Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.89 MB, 107 trang )

Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo


Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân













PHan THị KIM OANH
PHan THị KIM OANH PHan THị KIM OANH
PHan THị KIM OANH





VAI TRề CA NH NC V AN SINH X HI
I VI NễNG DN VIT NAM






Chuyên ngành
Chuyên ngànhChuyên ngành
Chuyên ngành

:
: :
:
kinh tế chính trị
kinh tế chính trịkinh tế chính trị
kinh tế chính trị



Mã số
Mã sốMã số
Mã số

: 62310102
: 62310102: 62310102
: 62310102



LUậN áN TIếN Sĩ
LUậN áN TIếN Sĩ LUậN áN TIếN Sĩ
LUậN áN TIếN Sĩ kinh tế

kinh tế kinh tế
kinh tế




Ngời hớng dẫn khoa h
Ngời hớng dẫn khoa hNgời hớng dẫn khoa h
Ngời hớng dẫn khoa học:
ọc: ọc:
ọc:


1. GS.TS. mai ngọc cờng
1. GS.TS. mai ngọc cờng 1. GS.TS. mai ngọc cờng
1. GS.TS. mai ngọc cờng


2. PGS.TS. tô đức hạnh
2. PGS.TS. tô đức hạnh2. PGS.TS. tô đức hạnh
2. PGS.TS. tô đức hạnh







Hà Nội
Hà Nội Hà Nội

Hà Nội
-

-



2014
20142014
2014





i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong Luận án là hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa học của
Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN





Phan Thị Kim Oanh


















ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH, HỘP vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 5
1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN
SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 5
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 9
1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1.2.1. Cách tiếp cận 16
1.2.2. Mô hình nghiên cứu 17

1.2.2.1. Nội dung vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 17
1.2.2.2. Các nhân tố đảm bảo vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 17
1.2.2.3. Các tiêu chí đánh giá vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 18
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu 22
1.2.3.1. Phương pháp định tính 22
1.2.3.2. Phương pháp định lượng 22
1.2.3.3. Phương pháp xử lý dữ liệu 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
Chương 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NÔNG DÂN: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN 28
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 28
2.1.1. Khái niệm và sự cần thiết của an sinh xã hội 28
2.1.1.1. Khái niệm về an sinh xã hội 28
2.1.1.2. Sự cần thiết của an sinh xã hội 29
2.1.2. Khái niệm và đặc điểm của an sinh xã hội đối với nông dân 33
2.1.2.1. Khái niệm về an sinh xã hội đối với nông dân 33
2.1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của an sinh xã hội đối với nông dân 34
2.1.3. Vai trò của an sinh xã hội đối với nông dân 36
2.2. BẢN CHẤT, NỘI DUNG VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NÔNG DÂN 40

iii

2.2.1. Bản chất và tầm quan trọng của vai trò nhà nước về an sinh xã hội đối
với nông dân 40

2.2.1.1. Bản chất vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 40
2.2.1.2. Tầm quan trọng của vai trò nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 42
2.2.2. Nội dung vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 44
2.2.2.1. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường luật pháp và thể chế
chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 44
2.2.2.2. Nhà nước phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân với các chính sách kinh tế - xã hội khác 46
2.2.2.3. Nhà nước kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách về an sinh
xã hội đối với nông dân 49
2.2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 50
2.2.3.1. Quan điểm của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 50
2.2.3.2. Khả năng tài chính của Nhà nước và thu nhập của nông dân 52
2.2.3.3. Năng lực của hệ thống quản lý an sinh xã hội đối với nông dân 53
2.2.3.4. Nhận thức xã hội về an sinh xã hội đối với nông dân 55
2.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ VAI
TRÒ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VÀ
BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 55
2.3.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vai trò Nhà nước về an
sinh xã hội đối với nông dân 55
2.3.1.1. Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức 55
2.3.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc 60
2.3.2. Những bài học rút ra cho Việt Nam từ nghiên cứu kinh nghiệm của
các nước 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ
HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64
3.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN
SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64

3.1.1. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường luật pháp, thể chế chính
sách để nông dân tham gia vào an sinh xã hội 64
3.1.1.1. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường luật pháp, thể chế chính
sách để nông dân tham gia vào an sinh xã hội theo nguyên tắc đóng -
hưởng 64

iv
3.1.1.2. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường luật pháp, thể chế chính
sách để nông dân tham gia an sinh xã hội không dựa trên nguyên tắc
đóng góp 68
3.1.2. Nhà nước phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân với
các chính sách kinh tế - xã hội khác 71
3.1.3. Nhà nước xây dựng mô hình tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát về an
sinh xã hội nói chung, đối với nông dân nói riêng 75
3.1.4. Kết quả tham gia của nông dân vào hệ thống an sinh xã hội hiện nay 78
3.1.4.1. Sự tham gia của nông dân vào an sinh xã hội theo nguyên tắc đóng - hưởng 78
3.1.4.2. Sự tham gia của nông dân vào an sinh xã hội không dựa trên nguyên
tắc đóng góp 82
3.2. ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 92
3.2.1. Thành tựu và hạn chế vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân Việt Nam hiện nay 92
3.2.1.1. Những thành tựu và hạn chế trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống luật pháp, chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 92
3.2.1.2. Những thành tựu và hạn chế về vai trò của Nhà nước trong việc phối
hợp chính sách an sinh xã hội với các chính sách kinh tế - xã hội khác 99
3.2.1.3. Những thành tựu và hạn chế về vai trò của Nhà nước trong việc kiểm
tra, giám sát thực thi chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 102
3.2.2. Nguyên nhân hạn chế vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 105

3.2.2.1. An sinh xã hội đối với nông dân còn là mô hình mới, nên các quan
điểm, chủ trương còn chưa theo kịp với thực tiễn 105
3.2.2.2. Thu nhập của nông dân thấp, khó có khả năng tham gia an sinh xã hội
theo nguyên tắc đóng - hưởng 105
3.2.2.3. Nguồn tài chính của Nhà nước và nguồn huy động từ cộng đồng để hỗ
trợ an sinh xã hội không theo nguyên tắc đóng - hưởng đối với nông
dân còn hạn hẹp 112
3.2.2.4. Năng lực tổ chức quản lý an sinh xã hội đối với nông dân còn nhiều
bất cập 113
3.2.3.5. Nhận thức xã hội về an sinh xã hội đối với nông dân và công tác tuyên
truyền, phổ biến thông tin về an sinh xã hội đến người dân còn hạn chế 115
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 118
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 119

v
4.1. BỐI CẢNH TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 119
4.1.1. Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước tác động đến tăng
cường vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân những
năm tới 119
4.1.1.1. Cơ cấu ngành nghề trong khu vực nông thôn 119
4.1.1.2. Dân số và lao động nông thôn những năm tới 119
4.1.1.3. Thu nhập, tiêu dùng, tích lũy và đời sống của người dân nông thôn
120
4.1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội đối
với nông dân 123
4.2. PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN NHỮNG

NĂM TỚI 126
4.2.1. Tăng cường thu hút sự tham gia của nông dân vào an sinh xã hội 126
4.2.1.1. An sinh xã hội theo nguyên tắc đóng - hưởng 126
4.2.1.2. An sinh xã hội không dựa vào đóng góp đối với nông dân 128
4.2.2. Phương hướng tăng cường vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối
với nông dân ở nước ta những năm tới 134
4.2.2.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chế độ và chính sách về an sinh xã hội
đối với nông dân 134
4.2.2.2. Tăng cường sự phối hợp các chính sách kinh tế - xã hội với hệ thống
chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 136
4.2.2.3. Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát thực hiện hệ
thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 141
4.3. GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM
NHỮNG NĂM TỚI 142
4.3.1. Đẩy mạnh sản xuất, tăng nguồn thu, nâng cao thu nhập của nông dân 143
4.3.2. Tăng cường hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để nông dân tham
gia vào hệ thống an sinh xã hội mạnh hơn 144
4.3.3. Nghiên cứu đổi mới tổ chức quản lý an sinh xã hội theo nguyên tắc
đóng - hưởng đối với nông dân 147
4.2.4. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội 147
4.2.5. Nâng cao nhận thức cho người nông dân về lợi ích của việc tham gia
các chương trình an sinh xã hội 148
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 149
KẾT LUẬN 150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT



Chữ viết tắt Diễn giải
ASXH An sinh xã hội
ASXHTN An sinh xã hội tự nguyện
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYTBB Bảo hiểm y tế bắt buộc
BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện
BHTN Bảo hiểm tự nguyện
BTXH Bảo trợ xã hội
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTXH Cứu trợ xã hội
NCT Người cao tuổi
NSNN Ngân sách nhà nước
NTT Người tàn tật
KCB Khám chữa bệnh
TEMC Trẻ em mồ côi
TCXH Trợ cấp xã hội
TGXH Trợ giúp xã hội
TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên
TGXHĐX Trợ giúp xã hội đột xuất
ƯĐXH Ưu đãi xã hội
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
XHCN Xã hội chủ nghĩa

vii


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH, HỘP

BẢNG:
Bảng 1.1: Khung nghiên cứu 21
Bảng 1.2: Thống kê điều tra tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 25
Bảng 2.1: Mức phải chi phí và tài trợ của bảo hiểm tai nạn nông nghiệp 58
Bảng 3.1: Hoạt động của các chương trình, dự án XĐGN của Việt Nam 73
Bảng 3.2: Tình hình tham gia BHXH, BHYT đối với nông dân ở Việt Nam 79
Bảng 3.3: Tỷ lệ đối tượng thuộc diện TGXHTX năm 2010 82
Bảng 3.4. TGXHTX của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh năm 2009 83
Bảng 3.5: TGXHĐX từ NSNN của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh
năm 2010 84
Bảng 3.6: Tổng hợp TGXHĐX theo điều tra của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An
và Hà Tĩnh năm 2009, 2010, 2011 85
Bảng 3.7: TGXHĐX từ cộng đồng của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà
Tĩnh khắc phục thiên tai năm 2009, 2010 88
Bảng 3.8: Kết quả TGXHĐX từ cộng đồng tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và
Hà Tĩnh năm 2009, 2010, 2011 89
Bảng 3.9: Số tiền bình quân mỗi đối tượng của TGXH nhận được năm 2010 91
Bảng 3.10: Số tiền TGXHĐX cho nông hộ năm 2011 92
Bảng 3.11: Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh giai đoạn
2006 - 2010 93
Bảng 3.12: Đánh giá của cán bộ quản lý về mức độ phù hợp của chính sách
ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng hiện hành đối với nông dân 94
Bảng 3.13: Mức trung bình về đánh giá của đối tư
ợng đang tham gia
vào hệ thống ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng 96
Bảng 3.14: Đánh giá mức độ phù hợp của các chính sách hỗ trợ tạo điều kiện
để người dân được ASXH từ cán bộ quản lý 100
Bảng 3.15: Đánh giá hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện ASXH đối với

nông dân 103
Bảng 3.16: Đánh giá của nông hộ về khả năng tham gia vào hệ thống BHTN
từ khía cạnh tài chính tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 106
Bảng 3.17: Tỷ lệ tham gia BHTN của nông dân tại 3 tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An
và Thanh Hóa 107
Bảng 3.18: Thu nhập của hộ gia đình có và không tham gia ASXH theo
nguyên tắc đóng - hưởng 108

viii
Bảng 3.19: Tổng hợp chi tiêu từ NSNN cho ASXH không đóng góp và một số
chính sách xã hội 112
Bảng 4.1: Ý kiến của nông hộ về khả năng tham gia vào hệ thống BHTN từ
khía cạnh tài chính của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 127
Bảng 4.2: Đề xuất điều chỉnh TGXHTX đến năm 2020 của 3 tỉnh Thanh
Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 129
Bảng 4.3: Tổng số đối tượng sống tại cộng đồng năm 2012 và 2013 130
Bảng 4.4: Ý kiến về điều chỉnh các chế độ TCXH đột xuất đến năm 2020 132
Bảng 4.5: Ý kiến về phối hợp chính sách của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và
Hà Tĩnh 136
Bảng 4.6: Các biện pháp tăng cường vai trò của Nhà nước trong xây dựng và
hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân những năm tới 142
Bảng 4.7: Mong muốn của người dân về mức đóng góp và nhận được hỗ trợ
của Nhà nước để tham gia vào hệ thống BHTN 144
Bảng 4.8: Đề xuất mức hỗ trợ tài chính để nông dân tham gia BHYTTN
những năm 2013-2015 145
Bảng 4.9: Dự báo nhu cầu kinh phí cho TGXH theo mục tiêu Nghị quyết 15-
NQ/TW 146
HÌNH:
Hình 2.1: Vòng đời và những rủi ro trong cuộc sống của con người 29


HỘP:
Hộp 3.1: Kết quả một số lĩnh vực công tác Hội Chữ thập đỏ trong toàn quốc
2007 - 2012 87

BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 3.1: Tình hình nhận TGXHĐX của các hộ thuộc 3 tỉnh Thanh Hóa,
Nghệ An và Hà Tĩnh từ năm 2009 đến năm 2011 104
Biểu đồ 3.2: Đánh giá của cán bộ quản lý về nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong
thực thi hệ thống an sinh xã hội không theo nguyên tắc đóng -
hưởng cho nông dân 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 115

Biểu đồ 3.3: Đánh giá của cán bộ quản lý về lý do nông dân chưa tham gia
BHXHTN, BHYTTN của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh . 116
Biểu đồ 3.4: Nhận định của nông hộ về BHXHTN, BHYTTN của 3 tỉnh Thanh
Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 116


1
MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Thực tiễn sinh động trong gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã khẳng
định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta là đúng đắn, bước đi là thích
hợp. Sự phát triển kinh tế thị trường đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu
sắc về kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tiến bộ, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao, đời sống kinh
tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, những hệ luỵ hữu cơ của
sự phát triển kinh tế thị trường như xu hướng phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng
giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị ngày cũng có xu hướng gia tăng.
Để bảo đảm ổn định hệ thống chính trị và sự phát triển bền vững của đất

nước theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đòi
hỏi Nhà nước càng phải xây dựng và phát triển nhanh chóng hệ thống an sinh xã hội
(ASXH), thay cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, nhằm điều hoà các
quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân trong cộng đồng và qua đó điều hoà các
mâu thuẫn xã hội đã, đang và sẽ phát sinh.
Từ khi giành được độc lập, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu với
hơn 80% dân số là nông dân. Mặc dù hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, đất nước đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH) nhưng trong một tương lai không gần tỷ lệ ấy cũng chưa thể giảm
xuống dưới 40%. Điều đó nói lên rằng, nông dân vẫn là một lực lượng lao động
hùng hậu và đặc biệt vẫn luôn luôn là lực lượng chính trị xã hội hết sức quan trọng,
bảo đảm ổn định xã hội và an ninh Tổ quốc.
Vì tính chất đặc thù của lao động và sản phẩm lao động nông nghiệp nước ta
chưa cao nên tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP còn thấp, phải chăng vì
vậy mà trong một thời gian dài các nhà hoạch định chính sách đã để quên, để chậm
vấn đề ASXH đối với nông dân, hoặc chỉ tiếp cận vấn đề như là sự thể hiện tính ưu
việt của chế độ XHCN mà chưa đặt nó trong phạm trù quản lý nhà nước?
Đến những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách để giải quyết vấn đề ASXH nói chung và ASXH đối với nông dân nói

2
riêng. Nhiều chính sách về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), cứu
trợ xã hội (CTXH), ưu đãi xã hội (ƯĐXH) đã được Nhà nước sửa đổi, bổ sung và
luật hoá. Tuy nhiên, hệ thống chính sách ASXH nói chung và ASXH đối với nông
dân nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, bất cập, chưa đáp ứng kịp những biến
động kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi phải được nghiên cứu bổ sung và hoàn
thiện một cách khoa học.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về ASXH và ASXH đối với
nông dân ở Việt Nam nhưng các kết quả của nó, do nhiều lý do khác nhau, chưa
hoặc chậm đi vào đời sống đất nước. Xuất phát từ những nội dung trên, bản thân tác

giả nhận thấy việc nghiên cứu vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
hiện nay là việc làm cấp thiết của nước ta. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài:
“Vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam” làm luận
án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Mục tiêu nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn các nước và Việt Nam hiện nay,
Luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà
nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những nội dung lý luận vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông
dân trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
- Phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở
Việt Nam; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong vai trò
của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước
về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: là vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân.
Tuy nhiên, vai trò nhà nước về ASXH đối với nông dân có phạm vi rộng. Luận án
này sẽ tập trung vào vai trò nhà nước trong xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế

3
chính sách, tổ chức phối hợp chính sách và tổ chức quản lý, kiểm tra giám sát nhằm
thiết lập hệ thống và tạo các điều kiện đảm bảo cho hệ thống ASXH vận hành.
Về thiết lập hệ thống ASXH, Luận án xem xét hệ thống ASXH theo nguyên
tắc đóng - hưởng và ASXH không dựa trên nguyên tắc đóng góp.
Để tạo lập các điều kiện nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH
đối với nông dân, Luận án sẽ tập trung vào phân tích các chủ trương, quan điểm
của Đảng, khả năng kinh tế đảm bảo cho nông dân tham gia và khả năng đảm

bảo tài chính của Nhà nước, về năng lực bộ máy và nhận thức của người nông
dân về ASXH.
Về đối tượng nông dân, Luận án tập trung phân tích đối tượng người nông
dân vùng Bắc Trung Bộ là vùng kinh tế phát triển ở mức trung bình so với cả nước.
Thêm nữa, ở đây có cả người nông dân vùng ven biển, đồng bằng, trung du và miền
núi, nên có thể khảo sát được hầu hết các đối tượng nông dân nước ta.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn cả nước, song số liệu điều tra minh
chứng thông qua điều tra khảo sát ở 3 tỉnh Bắc Trung Bộ là Thanh Hóa, Nghệ An
và Hà Tĩnh.
- Về thời gian: Sử dụng các thông tin, tư liệu từ năm 2000 đến năm 2012, đề
xuất giải pháp cho đến những năm 2020.
4. Những đóng góp của Luận án
- Xây dựng khung lý thuyết vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
thông qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, kinh nghiệm thực tiễn của
một số nước.
- Thông qua hệ thống tài liệu thứ cấp từ các bộ, ngành có liên quan và số liệu
điều tra, khảo sát phỏng vấn tại ba tỉnh Bắc Trung Bộ là Hà Tĩnh, Nghệ An và
Thanh Hóa, Luận án đã phân tích đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước về
ASXH đối với nông dân ở Việt Nam, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên
nhân hạn chế.
- Khuyến nghị các phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà
nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.

4
5. Kết cấu Luận án
Gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục về
thông tin, tư liệu, kết quả điều tra khảo sát và nội dung bốn chương của Luận án.
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu vai trò của Nhà nước về
an sinh xã hội đối với nông dân.

Chương 2: Vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân: Những
vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn.
Chương 3: Thực trạng vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông
dân ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà
nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.

5

Chương 1
TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN

1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ
HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Thứ nhất, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc
xây dựng pháp luật và các thể chế ASXH đối với nông dân.
Theo giáo sư Han Juergen Roesner, trường đại học Cologne của Cộng hòa
Liên bang Đức, mọi người đều có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro trong cuộc sống:
rủi ro tự nhiên (bão lụt, hạn hán ); rủi ro môi trường (ô nhiễm); rủi ro sức khỏe
(dịch tả, ốm đau, bệnh tật); rủi ro vòng đời (tuổi già); rủi ro kinh tế (tai nạn lao
động, khủng hoảng và nghèo đói); rủi ro xã hội (tội phạm, khủng bố, tai nạn giao
thông); và rủi ro chính trị (đảo chính, xung đột sắc tộc, thay đổi thể chế) [103]. Việc
tham gia vào hệ thống ASXH là biện pháp tích cực nhằm giúp cho những cá nhân
giảm thiểu những rủi ro trong cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bền vững của
cộng đồng (J. Ignacio Conde-Ruiz, Jay H. Hong và cộng sự ). [106], [107].
Các nghiên cứu của Martin Gonzalez-Eiras và Dirk Niepelt (2008) [111],
Jean-Olivier Hairault và Francois Langot (2008) [108] cho thấy chính phủ ở các
quốc gia khác nhau lựa chọn những mô hình ASXH trên nguyên tắc mà Bismarck

hay Beveridge đưa ra tùy thuộc vào chính sách xã hội của từng quốc gia, vào thu
nhập của người dân và thậm chí cả ngân sách nhà nước (NSNN). J. Ignacio Conde-
Ruiz trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, các quốc gia xây dựng ASXH theo
quan điểm của Beveridge thì có xu hướng những người nhận được hưu trí thường
thấp hơn các quốc gia xây dựng hệ thống ASXH theo quan điểm của Bismarck. Từ
đó J. Ignacio Conde-Ruiz đưa ra kết luận các quốc gia xây dựng hệ thống ASXH
theo quan điểm của Bismarck có sự bất bình đẳng thu nhập thấp hơn so với những
quốc gia xây dựng hệ thống ASXH theo quan điểm của Beveridge [106]. Torben M.
Andersen (2008) chỉ ra rằng, vì tuổi thọ của con người ngày càng dài hơn [115].
Theo dự báo của Liên hợp quốc (UN, 2004; EU, 2006; IMF, 2004) [116], [102],

6
[105], tuổi thọ đang tăng lên ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu
Âu, tuổi thọ trung bình sẽ tăng từ 73,8 năm 2005 lên 81 vào năm 2050, điều này đòi
hỏi các quốc gia phải điều chỉnh lại hệ thống ASXH dựa trên nguyên tắc đóng -
hưởng. Jon Barnett và cộng sự (2007) chỉ ra rằng, sự biến đổi về điều kiện khí hậu
đem lại những rủi ro ngày càng nhiều hơn cho cuộc sống con người. Vai trò của
chính phủ trong việc khắc phục thiên tai cũng như hỗ trợ những đối tượng bị tác
động trực tiếp từ thiên tai ngày càng trở nên quan trọng [110].
J. Ignacio Conde-Ruiz (2003) cho rằng, việc đảm bảo sự vận hành của
ASXH theo hệ thống Bismarck chỉ được duy trì bởi những những đối tượng tham
gia có thu nhập cao, trong khi với những đối tượng có thu nhập thấp, để đảm bảo
ASXH thì chính phủ của quốc gia đó nên theo quan điểm của Beveridge [106]. Điều
này cũng nhận được sự đồng tình của Jay H. Hong và cộng sự (2007) [107]
Valerie Schmit (2010) [117] đã chỉ ra 2 hợp phần của ASXH bao gồm bảo
hiểm và trợ giúp. Tuy nhiên, trong tình cảnh nhiều quốc gia đang phải đối mặt với
tình trạng già hóa dân số, nên nguy cơ đảm bảo tài chính thực hiện ASXH theo
nguyên tắc đóng - hưởng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thậm chí có thể ảnh
hưởng xấu tới quỹ lương hưu của BHXH [111]. Chính vì vậy, việc điều chỉnh mức
đóng - hưởng khi tham gia BHXH là điều tất yếu các quốc gia phải thực hiện Tuy

nhiên, việc điều chỉnh này lại rất đa dạng và không đồng nhất giữa các quốc gia.
Điểm mấu chốt trong việc điều chỉnh hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách về
ASXH là phụ thuộc vào ngân sách, khả năng tài chính của người dân và mục tiêu
chính sách xã hội mà chính phủ đó theo đuổi.
Cùng với quá trình đô thị hóa, rất nhiều khu công nghiệp và khu đô thị được
hình thành và phát triển ở vùng nông thôn, điều này làm cho những người già trong
khu vực nông thôn cảm thấy trở nên bất ổn bởi sự tan rã của hệ thống làng xã. Còn
đối với những người lao động di cư, thì các vấn đề đảm bảo cho lao động được
tham gia vào hệ thống bảo hiểm, thụ hưởng thỏa đáng các chương trình trợ giúp xã
hội (TGXH) và vấn đề đảm bảo nhà ở cho những đối tượng này tại nơi đô thị là vấn
đề đang được quan tâm của cả những nhà nghiên cứu, lẫn chính trị gia. Để đảm bảo
cho người lao động di cư ra thành phố có khả năng tham gia đầy đủ vào hệ thống
BHXH, Trung Quốc đang tiến hành chuyển đổi hình thức đóng góp tham gia

7
BHXH dưới dạng PAYG (pay-as-you-go: hưởng theo đóng góp của bạn) sang hình
thức tài khoản cá nhân [6].
Ở Hàn Quốc, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống ASXH cho
cả khu vực chính thức và phi chính thức được bổ sung, hoàn thiện theo thời gian.
Hệ thống BHYT đầu tiên được hình thành năm 1963 và dành cho lao động trong
khu vực công chức. Đến năm 1977, các doanh nghiệp có lao động từ 500 người trở
lên đều phải tham dự hệ thống này, từ năm 1979 mỗi doanh nghiệp có từ 300 lao
động trở lên phải tham dự vào hệ thống này và đến năm 1981, cứ từ 100 lao động
trở lên thì doanh nghiệp phải đảm bảo cho lao động được quyền tham gia vào hệ
thống BHYT. Và từ năm 1988 đến nay, cứ có từ 5 lao động trở lên thì doanh nghiệp
phải tham gia vào hệ thống BHYT dù họ làm trong khu vực chính thức hay không
miễn là có hợp đồng lao động. Đối với khu vực phi chính thức, hệ thống BHYT cho
khu vực phi chính thức được ban hành và từ những năm 2000 đến nay Hàn Quốc đã
tiến hành sáp nhập hai hệ thống bảo hiểm cho khu vực chính thức và phi chính thức
với nhau [5].

Đối với Đài Loan, chương trình BHXH cho công chức, công an và bộ đội
được thực hiện từ những năm 1950, hệ thống BHXH này cũng là bắt buộc với các
doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, từ năm
1970 nếu doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên thì chủ các doanh nghiệp phải đảm
bảo cho lao động của họ được tham gia vào hệ thống BHXH. Hệ thống BHYT cho
người nông dân được triển khai từ năm 1989. Cho đến năm 1990 những đối tượng
có thu nhập thấp khác chưa được tham gia và hệ thống BHYT. Đến năm 1995, hệ
thống BHYT cho tất cả các nhóm đối tượng mới được hình thành và đến năm 2005
hệ thống BHYT toàn dân mới được thực hiện [5].
Là một quốc gia có đông dân số bậc nhất thế giới là Trung Quốc, với hơn
800 triệu nông dân, những năm cải cách vừa qua, pháp luật về ASXH của Trung
Quốc cũng đã đặt vấn đề đảm bảo ASXH đối với nông dân dưới các hình thức bảo
BHXH, CTXH, phúc lợi xã hội và tương tế xã hội, cá nhân dành dụm tích lũy để
bảo đảm và phát triển chế độ y tế hợp tác tại nông thôn (BHXHVN 2000) [6].
Thứ hai, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc
phối hợp các chính sách kinh tế - xã hội với chính sách ASXH đối với nông dân.

8
Steffen Abele và các cộng sự (2003) khi phân tích hệ thống ASXH đối với
nông dân của các nước thành viên các nước đông Âu (CEE) đã đề cập đến hệ thống
lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp cũng như các khoản trợ cấp cho đối tượng nông
dân. Trong nghiên cứu này, các học giả đã trình bày sự phối hợp giữa các hợp phần
đảm bảo ASXH và các chính sách đối với nông dân nhằm đảm bảo cho việc thực
hiện ASXH trong điều kiện biến động về dân số, lao động và rủi ro kinh tế. Nghiên
cứu này chỉ ra, để đảm bảo ASXH, đặc biệt là ASXH cho nông dân thì những hỗ trợ
đối với hoạt động nông nghiệp, chính sách đất sản xuất, hỗ trợ làm việc bán thời
gian và đặc biệt là chính sách thuế cần phải được quan tâm [113] Quan điểm này
cũng có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Tổ chức Lao động Thế giới
(ILO) khi mà tổ chức này cho rằng, để đảm bảo ASXH, thì các chính sách liên quan
đến hỗ trợ thu nhập, giảm thiểu rủi ro về môi trường và điều kiện làm việc, chính

sách với lao động di cư, đảm bảo y tế cho các đối tượng yếu thế là những vấn đề
cần được các chính phủ quan tâm thực hiện [104].


Thứ ba, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong tổ chức
kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách ASXH đối với nông dân.
Nghiên cứu về lĩnh vực này thường nằm chung về công tác tổ chức, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện ASXH nói chung. Chẳng hạn, The ISSA Crisis Monitor
Project (2012) khi tiến hành đánh giá về hoạt động quản lý ASXH trong giai đoạn
bất ổn đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá đối với việc thực hiện hệ thống ASXH.
Cụ thể như: (i) Đối với khía cạnh hành chính: Tuyển dụng cán bộ bổ sung khi thực
hiện các chương trình; số tiền được bổ sung để thực hiện mục tiêu tại các đơn vị
thực hiện ASXH; tinh giản thủ tục hành chính; tính cập nhật của hệ thống công
nghệ thông tin; (ii) Đối với hệ thống cảnh báo: Hiệu quả hoạt động truyền thông,
xác định đúng đối tượng để thực hiện đào tạo hỗ trợ đối tượng tiếp cận tốt tới thị
trường lao động [114].
Tại Trung Quốc, cùng với cải cách hệ thống, Nhạc Tụng Đông cũng đã đề
cập đến vấn đề tổ chức quản lý ASXH đối với nông dân. Trong cuốn sách “Kêu gọi
tiến tới một nền an sinh xã hội kiểu mới” ông đã đề cập đến một loạt những vấn đề
liên quan đến vai trò chính phủ trong công tác tổ chức quản lý ASXH nói chung,
đối với nông dân nói riêng, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý bằng pháp

9
chế đối với hệ thống an sinh, tiến hành phân cấp, phân hạng trong quản lý an sinh,
thành lập ngân hàng ASXH, thiết lập Ủy ban kiểm tra và giám sát quỹ an sinh, thiết
lập chế độ mã hóa ASXH suốt đời cho công dân, điều chỉnh và tăng cường các chức
năng liên quan đến an sinh của Bộ Lao động và An sinh xã hội,… [6].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ ngày càng quan tâm đến các vấn đề xã hội
nói chung, ASXH nói riêng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao

chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính vì thế, từ khi tiến hành đổi mới đến nay,
đã có rất nhiều đề tài, chương trình, dự án liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vấn đề
ASXH cho người dân cũng như vai trò của Nhà nước về ASXH đối với người dân
nói chung, trong đó có nông dân đã được thực hiện dưới sự tài trợ của Chính phủ,
các tổ chức quốc tế như UNDP, ILO, World Bank, UNPFA,… Để phù hợp với chủ
đề nghiên cứu này, chúng tôi xin được tổng quan các công trình nghiên cứu trong
nước thành ba nhóm chính như sau:
Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu liên quan về các hình thức tham gia của
nông dân vào ASXH ở Việt Nam.
Các nghiên cứu liên quan đến các hình thức tham gia của nông dân vào hệ
thống ASXH, hay các hợp phần ASXH.
Từ trước đến nay ở Việt Nam những khái niệm về ASXH chủ yếu đi theo
quan điểm của ILO, tuy nhiên tùy vào từng giai đoạn phát triển cụ thể mà các nhà
nghiên cứu có những bổ sung phù hợp với những yêu cầu về ASXH trong quá trình
phát triển của xã hội.
Nguyễn Hải Hữu (2008) đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao gồm:
BHXH, BHYT, chính sách việc làm và thất nghiệp, chương trình trợ giúp đặc biệt (thương
binh, liệt sĩ, người có công), chương trình TGXH (thường xuyên và đột xuất) [50].
Nguyễn Văn Định (2008) lại cho rằng các hợp phần của hệ thống ASXH bao
gồm: BHXH, cứu trợ xã hội, quỹ dự phòng, các dịch vụ xã hội, xóa đói giảm nghèo
(XĐGN) và ƯĐXH; trong hệ thống ASXH nhà khoa học này coi BHYT là một bộ
phận thuộc BHXH [42].
Dựa trên mô hình ESCAP và các quan điểm gần đây của các nhà tư vấn quốc
tế, Nguyễn Hữu Dũng (2012) đã đề xuất “Có thể lựa chọn hệ thống chính sách
ASXH theo mô hình ba cấp độ”.

10
Cấp độ 1: BHXH gồm BHYT, bảo hiểm tại nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, người lao động nghỉ hưu và người lao động thất nghiệp.
Cấp độ 2: Chính sách thị trường lao động gồm dạy nghề, đào tạo lại, tạo việc

làm cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, các vùng và các khu vực, hỗ
trợ tạo việc làm (chính sách tín dụng), tìm việc làm (dịch vụ giao dịch, thông tin).
Cấp độ 3: Trợ giúp xã hội TGXH gồm cứu trợ đột xuất và trợ cấp xã hội
(TCXH) thường xuyên [40, tr.50].
Tiếp cận về hệ thống ASXH theo hướng này còn có Nguyễn Trọng Đàm
(2012). Theo tác giả, phạm vi ASXH gồm ba nhóm:
Nhóm 1: Bảo đảm việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo, gồm các chính
sách tạo việc làm, giảm nghèo, BHXH và các chương trình bảo hiểm khác cho
người lao động, đặc biệt là người lao động bị mất việc làm, lao động trong các hộ
nghèo, người lao động bị thiếu việc làm, lao động nông thôn, lao động phi chính
thức và những người lao động khác.
Nhóm 2: Trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất, cho các nhóm đối tượng
có hoàn cảnh khó khăn bao gồm trẻ em mồ côi (TEMC), người già cô đơn không
nơi nương tựa, người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp BHXH, người khuyết tật
nặng, người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động thuộc gia đình nghèo,
người đơn thân đang nuôi con dưới 16 tuổi, người gặp rủi ro thiên tai.
Nhóm 3: Bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người
dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông. Tập trung ưu tiên cho
người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, các xã đặc biệt
khó khăn, người dân nông thôn và các đối tượng khác [41, tr.43].
Việc nghiên cứu chuyên sâu về ASXH đối với nông dân được Mai Ngọc Anh
phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình như: An sinh xã hội đối với
nông dân trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (2010) [2], Đảm bảo tài
chính thực hiện an sinh xã hội đối với người cao tuổi khu vực nông thôn Việt Nam
hiện nay (2011) [3]. Trong các công trình này, tác giả đã chỉ ra các hợp phần của hệ
thống ASXH bao gồm: BHXH (bắt buộc và tự nguyện), BHYT (bắt buộc, tự
nguyện và BHYT cho người nghèo), chính sách phát triển thị trường lao động,
ƯĐXH và TGXH (thường xuyên và đột xuất).

11

Trong công trình nghiên cứu về Chính sách an sinh xã hội với người nông
dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)
Nguyễn Văn Nhường (2011) đã cho rằng ASXH gồm 6 hợp phần quan trọng có ảnh
hưởng trực tiếp tới người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
gồm: (i) Chính sách đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm; (iii) Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện; (iv) Chính
sách bảo hiểm y tế tự nguyện; (v) Chính sách trợ giúp xã hội; (vi) Chính sách hỗ trợ
xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn [56].
Nhìn chung các quan niệm trên hiểu ASXH theo nghĩa rộng, nhiều chính
sách thuộc về các lĩnh vực chính sách xã hội ngoài ASXH như chính sách việc làm,
thu nhập, giảm nghèo, cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản khác như nhà ở, giáo
dục, y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin.
Trong một nghiên cứu khác của Mai Ngọc Cường (2012) về hệ thống
ASXH, tác giả đề cập đến hệ thống ASXH ở phạm vi khác hơn. Theo tác giả hệ
thống ASXH bao gồm ba trụ cột là:
1) ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng bao gồm BHXH, BHYT và bảo
hiểm tự nguyện;
2) ASXH không dựa vào đóng góp mà dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước và
cộng đồng bao gồm trợ giúp xã hội thường xuyên (TGXHTX), trợ giúp xã hội đột
xuất (TGXHĐX);
3) ASXH cộng đồng bao gồm các khoản TGXH tự nguyện của các tổ chức
xã hội, doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội giúp người dân gặp rủi ro và an sinh xã
hội tự nguyện (ASXHTN) của người dân khu vực phi chính thức, trước hết là do
nông dân tự nguyện tổ chức, tham gia và quản lý, có sự hướng dẫn của Nhà nước và
được pháp luật bảo vệ theo mô hình BHXH nông dân Nghệ An [36, tr.42].
Như vậy, quan niệm của Mai Ngọc Cường về hệ thống ASXH nói chung, đối
với nông dân nói riêng có điểm hẹp hơn lại có điểm rộng hơn so với nhiều nghiên
cứu hiện nay. Hẹp hơn là ở chỗ coi ASXH chỉ bao gồm các hình thức BHXH,
BHYT, bảo hiểm tự nguyện (BHTN) và các hình thức TGXH, chứ không đi rộng ra
các chính sách xã hội khác. Nhưng rộng hơn là ở chỗ đưa ASXH cộng đồng bao

gồm các hình thức TGXH từ cộng đồng trong và ngoài nước, ASXH theo mô hình
BHXH nông dân Nghệ An vào hệ thống ASXH.

12
Nhóm thứ hai: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung vai trò của
Nhà nước về ASXH đối với nông dân.
Mặc dù đến nay chưa có nghiên cứu độc lập về chủ đề vai trò của Nhà nước
trong ASXH nói chung, đối với nông dân nói riêng, nhưng trong nhiều công trình
nghiên cứu của các tác giả Việt Nam cũng đã đề cập đến vấn đề này dưới các mức
độ khác nhau. Chẳng hạn, Mai Ngọc Cường (2009) đã coi tăng cường vai trò của
Nhà nước về ASXH nói chung như là một biện pháp để đảm bảo phát triển ASXH ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Theo đó “Nhà nước sớm tổ chức xây dựng hoàn
chỉnh các luật về ASXH, tiến tới xây dựng bộ luật hoàn chỉnh về ASXH ở nước ta;
hoàn thiện tổ chức quản lý và cơ chế tài chính cho hoạt động hệ thống ASXH được
vận hành; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý việc vi phạm thực hiện quy định
pháp luật về ASXH; đảm bảo tài chính cho TCXH thường xuyên, ƯĐXH; đảm bảo
tài chính cho những đối tượng theo luật quy định để tham gia BHXH, BHYT; đồng
thời có chính sách hỗ trợ các đối tượng khác, trước hết là nông dân, người lao động
khu vực phi chính thức và người dân tộc thiểu số tham gia vào các chương trình
ASXH, đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế [35, tr.427 - 428].
Cũng theo hướng đó, Nguyễn Trọng Đàm (2012) chỉ ra những năm tới cần
phải “Tăng cường quản lý nhà nước về ASXH, rà soát, đánh giá toàn diện các chính
sách ASXH hiện hành. Tiếp tục thực hiện các chính sách có hiệu quả, điều chỉnh
những chính sách đang còn bất cập và bổ sung một số chính sách mới; tăng cường
số lượng và chất lượng đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ và cán sự xã hội; xây dựng
chính sách khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia các dịch vụ xã hội cơ
bản; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng ASXH; xây dựng bộ chỉ số ASXH làm
cơ sở theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện ASXH trong từng thời kỳ và tham chiếu
với quốc tế” [41, tr.45].
Nội dung vai trò của Nhà nước về ASXH còn được trình bày trong một số

công trình nghiên cứu khác như Dương Đăng Chính và Vũ Đình Ánh (2003), với
công trình “Cơ chế và chính sách đối với hệ thống ASXH ở Việt Nam”, khi đề xuất
các kiến nghị về cơ chế, chính sách đối với hệ thống ASXH ở Việt Nam, các tác giả
đã đề cập đến việc hoàn thiện cơ chế tài chính BHXH, cơ chế tài chính BHYT và
đổi mới cơ chế tài chính đối với các quỹ an toàn xã hội khác”; những đề xuất này có
liên quan đến vai trò hoàn thiện cơ chế, chính sách của Nhà nước [28].

13
Trong công trình nghiên cứu của Phạm Trường Giang (2010) về Hoàn thiện
cơ chế thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam tác giả cũng đề cập đến vai trò của Nhà
nước dưới góc độ các giải pháp để hoàn thiện quy định thu, tăng cường quan hệ
công chúng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thu BHXH [43].
Trong công trình “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở
Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Toản (2011) đã đề xuất với Nhà nước hoàn thiện chính
sách trợ giúp theo hướng chuyển từ quan điểm chính sách nhân đạo sang chính sách
bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng lợi, đồng thời phải bảo đảm sự
tương đồng với các chính sách xã hội khác trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội và
cải cách thể chế hành chính. Để làm được điều đó, tác giả cho rằng cần mở rộng đối
tượng hưởng lợi nhằm bao phủ toàn bộ dân cư khó khăn, đề xuất mức chuẩn trợ cấp
tối thiểu áp dụng từ năm 2011 là 315.000 đồng/tháng (70% mức sống tối thiểu dân
cư) và các hệ số xác định mức trợ cấp đối với mỗi nhóm đối tượng cụ thể, đa dạng
các hình thức chăm sóc, nghiên cứu xây dựng luật TGXH và hoàn thiện kế hoạch
chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng [89].
Hoàng Bích Hồng (2011) trong “Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam”, sau khi phân tích chế độ bảo hiểm tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hiện nay đã đề xuất một số quan điểm và giải
pháp để hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như: 1) Sửa đổi luật
trên cơ sở hợp nhất một phần quy định về trách nhiệm bồi thường của người sử
dụng lao động theo Bộ luật Lao động và quy định về trách nhiệm của cơ quan
BHXH theo Luật Bảo hiểm xã hội; 2) Xác định lại tỷ lệ đóng góp cho chế độ tai nạn

lao động, bệnh nghề nghiệp; đổi mới hoạt động tuyên truyền theo hướng tăng cường
thông tin hai chiều để đảm bảo sự giám sát của các bên tham gia [47].
Ngoài ra, nghiên cứu liên quan đến các khía cạnh khác nhau về nội dung vai
trò của Nhà nước trong ASXH còn được đề cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu
khác như: Dương Xuân Triệu (2000), Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình thu bảo
hiểm xã hội [92]; Đỗ Văn Sinh (2005), Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở
Việt Nam [64]; Phạm Đỗ Nhật Tân (2008), Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ bảo
hiểm xã hội bắt buộc khi thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội [66]
; Nguyễn Thị Chính
(2010),
Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã

14
hội ở Việt Nam [29]; Lê Bạch Hồng (2012), Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế - trụ cột
vững chắc của hệ thống an sinh xã hội [48]; Phạm Xuân Nam (2012), An sinh xã
hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [53]…
Nhóm thứ ba: Những nghiên cứu về các điều kiện đảm bảo thực hiện vai trò
của Nhà nước trong phát triển hệ thống ASXH ở nước ta.
Một trong những vấn đề liên quan đến điều kiện để nông dân tham gia vào
hệ thống an sinh là vấn đề thu nhập của nông dân. Bởi lẽ, để tham gia hệ thống
ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng, người dân phải có thu nhập ở mức độ nhất
định. Vì thế, nhân tố thu nhập của người dân là điều kiện để người dân chủ động
tham gia vào hệ thống ASXH. Có nhiều nghiên cứu tập trung phân tích tác động của
chính sách việc làm, thu nhập đến đời sống và khả năng đảm bảo an sinh của người
dân. Chẳng hạn, Nguyễn Đình Hương (1998) đã tiến hành phân tích đánh giá thực
trạng lao động việc làm của những người dân không có đất hoặc thiếu đất ở Đồng
bằng sông Cửu Long [49]; tiếp tục tư tưởng này Lê Du Phong (2007) đã đi sâu làm
rõ hơn các giải pháp cho vấn đề việc làm của lao động có đất bị thu hồi để phát triển
các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hay phục
vụ lợi ích quốc gia [57].

Tuy nhiên, việc nông dân tham gia vào các hình thức an sinh không thể tách
rời vai trò của Nhà nước trong trợ giúp về tài chính. Có nhiều nghiên cứu liên quan
đến cơ chế, chính sách trợ giúp để người nông dân tham gia ASXH. Những công
trình đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống ASXH nói chung, ASXH đối với nông dân nói riêng ở nước ta những năm
qua và cũng là tài liệu tham khảo rất tốt cho tác giả để nghiên cứu vai trò của Nhà
nước về ASXH đối với nông dân, chẳng hạn, công trình của Mai Ngọc Cường
(2009) [35] hoặc Mai Ngọc Anh (2010) đã đề xuất đến việc Nhà nước hỗ trợ 50%
mức đóng góp để người nông dân có điều kiện tham gia vào hệ thống ASXH
(BHXHTN và BHYTTN) [2].
Các giải pháp liên quan đến việc tăng cường vai trò của Nhà nước trong công
tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về ASXH cũng đã
được nhiều nghiên cứu đề cập đến, như Nguyễn Trọng Đàm (2012), Phạm Xuân
Nam (2012), Phạm Trường Giang (2010), Hoàng Bích Hồng (2011), Phạm Đỗ Nhật
Tân (2008)
,
Đỗ Văn Sinh (2005),…

15
Dù các cách tiếp cận có khác nhau, nhưng các nghiên cứu đều có ý tưởng
chung là Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách, hình thức và biện pháp
như thế nào để giúp người nông dân có thể tham gia vào hệ thống ASXH, được
hưởng thụ lợi ích ASXH mang lại, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam còn kém
phát triển, thu nhập của người nông dân thấp, khó có khả năng tham gia vào hệ
thống đóng - hưởng. Thực tế cho thấy, tỷ lệ nông dân tham gia vào hệ thống bảo
hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) và bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN) còn rất
thấp. Mặc dù Nhà nước có chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHXHTN và
BHYTTN nhưng đến nay, sự tham gia của đối tượng này còn rất khó khăn, do thu
nhập của người nông dân quá thấp; trong khi đó, các hình thức ASXH cộng đồng
chưa được coi trọng đúng mức. Do đó, sự phát triển hệ thống ASXH phù hợp đối

với người nông dân, nhất là để nông dân tham gia vào hệ thống BHXHTN về cơ
bản vẫn còn bế tắc.
Vấn đề đặt ra là khả năng của nông dân và người lao động tự do làm việc
trong khu vực nông thôn cũng như khu vực thành thị tham gia vào hệ thống
BHXHTN và BHYTTN như thế nào, trong điều kiện mà thu nhập của họ chưa cao,
mức phí tham gia lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong toàn bộ nguồn thu của những
đối tượng này. Theo báo cáo của BHXH Việt Nam (Đỗ Văn Sinh, 2011), sau 2 năm
thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện, số người trong cả nước tham gia năm
2010 là 61.689 người, chiếm khoảng <1% diện tham gia BHXHTN ở nước ta
(khoảng 41 - 42 triệu người) [65]. Năm 2013 cả nước có 151.000 người tham gia
BHXHTN [9]. Đây là một bài toán đặt ra nhưng vẫn chưa tìm ra được lời giải thỏa
đáng trong tiến trình phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam nói chung, đối với nông
dân nói riêng tính đến thời điểm hiện nay.
Tổng quan các nghiên cứu trên đây cho phép đi đến một số vấn đề đặt ra cần
phải giải quyết:
Thứ nhất, nông dân tham gia vào ASXH dưới những hình thức nào? Hay nói
cách khác, ASXH đối với nông dân bao gồm các hợp phần, những trụ cột nào?
Thứ hai, thực trạng xây dựng luật pháp an sinh và các thể chế chính sách để
nông dân tham gia vào hệ thống này đạt được như thế nào, đã phù hợp hay chưa
phù hợp?

16
Thứ ba, những hạn chế của vai trò nhà nước về ASXH đối với nông dân hiện
nay là gì? Nhà nước cần phải tiếp tục làm gì để ASXH đi vào thực tế cuộc sống của
nông dân?
1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1. Cách tiếp cận
Để thực hiện mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu này, các cách tiếp cận của
Luận án như sau:
Từ lý luận đến thực tế: Luận án tiến hành nghiên cứu các cách tiếp cận khác

nhau của các nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước về ASXH, từ đó chỉ ra
những mô hình đảm bảo ASXH cho người dân của các quốc gia khác nhau trên thế
giới, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống này, rút ra các bài học
cho Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước về ASXH đối
với nông dân Việt Nam, qua thực tiễn ba tỉnh miền Trung giai đoạn 2006-2010, kết
hợp với bài học kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Luận án sẽ đưa ra các
giải pháp để tăng cường vai trò của Nhà nước về ASXH đối với đối tượng này trong
giai đoạn tới.
Từ khái quát đến cụ thể: Để làm rõ vai trò của Nhà nước về ASXH đối với
nông dân Việt Nam, Luận án tiến hành nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của hệ
thống ASXH, các trụ cột của hệ thống này mà nông dân tham gia, nội dung và điều
kiện thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân. Đồng thời, để
minh họa cho thực tiễn thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
Việt Nam, Luận án kết hợp những tài liệu chung của cả nước với tình hình thực
hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân Việt Nam qua 3 tỉnh miền
Trung là Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.
Các tiếp cận liên ngành: Vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
không phải chỉ là trách nhiệm của Bộ và các Sở Lao động, Thương binh và Xã hội
mà còn là trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan như Giáo dục, Y tế, Tài
chính, Kế hoạch và Đầu tư… cũng như các đơn vị chức năng trực thuộc sự quản lý
của các phòng, ban này. Đồng thời các mục tiêu về ASXH, y tế, giáo dục, hay
XĐGN… muốn đạt được cũng không chỉ phụ thuộc vào trách nhiệm và năng lực
của các bộ, sở chủ quản, mà còn là sự phối kết hợp trong tổ chức triển khai hoạt

×