CÁC NGUYÊN TẮC CỦA WTO
I.
Không phân biệt đối xử
1.1. Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Dành ưu đãi như nhau cho mọi đối tác.
Nói cách khác các thành viên của WTO không được phép đối xử phân
biệt giữa các “sản phẩm tương tự” của các đối tác thương mại nước
ngoài trên lãnh thổ thành viên đó.
Ví dụ:
Trước khi gia nhập WTO:
+ Việt Nam xuất khẩu Cà phê sang Mỹ áp dụng mức thuế
nhập khẩu là 20%
+ Mỹ xuất khẩu máy tính sang Việt Nam và VN áp dụng
mức thuế nhập khẩu là 50%
VN khơng chỉ nhập khẩu máy tính từ Mỹ mà cịn nhập khẩu máy tính
từ rất nhiều nước khác như Nhật, Hàn Quốc, Đức,... với mức thuế
nhập khẩu là 20%
Tương tự, Mỹ cũng nhập khẩu cà phê từ nhiều nước (Braxin,
Colombia) với mức thuế là 0%.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO:
+ Cà phê VN khi xuất sang Mỹ sẽ được tính thuế nhập
khẩu là 0%
+ Máy tính của Mỹ khi nhập khẩu vào VN sẽ chịu mức
thuế nhập khẩu là 20%.
1.2. Đãi ngộ quốc gia (NT): Đối xử bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân trong
nước và các tổ chức, cá nhân nước ngoài, giữa các thành phần kinh tế.
Ví dụ:
Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam áp thuế tiêu thụ
đặc biệt 30% đối với thuốc lá nội địa, áp mức thuế tiêu
thụ đặc biệt 60% đối với thuốc lá nhập khẩu từ Thái
Lan, Đức
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải áp thuế tiêu thụ
đặc biệt đối với thuốc lá nội địa, rượu nhập khẩu từ
Thái Lan, Đức như nhau, đều là: 30% nếu như các sản
phẩm là tương tự nhau.
1.3. Ngoại lệ của nguyên tắc đối xử bình đẳng
Điều XIV của GATT cho phép phân biệt đối xử trong 1 số các
trường hợp liên quan đến áp dụng các hạn chế định lượng nhập
khẩu.
Các nước CN phát triển đã dành cho hầu hết các nước đang
phát triển hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), khơng u
cầu có đi có lại.
Hình thành liên minh hải quan, FTA,...
Áp dụng các biện pháp tự vệ …
II.
1.
a.
Thương mại tự do hơn
Khái quát
Định nghĩa:
Phương pháp “Thương mại tự do hơn” nghĩa là đưa ra các ràng buộc và thúc
đẩy các nước thành viên mở cửa thị trường.
Thương mại ngày càng tự do hơn là một nguyên tắc xuyên suốt Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (GATT) và WTO. GATT và WTO đã
đưa ra các điều khoản và quy tắc nhằm ràng buộc và thúc đẩy các nước
thành viên mở cửa thị trường.
b. Các vòng đàm phán:
GATT là hiệp định đầu tiên về cắt giảm thuế quan trọng thương mại đa biên.
Với tám Vòng đàm phán của GATT, thuế quan hàng công nghiệp đã giảm
một cách căn bản. Việc dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan cũng từng bước
được đưa vào đàm phán và thực thi. Trước hết đó là hạn ngạch và một số
hạn chế định lượng hạn chế nhập khẩu khác.
Nhất là vào thập niên 80 của thế kỷ 20, các rào cản phi thuế được dỡ bỏ hoặc
đưa vào điều chỉnh với các hiệp định về thương mại hàng hóa được ký kết ở
Vịng đàm phán Uruguay.
Vòng đàm phán Uruguay đã mở rộng tự do hóa thương mại sang các lĩnh
vực mới là dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Hiệp định chung về Thương mại Dịch
vụ (GATS) đã quy định nghĩa vụ pháp lý của các Thành viên đối với các
cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ. Bên cạnh đó Khía cạnh Liên quan đến
Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS) với các quy tắc về bảo hộ
Quyền sở hữu trí tuệ đã đưa ra một khn khổ pháp lý an tồn hơn cho tự do
hóa thương mại.
2. Nội dung pháp lý
Trong khn khổ của WTO, tự do hóa thương mại tiếp tục được thúc đẩy thông
qua đàm phán. Một số kết quả ban đầu đã đạt được thông qua các thỏa thuận mở
cửa hơn nữa thị trường tài chính, ngân hàng, tiếp tục giảm thuế đối với hàng phi
nông nghiệp...
a. Giảm thuế quan đối với thương mại hàng hóa
Cơ sở pháp lý:
Điều II GATT
Điều XXVIII GATT
Điều XXVIII GATT
Điều IX: 3 Hiệp định Marrakesh
Nội dung:
Về nguyên tắc, các thành viên WTO được tự do áp đặt thuế đối với sản
phẩm nhập khẩu.
Khi gia nhập WTO: Các thành viên phải cam kết một mức thuế trần trong
Biểu thuế xuất nhượng bộ và cam kết không nâng mức thuế quan đối với
một sản phẩm cao hơn mức đã thoả thuận.
Biểu thuế xuất nhượng bộ
Đây là văn bản ghi lại kết quả đàm phán, cam kết về thuế quan của mỗi
thành viên khi gia nhập WTO, theo danh mục hàng, mã thuế, thuế suất cam
kết tại thời điểm gia nhập, thuế suất cam kết cắt giảm, thời hạn thực hiện
Biểu nhượng bộ thuế quan của thành viên là kết quả của các cuộc đàm phán
tại Vịng Uruguay và được đính kèm vào Nghị định thư Marrakesh của
GATT và là một bộ phận không tách rời của GATT theo quy định tại khoản
7 Điều II.
VD: Biểu thuế xuất nhượng bộ
b.
Cấm áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng đối với TMHH
Cơ sở pháp lý:
Điều XI GATT
Điều XIII GATT
Nội dung:
GATT đặt ra nghĩa vụ chung là cấm áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng
đối với cả xuất khẩu và nhập khẩu
Trong WTO, các “biện pháp hạn chế số lượng” là các quy định do một thành
viên đưa ra nhằm hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu/xuất khẩu từ
nước mình.
Các hình thức của biện pháp hạn chế số lượng xuất khẩu, nhập khẩu như:
Cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu;
Hạn ngạch (Quota)
Giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập khẩu…
Hạn ngạch thuế quan (TRQs) và Hạn ngạch (QUOTA)
Hạn ngạch
(TRQs)
thuế
quan Hạn ngạch (QUOTA)
- Là mức hạn ngạch mà ở - Là biện pháp số lượng, theo đó nước xuất khẩu
đó thuế quan có sự thay đổi chỉ được xuất 1 số lượng hàng hóa khơng vượt
q mức mà nước nhập khẩu cho phép
- Cho phép nhập khẩu - Không cho phép nhập khẩu ngoài khối lượng
ngoài khối lượng hạn hạn ngạch thông thường đã ấn định
ngạch thuế quan đã ấn định
- Là biện pháp tương - Là biện pháp phi thuế quan
đương thuế quan
Một thương nhân muốn nhập khẩu một sản phẩm chịu hạn ngạch hay hạn
ngạch thuế quan, sẽ phải nộp đơn xin giấy phép nhập khẩu.
Việc cấp giấy phép nhập khẩu sẽ phụ thuộc vào việc hạn ngạch đã được
sửdụng hết hay chưa
c. Giảm dần và tiến tới xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan khác đối với
TMHH
Cơ sở pháp lý
Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại - TBT
Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật - SPS
Hiệp định về kiểm định trước khi xếp hàng - PSI
Hiệp định về quy tắc xuất xứ - RoO,…
Hàng rào phi thuế quan (NTBs), ngoài các biện pháp hạn chế số lượng (ví
dụ: hạn ngạch) cịn có các biện pháp phi thuế quan khác như Quy định về
thủ tục hải quan, rào cản kĩ thuật đối với thương mại
3. Ngoại lệ của nguyên tắc
Các trường hợp ngoại lệ chung (Điều XX GATT)
Ngoại lệ liên quan đến an ninh (Điều XXI GATT)
Ngoại lệ trong trường hợp mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế (Điều
XII, Điều XVIII GATT)
Trường hợp miễn trừ nghĩa vụ (Điều IX:3 Hiệp định Marrakesh)
Các nước thành lập khu vực thương mại tự do và liên minh hải quan (Điều
XXIV GATT)
Các nước thực hiện biện pháp khẩn cấp khi nhập khẩu tăng đột biến/tự vệ
thương mại (Điều XIX GATT)
Các nước thực hiện “Điều khoản không áp dụng” (Điều XXXV GATT)
Các hiệp định của WTO không bắt buộc các Thành viên phải nhanh chóng tự do
hóa thương mại. Chúng khơng chỉ cho phép các Thành viên tiến hành cải cách và
tự do hóa thương mại một cách từ từ với các bước quá độ mà cịn tạo ra một cơ chế
an tồn cho cải cách. Các cơ chế an tồn đó có rất nhiều điều khoản ngoại lệ cho
các Thành viên là các nước đang và kém phát triển, đó là các ngoại lệ liên quan
đến an ninh quốc gia, vệ sinh, an tồn và mơi trường. Ngồi ra, đó cịn là các quy
tắc về các biện pháp tự vệ, các biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp đánh
thuế đối kháng…
4. Tình hình Thương mại tự do của Việt Nam
Khi Việt Nam mới gia nhập WTO, quy mô của nền kinh tế và quy mô nền thương
mại nước ta rất nhỏ. Tuy nhiên sau 1 khoảng thời gian tận dụng tốt những ưu điểm
và tiềm năng về của đất nước và con người thì nền kinh tế và thương mại của
chúng ta đang vươn lên mạnh mẽ. Hiện nay, Việt Nam là 1 trong 20 nước hàng đầu
của WTO về lĩnh vực thương mại, tiếng nói của Việt Nam trong tổ chức ngày càng
được củng cố. Ví dụ điển hình là trong Hội nghị cấp Bộ trưởng lần thứ 12 của
WTO (MC12) năm 2022 tổ chức tại Thụy Sĩ, nhóm điều phối riêng là EU đã mời
riêng Việt Nam tham gia và chúng ta đã đưa ra sáng kiến thành lập 1 nhóm các bộ
trưởng thường xuyên trao đổi - hạt nhân để thúc đẩy kết quả của các hội nghị tồn
cầu về lĩnh vực thương mại. Ngồi ra cịn phải kể đến trong Hội nghị MC12 vừa
qua, WTO đã đạt được 1 thỏa thuận lớn về vấn đề xóa bỏ trợ cấp thủy hải sản. Việt
Nam đã cùng với 1 nhóm các nước khác trong hiệp định CPTPP đã có quy tắc về
chống trợ cấp đánh bắt thủy sản bất hợp pháp. Như vậy Việt Nam là 1 trong số ít
nước trong khu vực tiên phong đồng thuận phương án này và đa phương hóa việc
đồng thuận ấy giữa các nước. Điều đó cũng 1 phần khẳng định sức ảnh hưởng của
Việt Nam.
Trong diễn biến kinh tế, thương mại thế giới vài năm qua, nhất là cuộc chiến
thương mại Mỹ - Trung, Nga - Ukraine hay sự nghiêm trọng của đại dịch COVID19 đang và sẽ có những tác động nhất định tới kinh tế, thương mại Việt Nam.
Ở đây bọn mình sẽ phân tích 1 ví dụ cụ thể về tình hình thương mại tự do của Việt
Nam trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung để làm rõ hơn.
Lợi thế:
Các hàng rào thuế quan mà Mỹ và Trung Quốc áp bổ sung cho nhau vơ hình
trung làm tăng cơ hội xuất khẩu hàng hóa cho các nước thứ ba, trong đó có
Việt Nam. => Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Mỹ khi hàng hóa của Trung Quốc
bị hạn chế.
Các cơng ty đa quốc gia lớn trên thế giới chuyển một phần hoặc toàn bộ các
cơ sở sản xuất ở Trung Quốc sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Do
đó, dịng vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) vào Việt Nam có thể tăng
trong bối cảnh dịng vốn FDI vào các nước bị Mỹ đánh thuế cao có xu
hướng chững lại.
Bất lợi:
Khi hàng rào thuế nhập khẩu vào Mỹ được áp dụng, khó khăn về đầu ra có
thể khiến hàng hóa của Trung Quốc được đẩy sang thị trường Việt Nam và
cạnh tranh với hàng Việt Nam ở các thị trường nước thứ ba khác.
Mặt khác, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc sẽ khó khăn
hơn vì Trung Quốc tăng cường thực thi các biện pháp bảo vệ thị trường nội
địa. Vì vậy, nguy cơ thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc có
thể gia tăng trong thời gian ngắn.
Việt Nam có thể trở thành nơi trung chuyển cho hàng hóa Trung Quốc để
xuất khẩu sang Mỹ và ngược lại. Hàng hóa và các DN xuất khẩu Việt Nam
dễ bị rơi vào tầm ngắm kiểm tra của Mỹ.
Theo một nghiên cứu của Capital Economics, nếu chính quyền Tổng thống
Mỹ áp thuế quan 25% lên hàng nhập khẩu từ Việt Nam tương tự như đã làm
với hàng Trung Quốc, Việt Nam có thể sẽ mất đi 25% doanh thu xuất khẩu,
tương đương hơn 1% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Thiệt hại này sẽ xóa
sạch lợi ích ước tính 0,5% GDP mà Việt Nam đạt được trong năm qua từ
cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.
III.
Minh bạch hóa và có thể dự đốn
1. Tình huống:
Sự cần thiết trong việc minh bạch khi tham gia thương mại thế giới:
Thương nhân A kí hợp đồng mua một container hoa tulip của thương
nhân nước B. Sau đó, Chính phủ nước A đưa ra quy định tăng thuế nhập
khẩu mặt hàng tulip. Do quy định này lại không được công khai minh bạch,
khi hàng đến nước A, thương nhân hai bên mới liên lạc giải quyết. Khi giải
quyết được thì hàng tồn đọng ở cảng đã hư hỏng, gây thiệt hại cho cả 2 bên.
Ngun nhân gây thiệt hại: Khơng có sự cơng khai các quy định pháp
luật để thương nhân có thể giải quyết, dự đốn và tính tốn được giá cả.
2. Nguyên tắc minh bạch:
Đưa ra các cam kết ràng buộc khi mở cửa thị trường. Điều đó có nghĩa là
phải đưa ra mức trần của cam kết trong đàm phán mở cửa thị trường.
Ví dụ: Trong thương mại hàng hóa,nước A trong đàm phán mở cửa thị trường có
thể đặt cam kết ràng buộc đối với thuế nhập khẩu gạo là 20%. Khi cam kết mở cửa
thị trường có hiệu lực, nước A đó sẽ khơng được tăng thuế vượt mức đó.
Bãi bỏ hạn ngạch, các biện pháp hạn chế định lượng, trừ một số ngoại lệ và
những biện pháp khác có thể làm giảm tính minh bạch của mơi trường kinh
doanh.
Chính phủ các Thành viên công bố công khai và đảm bảo công chúng trong
và ngồi nước tiếp cận dễ dàng các chính sách, quy định liên quan đến
thương mại.
Thành lập các cơ quan có thẩm quyền rà sốt các quyết định hành chính có
ảnh hưởng đến thương mại.
Các thành viên phải bảo đảm sự phù hợp giữa luật lệ và chính sách của mình
và các hiệp định WTO.
3. Mục đích:
Giúp các thương nhân, chính phủ các thành viên dự đốn trước về hệ thống
pháp lý và chính sách về thương mại quốc tế của các thành viên, phát hiện
sớm các biện pháp vi phạm quy định của WTO
Hạn chế những rủi ro, tranh chấp có thể xảy ra do các quy định pháp luật
khơng được cung cấp một cách chính xác và kịp thời
Bảo đảm mơi trường chính sách ổn định và có thể dự đốn được
4. Cơ quan rà sốt chính sách thương mại quốc tế( WTO)
TRPB rà soát dựa trên báo cáo của thành viên đang được rà soát và báo cáo
do nhà kinh tế học thuộc Bộ phận TPR của Ban thư ký chuẩn bị.
Mục đích: Đảm bảo chính sách minh bạch hóa và tuân thủ
Cơ quan tiến hành: Cơ quan Rà soát chính sách Thương mại( Trade Policy
Review Body)
TPRB gồm đại diện tất cả các thành viên của Đại hội đồng
Thực hiện: Thường xuyên, định kì.
Các thành viên sẽ tiến hành rà sốt chính sách thương mại và hành vi
thương mại một cách định kỳ dựa theo tỷ trọng của thành viên đó trong
thương mại thế giới, cụ thể:
Nhóm 4 thành viên và khu vực có tỷ trọng thương mại lớn nhất: (hiện nay
là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc) sẽ có tần suất rà sốt 2 năm 1 lần
Nhóm 16 thành viên tiếp theo sẽ có tần suất 4 năm 1 lần
Các thành viên khác có tần suất 6 năm 1 lần;
Các thành viên kém phát triển nhất (LCDs) có thể được áp dụng một giai
đoạn rà soát dài hơn.
Việt Nam rà soát 6 năm/1 lần
( Phần cơ quan rà soát làm giống 2 slide mà trang gửi trong zalo)
5. Liên hệ Việt Nam
Các cam kết của Việt Nam về minh bạch hóa trong WTO:
Nghĩa vụ đăng tất cả các biện pháp thương mại:
VN có nghĩa vụ đảm bảo tất cả các luật, quy định, nghị định của tòa án và các
quyết định hành chính có tính áp dụng chung phải được đăng trước khi có hiệu lực
hoặc trước khi được thi hành, ngoại trừ các quy định, quyết định liên quan đến
tính trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia.
Nghĩa vụ lấy ý kiến của công chúng đối với các dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật:
Liên quan đến các luật, pháp lệnh và các quy định khác được đệ trình và các biện
pháp được Quốc hội và Chính phủ ban hành hoặc ảnh hưởng tới thương mại hàng
hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ, Việt Nam dành một khoảng thời gian hợp lý( >=60
ngày) cho các Thành Viên, cá nhân, hiệp hội, doanh nghiệp để đóng góp ý kiến
cho các cơ quan có liên quan trước khi những biện pháp được thơng qua. Chính
phủ sẽ xem xét những ý kiến nhận được trong thời gian lấy ý kiến đóng góp ngoại
trừ trong trường hợp những quy định hoặc biện pháp liên quan đến tình trạng khẩn
cấp hoặc an ninh quốc gia.
Nghĩa vụ thông báo về các biện pháp thương mại được ban hành hoặc sửa
đổi:
Chậm nhất là vào thời điểm gia nhập, VN sẽ nộp tất cả các bản thơng báo ban đầu
theo u cầu của bất kì hiệp định nào của WTO. Bất kì luật,quy định hoặc các biện
pháp nào khác được Việt Nam ban hành sau đó mà được quy định là phải thơng
báo theo Hiệp định WTO, sẽ được thông báo vào một thời điểm và theo cách thức
phù hợp với các quy định WTO.
Nghĩa vụ thành lập Điểm hỏi đáp cung cấp thông tin cho các thành viên
quan tâm về vấn đề cụ thể
Việt nam thành lập điểm hỏi đáp để cung cấp các thông tin cụ thể, theo yêu cầu,
cho các nước thành viên WTO khác về các vấn đề liên quan đến thương mại dịch
vụ, các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật. Phạm vi yêu cầu hỏi đáp khá sâu rộng, liên
quan đến các luật, quy định, nghị định, các quyết định tịa án và quyết định hành
chính có tính áp dụng chung.
Nghĩa vụ liên quan đến rà sốt chính sách thương mại:
Là một thành viên của WTO, Vn có nghĩa vụ phải tham gia thực hiện các rà sốt
chính sách thương mại định kỳ theo thủ tục được quy định tại Phụ lục 3 hiệp định
Marrakesh. Việc rà soát được thực hiện theo Cơ chế rà soát chính sách thương mại
theo phụ lục 3 gồm tất cả các nội dung khuôn khổ pháp luật ảnh hưởng đến thương
mại , bao gồm các chính sách và thực tiễn có liên quan của các cơ quan có thẩm
quyền chính phủ Việt Nam.
IV.
Khuyến khích cạnh tranh cơng bằng
- Ngun tắc này có thể hiểu là việc tăng cường cạnh tranh lành mạnh giữa các
quốc gia thành viên nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng, hạn chế các tác
động của những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh như các biện pháp trợ
giá… theo đó, các quốc gia thành viên được tự do cạnh tranh trong điều kiện bình
đẳng như nhau, nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng.
- WTO luôn chủ trương tăng cường cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong thương
mại quốc tế thông qua việc để cho chất lượng, giá cả; theo đó, khơng được dùng
quyền lực Nhà nước để thực hiện việc áp đặt, bóp méo tính lành mạnh cũng như
cơng bằng của cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Nguyên tắc cạnh tranh công
bằng hay tăng cường cạnh tranh lành mạnh là nguyên tắc đã được WTO nhấn
mạnh trong các lĩnh vực khác nhau của thương mại hàng hoá như quyền và nghĩa
vụ của doanh nghiệp Nhà nước; quyền cấp giấy kinh doanh xuất, nhập khẩu; quyền
cấp hạn ngạch; trợ cấp; bán phá giá; quyền quản lý ngoại hối; quản lý giá và các
hoạt động trong lĩnh vực phi thuế quan khác. Bên cạnh đó, WTO cũng có nhiều
hiệp định khác nhau trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ nhằm tăng
cường cạnh tranh lành mạnh giữa các quốc gia thành viên.
- Mục đích: Thúc đẩy tự do hóa thương mại,lập lại sự công bằng trong TMQT
bằng cách hạn chế những biện pháp cạnh tranh TM không lành mạnh
- Cơ sở pháp lý
Điều VI GATT, Điều XVI GATT
v Hiệp định về chống bán phá giá (ADA)
v Hiệp định về trợ cấp và cácbiện pháp đối kháng (SCM)
v Hiệp định về các biện pháp tự vệ (SA)
v Hiệp định về định giá hải quan (ACV)
v Hiệp định kiểm tra sản phẩm trước khi xuống tàu (PSI)
v Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại
(TBT)
v Hiệp định về biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS)
v Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (ILP)…
V.
2.
3.
a.
Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế
Đưa ra các điều khoản đặc biệt trong các HĐ nhằm dành ưu đãi cho thành
viên là các nước đang và kém phát triển
→ Nguyên tắc ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển
1. Cơ sở pháp lý
Điều XVIII GATT, Phần IV GATT, và trong nhiều quy định khác trong các
hiệp định của WTO
Khái niệm:
Nguyên tắc này bao gồm những ưu đãi thương mại dành cho các thành viên
đang phát triển (DCs), bao gồm cả thành viên chậm phát triển (LDCs) và
thành viên có nền kinh tế chuyển đổi của WTO.
Mục đích:
Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các thành viên đang phát triển
và các nền kinh tế chuyển đổi
Nội dung
Miễn/giảm nghĩa vụ tự do hóa thương mại trong việc thực hiện các hiệp
định của WTO.
Ví dụ: kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ
Theo Hiệp định SPS (Điều 9, 10 và 14 )
Các nước thành viên nhất trí tạo điều kiện và giúp đỡ các thành viên đang
phát triển và chậm phát triển trong lĩnh vực công nghệ xử lý, nghiên cứu và cơ sở
hạ tầng, đào tạo
Các thành viên kém phát triển nhất có thể hỗn áp dụng các điều khoản Hiệp
định trong thời gian 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Đối với các nước đang
phát triển là 2 năm.
b. Nhận sự hỗ trợ đặc biệt của WTO và các thành viên phát triển
Chế độ ưu đãi đặc biệt và khác biệt: Đối xử đặc biệt và khác biệt
(Special and differential treatment -S&D) là những quy định của
WTO dành riêng cho các Thành viên đang và kém phát triển. Theo
đó, các Thành viên này có thể được miễn hoặc giảm nhẹ việc thực
hiện nghĩa vụ cam kết, thời gian thực hiện dài hơn...so với các
Thành viên khác
Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM):
Điều 27. Các đối xử đặc biệt và khác biệt cho các thành viên đang phát triển:
Các thành viên đang phát triển có 5 năm, thành viên kém phát
triển có 8 năm để loại bỏ các biện pháp trợ cấp thay thế hàng nhập
khẩu bị cấm
Trong thủ tục áp dụng thuế đối kháng, mức trợ cấp tối thiểu là
2% đối với các thành viên đang phát triển. Trong thời gian loại bỏ
dần dần các biện pháp trợ cấp xuất khẩu, mức trợ cấp tối thiểu là 3%
đối với các thành viên đang phát triển loại bỏ trợ cấp xuất khẩu theo
một lịch trình đẩy nhanh và các thành viên được nêu tại phụ lục VII.
Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập: Chế độ ưu đãi thuế quan phổ
cập GSP (Generalized System of Preferences) là hình thức ưu đãi về
thuế quan do các thành viên công nghiệp phát triển (OECD) dành
cho một số sản phẩm nhất định mà họ nhập khẩu từ các thành viên
đang phát triển. Đây là biện pháp đơn phương tự nguyện.
Hàng hóa NK từ các thành viên đang phát triển sẽ được hưởng chế
độ miễn thuế NK hoặc hưởng thuế suất thuế NK ưu đãi.