chủ nghĩa bởi vì trong lĩnh vực sản xuất Nông nghiệp đã tạo ra được
chất mới nhờ có sự giúp đỡ của tự nhiên. Đây là một quan điểm sai lầm. Nhưng ông
cũng manh nha bước đầu tìm ra được nguồn gốc của giá trị thặng dư. Ông cho chi phí
sản xuất là tiền lương, sản phẩm tuy là số chênh lệch giữa thu hoạch và tiền lương đó
chính là phần do lao động thặng dư tạo ra.
Với Petty lợi nhuận là khoảng dôi ra so với chi phí sản xuất và Petty cho rằng
phần lợi nhuận dôi phụ thuộc và nhà tư bản là hợp lý. Đó là công lao về sự mạo hiểm
của nhà tư bản ứng tiền ra sản xuất. Còn A.R.Jturogt thì cho rằng lợi nhuận là thu nhập
không lao động do công nhân tạo ra.
b. Quan điểm của A.Smith.


Ông cho rằng lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao
động có chung nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân. Ông chỉ ra
lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả
cho chủ nó để được sử dụng tư bản. Ông đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỷ suất
lợi nhuận và xu hướng tỷ suất lợi nhuận giảm sút do khối lượng đầu tư tăng lên. Xuất
phát từ sự phân tích giá trị hàng hoá do người công nhân tạo ra. A.Smith tháy một thực
tế là ocong nhân chỉ nhận được một phần tiền lương, phần còn lại là địa tô và lợi
nhuận của tư bản. Theo ông địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động.
Về mặt chất, nó phản ánh quan hệ bốc lột. Ông đã phân biệt địa tô và tiền tô. Theo ông
địa tô cộng với lợi tức tư bản đầu tư cải tạo đất bằng tiền tô. Điều này tiền bộ hơn cả
học thuyết trước đây. Tuy nhiên ông còn cho rằng sở dĩ Nông nghiệp có địa tô, vì lao
động Nông nghiệp có năng suất cao hơn lao động công nghiệp và ông phụ nhận địa tô
tuyệt đối. Ông cho rằng nếu thừa nhận địa tô tuyệt đối là vi phạm quy luật giá trị.
c. Quan điểm của Ricacdo:
Nếu như A.Smith sống trong thời kỳ công trường thủ công phát triển mạnh mẽ
thì David Ricacdo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Đó là điều kiện khách
quan để ông vượt được ngưỡng giới hạn mà A.Dsmith dừng lại. Ông là người kế tục
xuất sắc của A.Smith. Theo C.Mác, A.Smith là nhà kinh tế của thời kỳ công trường
thủ công còn D.Ricácdo là nhà tư tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp ông sử
dụng phương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tượng hoá, đồng thời áp
dụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là phương pháp suy diễn để
nghiên cứu kinh tế chính trị học.
Về lợi nhuận, D.Ricacdo cho rằng “Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà
nhà tư bản trả cho công nhân” ông đã thấy xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận và giải
thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu nhập giữa 3
giai cấp địa chủ, công nhân và nhà tư bản. Ông cho rằng do quy luật mầu mỡ đất đai
ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng lên làm cho tiền lương công nhân tăng và địa
tô tăng lên còn lợi nhuận không tăng. Như vậy theo địa chủ là người có lợi, công nhân
không có lợi cũng không bị hại, còn nhà tư bản thì có hại vì tỷ suất lợi nhuận giảm

xuống. Những hạn chế của ông là không phân biệt lợi nhuận thặng dư.

3. Quan điểm của trường phái Samuellson về lợi nhuận.
Theo Samuellson lợi nhuận kinh doanh là lợi tức ẩn, lợi nhuận là phần thưởng
cao việc gánh chịu rủi ro cho sự đổi mới, lợi nhuận là lợi tức độc quyền.
Bởi ông cho rằng lợi nhuận kinh doanh là tổng hợp của nhiều khoản khác nhau.
Phần lớn giá trị lợi nhuận kinh doanh được báo cáo chỉ là phần lợi tức của các chủ sở
hữu Công ty có được do lao động của họ hay do vốn đầu tư của họ mang lại. Nghĩa là
tiều trả cho các yếu tố sản xuất do họ cung cấp. Nếu loại bỏ tất cả lợi tức ẩn thì ta được
lợi nhuận thuần tuý và đó là phần thưởng cho sự gánh chịu rủi ro nói chung. Chúng ta
không tính tới các rủi ro vỡ nợ hay các rủi ro có bản hiểm. Có một dạng rủi ro cần lưu
ý khi tính toán lợi nhuận đó là rủi ro đầu tư không bảo hiểm. Doanh thu Công ty phụ
thuộc rất lớn và thăng trầm trong chu kỳ kinh doanh. Do các nhà đầu tư rất không
thích các trường hợp rủi ro nên họ đòi hỏi phải có mức phí dự phòng rủi ro cho những
đầu tư không chắc chắn nhằm bù đắp cho những rủi ro của họ.
Lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí. Lợi nhuận kinh doanh được báo cáo chủ
yếu là thu nhập Công ty.
4. Học thuyết của Mác-Lênin.
Mác viết “Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động biểu
hiện trong hàng hoá”.
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao động vì lao
động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Theo Mác, lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của
một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng đối tượng riêng, thao tác
riêng, phương tiện riêng, thao tác và kết quả riêng. Kết quả lao động cụ thể tạo ra giá
trị sử dụng của hàng hoá. Lao động cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng cũng có
nhiều loại. Tất cả các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội
ngày càng chi tiết. Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn là một điều kiện không
thể hình thức cụ thể của nó như thế nào gọi là lao động trừu tượng.
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt của

người. Những bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó chưa phải là lao động
trừu tượng. Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có sự cần thiết khách quan phải

quý các loại lao động cụ thể khác nhau vốn không thể so sánh với nhau được tức là
phải quy lao động cụ thể thành lao động trừu tượng. Vì lao động trừu tượng là một
phạm trù lịch sử. Lao động trừu tượng nó tạo ra giá trị của hàng hoá là một phạm trù
lịch sử. Lao động trừu tượng nó tạo ra giá trị của hàng hoá.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất
hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu
thuẫn này còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tượng, ở giá trị sử dụng
với giá trị của hàng hoá “Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là điểm
mấu chốt để hiểu biết kinh tế chính trị học”. Nó là sự phát triển vược bậc so với các
học thuyết kinh tế cổ điển.
Mác và Ăngghen cũng là người đầu tiên đã xây dựng nên lý luận về giá trị
thặng dư một cách hoàn chỉnh vì vậy, lý luận giá trị thặng dư được xem là hòn đá tảng
to lứon nhất trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác. Qua thực tế xã hội tư bản lúc
bấy giờ Mác thấy rằng giai cấp tư bản thì ngày càng giầu thêm còn giai cấp vô sản thì
ngày càng nghèo khổ và ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng này.
Cuối cùng ông phát hiện ra rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền là T đưa vào qua
trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng ra ta gọi là
T

(T

>T) hay T

= T + T.
C.Mác gọi T là giá trị thặng dư ông cũng thấy rằng mục đích của lưu thông
tiền tệ với tư cách là tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị. Mục đích của
lưu thông T-H-T


là sự lớn lên của giá trị thặng dư nên sự vận động T-H-T

là không có
giới hạn. Công thức này Mác gọi là công thức chung của tư bản.
Qua nghiên cứu Mác đi đến kết luận: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông
và cũng không thể xuất hiện ở người lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và
đồng thời không phải trong lưu thông”. Đây chính là mâu thuẫn chung của công thức
tư bản. Để giải quyết mâu thuẫn này Mác đã phát hiện ra nguồn gốc sinh ra giá trị
hàng hoá sức lao động. quá trình sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá
trị của bản thân giá trị sức lao động. Vậy quá trình sản xuất ra tư bản chủ nghĩa là quá
trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C.Mác viết:
“Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình sáng tạo ra giá trị thì
quá trình sản xuất là quá trình sản xuất ra hàng hoá, với tư cách là tăng giá trị thì quá

trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa
của nền sản xuất hàng hoá ”.
Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó được tính bằng giá trị sức lao
động cộng thêm giá trị thặng dư. Vậy giá trị thặng dư (m) là phần giá trị mới dôi ra
ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Qua đó
chúng ta thấy tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm
thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất
của tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra làm hai bộ phận. Tư bản bất biến và tư bản khả
biến.
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và
chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất
được C.Mác gọi là tư bản bất biến và được ký hiệu là C.
Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình
sản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và được ký hiệu là: V.

Nhưng, trong đời sống hiện thực, người ta thấy Xí nghiệp nào sử dụng máy
móc và công nghệ hiện đại thì ănng suất lao động cao hơn và nhờ đó thu được lợi
nhuận nhiều hơn. Khi máy móc chưa được áp dụng phổ biến, nhà tư bản thu được lợi
nhuận siêu ngạch, mặt khác, số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ nhiều hơn, do đó tổng
khối lượng lợi nhuận mà nhà tư bản thu được cũng sẽ lớn hơn trước.
Như vậy ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được phải có một tư bản
bất biến được ứng với tỷ lệ tương đương và qua sự phân chia ta rút ra tư bản khả biến
tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động. Còn tư bản bất biến có vai trò
gián tiếp trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Từ đây ta có kết luận “Giá trị của hàng hoá
bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng”, cộng với giá trị của tư bản khả biến đó
(tức là giá trị thặng dư đã được sản xuất ra). Nó được biểu hiện bằng công thức:
Giá trị = c + v + m
Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến đã vạch ra thực
chất bóc lột tư bản chủ nghĩa chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị
thặng dư của nhà tư bản, (tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công nhân tạo ra).
Nó được biểu hiện một cách ngắn gọn qua quá trình.

Giá trị = c + v + m
Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm: c
Giá trị sức lao động của người công nhân mà nhà tư bản trả cho người công
nhân): V
M = m

.V =
m.V
v
Giá trị mới do người công nhân tạo ra: v + m
Như thế tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c + v, nhưng giá trị mà
tư bản thu vào là c + v + m. Phần M dôi ra là phần mà tư bản bóc lột của người công
nhân.

ở trên chúng ta nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư. Nhưng muốn hiểu
về nó ta nghiên cứu sự bóc lột tư bản về mặt lượng. Các phạm trù tỷ suất giá trị thặng
dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiên cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt chất
của sự bóc lột.
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến. Ký
hiệu của tỷ suất giá trị thặng dư là m

ta có:
m

=

m.100%
v
Tỷ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân.
Thực chất đây là tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và
thời gian lao động thặng dư, nhưng nó không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột
tức là khối lượng giá trị thặng dư. Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất
giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến (v). Gọi M là giá trị thặng dư thừa (Tư bản khả
biến là một đơn vị tư bản biểu hiện ra bên ngoài như tiền lương của một công nhân).
Nó nói lên quy mô của tư bản
Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiều cách
bằng nhiều thủ đoạn. Trong đó C.Mác chỉ ra hai phương pháp mà chủ nghĩa tư bản sử
dụng đó là sản xuất giá trị thặng dư tương đối, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối,
ngoài ra còn có phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch.
Mác đã chỉ ra trong giai đoạn phát triển đầu của chủ nghĩa tư bản, khi kỹ thuật
còn thấp và tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đối bằng cách kéo dài

tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không thay đổi.
Những phương pháp này còn có hạn chế về thời gian, về thể chất và tình thần người

công nhân. Sự bóc lột này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các tập đoàn,
mặt khác, đến giai đoạn phát triển cao có thể làm cho năng suất lao động để tăng giá trị
thặng dư và nâng cao trình độ bóc lột.
Nhà tư bản sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời
gian lao động cần thiết do đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư trong điều
kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phương pháp này không có giới hạn.
Bên cạnh đó các nhà tư bản ngày nay đang tìm cách cải tạo kỹ thuật, đưa kỹ
thuật mới vào, nâng cao tay nghề công nhân, tạo điều kiện và tinh thần để tạo ra năng
suất lao động, cá biệt lớn hơn năng suất lao động xã hội. Phần giá trị thặng dư dôi ra
ngoài giá trị thặng dư thông thường do thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao
động xã hội cần thiết gọi là giá trị thặng dư siêu bền. Phương pháp này sản xuất giá trị
thặng dư siêu ngạch.
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư chỉ là sự biểu hiện qua sản phẩm còn thực tế
để thu lượng tiền thì chuyển hoá giá trị thặng dư như thế nào vì công thức chung của
tư bản là T – H – T’ nên mục đích cuối cùng của nhà tư bản thu được T

còn giá trị
thặng dư chỉ là tiền đề là nền tảng để thu được T

(T

>T). (Mác đã giúp ta giải quyết
vấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lượng biểu hiện giá trị thặng dư đó là lợi nhuận
(P)). Vậy:
“Giá trị thặng dư khi được đem so sánh với tổng tư bản ứng trước thì mong
hình thức biến thành lợi nhuận ” từ đó ta có thể thấy lợi nhuận chính là con đẻ của
tổng tư bản ứng trước c+v.
Để hiểu rõ hơn về lợi nhuận chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi phí thực tế
xã hội và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất phát từ giá trị hàng hoá c+v+m.
Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí lao động nhất định bao gồm chi phí cho tư

liệu sản xuất tư bản bất biến gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra giá trị mới
(v+m). Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểm của người lao động thì chi phí đó
là chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá.
(c+v+m). Nhưng đối với nhà tư bản thì họ không hao phí thực tế để sản xuất ra
hàng hoá nên nhà tư bản chỉ xem hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem chi phí hết

bao nhiêu lao động cần thiết, thực tế họ chỉ ứng ra số tư bản để mau tư liệu sản xuất (c)
và mua sức lao động (v), chi phí đó được C.Mác gọi là chi phí tư bản chủ nghĩa và ký
hiệu là: k (k =c+v). Như vậy chi phí tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực
tế. Giữa giá thành hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự chênh lệch nhau
một lượng đúng bằng giá thành thặng dư. Do đó nhà tư bản hàng hoá sẽ thu về một
phần lời đúng bằng giá thành thặng dư m, số tiền này gọi là lợi nhuận.
Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi
nhuận.
Giá trị = k + P
Về mặt ưlợng lợi nhuận có nguồn gốc là kết quả lao động không công của công
nhân làm thuê.
Về mặt chất lợi nhuận xem như toàn bộ tư bản ứng trước đẻ ra. Do đó lợi nhuận
che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa, che dấu nguồn gốc thực sự của nó.
Do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế
cho nên nhà tư bản có thể bán hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và
có thể thấp hơn giá thành hàng hoá. Nếu nhà tư bản bán hàng hoá với giá trị bằng giá
trị của nó thì P = m. Nếu bán với giá trị cao hơn giá thành của nó thì P>m, nếu bán với
giá trị nhỏ hơn giá trị của nó thì P<m. Chính điều này đã làm cho họ cho rằng lợi
nhuận là việc mua bán, do lưu thông tạo ra, do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có.
Điều này dẫn đến sự che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
Nhưng lòng tham của nhà tư bản là vô đáy vì thế sau khi đã có lợi nhuận rồi họ
không dừng lại tại đó mà họ còn muốn tìm ra với số tiền mà họ đầu tư đó thì họ đầu tư
vào đâu để thu được lợi nhuận lớn hơn. Từ đây nẩy sinh khái niệm về tỷ suất lợi
nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản mà nó nói lên
mức lãi của việc đầu tư. Nó cho nhà tư bản biết họ đầu tư vào đâu thì có lợi. Do đó
việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực thúc đẩy nhà tư bản, là
mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản.
Do mục tiêu đạt được lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà tư bản luôn luôn diễn
ra sự cạnh tranh gay gắt, các quá trình cạnh tranh của nhà tư bản được C.Mác phân
chia thành hai loại, cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các Xí nghiệp trong cùng
một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi
hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Do bản chất của cạnh tranh chính là một hình thức đấu tranh gay gắt giữa
những người sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nhằm giành
dật những điều kiện có lợi nhất của sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Vậy nó cho nền
cạnh tranh trong nội bộ ngành buộc các xí nghiệp phải tìm cách giảm giá trị khác biệt
của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội để giành thắng lợi trong cạnh tranh. Kết quả là do
điều kiện sản xuất bình quân trong ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hoá giảm
xuống.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản ở các ngành sản
xuất khác nhau có nhiều điều kiện khác nhau, do đó tỷ suất lợi nhuận cũng khác nhau.
Các nhà tư bản chọn ngành có lợi nhuận cao để đầu tư. C.Mác viết: "Do ảnh hưởng
của cạnh tranh những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỷ suất lợi
nhuận chung không kể cấu tạo hiện có như thế nào gọi là lợi nhuận bình quân".
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật tỷ suất
lợi nhuận bình quân trong xã hội tư bản. Sự hoạt động của quy luật tỷ suất lợi nhuận
bình quân là biểu hiện cụ thể của sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong thời
kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã che dấu
hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận và lợi
nhuận không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh

vẫn tiếp diễn.
Sự chuyển hóa từ giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất và sự che dấu quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa các phạm trù sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ phận hàng
hoá được bán cao hơn giá trị của chúng còn bộ phận khác lại bán thấp hơn giá trị của
chúng cũng theo một tỉ lệ như thế. Chỉ có bán hàng hoá theo những giá cả đó thì tỷ
suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu thành
hữu cơ của các tư bản đều khác nhau. "Những giá cả đó có được bằng cách lấy chi phí
sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất"

Vậy : Giá cả sản xuất = K + P
Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Điều
kiện để giá trị biến thành gía cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ
nghĩa phát triển, sự liên hệ đầy đủ giữa các ngành sản xuất này sang ngành khác.
Trước đây khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay quanh giá
trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản xuất. Về mặt lượng,
giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. chính trong mới quan hệ này, giá trị
vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trường.
Thực chất hoạt động của quy luật giá cả sản xuất là sự biểu hiện hoạt động của
quy luật giá trị trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.
Lợi nhuận được biểu hiện dưới dạng lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương
nghiệp, lợi nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay.
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường các nhà sản
xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh họ mong muốn chi phí
còn số dư dôi để không chi sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị
trường. Lợi nhuận ở đây chính là phần chênh loch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí,
còn tối đa hoá lợi nhuận hoặc giảm chí phí sản xuất, tức là phải làm gì để đạt được lợi
nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh thu của doanh nghiệp mà số tiền mà
doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định, và
quá trình này cũng được tư bản công nghiệp chi cho một phần lợi nhuận. Lợi nhuận đó

sau này được gọi là lợi nhuận thương nghiệp.
Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thương ở đó họ cho rằng
lợi nhuận là kết quả trao đổi không ngang giá. Họ coi thương nghiệp là lừa gạt. "không
một người nào thu được lợi nhuận mà không làm thiệt kẻ khác "Quan điểm sai loch
này là do họ tách rời quá trình sản xuất".
Khác với tư bản thương nghiệp trước chủ nghĩa tư bản, tư bản thương nghiệp
dưới chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản chủ nghĩa. Tư bản thương nghiệp chỉ
hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không sáng tạo ra giá trịvà giá trịthặng dư, nó chỉ
làm nhiệm vụ thực hiện giá trịvà giá trịthặng dư. Nhìn bề ngoài lợi nhuận thương
nghiệp là do mua rẻ bán đắt do lưu thông tạo ra. Nhưng thực chất "Lợi nhuận thương
nghiệp tư chủ nghĩa là một bộ phận giá trị thặng dư do nhà tư bản chủ nghĩa nhường

cho nhà tư bản thương nghiệp". Nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản
thương nghiệp một phần bởi vì tư bản thương nghiepẹ chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu
thông, đó là một khâu, một gian đoạn của quá trình sản xuất, không có gian đoạn thì
quá trình tái sản xuất không thể tiếp diễn tiếp tục được, và dĩ nhiên nhà tư bản thương
nghiệp cũng không phải hoạt động không công được mà họ cũng đòi hỏi phải có lợi
nhuận. Điều này bắt buộc nhà tư bản công nghiệp phải nhường một phần lợi nhuận của
mình cho tư bản thương nghiệp.
Vậy "Lợi nhuận thương nghiệp là số chênh loch giữa giá trị bán và giá mua
hàng hoá ".
Nhưng điều đó không có nghĩa là tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cao hơn
giá trị của nó, mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi
bán thì bán đúng giá trị của nó. Vì nhà tư bản thương nghiệp tham gia vào việc phân
chia (m) nên đời sống của xã hội tư bản hình thành hai giá cả sản xuất giá cả sản xuất
thương nghiệp và giá cả sản xuất thực tế. Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp đã
che dấu thêm một bước quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Do việc phân phối lợi nhuận
giữa tư bản chủ nghĩa và tư bản thương nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận
bình quân thông qua cạnh tranh.
- Lợi tức và tỷ suất lợi tức.

Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp, luôn có số tư
bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi ví dụ như tiền lương quỹ khấu hao của tư bản cố định,
tiêu dùng để mua nguyên vật liệu nhưng chưa đến kỳ mua, bộ phận giá trị thặng dư
tích luỹ (dưới dạng tiền) để mở rộng sản xuất nhưng chưa thu nhập nào cho nhà tư
bản. Nhưng đối với nhà tư bản thì tiền phải đẻ ra tiền, vì vậy nhà tư bản phải cho
người khác vay để kiếm lãi. Vì trong cùng một thời gian đó có những nhà tư bản khác
rất cần tiền để mở rộng sản xuất do đó họ có nhu cầu vay. "Tư bản cho vay là tư bản
tiền tệ mà người chủ của nó nhường chóng khác sử dụng trong một thời gian để nhận
được một số lời lãi nào đó. Số lời lãi đó được gọi là lợi tức". Bản chất của lợi tức là
một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử
dụng. Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất. Nhưng việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức che dấu một

thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa. Dựa vào công thức vận động tư bản cho vay chúng
ta hoàn toàn vạch trần được điều đó.
Lợi tức vận động theo quy luật tỷ suất lợi tức.
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa tổng số lợi nhuận bình quân, tỷ
lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tức và thu nhập của xí nghiệp mà nhà tư bản hoạt động
phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của tư bản cho vay.
-Lợi nhuận ngân hàng là thu nhập của nhà tư bản ngân hàng là hình thái biến
tướng riêng biệt của m. Nghiệp vụ chính của ngân hàng là thu nhập tiền gửi cho vay.
Lợi tức cho vay của ngân hàng cao hơn lợi tức tiền gửi, con số chênh loch là nguồn
gốc của lợi nhuận ngân hàng. Tuy vậy, không phải toàn bộ con số chênh loch ấy đều là
lợi nhuận ngân hàng chỉ là con số còn lại sau khi đã trừ đi một phần để bù vào chi phí
nghiệp vụ ngân hàng (lương nhân viên, sổ sách ).
Ngân hàng cho các nhà trực tiếp kinh doanh vay. Nhà tư bản lấy số tiền đó để
sản xuất ra giá trị thặng dư (tư bản công nghiệp ) hoặc thực hiện giá trị thặng dư (tư
bản thương nghiệp), sau đó đem một phần m thu được làm thành lợi tức trả cho ngân
hàng. Do đó lợi nhuận ngân hàng cũng là giá trị thặng dư.
Sự cạnh tranh giữa các ngành trong xã hội tư bản cũng là do lợi nhuận ngân

hàng bằng lợi nhuận bình quân, nếu không chủ ngân hàng sẽ chuyển vốn sang kinh
doanh ngành khác.
Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, nó loại bỏ sự thống trị của tự do cạnh
tranh nhưng không thủ tiêu được cạnh tranh mà cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Cạnh
tranh dẫn đến độc quyền cũng để cạnh tranh tốt hơn. Bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư
bản độc quyền vẫn dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản
xuất. Độc quyền chiếm giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế thể hiện ở sự độc chiếm
các nguồn nguyên liệu, phương tiện vận tải, thị trường vốn nhân công, quy luật kinh tế
cơ bản vẫn là quy luật giá trị thặng dư, song biểu hiện ra bên ngoài là quy luật lợi
nhuận độc quyền cao.

II. Tại sao lợi nhuận lại là động lực thúc đẩy kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa phát triển đồng thời nó lại làm tăng mâu thuẫn ở trong chủ nghĩa tư bản.
Lợi nhuận đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế. Nó ảnh hưởng cả đến chính trị
xã hội và len lói vào mọi mặt của đời sống xã hội.
Trong mọi nền kinh tế thị trường. Như ta đã biết mọi sự vật hiện tượng đều có
tính hai mặt. Mặt tích cực và mặt tiêu cực. Vấn đề đặt ra là ta phải phát triển mặt tích
cực hạn chế mặt tiêu cực như thế nào để phát huy vai trò của nó.
Giá cả thị trường, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất hình thành thông qua
sử dụng giữa các nhà tư bản. Cạnh tranh là một hiện tượng vốn có của mọi nền kinh tế
hàng hoá. Cạnh tranh hiện theo nghĩa đơn giản nhất là sự ganh đua giữa những người
sản xuất và lưu thông hàng hoá bằng những hình thức và thủ đoạn khác nhau, nhằm
giành giật cho mình những điều kiện sản xuất và kinh doanh cólợi nhất. Động lực của
cạnh tranh là lợi nhuận tối đa.
Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh C.Mác phân phối chia cạnh
tranh thành hai loại: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, tức
là cạnh tranh giữa các hàng hoá cùng loại và cạnh tranh giữa các hàng hoá khác loại.
1. Sự hình thành giá trị thị trường.
Giá cả thị trường hình thành thông qua sự cạnh tranh giữa hàng hoá, nhằm dành
điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất để thu nhiều lợi nhuận siêu ngạch.

Giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản xuất trong
một khu vực sản xuất nào đó hay là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản xuất
trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong
tổng số những sản phẩm của khu vực này.
Với nội dung trên giá trị thị trường có thể hình thành theo 3 trường hợp sau đây.
* Trường hợp 1:
Giả định đại bộ phận lượng hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện xã
hội trung bình, còn bộ phận nhỏ thì một nữa được sản xuất ra trong những điều kiện
kém và một nửa được sản xuất trong điều kiện tốt. Sự chênh loch về giá trị của hai cực
so với giá trị trung bình có thể bù trừ lẫn nhau.

Trong trường hợp này, giá trị thị trường hàng hoá do giá trị của đại bộ phận
hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định . Nếu hàng hoá bán
đúng giá trị thị trường thì chỉ có xí nghiệp có điều kiện sản xuất tốt mới được lợi
nhuận siêu ngạch. Đây là trường hợp phổ biến nhất.
* Trường hợp 2:
Giả định đại bộ phận lượng hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện kém.
Trong trường hợp này, giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận
hàng hoá được sản xuất trong điều kiện kém quyết định. ở đây, giá trị thị trường không
những cao hơn giá trị cá biệt của các hàng hoá sản xuất ra trong điều kiện tốt, mà còn
cao hơn cả giá trị cá biệt của các hàng hoá sản xuất ra trogn điều kiện trung bình. Nếu
hàng hoá bán đúng giá trị thị trường, thì loại xí nghiệp có điều kiện sản xuất tốt và
trung bình đều thu được lợi nhuận siêu ngạch.
* Trường hợp 3:
Giả định đại bộ phận của khối lượng hàng hoá được sản xuất ra trong những
điều kiện tốt.
Trong trường hợp này, giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận
hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện tốt quyết định. ở đây, giá trị thị
trường cao hơn giá trị cá biệt của những hàng hoá sản xuất ra trong điều kiện tốt. Nếu
hàng hoá bán đúng giá trị thị trường thì chỉ có loại xí nghiệp có điều kiện sản xuất tốt

mới thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Tóm lại, giá trị thị trường là giá trị xã hội của hàng hoá được hình thành thông
qua sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Trong cùng một ngành. Biện pháp chủ yếu
của cạnh tranh là tìm cách cải tiến quản lý, đổi mới kr và công nghệ, tăng năng suất lao
động để nâng cao chất lượng và hạ giá trị cá biệt của hàng hoá được sản xuất ra thấp
hơn giá trị thị trường của nó, nhằm thu nhiều lợi nhuận siêu ngạch.
2. Lợi nhuận trong nền kinh tế.
a. Lợi nhuận thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Với mục đích lợi nhuận các nhà tư bản để tạo ra lợi nhuận này càng nhiều.
Trước đây họ có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách kéo dài ngày lao động của công nhân
vì vậy họ chuyển sang pp bóc lột một cách tinh vi hơn. Nhà tư bản áp dụng kỹ thuật

mới vào và bắt buộc người công nhân phải tăng năng suất lao động của mình lên.
Nhưng chính mục đích áp dụng kỹ thuật mới đã làm cho các nhà tư bản đầu tư ngày
càng nhiều vào vấn đề nghiên cứu khoa học. Những phát minh lần lượt được ra đời
đặc biệt là trong thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, nó đã được lực lượng sản xuất phát triển một
cách nhanh chóng. Yếu tố này đã giúp cho nhà tư bản không chỉ thu được lợi nhuận
đơn thuần mà còn thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Người công nhân chính là người trực tiếp sử dụng, vận hành các công nghệ mới
vì vậy để quá trình sử dụng được trực tiếp diễn với hiệu quả kinh tế cao thì người công
nhân bắt buộc phải nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề nếu không họ sẽ bị đào thải
bởi quy luật phát triển. Còn về mặt nhà tư bản thì họ cũng hiểu rằng để đạt được hiệu
quả cao phải tận dụng hết được các chức năng của công nghệ tiên tiến thì họ phải có
một đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ kỹ thuật cao. Vì vậy quá trình đầu tư
cho chiến lược nâng cao trình độ của mình của người công nhân đã được diễn ra. Qua
đó trình độ của người lao động từng bước được nâng cao và ngày nay nâng cao trình
độ trở thành yêu cầu tất yếu của các nước phát triển và các nước đang phát triển. Do
nhận biết được vai trò quan trọng của những lao động có tay nghề cao nên hiện nay
đang diễn ra tình trạng mua chuộc, lôi kéo những nhà khoa học, những công nhân giỏi
về phía mình bằng các biện pháp kinh tế, tinh thần. Điều này dẫn đến tình trạng chảy

máu chất xám ở các nước đang phát triển trở thành một tình trạng báo động cần ngăn
chặn.
b. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn luôn có mối quan hệ biện chứng
với nhau tức là khi lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất cũng phát triển
và ngược lại.
Do tác động của lợi nhuận, do sự phân chia lợi nhuận dưới nhiều hình thức
khác nhau một cách hết sức chặt chẽ giữa các bên tham gia vào quá trình phân chia đã
làm cho chế độ sở hữu ngày càng được củng cố và phát triển. Quan hệ sở hữu từng
bước được thắt chặt hơn, rõ ràng hơn giữa nhà tư bản với người lao động nói riêng,
giữa cá nhân trong xã hội nói chung.
Bên cạnh đó mục đích lợi nhuận luôn đặt các nhà kinh tế, các tổ chức kinh tế
trước yêu cầu "hiệu quả", làm thế nào để chi phí ít nhấ mà lợi nhuận thu về là lớn nhất.

Điều đó đòi hỏi tính chuyên môn hoá cao và sự sắp xếp lại các tổ chức quản lý. Tổ
chức llại các bộ phận quản lý và thiết lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt
động được nhịp nhàng thông suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu
nào đó làm ảnh hưởng tới cả hệ thống quản lý. Hạn chế bớt một bộ phận chi phí (tiền
lương) đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận.
Xuất phát từ mục tiêu ổn định và phát triển có kế hoạch phân bổ lực lượng lao
động hợp lý, cân đối trong nền kinh tế tốt để khai thác tốt nguồn tài nguyên, kết hợp
chặt chẽ và thích đáng lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân người lao động. Tất cả những
vấn đề đặt ra trên đều xuất phát từ lợi nhuận và chính nó đã thúc đẩy quá trình phân
phối theo lao động diễn ra mạnh mẽ theo nguyên tắc làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít
thì hưởng ít. Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế thì ngoài phân phối theo lao
động còn có sự phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và
xã hội.
Lợi nhuận làm chuyển đổi kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá sang kinh tế
thị trường.
Theo quá trình phát triển của lịch sử nền kinh tế đã trải qua rất nhiều hình thức

khác nhau từ hình thức lạc hậu đến hình thức tiên tiến hiện đại. Đi từ kinh tế tự nhiên
đến kinh tế hàng hoá rồi đến kinh tế thị trường quá trình này phát triển song song với
mục đích thu được lợi nhuận ngày càng cao, nhằm đảm bảo nhu cầu của con người thì
luôn phát triển và quá trình phát triển luôn hướng tới những gì phù hợp hơn. Họ không
chỉ muốn có cái họ làm ra mà còn muốn có nhiều cái mà người khác có, họ không chỉ
muốn các sản phẩm vừa đủ mà còn muốn có dư để dự trữ điều đó dẫn đến quá trình
trao đổi sản phẩm đơn thuần diễn ra. Cùng với những nhược điểm của nó con người ta
đã qua quá trình quy đổi và cuối cùng quá trình mua bán với đồng tiền chung được quy
định kinh tế hàng hoá xuất hiện, với nền sản xuất hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra để
bán trên thị trường mọi người được tự do buôn bán, trọn thị trường, thị trường được
mở rộng ngày càng nhiều. Cơ sở của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là phân
công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản
xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.
Khi kinh tế hàng hoá phát triển sẽ làm cho quá trình sản xuất mua bán diễn ra
mạnh mẽ và các nhà kinh tế luôn tìm kiếm và năng động hơn trong hoạt động sản xuất

cũng như phân phối lưu thông lợi nhuận đã làm cho họ cố gắng đạt được bằng nhiều
hình thức khác nhau. Cùng một lúc có nhiều nhà tư bản cùng tham gia thì vấn đề thời
cơ lại trở nên cấp thiết, lúc này nhà kinh tế sẽ có nhiều hình thức khác nhau để đi đến
mức lợi nhuận cao. Sự cản trở ở một khâu nào đó trong quá trình hoạt động sẽ làm
gián đoạn các bước tiếp theo và lúc này thời cơ sẽ không còn nữa. Chính điều này đã
làm nảy sinh ra một yêu cầu phải tách ra khỏi sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Với sự
phát triển phong phú của thị trường thì nhà nước không thể có những chính sách đúng
đắn trong tầm vĩ mô. Nhưng nhà nước phải quản lý ở tầm vĩ mô vì cũng do lợi nhuận
mà các nhà kinh tế có thể bất chấp các thủ đoạn dẫn đến sự mất an toàn cho những nhà
kinh doanh với nhau, sự bất ổn định về chính trị xã hội. Nhà nước cần đưa ra các chính
sách pháp luật đúng đắn trong kinh doanh để xử lý những tranh chấp trong kinh doanh
và những vi phạm luận kinh tế. Tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà kinh tế, tạo
điều kiện cho họ thu được lợi nhuận ngày càng nhiều. Với nền kinh tế thị trường như
trên sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển ngày càng mạnh mẽ.

c. Vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái xã hội.
Dễ hiểu được vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái sản xuất xã hội ta cần
xem xét đến điều kiện sản xuất xã hội diễn ra là gì.
Như ta đã biết muốn tái sản xuất mở rộng và ngày càng hiện đại hoá thì phải có
nhiều vốn, muốn có nhiều vốn phải tích luỹ vốn. Do việc tích luỹ vốn gắn lion với tái
sản xuất mở rộng và trở thành quy luật kinh tế chung của các hình thaí kinh tế xã hội
và tái sản xuất mở rộng.
Tích luỹ vốn nói chung xét về thực chất là sự chuyển hoá một phần giá trị sản
phẩm thặng dư, do lao động thặng dư tạo ra thành vốn phụ thêm, để mở rộng sản xuất.
Do vậy, nguồn tích luỹ vốn là giá trị của sản phẩm thặng dư do lao động thặng dư tạo
ra trong quá trình sản xuất (nhờ năng suất lao động cao bảo đảm ngày lao động vượt
quá phần giá trị của sản phẩm tất yếu) và thực hiện được trong quá trình lưu thông sự
tích luỹ này do các chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất hoặc tư nhân hoặc nhà nước tiến
hành. Như vậy dù ở dạng nào thì vốn cũng là một phần lợi nhuận (thực hiện giá trị
thặng dư) tạo thành. Và lợi nhuận đóng vai trò quyết định cho quá trình tái sản xuất xã
hội.
d. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc.

Lợi nhuận là lý do làm phát sinh và phát triển nền kinh tế thị trường. Nó thúc
đẩy quá trình mở rộng trao đổi hàng hoá và khoa học kỹ thuật. Mở cửa nền kinh tế
nhằm thu hút nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước
làm thay đổi mạnh mẽ về trình độ công nghệ trong nước, cấu thành ngành và sản
phẩm, mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết hợp tác là
cơ sở tăng cường tính độc lập và phụ thuộc lẫn nhau trên nguyên tắc bình đẳng và
cùng có lợi.
e. Vai trò của lợi nhuận đối với các mặt của đời sống xã hội.
Phân phối theo lao động và phân phối theo tỷ suất vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay vì các hình thức đó đều nhằm mục đích thúc đẩy nền sản
xuất phát triển cao và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành viên trong xã hội.
Nhưng ngoài những người có vốn và tỷ suất đóng góp vào quá trình sản xuất để được

nhận lợi tức và lợi nhuận thì trong xã hội còn có những người vì lẽ này, lẽ khác không
thể tham gia lao động được trả công của xã hội. Đời sống số đông người này là do gia
đình họ hay xã hội bảo đảm. Mặt khác ngay mức sống của cán bộ, công nhân, mà còn
dựa vào một phần vào các quỹ phúc lợi công cộng của nhà nước, của các xí nghiệp và
các tổ chức kinh tế xã hội khác. áp dụng hình thức phân phối ngoài thù lao lao động,
thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Đây không phải là phân phối theo lao động nhưng
cũng chưa phải là phân phối theo nhu cầu như trong gian đoạn cao của chủ nghĩa cộng
sản mà C.Mác đã dự đoán. Đây là một hình thức phân phối quá độ phụ hợp với xu
hướng phát triển của xã hội. Nó chẳng những bảo đảm cho tất cả mọi thành viên xã hội
đều có mức sống bình thường tối thiểu mà còn có tác dụng kích thích lao động sản
xuất, kích thích sự phát triển của mọi thành viên trong xã hội.
ở một số nước phát triển nhà nước có chú ý về tiền lương, trợ cấp thất nghiệp
phúc lợi xã hội nhất là ở các nước Châu Âu mà nhất là Thuỵ S, Pháp quy định mức
lương tối thiểu. Khi nền kinh tế phát triển là nền tảng cho việc củng cố quốc phòng, an
ninh giáo dục bởi vì với sự phát triển mạnh như vũ bão của khoa học kỹ thuật hiện
nay quốc phòng trang bị bằng những vũ khí hiện đại tối tân (có nhiều nước có vũ khí
hạt nhân ) yêu cầu đặt ra là chúng ta cần phải nắm bắt được khoa học kỹ thuật và có
sự đầu tư để nhập các thiết bị phục vụ cho sử dụng, nghiên cứu trong quân sự và trong
giáo dục. Khi lợi nhuận cao ta sẽ có điều kiện đầu tư để phát triển nhân tố con người

cả mặt lý luận và thực tiễn, hiện nay hệ thống giáo dục chưa được trang bị đầu tư điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề thực hanhf và áp dụng ngoài thực tế dẫn đến tình
trạng sinh viên ra trường thường kém năng động, không sử dụng được kiến thức của
mình vào cuộc sống và công việc một cách sáng tạo.
f. Hậu quả do theo đuổi lợi nhuận.
Việc sử dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật đòi hỏi quy mô sản xuất
và tư bản sản xuất do đó ra đời các xí nghiệp lớn. Do mục tiêu lợi nhuận dẫn đến sự
cạnh tranh khốc liệt làm cho tư bản loại vừa và nhỏ phải phá sản còn tư bản lớn thì
càng lớn. Khi sự tích tụ và tập chung sản xuất phát triển đến một mức độ cao sẽ dẫn tới
sự hình thành các tổ chức độc quyền. Chủ nghĩa độc quyền càng phát triển lợi nhuận

của tập đoàn ngày càng nhiều, nhưng hậu quả như lạm pháp, thất nghiệp, khủng hoảng
lại chút xuống đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mâu thuẫn giai cấp càng
trở nên sâu sắc.
Nếu đứng trên toàn vĩ mô ta thấy rằng vào cuối thế kỷ XIX các nước tư bản đã
tích luỹ được lượng tương đối lớn "Tư bản thức" số này đầu tư trong nước thì lợi
nhuận thấp. Vì thế nó có nhu cầu xuất khẩu tư bản tới các nước lạc hậu về kinh tế đang
cần vốn đầu tư hay một số nước khá phát triển nhưng cần trang thiết bị mới để nâng
cao năng suất lao động nâng cao lợi nhuận.
Nhìn chung cả hai phía do mục tiêu về lợi nhuận đã dẫn đến quá trình xuất khẩu
tư bản diễn ra gây hậu quả cho cả hai bên, ở nước xuất khẩu tư bản các tổ chức độc
quyền thu được lợi nhuận lớn nhưng nền kinh tế các nước này bị giảm tốc độ phát
triển vì sự cạnh tranh trong việc xuất khẩu tư bản đã tác động sâu tới nền kinh tế các
nước này làm tăng sự phân hoá giầu nghèo. Còn ở các nước nhập khẩu tư bản, giai cấp
vô sản và nhân dân lao động bị bóc lột tinh vi vì sử dụng kỹ thuật mới. Chúng ta có thể
lấy ra một ví dụ về sự tiết kiệm các điều kiện lao động làm thiệt hại đến công nhân.
Ngành than mỏ không chịu bỏ ra những khoản cần thiết nhất. Vì có sự cạnh tranh giữa
các chủ mỏ than nên ngoài những khó khăn về thể chất rõ ràng nhất do người ta
không chịu chi những món gì khác. Và có sự cạnh tranh giữa các công nhân mỏ mà số
lượng thường là quá thừa nên những người này phải bằng lòng chịu những sự nguy
hiểm rất lớn và đồng ý lao động trong những điều kiện có hại cho sức khoẻ với những
đồng lương cũng không cao gì.

Hai sự cạnh tranh đó hoàn toàn đủ để làm cho một phần lớn các hầm mỏ đo
trang bị bằng những hệ thống rầm nước và thông hơi tồi tệ nhất, thường là xây tồi hệ
thống chống xấu, thở máy kém, các đường hầm và đường guồng xây dựng không tốt,
sự huỷ hoại tính mạng và sức khoẻ, những vụ sập hầm gây thương tích rất lớn. Đây là
một ví dụ trong vô vàn ví dụ mà chúng ta không có điều kiện nêu ra vẫn đang tiếp diễn
trong xã hội. Ngoài ra các nước nhập tư bản còn bị phụ thuộc chặt chẽ vào các nước đế
quốc.
Đứng trong tầm vĩ mô của một đất nước lợi nhuận làm mai một dần các ngành

nghề cổ truyền, làm lung tay các truyền thống văn hoá có từ lâu đời. Dẫn đến tình
trạng thất nghiệp, lạm phát ngày càng ra tăng, ảnh hưởng đến an ninh chính trị quốc
gia. Sự phát triển của công nghiệp cùng với những cặn bả của nó đã đang làm ô nhiễm
bầu không khí, làm ô nhiễm môi trường sống sự ô nhiễm đang làm một vấn đề nhức
nhối cấp thiết của các quốc gia. Nếu chúng ta không ngăn chặn, đưa ra những biện
pháp kịp thời thì thế giới sẽ không còn sự sống.
Bên cạnh đó cũng vì lợi ích lợi nhuận mà nẩy sinh các hành vi tiêu cực khác
của xã hội như tệ nạn buôn lậu, hàng hoá giả, tệ nạn tham gia những cũng ngày càng
phát triển trong tất cả các cấp các ngành. Các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý, bạo
lực cũng mọc ra ở khắp nơi. Nhìn chung có rất nhiều vấn đề nảy sinh đòi hỏi sự sáng
suốt của các nhà hoạch định chính sách làm sao cho phù hợp.

×