Tải bản đầy đủ (.pdf) (61 trang)

Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức ươm tạo doanh nghiệp công nghệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (687.74 KB, 61 trang )


Bộ Khoa học và công nghệ
viện chiến lợc và chính sách khoa học và công nghệ
______________________________________





báo cáo tổNG HợP



Đề tài cơ sở:
Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của
tổ chức ơm tạo doanh nghiệp công nghệ






Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Minh Nga










7093
13/02./2009


Hà Nội 12/2007


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1 Khái niệm về vườn ươm DNCN 2
1.2 Phân biệt VƯDNCN với các loại vườn ươm khác 4
1.3 Vai trò của VƯDNCN 5
1.3.1 VƯDNCN - cơ chế chuyển giao công nghệ 5
1.3.2 VƯDNCN - khuyến khích đổi mới 5
1.3.3 VƯDNCN - nơi nuôi dưỡng doanh nghiệp KH&CN 7
1.3.4 VƯDNCN - công cụ chính sách 8
1.4 Mục tiêu của VƯDNCN 9
1.4.1 Phát triển kinh tế 9
1.4.2 Thương mại hoá công nghệ 10
1.4.3 Khuyến khích tinh thần kinh thươ
ng 11
1.5 Các chức năng dịch vụ của VƯDNCN 11
1.5.1 Bản chất của việc tổ chức các dịch vụ ươm tạo công nghệ 11
1.5.2 Dịch vụ cơ sở hạ tầng 12
1.5.3 Hỗ trợ công tác quản lý doanh nghiệp 13
1.5.4 Trợ giúp kỹ thuật 14
1.5.5 Tạo thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn tài chính 15
1.5.6 Tư vấn pháp luật 16

1.5.7 Tổ chức mạng lưới cộng tác 17
CHƯƠ
NG II. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI 18
2.1 VƯDNCN Hàn Quốc 18
2.1.1 Khái niệm về VƯDN ở Hàn Quốc 18
2.1.2 Các loại hình VƯDN 19
2.1.3 Tổ chức và hoạt động của mô hình VƯDNCN 20
2.1.4 Vai trò và sự cần thiết thành lập VƯDNCN 21
2.1.5 Tác động của VƯDNCN 22
2.1.6 Chính sách đối với VƯDNCN 23
2.2 Vườn ươm DNCN Hoa Kỳ 25
2.2.1 Tổng quan VƯDNCN 25
2.2.2 Đánh giá hiệu quả của VƯDNCN 26
2.2.3 Đặc trưng được rút ra từ các bài học thực tiễ
n tốt nhất của VƯDNCN 27
2.2.4 Các vấn đề liên quan đến chính sách 29
2.3 Nhận xét từ kinh nghiệm nước ngoài 29
CHƯƠNG III. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VIỆT NAM VỀ VƯDNCN 31
3.1 Những nỗ lực nhà nước trên phương diện pháp lý 31
3.2 Tổng quan thực trạng về VƯDN ở Việt Nam 33
3.3 Nghiên cứu trường hợp 39
3.3.1 VƯDNCN của Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn quản lý (CRC) 39
3.3.2 VƯDNCNC trong khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh 45
3.4 Nhận xét 49
KẾT LUẬ
N VÀ KHUYẾN NGHỊ 52
4.1 Khuyến nghị một số biện pháp chính sách phát triển VƯDNCN 52
4.1.1 Hỗ trợ các hoạt động của VƯDNCN trong thời hạn nhất định 52
4.1.2 VƯDNCN hoạt động trên cơ sở hạch toán thu chi với sự hỗ trợ của nhà nước 53
4.1.3 VƯ hoạt động độc lập trong quan hệ với các cơ quan chính phủ 54

4.1.4 VƯ cần được ưu tiên phát triển trên cơ sở thị
trường trong một số ngành lựa chọn 54
4.2 Hình thành mô hình VƯDNCN tại Việt Nam 55
4.2.1 Lựa chọn mô hình VƯDNCN 55
4.2.2 Chính sách phát triển VƯDNCN ở Việt Nam 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

1
MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế tri thức, việc tạo ra và sử dụng tri thức khoa học được xem như là một
trong những xu hướng quan trọng xác định mức độ thực hiện “hệ thống đổi mới quốc gia”.
Nhiều công cụ chính sách của các quốc gia được thiết lập nhằm chuyển các tri thức khoa
học thành các kết quả ứng dụng thực tế thông qua nuôi dưỡng và phát triển các ý tưởng.
Đối với các n
ước đang phát triển vấn đề không phải ở chỗ thiếu tri thức mà là truyền bá và
sử dụng tri thức (Mertin, 2005). Điều này đòi hỏi các nước đang phát triển cần có những
biện pháp thích hợp tăng cường truyền bá và sử dụng tri thức.
Trong nghiên cứu về chính sách đổi mới thì VƯDN công nghệ (VƯDNCN) và các tổ chức
tương tự như công viên khoa học/ công nghệ, trung tâm đổi mới, v.v… là một trong nh
ững
biện pháp quan trọng nhằm tăng cường sự truyền bá tri thức trong nền kinh tế.
VƯDNCN là mô hình ươm tạo doanh nghiệp đã được phát triển rất nhanh ở nhiều quốc gia
trên thế giới. Mục đích của các mô hình này là tập trung phát triển các doanh nghiệp dựa
trên công nghệ. Các vườn ươm này cung cấp khả năng liên kết công nghệ, bí quyết, năng
lực và vốn.
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện
đại hóa của đất nước đang diễn ra đồng thời với nhiều
xu thế phát triển mới. Nhiệm vụ đặt ra là cần phải nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm tổ chức
những mô hình phát triển tiên tiến để có thể “đi tắt, đón đầu”. Ở Việt Nam tuy đã có một số

công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng dưới các khía cạnh khác và chưa đề cập đến
hình thức tổ chức và hoạt động của tổ chức ươm tạo DNCN. Chính vì những lý do trên, đề
tài “Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức ươm tạo DNCN” đã
được tiến hành nghiên cứu.
Ngoài chủ nhiệm đề tài, đề tài được hoàn thành với sự cộng tác và giúp đỡ đặc biệt của các
đồng nghiệp trong Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, đặc biệt là các đồng nghi
ệp
trong Ban Chính sách Khoa học (nay là Ban Chính sách nhân lực và Hệ thống tổ chức
KH&CN).

2
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về vườn ươm DNCN
Mặc dù khái niệm về vườn ươm DNCN (VƯDNCN) đã được áp dụng hầu như ở tất cả các
nước trên thế giới, nhưng đối với nước ta, VƯDNCN còn là một khái niệm tương đối mới.
Các khái niệm về ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, VƯDN hay VƯDNCN còn
mới mẻ và gây ra không ít những hiểu biết nhầm lẫn giữa các khái niệm này (Bộ KHCN,
2005a). Dưới
đây xin nêu một số khái niệm được dùng phổ biến trên thế giới và các nước
đang phát triển về các hoạt động này.
Ươm tạo công nghệ (technology incubation) là quá trình nghiên cứu khoa học nhằm (i)
thích nghi và làm chủ công nghệ tiên tiến ngoại nhập; (ii) đổi mới, cải tiến công nghệ theo
hướng hiện đại hoá (technology innovation) làm tăng năng suất, giảm giá thành, tăng
cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm; (iii) sáng tạo công nghệ (new and advanced
technologies/ inventions).
Ươ
m tạo doanh nghiệp (business incubation) là quá trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp
trong giai đoạn khởi nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí ban đầu, hạn chế rủi ro, khắc phục
những thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, mạng lưới liên kết, tiếp cận
thị trường…, nâng cao khả năng tồn tại (survival rate) và sự phát triển ổn định của doanh

nghiệp sau khi kết thúc giai đoạ
n ươm tạo.
Ươm tạo DNCN (technology business incubation) là quá trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp
dựa trên một hoặc nhiều loại hình công nghệ xác định hoặc nhóm các nhà khoa học, các
nhà nghiên cứu có mục đích thành lập doanh nghiệp khi đã có ý tưởng công nghệ, kết quả
công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) ứng dụng được công nhận là khả
thi và có khả năng đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH)
đất nước trong một thời kỳ
nhất định (giai đoạn khởi nghiệp).
Î Trên cơ sở các khái niệm như trên, chúng ta có thể hiểu rằng “Ươm tạo công nghệ” là
quá trình nuôi dưỡng các ý tưởng, các kết quả triển khai thực hiện nghiệm/sản xuất thử
nghiệm có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội và phát triển thành các công nghệ
hoặc bí quyết công nghệ có khả năng thương mại.
Kết quả
đạt được của ươm tạo công nghệ là (i) tạo ra bí quyết công nghệ (know-how) có
khả năng áp dụng; (ii) tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; (iii) giải mã, làm chủ để cải
tiến hoặc đổi mới công nghệ, sản phẩm hiện có (Bộ KH&CN, 2005b).

3
Khái niệm VƯDN (business incubator) xuất xứ từ Mỹ vào đầu những năm 50 (do thị
trưởng Watertown, New York – Frank Mancuso - sử dụng khu nhà xưởng/công trình trước
đây để ươm trứng gà dùng làm nơi cung cấp diện tích làm việc cho các doanh nghiệp khởi
sự). Thuật ngữ incubator có thể được dịch theo nhiều cách khác nhau: vườn ươm, lồng
ươm, lò ủ, nơi ấp ủ, v.v… Trong nghiên cứu của đề tài, thuật ngữ incubator được quy
ước
là vườn ươm.
Theo từ điển Oxford, vườn ươm là dụng cụ cung cấp nhiệt ấp trứng, nuôi trẻ em đẻ non
hoặc nuôi vi khuẩn.
Theo Hiệp hội Quốc gia các VƯDN (NBIA), Athens, Ohio, vườn ươm là một môi trường
và chương trình với một số đặc tính quan trọng như cung cấp một danh sách đầy đủ các

dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp theo yêu cầu riêng của các doanh nghiệp khách hàng; có một
giám đốc v
ườn ươm tại chỗ điều phối các nhân viên, các chuyên gia bên ngoài và các tổ
chức để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; giúp các doanh nghiệp trưởng thành
một khi các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của chương trình (mặc dù không vượt ra
ngoài các phương tiện và trang thiết bị của chương trình) (Ca, T.N. 2006).
Cũng giống như khái niệm ươm tạo, khái niệm VƯDN, VƯDNCN, VƯCN, VƯCNC là
những khái niệm cần làm rõ.
Vườ
n ươm DN (business incubator) là nơi cung cấp cơ sở vật chất, diện tích làm việc đa
dạng và cung cấp các hình thức tư vấn, dịch vụ hỗ trợ nhằm nuôi dưỡng sự phát triển các
doanh nghiệp khởi sự với mục đích tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế địa phương.
Vườn ươm DNCN (technology business incubator) là một dạng của VƯDN tập trung vào
ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên công nghệ
(technology based enterprise).
VƯCN (technology incubator) là một dạng đặc biệt của VƯDN tập trung vào ươm tạo các
doanh nghiệp dựa trên một lĩnh vực công nghệ.
Vườn ươm DNCNC (high technology business incubator) là một dạng đặc biệt của VƯCN
tập trung vào ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên lĩnh vực công nghệ cao (hi-tech or new
and advanced technology).
Î Như vậy, cả ba loại vườn ươm sau đều là một dạng đặc biệt của VƯDN và chúng đề
u
dựa vào công nghệ. Do vậy, trong đề tài sẽ gộp cả ba loại thành một và gọi chung là
VƯDNCN.

4
1.2 Phân biệt VƯDNCN với các loại vườn ươm khác
Nghiên cứu của Phillips, R.G. (2002) đã xác định ít nhất có ba vấn đề khác nhau giữa
VƯDNCN với những vườn ươm khác. Thứ nhất, VƯDNCN tập trung vào các doanh
nghiệp dựa vào công nghệ. Hầu hết các VƯDN nói chung hy vọng làm gia tăng tỷ lệ hình

thành, mở rộng và phát triển của doanh nghiệp mới và gia tăng cơ hội sống sót cho các
doanh nghiệp khách hàng – doanh nghiệp khách hàng có thể hoặc không tập trung vào
công nghệ. VƯDNCN hướng đến các khách hàng có hoặ
c đang phát triển công nghệ tiên
tiến phù hợp với các dịch vụ hoặc sản phẩm có thể thị trường hóa, ví dụ như các doanh
nghiệp có thành phần R&D hoạt động tốt.
Thứ hai, các dịch vụ hỗ trợ của VƯDNCN khác với các vườn ươm nói chung. Ví dụ,
VƯDNCN có các hỗ trợ như: được tiếp cận với các phòng thí nghiệm công nghệ tiên tiến,
thiết bị, các nguồn lực k
ỹ thuật và nghiên cứu khác (các khoa trong trường, cán bộ, sinh
viên và thư viện mà ở những vườn ươm khác không có).
Thứ ba, VƯDNCN liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, trong đó có hoạt động
liên quan đến chuyển giao công nghệ (CGCN) hoặc thương mại hoá công nghệ. CGCN có
thể được xác định như chuyển giao của công nghệ, kỹ thuật hoặc tri thức mà đã được phát
triển trong một tổ chức và chuyể
n giao đến một tổ chức khác để thích nghi và sử dụng công
nghệ. CGCN được xem như là một bộ phận của quá trình đổi mới. CGCN là quan trọng
nếu xem xét đến tác động kinh tế của đổi mới khi đổi mới đem đến tăng trưởng năng suất,
tạo việc làm và thay đổi mức lương và các lợi ích. Nói một cách khác, VƯDNCN có một
năng lực sẵn có đối với tác động kinh tế thông qua vi
ệc tạo thuận lợi cho CGCN.
Trong ba điểm khác biệt trên thì vấn đề thứ hai được coi là quan trọng vì chúng đem đến
các giá trị khác biệt cho việt thành lập doanh nghiệp. Ví dụ, việc tiếp cận đến các phòng thí
nghiệm công nghệ tiên tiến là rất có giá trị và là khó khăn đối với một số tổ chức, ngoại trừ
các trường đại học hoặc trung tâm nghiên cứu của chính phủ mới có những điề
u kiện đáp
ứng được nhu cầu này của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Wiggins, J và Gibson, D.V. (2002) cũng đồng ý với quan điểm của Phillips
rằng giá trị đưa đến từ trường đại học hoặc các vườn ươm dựa vào cộng đồng trở thành một
dấu hiệu phân biệt sống còn giữa vườn ươm thành công và vườn ươm không thành công.

Nghiên cứu của Trung, V. Đ. (2006) cũng chỉ ra một số đi
ểm khác biệt giữa VƯDNCN với
các VƯDN thông thường như sau:

5
- Có mối liên kết chặt chẽ với các đối tác chiến lược trong hoạt động, đặc biệt có sự
cam kết bảo trợ, hợp tác mạnh của các trường đại học, viện nghiên cứu KH&CN.
- Thành lập trong trường đại học kỹ thuật, trung tâm công nghệ, khu công nghệ cao
hoặc nơi gần nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật.
- Được giám sát, điều hành bở
i các chuyên gia có kinh nghiệm phát triển DNCN.
- Thường cung cấp các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật và các thiết bị chuyên dùng,
phòng thí nghiệm.
Qua các nghiên cứu ở trên cho thấy không có sự khác biệt về các quan điểm khi đề cập đến
VƯDNCN. Tóm lại, VƯDNCN có một số đặc điểm không thể trộn lẫn so với các VƯDN
thông thường.
1.3 Vai trò của VƯDNCN
1.3.1 VƯDNCN - cơ chế chuyển giao công nghệ
VƯDNCN có thể được xem như một môi trường chuyển giao kết quả nghiên cứu từ khu
vực nghiên cứu hàn lâm hoặc sử dụng tri thức nhận được trong môi trường hàn lâm đến thị
trường. Do đó, chuyển giao công nghệ (CGCN) được tiến hành thông qua:
• Chuyển giao trực tiếp tri thức và/ hoặc công nghệ xuất phát từ khu vực nghiên cứu;
• Các mối quan hệ thường xuyên với các tổ chức nghiên cứu đặc biệt – quan hệ được
thiết lập giữa các tổ chức cho phép sự truyền bá thông tin, tri thức và di chuyển cán bộ;
• Các quan hệ không thường xuyên với một hoặc một loạt các tổ chức.
Như vậy, việc tạo ra cầu nối giữa hai môi trường hàn lâm và công nghiệp cho phép thúc
đẩy hơn nữa sự truyền bá thông tin hoặc tri thức công nghệ, đồng thời nó cũng cho phép sự
điều chỉnh nhất định: các doanh nghi
ệp có thể xác định tốt hơn nhu cầu của họ và do đó
đầu vào của các doanh nghiệp thoả đáng hơn; bên cạnh đó các tổ chức nghiên cứu cũng thu

được cách nhìn tổng quát hơn về những đòi hỏi của thị trường, giúp các tổ chức này xác
định các hướng nghiên cứu thích hợp hơn đối với nhu cầu của khu vực công nghiệp.
1.3.2 VƯDNCN - khuyến khích đổi mới
Từ các khái niệm ở phần 1.1. nêu trên có thể thấy, VƯDNCN là một loại hình đặc thù và
đang nổi lên của VƯDN vì trên thực tế hoạt động ứng dụng đổi mới công nghệ hầu hết đều
do các DNCN tiến hành.

6
Kể từ những năm 1980, VƯDNCN đã trở thành một trong những nội dung trọng tâm trong
chính sách công nghệ và đổi mới ở Bắc Mỹ, châu Âu và gần đây nhất là Nhật Bản.
VƯDNCN quan trọng là do tầm quan trọng ngày càng gia tăng của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (DNV&N). DNV&N dựa vào công nghệ sẽ là những cơ sở quan trọng để tạo ra việc
làm, tạo điều kiện thuận lợi cho s
ự thay đổi về cơ cấu và khuyến khích tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, bản thân khái niệm và cách phân loại VƯDNCN cũng khác xa nhau giữa các
quốc gia. Nếu căn cứ vào mối quan hệ giữa VƯDNCN và cơ quan chủ trì/vận hành vườn
ươm thì có thể thấy hiện nay không có một mô hình thống nhất về VƯDNCN. Trong hầu
hết các trường hợp, vườn ươm là đơn vị chi nhánh của một trường đại học, công viên
KH&CN hoặc trung tâm đổi mới. Trong một số trường hợp khác, vườn ươm là một bộ
phận chức năng của một công viên khoa học (Anh), hoặc Trung tâm đổi mới/công nghệ
(Đức), hoặc có thể là một đơn vị riêng biệt hoạt động ở một khu cơ sở hạ tầng tri thức của
trường đại học hoặc công viên KH&CN (Mỹ, Nhật Bản và Pháp).
VƯDNCN có thể do một t
ổ chức tài trợ (chủ sở hữu) quản lý, điều hành nhưng có một số
trường hợp do nhiều bên góp vốn. Ở Mỹ, gần 30% trong số 550 VƯDN là thành viên của
NBIA đều định hướng vào hỗ trợ các DNCN. Hiệp hội các công viên nghiên cứu liên quan
tới trường đại học (AURRP) ước tính rằng một nửa các VƯDNCN là chi nhánh của trường
đại học ở Mỹ và là những yếu tố nòng cốt c
ủa các công viên nghiên cứu. Tương tự như
vậy, ở châu Âu, sự tăng trưởng của các VƯDNCN đã gắn rất chặt với sự phát triển của các

công viên KH&CN. Vườn ươm là một phần của tiến trình thống nhất để hỗ trợ các doanh
nghiệp trong đó thương mại hoá các thành quả R&D có nguồn gốc từ công viên. Ở Đức,
73% trung tâm ươm tạo DNCN được thiết lập bên cạnh các trường đạ
i học hoặc các viện
nghiên cứu khác.
VƯDNCN còn do các cơ quan nhà nước thành lập với sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở
KH&CN có định hướng trọng tâm vào thương mại hoá các công nghệ gần gũi với thị
trường. Ví dụ, Trung tâm công nghệ ứng dụng của đại học SanDiego – California – là một
tổ chức do chính quyền thành lập dựa trên mối liên kết với các phòng thí nghiệm quốc gia,
chuyên cung cấp cho DNV&N các d
ịch vụ tạo điều kiện thuận lợi để khởi sự cũng như
những lợi ích mang tính bổ trợ cho các doanh nghiệp và doanh nhân. Các phòng thí nghiệm
quốc gia, như các phòng thí nghiệm của cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ - NASA – cũng
đang xây dựng vườn ươm riêng của mình và thiết lập các quan hệ hợp tác với các vườn
ươm đang tồn tại như là một biện pháp để đẩy nhanh tốc độ
phổ biến các công nghệ mới.
Tại Anh, khu nhiên liệu hạt nhân Anh trong công viên công nghệ (không thuộc trường đại

7
học) đã thu hút được một số lớn DNV&N công nghệ cao và sự hỗ trợ của các nhà tư vấn.
Hoàn toàn không phải là một tầm nhìn ngắn hạn trong R&D, các VƯDNCN cũng được coi
là một công cụ để hỗ trợ các DNCN nhỏ đang hoạt động có thể tiếp cận tới các công nghệ
và trang thiết bị hiện đại mà bản thân họ không có khả năng hoặc sẽ phải mất quá nhiề
u
thời gian và chi phí để tự phát triển.
Các quốc gia công nghiệp mới hoặc đang chuyển đổi như Mehico, cộng hoà Séc, Hungary,
Ba Lan và Nga cũng đã phát triển các chương trình ươm tạo doanh nghiệp, chủ yếu tập
trung vào các DNCN mới thành lập. Đến những năm 1990 thì Hàn Quốc cũng bắt đầu hình
thành một số vườn ươm để thúc đẩy tạo lập và phát triển các DNV&N. Vào năm 1994, Hàn
Quốc có 5 Trung tâm đổi mới công nghệ - một hình th

ức của VƯDNCN - được thành lập.
Các Trung tâm đổi mới công nghệ này có xu hướng tập trung nhiều hơn vào phát triển
công nghệ và ít tập trung cung cấp cho các doanh nghiệp kỹ năng quản lý và tiếp cận tới
các nguồn tài chính. Trung Quốc và các vùng lãnh thổ như Đài Loan, Hồng Kông cũng có
các kế hoạch thúc đẩy các VƯDNCN trong chiến lược phát triển công nghiệp và các chính
sách KH&CN của mình. Các dự án VƯDNCN thường xuất phát từ các kế hoạch của chính
phủ
hơn là từ sáng kiến phối hợp giữa chính quyền và khu vực tư nhân ở địa phương.
1.3.3 VƯDNCN - nơi nuôi dưỡng doanh nghiệp KH&CN
VƯDNCN là động lực cho sự phát triển của các doanh nghiệp xét theo khía cạnh các
VƯDNCN có các tiêu chuẩn về nhà xưởng cho thuê, đặc biệt thuận lợi đối với các doanh
nghiệp khởi sự trong lĩnh vực công nghệ cao. VƯDNCN được xem xét như một tổ chức
được thành lập để hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi sự trong lĩnh vực công nghệ cao trong
việc phát triển các doanh nghiệp mới. Thông qua quá trình hỗ trợ các dnKH&CN và doanh
nghiệp
đang hình thành, các VƯDNCN tìm kiếm sự kết hợp năng lực kinh doanh, công
nghệ, vốn, tri thức như là lực đẩy đối với sự phát triển của các dnKH&CN cũng như các
doanh nghiệp khởi sự, bên cạnh đó các VƯDNCN còn đạt được lợi ích của mình đó là
thương mại hoá công nghệ đến với thị trường/khách hàng.
Giai đoạn khởi sự của một DNV&N thường gắn với mứ
c độ bất ổn đáng kể và doanh
nghiệp mới thường có vấn đề về khả năng quay vòng vốn trong giai đoạn này. Theo lý
thuyết về phát triển doanh nghiệp, những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong giai
đoạn tiếp theo thường nằm trong giai đoạn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đặc biệt
là năng lực về tài chính, quản lý và tiếp thị kém sẽ dẫn tới việc thấ
t bại với tỷ lệ cao của các
doanh nghiệp mới/trẻ. Đây có thể coi là một lý do nữa cần đến sự hỗ trợ, nuôi dưỡng các
doanh nghiệp mới trong vườn ươm. Vai trò của các vườn ươm cũng được xác lập dựa trên

8

cơ sở các mục tiêu phát triển kinh tế ở quy mô vùng, khuyến khích tạo công ăn việc làm và
kết cấu lại khu vực sản xuất công nghiệp. Gần đây, VƯDN đã được xem như là một phần
trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho các đối tượng lao động.
Về phía các VƯDNCN, việc hình thành hình thức vườn ươm này xuất phát từ những thất
bại trên thị trường hoặc là t
ừ các thể chế gây trở ngại cho việc thương mại hoá và phổ biến
công nghệ của các doanh nghiệp khởi sự. Mức độ rủi ro cao hơn gắn với hoạt động R&D
thường làm gia tăng những nguy cơ vốn dĩ đã gắn liền với giai đoạn khởi sự của doanh
nghiệp. Các dịch vụ ươm tạo công nghệ sẽ giúp giảm nhẹ những rủi ro này, nh
ư vậy sẽ góp
phần nâng cao khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sau khi cân nhắc kỹ tỷ lệ
tồn tại của các DNCN cho thấy rằng các DNCN thực sự ít phải chịu rủi ro. Ngoài ra,
VƯDNCN cũng thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ DNCN như biện pháp làm tăng doanh
thu từ các khoản chi cho R&D của Nhà nước bằng cách hỗ trợ việc thương mại hoá và phổ
biến công ngh
ệ.
1.3.4 VƯDNCN - công cụ chính sách
Lý do cơ bản khiến nhà nước cần phải hỗ trợ cho các VƯDN nói chung là tình trạng thất
bại trên thương trường của nhiều DNV&N đã dẫn đến hiện tượng nản chí trong việc thành
lập doanh nghiệp mới của nhiều doanh nhân. Các chủ DNV&N phải đối mặt với nhiều trở
ngại khi bắt đầu khởi sự doanh nghiệp, mà những trở ngại chính xuất phát từ yêu cầu phải
đầ
u tư cho các tài sản cố định và chi phí thâm nhập thị trường cao trong khi doanh nghiệp
lại thiếu cơ hội tiếp cận tới các nguồn tài trợ từ các định chế tài chính một cách bình đẳng
trong cùng một môi trường với các doanh nghiệp lớn, thiếu thông tin thị trường, thiếu năng
lực xử lý các vấn đề đòi hỏi kỹ thuật cao, điều quan trọng hơn là trình độ quản lý doanh
nghiệp còn yếu kém.
Trong nhiều trường hợp, những mục tiêu của VƯDNCN phản ánh nội dung chính sách của
chính phủ, trong đó những tổ chức này hoạt động ở cấp địa phương, cấp vùng và quốc gia.
Tại Anh, mục tiêu phát triển các công viên khoa học là nhằm cung cấp các dịch vụ ươm

tạo, các dịch vụ ươm tạo được thúc đẩy thông qua cơ cấu thị trường vốn cổ phần và những
nguyên tắc t
ương đối linh hoạt liên quan đến sự tham gia của đội ngũ các nhà nghiên cứu
trong các hoạt động đầu tư của tư nhân. Tại Mỹ, việc phát triển VƯDNCN xuất phát từ các
trường đại học và cơ quan phát triển kinh tế địa phương. Ở Pháp, vườn ươm được tài trợ từ
chính quyền sở tại và địa phương. Sự khác nhau về mặt thể chế của Pháp trong hệ thống
đại học công lập và cơ cấu thuế của mỗi vùng cũng đóng một vai trò quan trọng khác nhau.
Ví dụ, phần lớn các xã ở Pháp đều được thu thuế từ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn xã.

9
Tuy nhiên, do đất và tài sản của các trường đại học thuộc sở hữu của chính phủ trung ương
nên việc xây dựng những vườn ươm dựa vào tài sản trên đất thuộc sở hữu của chính phủ có
thể tạo nên các xung đột.
Trong nhiều nước khác, việc ủng hộ các sáng kiến vườn ươm nhằm khắc phục những hạn
chế đặc thù của thị trường và cơ s
ở hạ tầng tổ chức cho các DNCN. Ở Israel, việc ủng hộ
này tập trung vào giai đoạn khởi sự cho doanh nghiệp, đây là giai đoạn mà doanh nghiệp
luôn thiếu vốn. Ở Úc và Ý, các vườn ươm cung cấp dịch vụ cho DNV&N đã tồn tại mà
không có các dịch vụ công nghệ và kinh doanh được hỗ trợ từ nhà nước và các nguồn khác.
1.4 Mục tiêu của VƯDNCN
1.4.1 Phát triển kinh tế
VƯDNCN là một công cụ để hỗ trợ, nuôi dưỡng các DNCN mới. Mục đích hỗ trợ chính
đối với các DNCN mới là tạo việc làm. Ví dụ, Trung tâm sáng kiến địa phương (CIL) ở
Saunt Nazaire - Pháp, với mục đích nhằm đa dạng hoá một nền kinh tế địa phương vốn có
truyền thống dựa vào công nghiệp luyện kim. Trung tâm phát triển công nghệ tiên tiến ở
bang Georgia (Mỹ) thành lập năm 1980 là một phần trong chính sách phát triể
n của bang
nhằm biến các cơ sở công nghiệp thành những khu công nghệ mới trong điều kiện có sự
cạnh tranh của nước ngoài. Tại Ý, các Trung tâm đổi mới doanh nghiệp (BIC) là kết quả
của chính sách phát triển vùng trong các trung tâm công nghiệp miền Bắc và Mezzogion –

nơi mà các doanh nghiệp đã bị suy thoái và hoạt động đình trệ. Với các BIC, chính phủ
trung ương cũng như chính quyền địa phương và vùng đã hỗ trợ trực tiế
p hoặc gián tiếp
cho các VƯDNCN.
Ở Đức, các VƯDNCN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hợp tác giữa
các tổ chức tư nhân và nhà nước ở địa phương nhằm phát triển kinh tế của vùng.
VƯDNCN cũng có một mục tiêu điển hình đối với chính phủ các bang là nó chứng tỏ
những nỗ lực của họ trong việc phát triển kinh tế vùng và tạo công ăn việc làm. Đi
ều này
rất quan trọng khi mà Chính phủ các nước không có khả năng tài trợ lâu dài cho nhiều
ngành công nghiệp đã sa sút và xu thế toàn cầu hoá cho thấy rằng các biện pháp hỗ trợ trực
tiếp sẽ không có hiệu quả bởi cách làm như vậy.
Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế nói chung, các vườn ươm là công cụ của chính sách để
đối phó lại những thách thức kinh tế đặc thù. Tại Nhật Bản, các chính sách phát triển vùng
biểu hiện trong hoạt
động hỗ trợ của vườn ươm và các sáng kiến có liên quan được dẫn dắt
bởi ý đồ tập trung các nguồn lực tri thức và công nghiệp xung quanh các khu đô thị lớn. Ở

10
Đức, mạng lưới các trung tâm ươm tạo DNCN (ADT) đã nhanh chóng trở thành một công
cụ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ở các bang miền Đông và điều này có ích cho quá trình
tái thống nhất nước Đức. Ngoài ra, các vườn ươm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng kết cấu hạ tầng, cả trên khía cạnh vật chất lẫn phi vật chất. Tại Ý, các trung tâm
đổi mới nhằm vào khu vực các ngành công nghiệp không phát triển theo cụm doanh nghiệp
và những nơi có cơ sở hạ tầng yếu kém gây cản trở đến sự phát triển những DNV&N.
1.4.2 Thương mại hoá công nghệ
Trường đại học là nơi có nhiều ý tưởng công nghệ cần được thương mại hoá, vì vậy
VƯDNCN trong trường đại học hoặc liên kết với trường đại học có thể thực hiện được việc
thương mại hoá công nghệ. Trên thực tế cho thấy có sự đa dạng trong các mối liên kết giữa
VƯDNCN với trường đại học. Các kết quả nghiên cứu của các trườ

ng đại học hiếm khi
được thương mại hoá ngay, trong khi các nhà công nghiệp lại yêu cầu ứng dụng ngay
những kết quả nghiên cứu dài hạn của trường đại học. Có lẽ sẽ tốt hơn cho các trường đại
học (cả về mặt kinh tế lẫn công nghệ) khi cộng tác với các doanh nghiệp công nghiệp lớn
so với việc cộng tác với DNV&N. Đối với các doanh nghiệp, việc liên kết với các tổ
chức
R&D công nghiệp thì thường quan trọng hơn việc liên kết với trường đại học. Những
nghiên cứu về các doanh nghiệp nằm gần các cơ sở R&D công nghiệp ở Mỹ cho thấy
những tác động không đáng kể đến doanh thu và hiệu suất công việc so với các doanh
nghiệp tương tự không đặt cạnh hoặc ngoài khu vực. Những khảo sát về các doanh nghiệp
ở VƯDNCN cho thấy điều quan tr
ọng nhất không phải là sự tiếp cận với nghiên cứu của
các trường địa học mà là độ tin cậy, uy tín của các trường đại học, tiềm năng sử dụng các
sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, truy cập vào các cơ sở dữ liệu và thư viện và quan trọng hơn
là được các nhà đầu tư và các ngân hàng tin tưởng để cho vay.
Tuy nhiên, nếu coi việc tiếp cận tới các kết quả nghiên cứu ở
trường đại học không quan
trọng bằng các yếu tố như danh tiếng hay cơ sở hạ tầng của các trường thì điều đó có thể
phản ánh một sự không tương thích về mong muốn của các bên. Thực ra, các trường đại
học là nơi cung cấp các học vị khoa học cao cho khu vực công nghiệp. Có thể một trong
những tác động quan trọng đó là yếu tố văn hoá khiến các ngành công nghiệp nh
ận thức
được vai trò nghiên cứu của trường đại học để tài trợ cũng như những kỹ năng kinh doanh
mà trường đại học sẽ cung cấp cho doanh nghiệp. Khoảng ½ trong số 4.000 doanh nghiệp
phát triển từ các VƯDNCN ở Đức từ những năm 1990 đều được thúc đẩy bởi tác động từ
các trường đại học. Bên cạnh việc thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, các trường h
ợp

11
ở Đức còn cho thấy một trong các mục đích chính của VƯDNCN là phổ biến bí quyết cho

DNV&N không chỉ từ các trường đại học mà còn cả từ các trung tâm nghiên cứu ứng dụng.
1.4.3 Khuyến khích tinh thần kinh thương
Khuyến khích tinh thần kinh thương thông qua vườn ươm là một mục tiêu khác mà nhà
nước đặt ra và hỗ trợ. Một trong những mục tiêu chính của những VƯDNCN ở miền Đông
nước Đức cũng như ở Nga và các nước Đông Âu khác là phát triển tinh thần kinh thương
và tạo ra các DNV&N trong các nền kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước. Tinh
thần kinh thương ngày càng được nhận thức như là một yếu tố quan trọng trong quá trình
đổi m
ới và để tạo ra các DNCN. Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể tạo các chi nhánh,
ví dụ ở Mỹ, sự phát triển của những DNCN mới gắn liền với sự tăng lên của các hoạt động
kinh doanh độc lập của các doanh nhân. Tuy nhiên, số các doanh nhân mới này không phải
hoàn toàn là các nhà nghiên cứu và phát triển công nghệ hay những cá nhân có trình độ
KH&CN cao đứng ra sáng lập các DNCN. Mặc dù vậy, nhìn chung thì nhiều bằng chứng
cho thấy tỷ lệ những người sáng lập có học v
ị khoa học cao đang tăng lên trong những năm
gần đây.
Các VƯDNCN, đặc biệt các VƯDNCN đặt tại các trường đại học có thể hoạt động như là
một phòng thí nghiệm để thương mại hoá các ý tưởng xuất phát từ nghiên cứu và cung cấp
dịch vụ đào tạo cho các doanh nhân. Ngoài ra, thông qua việc thiết lập mạng lưới tài trợ
cho doanh nghiệp ươm tạo, bao gồm các tổ chức đầu t
ư và các nhà đầu tư, các vườn ươm
có thể củng cố mối liên kết giữa khu vực tài chính và các chủ doanh nghiệp.
1.5 Các chức năng dịch vụ của VƯDNCN
1.5.1 Bản chất của việc tổ chức các dịch vụ ươm tạo công nghệ
Khác với các VƯDN và vườn ươm hỗn hợp nói chung, những VƯDNCN chỉ cung cấp
những dịch vụ đặc thù và có giá trị giá tăng cao. Trong khi chỉ có một số ít vườn ươm đủ
mạnh để cung cấp toàn diện các dịch vụ, thì hầu hết các vườn ươm phải được tài trợ hoặc
dựa trên việc liên kết với các nguồn lực tư nhân và nhà nước sẵn có. Địa điểm cũ
ng là một
vấn đề cho các doanh nghiệp làm dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, các VƯDNCN vẫn bị

cô lập. Những nghiên cứu ở Đức và Áo đã cho thấy tầm quan trọng của hoạt động tổ chức
mạng lưới nhằm giúp các doanh nghiệp thuê vườn ươm phát triển công nghệ và mở rộng
thị trường. Tại Ý, Hội đồng nghiên cứu quốc gia Consorsio Roma Ricerche đang liên kết
các trung tâm đổi mới, các trung tâm đổ
i mới doanh nghiệp định hướng công nghệ và các
công viên khoa học ở miền Trung nước này để hình thành một mạng lưới nhằm giúp các

12
DNV&N khắc phục những hạn chế bằng cách cung cấp các dịch vụ công nghệ, phương
pháp và kỹ năng quản lý.
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là các dịch vụ của vườn ươm phải phù hợp với nhu cầu
của khách hàng. Sự xuất hiện các VƯDNCN ảo hay các vụ đầu tư phi sở hữu (cổ phần) ở
nhiều nước (Úc, Ý, Mỹ) có thể coi là cách thức cung c
ấp dịch vụ cho các DNV&N có hiệu
quả khi xem xét đến chi phí tại những vùng có ít doanh nghiệp để lập ra vườn ươm hay cho
thuê vườn ươm. Các vườn ươm ảo cũng là phương thức thử nghiệm xét về nhu cầu và phù
hợp giữa điều kiện cơ sở vật chất tự nhiên với các nhu cầu khách hàng. Việc thiết lập các
mối quan hệ nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp mới thành lập trong việc tă
ng nguồn tài trợ có
lẽ là vai trò quan trọng nhất trong số các dịch vụ của vườn ươm, đặc biệt ở các vùng hay
các nước mà phương thức vốn đầu tư mạo hiểm chưa phát triển.
Với mục đích ươm tạo các DNV&N hay các doanh nghiệp khởi nghiệp của các doanh
nghiệp lớn, các dịch vụ được VƯDNCN cung cấp nhằm giúp đỡ các DNV&N có thể khai
thác và thương mại hoá thành công các thành quả R&D. Nhìn chung, các VƯDNCN có các
d
ịch vụ như sau:
- Cho thuê cơ sở hạ tầng (văn phòng, không gian làm việc),
- Hỗ trợ quản lý doanh nghiệp,
- Hỗ trợ kỹ thuật,
- Giúp đỡ tiếp cận với các nguồn tài trợ,

- Các dịch vụ tư vấn pháp luật,
- Thiết lập mạng lưới cộng tác (networking).
Các VƯDNCN có xu hướng hỗ trợ mạnh hơn các VƯDN nói chung trong việc tìm ki
ếm
nguồn tài trợ, các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề tiếp thị.
1.5.2 Dịch vụ cơ sở hạ tầng
Bên cạnh dịch vụ hành chính và cho thuê văn phòng, các VƯDNCN phải có khả năng cho
người thuê vườn ươm tiếp cận tới các phương tiện đặc thù như các phòng thí nghiệm và
các thiết bị kiểm nghiệm. Trong khi một số vườn ươm có các phòng thí nghiệm quy mô lớn
với đầy đủ thiết bị tại chỗ, thì nhiều vườn ươm chỉ có các hoạt động ươm công nghệ và
thường không đáp ứng đủ các nhu c
ầu khác đối với doanh nghiệp trong vườn ươm.
Ngày càng có nhiều VƯDNCN nhỏ nhưng có khả năng cung ứng dịch vụ của vườn ươm lại
lớn nhờ vào khả năng sử dụng các phòng thí nghiệm và các thiết bị thử nghiệm được tiến

13
hành thông qua hợp doanh/hợp đồng với các trường đại học, các cơ quan CGCN, hoặc là
thuê mua thiết bị. Với các vườn ươm nằm trong các công viên KH&CN, cơ sở hạ tầng
thường được công viên cung cấp hoặc có thể được cung cấp thông qua các quan hệ liên kết
với các trường đại học chủ quản hoặc các cơ quan bên ngoài (như các phòng thí nghiệm,
các trung tâm nghiên cứu quốc gia). Công viên KH&CN Laval của Canada đã khai trương
một vườn ươm có tên gọ
i là Trung tâm đổi mới công nghệ sinh học Quebec. Các doanh
nghiệp được ươm tạo có khả năng tiếp cận các cơ sở của công viên như các phòng thí
nghiệm, khu sản xuất thử nghiệm và tiếp cận với các chi nhánh nghiên cứu của các doanh
nghiệp dược phẩm lớn đặt trong công viên.
1.5.3 Hỗ trợ công tác quản lý doanh nghiệp
Chủ sở hữu của DNCN luôn đòi hỏi các bí quyết (know-how) của doanh nghiệp phải được
phát triển và thương mại hoá thành những sản phẩm mang tính đổi mới cao. Sự hỗ trợ công
tác quản lý của các VƯDNCN bắt đầu bằng việc đánh giá và lựa chọn các khách hàng đến

thuê vườn ươm dựa trên việc xem xét kế hoạch kinh doanh của họ. Nhiều vườn ươm đã
chấp nhận các phương pháp
đánh giá tổng thể dựa trên nguyên tắc “cẩn trọng” để sàng lọc
ra các doanh nghiệp có tiềm năng để ươm tạo và làm tăng số lượng các doanh nghiệp có
chất lượng. Các vườn ươm cũng có thể trực tiếp tiến hành giám định lại việc đánh giá công
nghệ và nghiên cứu thị trường mà nhờ đó tiềm năng thương mại hoá và thị trường của một
công nghệ mới đượ
c các chủ doanh nghiệp phân tích và kiểm nghiệm với sự hỗ trợ của các
chuyên gia. Các dịch vụ tiếp thị cũng rất quan trọng. Trong một số trường hợp, hỗ trợ tiếp
thị có thể do các bên thứ ba: các doanh nghiệp khác thuê vườn ươm cung cấp hoặc thậm
chí do các sinh viên đại học được thuê tiến hành nghiên cứu thị trường cho các doanh
nghiệp thuê vườn ươm. Ví dụ Trung tâm công nghệ Ben Franklin ở Pennsylvania (Mỹ) đã
phát triể
n dịch vụ tổ chức môi giới để giúp các doanh nghiệp thuê vườn ươm mua sắm,
phát triển các quan hệ cung cấp với các nhà sản xuất địa phương.
VƯDNCN cung cấp các dịch vụ đào tạo với tư cách là một hoạt động để tăng cường khả
năng phát triển lâu dài của các doanh nghiệp thuê vườn ươm. Ví dụ, một số vườn ươm có
thể đào tạo nghiệp v
ụ về quản lý doanh nghiệp, tổ chức các hội thảo và diễn đàn về kế
hoạch hoá kinh doanh. Ví dụ, Chương trình kinh doanh tại Viện nghiên cứu công nghệ
Bristish Columbia ở Canada đã tổ chức các lớp học cho doanh nhân về xây dựng và hoàn
thiện kế hoạch kinh doanh. Ngoài ra, các VƯDNCN cũng có thể đóng vai trò như một tổ
chức trung gian giữa khu vực doanh nghiệp với các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu đượ
c cung cấp
bởi các cơ quan nhà nước, phòng thương mại và các doanh nghiệp kế toán, v.v…

14
Ngoài ra, các VƯDNCN cũng cần sự tham gia tích cực của các cổ đông (người hùn vốn
vào vườn ươm) ở địa phương ngay từ khi đi vào hoạt động. Ban cố vấn của mỗi vườn ươm,
bao gồm đại diện của các cơ quan phát triển kinh tế, doanh nhân, các nhà đầu tư và các

trường đại học sẽ xác định các chính sách và mục tiêu phát triển vườn ươm, lựa chọn và
thuê nhà quản lý cho vườn
ươm và các quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài. Đối với
các doanh nghiệp thuê vườn ươm, vì do các doanh nghiệp này đều là DNV&N nên không
có Hội đồng quản trị. Ban cố vấn của vườn ươm sẽ bù đắp vai trò này bằng các hoạt động
giống như bộ phận giám sát và hướng dẫn về kế hoạch và quản lý kinh doanh của doanh
nghiệp. Các ban cố vấn đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập các mạng lướ
i đang
phát triển, qua đó giúp doanh nghiệp thuê vườn ươm tiếp cận một cách thuận lợi tới các
nguồn thông tin, công nghệ và tài chính. Trong nhiều trường hợp, các nhà tư bản mạo hiểm
hoặc những người bảo trợ doanh nghiệp với tư cách cá nhân sẽ cùng tham gia vào ban tư
vấn/cố vấn để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tăng nguồn tài trợ bằng vốn cổ phần.
Giống như
Ban cố vấn, các nhà quản lý năng động và lành nghề sẽ có vai trò quan trọng
trong sự thành công của các vườn ươm và doanh nghiệp được ươm tạo. Các nhà quản lý
vườn ươm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lựa chọn doanh nghiệp được ươm tạo
và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Tại Anh, một nghiên cứu về các nhà quản lý công viên
khoa học cho thấy các doanh nghiệp thuê vườn ươm tỏ thái độ hài lòng về các nhà quản lý,
những người rất năng động trong các công tác thường ngày, mặc dù chức năng của các nhà
quản lý có xu hướng tập trung vào các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu hơn là về thông
tin kinh doanh hoặc về các mối quan hệ với các tổ chức giáo dục bậc đại học (Westhead và
Storey, 1994). Bên cạnh việc tổ chức mạng lưới cộng tác và hỗ trợ tham vấn, các nhà quản
lý của vườn ươm có thể giúp đỡ các doanh nghi
ệp thuê vườn ươm tuyển dụng đội ngũ nhân
viên có trình độ.
1.5.4 Trợ giúp kỹ thuật
Một trong các mục tiêu chủ chốt của các VƯDNCN là đẩy nhanh tốc độ chuyển giao và
truyền bá các bí quyết công nghệ. Kinh nghiệm từ các vườn ươm tại Đại học Maryland và
Viện nghiên cứu công nghệ Georgia (Mỹ) cho thấy một môi trường CGCN phù hợp là cần
thiết cho các doanh nghiệp trong vườn ươm để có thể tiếp thu và ứng dụng công nghệ cho

sự phát triển của mình. Các vườn ươm của cả hai tổ chức này
đều thiết lập các quan hệ
giữa lĩnh vực công nghệ và các dịch vụ mở rộng sản xuất. Sự gắn kết giữa các chương trình
CGCN và các doanh nghiệp trong vườn ươm cũng như khả năng tiếp cận của họ tới các cơ
sở, thiết bị kỹ thuật, các thư viện và các cơ sở dữ liệu bên ngoài cũng rất quan trọng. Một

15
thực tiễn quan trọng khác trong các vườn ươm, liên quan tới môi trường giáo dục – đào tạo
đại học, là ký kết các hợp đồng với các khoa và sinh viên trên cơ sở quan hệ cho vay hoặc
tư vấn. Các vườn ươm cũng có thể môi giới các quan hệ với giới chuyên môn bên ngoài
thông qua hợp đồng hoặc một khoản tài trợ. Ví dụ, Trung tâm công nghệ doanh nghiệp ở
Ohio (Mỹ) đã có các hợp đồng với các trung tâm xuất sắc (centres of excellence) nhằ
m tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp thuê vườn ươm có thể tiếp cận các phương tiện kỹ thuật,
nghiên cứu và thử nghiệm sản phẩm. Đây cũng là cách mà tổ chức CIL ở Saunt Nazaire
(Pháp) thực hiện khi hợp tác với một VƯDNCN gần Nates.
1.5.5 Tạo thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn tài chính
Vốn đầu tư vào cổ phần là một yếu tố cần thiết đối với mọi doanh nghiệp khởi sự, đặc biệt
là đối với DNCN. Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường đầu tư vào các giai đoạn sau của quá
trình phát triển doanh nghiệp, tức là vào các doanh nghiệp đã giảm bớt phần nào rủi ro
(OECD, 1997). Những nỗ lực để bù đắp sự thiếu hụt về
vốn là nhiệm vụ chính của các
VƯDNCN cũng như những người bảo trợ doanh nghiệp (business angels). Mặt khác vườn
ươm có thể giúp các doanh nghiệp khách hàng chuẩn bị kế hoạch kinh doanh trước khi gửi
dự án cho các nhà đầu tư với mong muốn tìm được nguồn tài trợ cho giai đoạn rủi ro ban
đầu. Cũng như vậy, các vườn ươm có thể tổ chức các diễn đàn về kinh doanh mạo hiểm và
đóng vai trò nh
ư người giám sát giúp nhà đầu tư theo dõi diễn biến của dự án. Bản thân các
vườn ươm cũng có thể thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm mới dựa trên việc huy động, thu
hút các nguồn vốn tư nhân hoặc hợp doanh với nhà nước như trường hợp VƯDNCN của

Quỹ Scot ở Anh. Việc tiếp cận được với quỹ đầu tư mạo hiểm là dấu hiện thông th
ường
của một doanh nghiệp khởi sự từ vườn ươm. Chùm doanh nghiệp phần mềm (software
business cluster) là một vườn ươm kết hợp giữa tư nhân và nhà nước ở Silicon Valley được
dành riêng để ươm tạo các doanh nghiệp phần mềm có tiềm năng lớn đã hỗ trợ 5 triệu USD
vốn mạo hiểm cho 2 trong số 15 doanh nghiệp thuê vườn ươm của mình (SJBC, 1997).
Ở Tây Ban Nha và Ý, một công cụ khác cho phép tạo điề
u kiện thuận lợi trong việc tìm
kiếm được nguồn tài trợ là các khoản tín dụng tương hỗ có bảo đảm dựa trên những cam
kết bảo lãnh thanh toán nợ cho các thành viên của các tập đoàn doanh nghiệp. Đối với các
VƯDNCN liên kết với trường đại học, việc cấp vốn có điều kiện về đặc quyền đối với
thành quả đổi mới sản phẩm công nghệ t
ương lai là một phương thức giúp cho các DNCN
đang trong giai đoạn khởi sự được hùn vốn cổ phần. Bản thân vườn ươm cũng có thể cấp
vốn cổ phần cho các doanh nghiệp trong vườn ươm nếu thấy các doanh nghiệp này có khả
năng tạo ra được lợi nhuận tương lai cho vườn ươm cũng như cho sự tăng trưởng của chính

16
mình. Ví dụ VƯDNCN Arizona đã thành lập riêng Quỹ vốn sơ khởi (seed capital), nhờ quỹ
này mỗi doanh nghiệp được ươm tạo có thể nhận ngay lập tức một khoản đầu tư sơ khởi trị
giá 25.000 USD. Ở Israel, VƯDNCN được phép sở hữu 20% giá trị tài sản của doanh
nghiệp được ươm tạo. Trong khi đó, các Trung tâm đổi mới doanh nghiệp châu Âu (BIC)
được đầu tư trực tiếp vào 23% giá trị
của dự án. Các biện pháp trên không chỉ trực tiếp
giúp đỡ các doanh nghiệp khách hàng phát triển trong một giai đoạn cực kỳ quan trọng mà
còn có thể tìm kiếm được sự hỗ trợ và quan tâm của các nhà đầu tư bên ngoài, bao gồm cả
các nhà bảo trợ doanh nghiệp.
1.5.6 Tư vấn pháp luật
Các doanh nghiệp trong VƯDNCN cũng cần đến các dịch vụ tư vấn pháp luật liên quan
đến các vụ chuyển nhượng sở hữu, sáp nhập, liên doanh, dự thảo các hợp đồng cấp phép và

bảo hệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Trong khi dịch vụ tư vấn pháp luật có thể là công việc
quá tốn kém đối với tất cả các vườn ươm để có thể cung cấp trực tiếp, các nhà quản lý
vườ
n ươm có thể hỗ trợ bằng cách duy trì một dịch vụ giải đáp về pháp luật. Sự hỗ trợ pháp
lý cũng có thể thông qua sự giúp đỡ của cộng đồng địa phương, các trường đại học luật
hoặc các doanh nghiệp luật với các dịch vụ tư vấn giá rẻ. Các VƯDNCN trong trường đại
học có thể thiết lập quan hệ với các luật sư thự
c tập, đây cũng có thể được coi là một cách
để hỗ trợ các doanh nghiệp được ươm tạo, ngược lại các sinh viên luật lại có điều kiện để
thực tập và có được những kinh nghiệm thực tế.
Bảo vệ các quyền SHTT có ý nghĩa vô cùng quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp thuê
vườn ươm phát triển thị trường công nghệ của mình cũng như tìm được nguồn tài trợ
cho
R&D công nghiệp cũng như cho giai đoạn ban đầu của doanh nghiệp. Các VƯDNCN
thuộc trường đại học thì thường nắm giữ quyền sở hữu đối với các thành quả nghiên cứu,
đổi mới và chính trường mới có quyền cấp phép quyền sử dụng cho các doanh nghiệp. Ở
các khu công nghệ có quan hệ với nhiều trường đại học thì vườn ươm có thể có những
quan hệ giao dịch với các quy ch
ế về quyền SHTT khác nhau.
Nhìn chung, các VƯDNCN thường môi giới trợ giúp pháp lý về quyền SHTT hơn là cung
cấp một cách trực tiếp các dịch vụ này. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ, ví dụ một số
vườn ươm như Trung tâm phát triển công nghệ tiên tiến (ATDC) của Viện nghiên cứu
công nghệ Georgia đã cung cấp trực tiếp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp được
ươm tạo. Nhân viên của ATDC tư vấn cho doanh nghiệ
p và chỉ cho họ biết làm thế nào để
rà soát lại và chuẩn bị cho việc đăng ký bằng sáng chế phát minh của DNCN.

17
1.5.7 Tổ chức mạng lưới cộng tác
Tổ chức mạng lưới cộng tác cũng là một chức năng cũng rất quan trọng, quyết định sự

thành công của các VƯDNCN. Các vườn ươm có thể tổ chức các diễn đàn/hội nghị về đầu
tư, trong đó quy tụ các nhà đầu tư tiềm năng và các chủ doanh nghiệp thuê vườn ươm. Ví
dụ, Viện nghiên cứu Ottawa – Carlton (Canada) đều tổ chức các hội nghị hằng tháng nhằ
m
trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà điều hành doanh nghiệp. Các VƯDNCN cũng ngày càng
tăng cường cộng tác với các vườn ươm khác ở trong vùng hoặc thậm chí ở các quốc gia
khác để mở rộng các nguồn thông tin của mình. Đây cũng chính là cách thức để thiết lập
thị trường cho các doanh nghiệp thuê vườn ươm của mình và đa dạng hoá cơ sở khách
hàng. Ví dụ tại Áo, 6 Trung tâm đổi mới vùng ở bang Salzburg đã được kế
t nối nhờ Siêu lộ
dữ liệu Salzburg – đây là một mạng lưới rộng cho phép các doanh nghiệp có thể truy cập
vào mạng quốc tế. Ngoài ra, việc duy trì chặt chẽ các quan hệ với các doanh nghiệp đã
trưởng thành và rời khỏi vườn ươm cũng rất quan trọng.
Xu hướng hiện nay đối với các VƯDN nói chung và VƯDNCN nói riêng là cung cấp cả
dịch vụ cho các doanh nghiệp bên ngoài khu vực vườn ươm, được coi là các khách hàng
liên k
ết (có thể gồm cả các doanh nghiệp đã trưởng thành của vườn ươm). Việc VƯDNCN
phục cho các khách hàng liên kết không chỉ giúp nâng cao lợi nhuận của vườn ươm mà còn
là một cách để tiếp thị và giúp các doanh nghiệp thuê vườn ươm hợp tác với các doanh
nghiệp bên ngoài.
Trong khi hầu hết các VƯDNCN được trang bị các phương tiện và cơ sở vật chất ngay tại
đây, một số vườn ươm bắt đầ
u được hình thành nhưng lại không có phương tiện, cơ sở vật
chất mà chỉ được đảm bảo bởi những nhà cung cấp dịch vụ doanh nghiệp và công nghệ cho
các DNV&N đang hoạt động. Lý do của việc hình thành những vườn ươm như vậy là vì
các vườn ươm cần có thời gian để xây dựng hoặc tiếp thu cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị
phù hợp hơn với nhu cầu c
ủa khách hàng. Lý do khác là liên quan tới các chi phí của vườn
ươm có cơ sở vật chất thiết bị với quy mô lớn. Trên thực tế, có một số vùng có ít doanh
nghiệp, tỷ lệ khách thuê của vườn ươm không đủ để vườn ươm có thể trang trải phần kinh

phí đã bỏ ra. Do vậy, việc vườn ươm phụ thuộc vào các nhà tài trợ cũng như cơ sở hạ tầng
công nghệ hiện có đã đưa
đến một giải pháp hình thành “vườn ươm phi ranh giới”
(Incubator without walls) có thể sẽ hiệu quả để giúp các DNCN mới khởi sự phát triển
thuận lợi. Ở Úc, các vườn ươm kiểu này đã được sử dụng để giúp liên kết các doanh nghiệp
bị cách ly ở vùng lãnh thổ phía Tây Bắc thông qua mạng máy tính và viễn thông.


18
CHƯƠNG II. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI
2.1 VƯDNCN Hàn Quốc
2.1.1 Khái niệm về VƯDN ở Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, các khái niệm VƯCN (VƯCN), Trung tâm đổi mới công nghệ (TTĐMCN)
và VƯDNCN hoàn toàn tương tự như VƯDN (VƯDN).
Đối với VƯDN, các trường đại học, các viện nghiên cứu của nhà nước, chính quyền địa
phương và các tổ chức tư nhân đã thành lập các VƯDN với mục tiêu thúc đẩy và hỗ trợ các
DNV&N. VƯDN đỡ đầu cho các doanh nghiệp khởi sự và mang lại các lợi ích và dịch vụ
.
VƯDN là một hình thức hiệu quả để giúp đạt được mục tiêu phát triển trong cả khu vực
của nhà nước và tư nhân. VƯDN nâng cao tỷ lệ thành công của các DNV&N mới đi vào
hoạt động, tăng cường ứng dụng, đổi mới công nghệ, tạo ra các doanh nghiệp mới và tuyển
dụng lao động, phục hồi kinh tế vùng và các hoạt động nghiên cứu của trường đại học, viện
nghiên cứ
u và củng cố nguồn nhân lực kỹ thuật.
VƯCN được hình thành để trợ giúp cho giai đoạn phát triển công nghệ. VƯCN tập trung
ươm tạo các ý tưởng công nghệ hay hoàn thiện các công nghệ mới. Hoạt động của VƯCN
gồm: cử chuyên gia trợ giúp công nghệ, hỗ trợ và tăng cường nguồn vốn cần thiết, hỗ trợ
trong việc sử dụng máy móc, các thiết bị thử nghiệm có liên quan và máy tính. Trong mộ
t
số trường hợp VƯCN cung cấp các phương tiện như viễn thông và thiết bị văn phòng.

TTĐMCN được hình thành để hỗ trợ cho hoạt động R&D và đổi mới công nghệ theo nhu
cầu của khu vực công nghiệp, tập trung đầu tư các nguồn lực vào khu vực trường đại học
hoặc viện nghiên cứu và tiến tới thương mại hoá với sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp hay các
cơ quan nhà nước. Với quan niệm như vậy thì TTĐMCN gần giống/ tương tự như các công
viên công nghệ.
VƯDNCN ở Hàn Quốc được coi như một mô hình kinh doanh của các trường đại học, các
viện nghiên cứu Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức tư nhân nhằm thúc đẩy
và trợ giúp các doanh nghiệp mới có hàm lượng công nghệ cao. VƯDNCN khác biệt với
VƯCN hay TTĐMCN trong việc tăng cường hỗ
trợ thương mại hoá công nghệ đã được
triển khai trước chứ không tập trung các hoạt động khởi sự của các doanh nghiệp.
VƯDNCN cũng khác với VƯDN nói chung ở chỗ chúng liên quan đến các DNCN hay
CNC.

19
2.1.2 Các loại hình VƯDN
VƯDN theo tài trợ
VƯDN của Nhà nước: do Chính phủ hay các cơ quan địa phương thành lập với mục tiêu
phục hồi nền kinh tế, tạo việc làm và phát triển kinh tế vùng.
VƯDN của trường đại học: được thành lập bởi một trường đại học, góp phần vào việc phát
triển của cộng đồng địa phương, tăng cường tiềm lực độc lập của trường
đại học nhờ vào
việc tăng các quỹ nghiên cứu và tận dụng những lợi ích, thương mại hoá một cách nhanh
chóng các kết quả R&D, xác định vị trí thích hợp cho các hoạt động phối hợp chung giữa
trường đại học và khu vực sản xuất, kinh doanh.
VƯDN tư nhân: do các doanh nghiệp tư nhân thành lập nhằm hỗ trợ một cách chọn lọc các
DNV&N có triển vọng và thu lợi nhuận qua việc đầu tư vào chính doanh nghi
ệp được ươm
tạo.
VƯDN liên doanh giữa nhà nước và tư nhân: do các cơ quan nhà nước, các trường đại học

và khu vực tư nhân thành lập và vận hành.
VƯDN theo vị trí
VƯDN trong khu vực trường đại học: sử dụng bí quyết kỹ thuật (know-how) đã được tích
luỹ và thiết bị của trường đại học để hỗ trợ cho công nghiệp CNC, có khả năng thương mại
hoá nhanh chóng các kết qu
ả nghiên cứu của các trường đại học.
VƯDN trong khu vực đô thị: dễ dàng hoạt động thông qua việc sử dụng các toà nhà và
trang thiết bị tại khu vực đô thị. VƯDN loại này đóng một vai trò quan trọng trong vệc
phục hồi nền kinh tế, đặc biệt tại các trung tâm đô thị.
VƯDN ở khu vực nông thôn: Mặc dù VƯDN loại này có những bất lợi vì ở xa nhiều nguồn
lực nhưng chúng cũng có những thuận lợi nhất định trong việc sử dụng các nguồn lực từ cơ
sở địa phương đến toàn bộ vùng. VƯDN ở nông thôn góp phần khôi phục kinh tế khu vực
của các vùng nông thôn và nâng cao thu nhập.
VƯDN theo các loại doanh nghiệp tham gia trong vườn ươm
VƯDN đặc thù: Thực hiện, hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp khởi sự bằng việc
cho thuê không gian hoạt động, các ph
ương tiện và dịch vụ theo yêu cầu đặc thù trong các
ngành công nghiệp khác nhau. Do những tiêu chí như vậy nên VƯDN loại này chỉ có thể
cho thuê một lượng khách hàng nhất định.

20
VƯDN phi đặc thù: các khách thuê có thể là bất kỳ loại doanh nghiệp nào trong các ngành
công nghiệp, cung cấp tối thiểu các phương tiện phổ biến như thiết bị văn phòng, nhu cầu
điều hành chuyên nghiệp để hỗ trợ cho năng lực quản lý trung bình của doanh nhân.
VƯDN theo cơ cấu tổ chức
VƯDN được quản lý gọn nhẹ: Bao gồm một nhà quản lý và ba hoặc bốn nhân viên (chẳng
hạn nh
ư thư ký hành chính, nhân viên lễ tân/đánh máy và thư ký); tiến hành các công việc
văn phòng thông thường, các dịch vụ hỗ trợ và các hoạt động quản lý tổng hợp. Ngoài ra
VƯDN còn liên kết với nhiều khách hàng thuê ở các tổ chức bên ngoài để hỗ trợ công

nghệ, thiết bị cho các khách hàng của mình.
VƯDN chuyên biệt về chức năng: được tổ chức theo chức năng với một nhà quản lý và ba
hay bốn phòng ban chuyên môn. VƯDN được phân thành các b
ộ phận như: quản lý và kế
hoạch, hỗ trợ hoạt động và tư vấn quản trị, các dịch vụ được cung cấp đến doanh nghiệp
được nhận đầu tư.
2.1.3 Tổ chức và hoạt động của mô hình VƯDNCN
VƯDNCN có các đặc thù phù hợp với các điều kiện khác nhau, chẳng hạn như mục đích
và địa điểm xác định. Tuy nhiên, đối với bất kỳ VƯDNCN nào cũng cần xem xét đến ba
yếu tố cơ bản là nhà đầu tư, tổ chức vận hành, doanh nghiệp thuê trong vườn ươm.
Thứ nhất, nhà đầu tư cung cấp cho vườn ươm các nguồn vốn đầu tư xây dựng/cho thuê,
mua thiết bị và triển khai hoạt động. Các nhà đầu tư thương mại thường đầu tư trực tiếp
cho các doanh nghiệp có triển vọng để thuê vườn ươm.Các nhà đầu tư tư nhân sở hữu cổ
phần hoặc trong các doanh gnhiệp triển vọng và thu lợi nhuận từ các cổ phần này khi
doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thứ hai, tổ chức vận hành hướng dẫ
n các hoạt động thực tiễn chẳng hạn như chọn lựa,
ươm tạo và kiểm chứng sự trưởng thành của các doanh nghiệp khách hàng với sự hỗ trợ tài
chính từ các nhà đầu tư. Các trường đại học, viện nghiên cứu và các cơ quan Chính phủ
cũng thường gánh vác một số trách nhiệm nhất định.
Tổ chức vận hành cung cấp các phương tiện ươm tạo thông thường, hướng dẫ
n quản lý và
sắp xếp tìm kiếm các nguồn vốn cho các doanh nghiệp khách hàng nhưng cũng nhận được
tiền cho thuê vườn ươm và thu phí từ dịch vụ tư vấn.
Nhìn chung, các nhà quản lý VƯDNCN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và nghĩa vụ tài
chính. Vấn đề quan trọng nhất của VƯDNCN là tìm được một nhà quản lý được chính

21
quyền, các ngân hàng, giới các nhà KH&CN tôn trọng. Một nhà quản lý VƯDNCN cần có
các năng lực về kỹ thuật và quản lý, nắm vững các đặc thù của quy trình khởi sự DNV&N.

Thứ ba, khách hàng là các DNCN vừa và nhỏ, chẳng hạn như trong các ngành điện tử, máy
tính, phần mềm, kỹ thuật di truyền, cơ điện, cơ khí chính xác. Các doanh nghiệp được
VƯDNCN nhận ươm tạo phải là những doanh nghiệp có khả
năng đóng góp cho sự phát
triển kinh tế và công nghệ quốc gia. Doanh nghiệp có khả năng phát huy những điều kiện
thuận lợi trong VƯDNCN như sự hướng dẫn về kỹ năng quản lý, hướng dẫn kỹ thuật, sử
dụng vốn và hỗ trợ điều hành. Doanh nghiệp có trách nhiệm trả chi phí cho việc thuê mặt
bằng, phương tiện R&D, kinh doanh, dịch vụ tư vấn, nh
ưng cũng được VƯDNCN chia sẻ
khá nhiều lợi ích khác.
2.1.4 Vai trò và sự cần thiết thành lập VƯDNCN
Vai trò của VƯDNCN
Giảm thiểu các chi phí hoạt động của các nhà kinh doanh công nghệ do giá thuê rẻ và sử
dụng chung máy móc, văn phòng; tăng tỷ lệ thành công của các DNV&N trong các giai
đoạn đầu qua sự đa dạng hoá các nguồn lực hỗ trợ về tài chính, thông tin, công nghệ và
quản lý (kể cả hướng dẫn quản lý, hướng dẫn công nghệ của trường đại học, các nhà khoa
học của viện nghiên cứu), trao đổi thông tin giữa khách thuê và sử d
ụng vốn mạo hiểm.
Góp phần vào sự phục hồi kinh tế địa phương, thú đẩy thương mại hoá các ứng dụng đổi
mới công nghệ qua việc hỗ trợ cho các DNCN.
Sự cần thiết thành lập VƯDNCN
Do việc hạn chế trong CGCN từ các nước tiên tiến, các quyền SHTT ngày càng được quy
định chặt chẽ hơn, nhu cầu sở hữu các kết quả R&D ngày càng tăng.
Cần có nhiều DNCN mới
để thương mại hoá nhanh chóng các kết quả nghiên cứu và đối
mặt với sự cạnh tranh công nghệ trên bình diện quốc tế gay gắt.
Trong phạm vi quốc gia, VƯDNCN là cần thiết để thực hiện tái cơ cấu công nghiệp theo
hướng tập trung hơn nữa vào công nghệ và tạo việc làm trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế.
Thông qua sự phản ứng của các trường đại học với việc đẩ
y mạnh nghiên cứu và hỗ trợ cho

việc tạo ra các dự án kinh doanh mạo hiểm công nghệ. VƯDNCN củng cố, bồi dưỡng đội
ngũ lao động có chất lượng cao và năng lực nghiên cứu bền vững.
Từ một hệ thống phát triển tập trung hoá, hiện nay đang diễn ra một sự chuyển dịch tập
trung vào việc khôi phục nền kinh tế địa phương do yêu cầu của các chính quyền s
ở tại.

22
VƯDNCN cung cấp những phương tiện quan trọng cho kiểu hệ thống phát triển dựa trên
nguyên tắc phi tập trung hoá này.
Để tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, VƯDNCN cần thiết cho việc xây dựng
các hệ thống phát triển công nghệ trên bình diện quốc gia. VƯDNCN thiết lập một hệ
thống hợp tác thông qua việc tổ chức mạng lưới các tổ chức hàng đầu trong hệ
thống phát
triển công nghệ phi tập trung hoá là điều cần thiết.
2.1.5 Tác động của VƯDNCN
Thuận lợi đối với các doanh nghiệp khách hàng của VƯDNCN
Giảm các khoản đầu tư và chi phí hoạt động ban đầu nhờ giá thuê rẻ và việc sử dụng chung
nhiều loại phương tiện.
Hỗ trợ của VƯDNCN trong việc quản lý, công nghệ, thông tin, tài chính và tư vấn, bù đắp
cho sự thiếu kinh nghiệm quản lý của các nhà sáng lập doanh nghiệp mới, do đó cho phép
họ có điều kiện tập trung phát triể
n sản phẩm và thị trường.
Khách thuê sẽ giảm bớt rủi ro và sai sót bằng việc chia sẻ các kinh nghiệm và đạt được sự
liên kết năng động với các doanh nghiệp khác trong VƯDNCN thông qua việc chia sẻ các
nguồn lực cho phát triển.
Tất cả những thuận lợi như vậy sẽ giúp giảm bớt rủi ro đầu tư và kinh doanh, tăng cường
khả năng tồn tại và thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thuậ
n lợi như trên sẽ còn
phụ thuộc nhiều vào mỗi nhà đầu tư.
Thứ nhất, nhà đầu tư là nhà nước: VƯDNCN của nhà nước là tạo việc làm và phục hồi,

phát triển kinh tế địa phương. Mục đích quan trọng khác là chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa
phương và bảo đảm nền tảng kinh tế. Tạo việc làm, tăng thu nhập, sử dụng tối đ
a trang
thiết bị và các nguồn lực chưa được khai thác, khôi phục kinh tế các địa phương còn trì trệ
là những thuận lợi chủ yếu của VƯDNCN nhà nước.
Thứ hai, nhà đầu tư là trường đại học: trường đại học có thể đáp ứng cho các nhà kinh
doanh bên ngoài bằng chính các kết quả nghiên cứu của trường, thương mại hoá kết qủa
nghiên cứu thông qua việc hình thành và vận hành các VƯDNCN của riêng mình.

DNCN sẽ góp phần nâng cao uy tín của trường đại học thông qua việc cho thuê không
gian trong trường, công nghệ, phương tiện làm việc và nghiên cứu. VƯDNCN giúp cho các
khách hàng bên ngoài nhận thức được rằng các kết quả nghiên cứu của trường đại học có
tiềm năng để thương mại hoá và từ đó có thể huy động các nguồn vốn từ nhiều nguồn lực

23
khác nhau. Ngoài ra, bằng việc hình thành VƯDNCN, các trường đại học tạo ra cơ hội cho
các giáo sư, sinh viên mới tốt nghiệp khởi đầu công việc kinh doanh của riêng họ.
Thứ ba, các nhà đầu tư tư nhân: nhà đầu tư tư nhân có thể thiết lập và vận hành các
VƯDNCN với mục đích thương mại và hợp tác kinh doanh với các khách hàng thuê vườn
ươm. Họ có thể thực hiện các vụ đầu tư với t
ỷ lệ rủi ro và chi phí ít hơn qua việc thu nhận
một cách chọn lọc các doanh nghiệp có triển vọng vào vườn ươm trong khi vẫn nhận được
các khoản thu nhập đều đặn từ việc thuê mặt bằng và dịch vụ đủ để trang trải các chi phí
vận hành.
Thứ tư, các nhà đầu tư hợp doanh (nhà nước và tư nhân) có thể tìm thấy các mục tiêu linh
hoạt và rộng lớn hơn so và các nhà đầu tư kể
trên. Họ đóng vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế trên các phương diện phúc lợi công cộng, mặt khác họ mang lại cơ hội đầu tư
cho các nhà đầu tư tư nhân qua việc tài trợ cho doanh nghiệp tham gia vào các chương
trình thành lập doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm công nghệ của chính phủ, đôi khi đầu

tư tập trung vào một số ngành công nghiệp tăng trưởng cao.
Tóm lại, việc thành lập các VƯDNCN có thể nâng cao tỷ lệ thành công của các DNCN
m
ới thành lập, đồng thời đóng góp vào sự phát triển của kinh tế địa phương. Hơn nữa
VƯDNCN còn tạo ra một môi trường khuyến khích việc thành lập dnKH&CN và thương
mại hoá các kết quả nghiên cứu. Hiệu quả khác của VƯDNCN là nâng cao khả năng tồn tại
và phát triển cho các DNCN, vì vậy thúc đẩy cạnh tranh quốc tế và các cơ cấu công nghiệp
ở trình độ cao.
2.1.6 Chính sách đối với VƯDNCN
Những vấn đề trong việc triển khai VƯDNCN
Có một vấn đề khác biệt quan trọng giữa Hàn Quốc và một số quốc gia tiên tiến khác (đặc
biệt là Hoa Kỳ) liên quan đến cơ chế 4M (tiền-money, nhân lực-men, nguyên liệu-materials
và quản lý-management), các yếu tố then chốt cho nghiên cứu và tạo ra doanh nghiệp. Do
vậy, cần phải tính đến những khác biệt trong việc thành lập và triển khai kế hoạch hoạt
động phù hợp cho VƯDNCN.
Các doanh nghiệp nước ngoài rất năng động và thường tham gia nghiên cứu chung với các
trường đại học, uỷ thác nghiên cứu và trao tặng học bổng, trong khi đó các doanh nghiệp
Hàn Quốc tham gia tương đối thấp vào các hoạt động này.
Tại các quốc gia tiên tiến, quan niệm phát triển địa phương/vùng thông qua các mối liên
kết hữu cơ giữa các tổ hợp nghiên cứu, các tổ hợp công nghệ và các trường đại học là phổ

×