Đặc trưng của hội nhập KTQT từ sau đại chiến thế giới thứ hai đến nay.
Phần I: Đặc trưng của HNKTQT từ sau đại chiến thế giới thứ 2
1. Lĩnh vực khoa học - công nghệ:
- Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho lĩnh vực khoa học - công nghệ của các nước
tiếp cận và theo kịp trình độ tiên tiến. Khoa học- công nghệ, nhất là công nghệ cao
tạo điều kiện cho sự xuất hiện những phương thức tiên tiến phục vụ cho thương
mại quốc tế như tàu viễn dương, hàng khơng , điện thoại, internet,…
- Ví dụ: Trc khi có đường hàng khơng, khi vận chuyển hàng hóa từ nước ngồi về
VN, chúng ta chỉ có thể vận chuyển bằng đường tàu hỏa, đường biển, đường bộ
nên tổn rất nhiều thời gian và chi phí. Nhờ khoa học- cơng nghệ, chi phí vận tải và
giao dịch được giảm thiểu một cách đáng kể.
—> Vậy nên tiến bộ về cơng nghệ được xem là một nhân tố chính thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế
2. Lĩnh vực chính trị:
- Thời kỳ chiến tranh lạnh, hội nhập kinh tế giữa các nền kinh tế phương Tây
khơng chỉ nhằm hình thành các khối kinh tế và thương mại mà còn là chiến lược
kinh tế để đối phó với các nước xã hội chủ nghĩa.
- Cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, với sự sụp đổ của khối các nước XHCN,
hội nhập kinh tế toàn cầu chuyển sang giai đoạn mới. Phạm vi hội nhập kinh tế
tồn cầu khơng chỉ giới hạn bởi ranh giới hai phe mà mở rộng ra cả tồn thế giới.
3. Quy mơ địa lý và nội dung:
- hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay không chỉ được mở rộng về quy mô địa lí mà
về cả nội dung.
Khơng chỉ đơn thuần là thương mại hàng hóa mà cả thương mại dịch vụ, lưu
chuyển vốn, lao động, lưu chuyển về tài chính quốc tế đang có tốc độ ptr
chưa từng có trong lịch sử
Có sự gia tăng về khối lượng các luồng di chuyển quốc tế về hàng hóa, dv,
vốn lao động và cả sự tham gia của các nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ và
các nước XHCN trước đây
Xu hướng tự do hóa thị trường vốn quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
4. Sự ra đời của các hệ thống và tổ chức
Phải kể đến là sự ra đời của các Hiệp định thương mại đa phương với nội
dung hợp tác chủ yếu là khai thơng mơi trường thương mại tồn cầu bởi vậy
mà khơng gian hợp tác rất rộng lớn và tính chất phức tạp cũng cao hơn
Hệ thống hợp tác thương mại đa phương tiêu biểu trong hơn nửa thế kỉ qua
là GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch) và WTO (Tổ chức
thương mại thế giới)
GATT là điều ước được thành lập ra nhằm thực hiện tự do hóa thương mại
quốc tế giữa các nước thành viên để góp phần phát triển kinh tế, thương mại
trên tồn thế giới.WTO là tổ chức kế thừa GATT thực hiện những mục tiêu
đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947 là nâng cao mức
sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của
thế giới.
Thành tựu nổi bật
Giảm hàng rào thuế quan
Giảm NTBs, rà sốt chính sách thương mại, xử lí tranh chấp hiệu quả
hơn
⇒ Các quốc gia tham gia ký kết điều ước quốc tế nhằm mở rộng quan hệ ngoại
giao với các nước khác cũng như tăng vị thế của quốc gia mình trên trường quốc
tế. Từ đó, đưa hội nhập kt toàn cầu đến 1 sự hội nhập kinh tế rộng lớn và toàn diện
5. Mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước
- Mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới đã có sự khác
biệt so với thế kỉ 19. Khi ấy, các nước thuộc địa đóng vai trị cung cấp nhiên liệu
và lương thực cho các nước cơng nghiệp cịn các nước cơng nghiệp là nơi sản xuất
hàng hóa cơng nghiệp để cung cấp cho tồn thế giới. Cịn ngày nay, thế giới đang
chứng kiến q trình phân cơng lao động mạnh mẽ trên tồn cầu, q trình sản xuất
khơng chỉ diễn ra ở 1 nước mà còn được phân đoạn sản xuất ở các nước khác nhau
thông qua chuỗi giá trị tồn cầu và mục đích tối thiểu hóa chi phí
- Với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh năm 1989, một số nhà quan sát cho rằng vấn
đề kinh tế sẽ đóng vai trị trọng tâm hơn trong nền chính trị thế giới. Các mạng lưới
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế mở rộng trên toàn cầu đã tăng nhanh khi chi phí liên
lạc và giao thơng vận tải giảm xuống, giúp thu hẹp khoảng cách khơng gian. Vai
trị của thị trường cũng đã tăng lên nhờ các công nghệ mới về thông tin và giao
thông vận tải cũng như sự thay đổi thái độ đối với vai trò của chính phủ và nhà
nước.
6. Chính sách Chính Phủ:
Chính phủ ngày càng đóng vai trị quan trọng hơn trong việc hỗ trợ và thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế. Những hạn chế chính phủ đối với thương mại( như rào cản
thuế quan, hạn ngạch,...) cũng đang dần tháo dỡ. Điều này là do áp lực của xu thế
tự do hóa kinh tế thế giới, buộc Chính phủ phải lựa chọn nếu không muốn đất nước
bị tụt hậu, kém phát triển so với các nước hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay.
7. Xuất hiện trào lưu phản đối hội nhập kinh tế và tồn cầu hóa:
Ngun nhân sâu xa là một số tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế về các khía
cạnh xã hội, văn hóa, mơi trường, chính trị… đã ảnh hưởng đến lợi ích của những
nhóm lợi ích khác nhau.
8. Xu hướng hội nhập song phương đang được phát triển mạnh mẽ và có xu thế
nổi trội hơn hội nhập đa phương
Tư duy, nhận thức và quan điểm của mỗi quốc gia có ảnh hưởng đến thúc đẩy hoặc
làm chậm thậm chí kìm hãm q trình hội nhập của quốc gia
Ví dụ: Bắc Triều Tiên là xã hội tự cơ lập, khép kín, tách biệt, sùng bái lãnh tụ và
quân sự hoá nên cho tới nay quốc gia này vẫn khơng có các hoạt động thương mại
quốc tế chính thức do bị cấm vận, gần như chỉ giao thương mua bán chính thức
hoặc khơng cơng khai với số ít quốc gia "đồng minh" như Trung Quốc, Iran,
Nga,...
Phần 2: Liên hệ với Việt Nam - những dấu mốc quan trọng và thành tự Việt
Nam đạt được trong quá trình HNKTQT sau thế chiến thứ 2
Bối cảnh sau chiến tranh thế giới thứ 2 đã thúc đẩy các nước theo đuổi chính sách
hội nhập KTQT và mở ra thời đại mới của tồn cầu hóa. Và tất nhiên Việt Nam đã
nắm bắt thời cơ tham gia quá trình hội nhập này
Hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, là nội dung trọng tâm
của hội nhập quốc tế và là một bộ phận quan trọng, xuyên suốt của công cuộc đổi
mới. Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy, nhận thức theo hướng tích cực về
vấn đề HNKTQT
Trên cơ sở đó, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia vào các thiết chế kinh tế
đa phương và khu vực, với các dấu mốc quan trọng như:
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại Lễ ký kết Việt Nam chính thức gia
nhập ASEAN ngày 28/7/1995.
2020 và 2010 Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN
Chỉ một năm sau khi trở thành thành viên ASEAN, Việt Nam đã tham gia vào
AFTA
Đối thoại cấp cao ASEM về thúc đẩy quyền năng kinh tế phụ nữ trong bối cảnh đại
dịch COVID-19
14-11-1998: Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC)
2006 và 2017: Việt Nam làm chủ nhà APEC
Ông Lương Văn Tự - Trưởng đồn đàm WTO và ơng Eirik Glenne - Chủ tịch Ủy
ban công tác Việt Nam gia nhập WTO tuyên bố kết thúc 11 năm đàm phán và kết
nạp Việt Nam vào WTO
Thành tựu của VN sau khi HNKTQT
+ Đa dạng hóa , đa phương hóa các quan hệ KTQT
+ Chủ động tích cực hội nhập, hội nhập sâu rộng và tồn diện
+Hồn thiện hệ thống luật pháp, chính sách…
+ Hồn thiện tổ chúc, bộ máy quản lý các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý,
…
+ Đến nay, Việt Nam đã có các quan hệ hợp tác :
1. Quan hệ ngoại giao với trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ
2. Quan hệ thương mại với trên 230 quốc gia vùng lãnh thổ
3. Hơn 130 quốc gia vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp và Việt Nam
4. Nhiều nước đã có các dự án ĐTgián tiếp( trong đó có ODA tại Việt Nam; Nhật
Bản soos1, EU số 2,…)
+ Đã ký và tham gia 17 FTA; tham gia vào hầu hết các định chế quốc tế và khu
vực
+ Tốc độ tăng GDP và GDP/người của Việt Nam ln ln có xu hướng gia tăng
qua các năm.
+ Kim ngạch XNK, Vốn FDI ln ln có xu hướng gia tăng; GDP/người đã tăng
khá( Năm 2019: Trên 2.580USD/
người);….(2021- 668,5 tỷ USD XNK; trong đó Xuất Siêu 4 tỷ USD).
Như vậy, hội nhập KTQT của Việt Nam đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn
cho sự phát triển kinh tế - xã hội những năm qua. Tuy nhiên, bên cạnh việc tận
dụng các cơ hội do hội nhập mang lại, Việt Nam cũng gặp nhiều thách thức mới
như sau
Thứ nhất, hội nhập với bên ngoài được đẩy mạnh, hội nhập bên trong rất
chậm, thậm chí rất yếu. Như mọi người đã thấy ở những slide trước, Việt Nam đã
tham gia vào nhiều định chế kinh tế quốc tế, tích cực ký kết tham gia các hiệp định
song phương và đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khi đó, hội nhập
bên trong chưa thực sự được chú ý khi hầu hết các doanh nghiệp và người dân
không nắm được các thông tin về đàm phán và cam kết hội nhập. Hầu hết các
doanh nghiệp và người dân không sẵn sàng với hội nhập nên rủi ro lớn và do đó
làm chậm bước đi của q trình hội nhập.
Thứ hai, tư duy, nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề độc lập tự
chủ trong bối cảnh tồn cầu hố.
Việt Nam cũng chưa có cách hiểu mới và đầy đủ mang tính đột phá về nội
hàm khái niệm độc lập tự chủ trong bối cảnh tồn cầu hố. Chúng ta vẫn thiên về
phịng thủ, chưa tạo thuận lợi hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư,
chưa tôn trọng nguyên tắc tự do cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và hội
nhập. Điều đó dẫn đến tâm lý chung là do dự, chần chừ, thậm chí lo sợ cải cách
mạnh thể chế chính trị, kinh tế, và do đó thường ở vào thế bị động, lúng túng.
Tư tưởng cục bộ, ngắn hạn, chỉ quan tâm lợi ích nhóm, coi nhẹ lợi ích dân tộc
và cộng đồng, nặng về xử lý tình huống trong hội nhập là một nguyên nhân chủ
yếu làm trì trệ trong tư duy, do dự trong hành động của các cấp lãnh đạo, các Bộ,
ngành địa phương và doanh nghiệp. Tư tưởng cục bộ, cơ hội, đề cao lợi ích nhóm,
ngắn hạn đã dẫn đến níu kép cơ chế bao cấp, bảo hộ, tạo ra sự khơng bình đẳng,
công bằng là lực cản đối với hội nhập và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Thứ ba, bất cập trong tư duy, nhận thức về nâng cao năng lực cạnh tranh của
quốc gia, doanh nghiệp và hàng hoá của Việt Nam. Trong gần 30 năm đổi mới,
mặc dù đã có nhiều tiến bộ, thành cơng nhưng so với các nước trong khu vực và
thế giới, nhìn chung năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp của Việt Nam
cịn thấp và chậm được cải thiện. Hai nhóm yếu tố quan trọng nhất quyết định cạnh
tranh quốc tế là năng lực thể chế và năng lực công nghệ chậm được cải thiện.
Thứ tư, tư duy về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế cũng đang là trở ngại không nhỏ đối với sự phát triển.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang tiếp tục chuyển sang nền kinh tế thị trường và
hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Điều đó địi hỏi sự can thiệp, quản lý của
Nhà nước cũng phải tuân thủ các nguyên tắc thị trường và các cam kết kinh tế quốc
tế đã ký. Nhưng cả về thể chế và hành động vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế cũ,
chưa thực sự tôn trọng nguyên tắc tự do cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Nhà nước chưa thực sự là Nhà nước pháp quyền. Khơng ít cơ chế chính sách chậm
thay đổi hoặc thay đổi không đồng bộ, thiếu nhất quán, thậm chí khơng muốn thay
đổi vì ảnh hưởng đến lợi ích cục bộ - lợi ích nhóm. Thêm vào đó, sự can thiệp,
quản lý nhiều khi chỉ mang tính tình thế, không bài bản, sự thiếu phối hợp giữa các
cơ quan, ban ngành, nhiều khi quá chú trọng đến nhóm lợi ích, thậm chí bị nhóm
lợi ích chi phối, xem nhẹ lợi ích của cộng đồng. Cơng tác chỉ đạo mang tính chung
chung, thiếu cụ thể.
Ngồi ra, có một số thách thức khác như do công tác tuyên truyền, phổ
biến các thông tin về đàm phán hội nhập và nâng cao năng lực, kỹ năng .v.v., trong
hội nhập kinh tế quốc tế chưa hiệu quả…
Nguyên nhân thách thức
-Tư duy về phát triển cịn bất cập, gị bó, cịn nhiều rào cản đối với sự phát
triển Kinh tế -XH: Rà cản về luật pháp, chính sách; Rào cản về tổ chức bộ máy;
Rào cản về quyền tự do cạnh tranh, tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền
KTTT;…
-Do công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về hội nhập chưa
tơt.
-Do chưa tích cực cải cách chính mình về cả phía Nhà nước, DN và người
dân
-Chưa tích cực triển khai chiến lược hội nhâp tổng thể về KTQT đã được
Bộ chính trị và chính phủ đưa ra
Từ những thách thức kể trên ta cần phải nhận diện, đánh giá trúng những hạn chế,
bất cập và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế bất cập về hội nhập KTQT của
Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất những quan điểm và giải pháp có tính đột phá
về hội nhập KTQT của Việt Nam trong bối cảnh mới của quốc tế, khu vực và
trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội, giảm thiểu các thách thức do hội nhập
KTQT mang lại như sau:
Đổi mới đột phá hơn trong hợp tác và phát triển.
Việt nam không chỉ cần tư duy nhận thức mới, mà cịn có hành động cụ thể trong
các cuộc chơi cho thích ứng với bối cảnh, điều kiện mới. Thích ứng với yêu cầu
này, theo chúng tôi, Việt nam cần thực hiện các biện pháp mạnh mẽ hơn trong hợp
tác với các đối tác hợp tác toàn diện, đối tác chiến lược.
VD: - Việt Nam có thể hợp tác với Trung quốc trên các vấn đề kinh tế - xã hội, văn
hóa chống khủng bố, chống tội phạm, đảm bảo an ninh biên giới … nhưng Việt
Nam không trở thành đồng minh quân sự với Trung Quốc.
- Việt Nam cần xây dựng và phát triển quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ theo
hướng phải ngang bằng quan hệ với Trung Quốc.
- Việt Nam cần tận dụng tốt quan hệ đối tác chiến lược với các nước thành viên
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc như Nga, Anh, Pháp,...
Chỉ có như vậy, Việt nam mới có điều kiện thuận lợi hơn, an toàn hơn trong phát
triển, nhằm đạt khơng chỉ lợi ích kinh tế, chính trị mà cịn giữ vững an ninh quốc
phịng, vẹn tồn lãnh thổ quốc gia.
Thực sự coi trọng và làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các kiến thức
về hội nhập kinh tế quốc tế gắn với yêu cầu phát triển bền vững, phát
triển xanh.
Điều có ý nghĩa quyết định là phải làm cho mọi cấp, mọi ngành, mọi người dân
phải thấu hiểu rằng hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, của toàn dân tộc,
làm cho mọi người hiểu rõ hội nhập có nhiều cơ hội hơn thách thức. Ngoài ra, cần
chú trọng hơn đến việc nâng cao năng lực, kỹ năng hội nhập cho các cán bộ làm
chính sách, cán bộ quản lý kinh doanh,.... Chỉ có như vậy, Việt nam mới tận dụng
tốt cơ hội, vượt qua thách thức do tiếp tục mở cửa, hội nhập đưa lại.
Tiếp tục “có bước đột phá mới” trong tư duy nhận thức và hành động về
hội nhập KTQT với vấn đề độc lập tự chủ nhằm tạo, động lực mới cho
phát triển.
Tạo cơ chế, chính sách phát huy tối ưu các lợi thế so sánh và lợi thế cạnh
tranh của quốc gia trong phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát của
Nhà nước trong nền KTTT và hội nhập KTQT của Việt Nam