Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Vận dụng bài học Hoá học 12 để giải thích một số hiện tượng thực tiễn.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (270.32 KB, 16 trang )


1
TRƯỜNG THPT ĐÔNG SƠN 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: Vận dụng bài học Hoá học 12
để giải thích một số hiện tượng thực tiễn
Giáo viên: Lê Thị Phượng
Môn: Hoá hoc
Năm học 2011 - 2012
A . LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mục tiêu giáo dục môn hoá học trường THPT cần cung cấp cho học sinh hệ
thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời
sống. Nội dung chủ yếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng
dụng và tác hại của những chất trong đời sống, sản xuất và môi trường. Những nội
dung này góp phần giúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có
thể tiếp tục học lên đồng thời có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá
học trong đời sống và sản xuất, mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng
lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
Bài tập là mục đích, là nội dung và cũng là phương pháp dạy học hiệu quả.
Nó cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và còn mang
lại niềm vui của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số.
Nếu thông qua việc giải một bài tập hoá học mà học sinh có thể giải đáp
được những tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống, trong lao động, sản xuất
thì sẽ làm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết
vấn đề. Tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy và học hoá học sẽ góp
phần thực hiện nguyên lí giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn. Bằng những kiến thức hoá học, trước
tiên học sinh có thể giải đáp được những câu hỏi “Tại sao?” nảy sinh từ thực tiễn
và hơn nữa là có thể đưa ra những giải pháp tối ưu cho tình huống có vấn đề nảy
sinh từ chính thực tiễn đó.
Tuy nhiên, trong chương trình sách giáo khoa hoá học THPT ở Việt Nam, số


lượng các bài tập thực tiễn còn ít . Vì vậy học sinh có thể giải thành thạo các bài
tập hoá học định tính, định lượng về cấu tạo chất, về sự biến đổi các chất rất phức
tạp nhưng khi cần phải dùng kiến thức hoá học để giải quyết một tình huống cụ thể
trong thực tiễn thì lại rất lúng túng. Chính vì những lí do trên tôi đã chọn đề
tài:”Vận dụng bài học Hoá học 12 để giải thích một số hiện tượng thực tiễn”
2
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I.Cơ sở lý luận
Việc xây dựng, lựa chọn câu hỏi thực tiễn môn hoá học lớp 12 nhằm thực
hiện tốt nguyên lí giáo dục theo quy định của Luật giáo dục.
Tìm hiểu mối quan hệ giữa hoá học và các vấn đề kinh tế, xã hội và môi
trường.
Xây dựng, lựa chọn câu hỏi có tính thực tiễn môn hoá học lớp 12.
Đề xuất việc sử dụng câu hỏi tập thực tiễn trong dạy học hoá học.
II.Cơ sở thực tiễn
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
-Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát khoa
học, phương pháp thực nghiệm sư phạm.
-Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phương pháp nghiên cứu
lý thuyết, phương pháp nghiên cứu các nguồn tài liệu.
III.Nội dung câu hỏi
Câu hỏi 1
Câu hỏi 1


Tại sao dầu mỡ ăn để lâu bị ôi thiu?
Tại sao dầu mỡ ăn để lâu bị ôi thiu?
Nguyên nhân của quá trình ôi thiu dầu mỡ có nhiều như dầu mỡ có lẫn nước,
Nguyên nhân của quá trình ôi thiu dầu mỡ có nhiều như dầu mỡ có lẫn nước,



hay những tạp chất khác song chủ yếu là sự oxi hoá liên kết đôi bởi oxi không khí
hay những tạp chất khác song chủ yếu là sự oxi hoá liên kết đôi bởi oxi không khí


tạo thành peoxit, sau đó peoxit bị phân huỷ thành anđehit và xeton có mùi khó
tạo thành peoxit, sau đó peoxit bị phân huỷ thành anđehit và xeton có mùi khó


chịu. Vì vậy, dầu thực vật( chứa chủ yếu là chất béo không no) nhanh bị ôi thiu
chịu. Vì vậy, dầu thực vật( chứa chủ yếu là chất béo không no) nhanh bị ôi thiu


hơn mỡ động vật (chứa chủ yếu là chất béo no). Song thực tế, ta lại thấy mỡ động
hơn mỡ động vật (chứa chủ yếu là chất béo no). Song thực tế, ta lại thấy mỡ động


vật nhanh bị ôi thiu hơn dầu thực vật, vì trong quá trình sản xuất dầu ăn người ta
vật nhanh bị ôi thiu hơn dầu thực vật, vì trong quá trình sản xuất dầu ăn người ta


thường cho thêm một lượng nhỏ chất chống oxi hoá là một số dẫn xuất của phenol.
thường cho thêm một lượng nhỏ chất chống oxi hoá là một số dẫn xuất của phenol.


Để hạn chế sự ôi thiu của dầu mỡ thì chúng ta nên đậy kín sau khi sử dụng và
Để hạn chế sự ôi thiu của dầu mỡ thì chúng ta nên đậy kín sau khi sử dụng và


không nên tạo ra những khoảng trống trong các lọ đựng.

không nên tạo ra những khoảng trống trong các lọ đựng.
Áp dụng:
Áp dụng:
Với câu hỏi 1 tôi đã dùng để đặt vấn đề cho bài: Lipit (tiết 3- HH 12
Với câu hỏi 1 tôi đã dùng để đặt vấn đề cho bài: Lipit (tiết 3- HH 12


chương trình chuẩn và tiết 3- HH 12 chương trình nâng cao). Câu hỏi đặt ra là một
chương trình chuẩn và tiết 3- HH 12 chương trình nâng cao). Câu hỏi đặt ra là một


hiện tượng thực tế gần gũi, là thắc mắc của nhiều học sinh mà chưa được giải
hiện tượng thực tế gần gũi, là thắc mắc của nhiều học sinh mà chưa được giải


3
quyết. Vì vậy, đặt học sinh vào tình huống có vấn đề. Sau khi học xong bài Lipit
quyết. Vì vậy, đặt học sinh vào tình huống có vấn đề. Sau khi học xong bài Lipit


học sinh vừa giải quyết được vấn đề đặt ra, vừa có thêm một kinh nghiệm thực
học sinh vừa giải quyết được vấn đề đặt ra, vừa có thêm một kinh nghiệm thực


tiễn. Từ đó mà tạo ra được hứng thú trong học tập của học sinh.
tiễn. Từ đó mà tạo ra được hứng thú trong học tập của học sinh.
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2



Tại sao mật ong để lâu bị đóng đường dưới đáy chai, lớp đường đó là
Tại sao mật ong để lâu bị đóng đường dưới đáy chai, lớp đường đó là


gì?
gì?
Mật ong có chứa glucozơ, khi để lâu glucozơ kết tinh gây ra hiện tượng
Mật ong có chứa glucozơ, khi để lâu glucozơ kết tinh gây ra hiện tượng


đóng đường dưới đáy chai. Loại mật ong như vậy là mật ong nguyên chất không
đóng đường dưới đáy chai. Loại mật ong như vậy là mật ong nguyên chất không


pha thêm đường.
pha thêm đường.
Áp dụng:
Áp dụng:
Với câu hỏi 2 tôi đã dùng để đặt câu hỏi cho học sinh trong phần ứng
Với câu hỏi 2 tôi đã dùng để đặt câu hỏi cho học sinh trong phần ứng


dụng của bài Glucozơ (tiết 6,7- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 7,8- HH 12
dụng của bài Glucozơ (tiết 6,7- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 7,8- HH 12


chương trình nâng cao). Học sinh có một số cách giải thích khác nhau như:
chương trình nâng cao). Học sinh có một số cách giải thích khác nhau như:
+ tạp chất trong mật ong.
+ tạp chất trong mật ong.

+ Đường ăn (đường mía) lẫn trong mật ong bị kết tinh.
+ Đường ăn (đường mía) lẫn trong mật ong bị kết tinh.
+ Glucozơ kết tinh.
+ Glucozơ kết tinh.


Giáo viên nhận xét các ý kiến và giải thích chính xác. Học sinh có câu trả lời
Giáo viên nhận xét các ý kiến và giải thích chính xác. Học sinh có câu trả lời


đầy đủ, giải đáp được những băn khoăn khi dùng mật ong, hiểu được giá trị dinh
đầy đủ, giải đáp được những băn khoăn khi dùng mật ong, hiểu được giá trị dinh


dưỡng của mật ong.
dưỡng của mật ong.
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3


Tại sao có thể dùng giấm(hoặc quả chua) để khử mùi tanh của cá?
Tại sao có thể dùng giấm(hoặc quả chua) để khử mùi tanh của cá?
Mùi tanh của cá gây ra do các hợp chất amin (có tính bazơ) có trong cá, đặc
Mùi tanh của cá gây ra do các hợp chất amin (có tính bazơ) có trong cá, đặc


biệt là lớp màng đen bám bên trong bụng cá. Để khử mùi tanh này, ta dùng giấm,
biệt là lớp màng đen bám bên trong bụng cá. Để khử mùi tanh này, ta dùng giấm,



mẻ hoặc các quả có vị chua như khế, chanh có tính axit sẽ trung hoà amin tạo ra
mẻ hoặc các quả có vị chua như khế, chanh có tính axit sẽ trung hoà amin tạo ra


muối amoni.
muối amoni.
Áp dụng:
Áp dụng:
Tên bài học là: “Amin” dường như là hợp chất không mấy quen thuộc
Tên bài học là: “Amin” dường như là hợp chất không mấy quen thuộc


với học sinh. Nhưng khi giáo viên đặt câu hỏi: “
với học sinh. Nhưng khi giáo viên đặt câu hỏi: “
Tại sao có thể dùng giấm(hoặc
Tại sao có thể dùng giấm(hoặc


quả chua) để khử mùi tanh của cá? Điều này có liên quan gì đến bài amin?
quả chua) để khử mùi tanh của cá? Điều này có liên quan gì đến bài amin?
” thì
” thì


học sinh bắt đầu có sự liên hệ giữa thực tế mà học sinh đã sử dụng nhiều khi chế
học sinh bắt đầu có sự liên hệ giữa thực tế mà học sinh đã sử dụng nhiều khi chế


biến thức ăn với nội dung bài học.
biến thức ăn với nội dung bài học.

Vì vậy, tôi đã dùng câu hỏi 3 để đặt vấn đề cho bài: Amin (tiết 13, 14- HH
Vì vậy, tôi đã dùng câu hỏi 3 để đặt vấn đề cho bài: Amin (tiết 13, 14- HH


12 chương trình chuẩn và tiết 17, 18- HH 12 chương trình nâng cao). Khi kết thúc
12 chương trình chuẩn và tiết 17, 18- HH 12 chương trình nâng cao). Khi kết thúc


4
phần: tính bazơ của amin, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi 3 để giải quyết
phần: tính bazơ của amin, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi 3 để giải quyết


vấn đề đã đặt ra. Học sinh vừa nắm vững bài học, vừa có thêm kiến thức bổ ích
vấn đề đã đặt ra. Học sinh vừa nắm vững bài học, vừa có thêm kiến thức bổ ích


trong cuộc sống.
trong cuộc sống.
Câu hỏi 4
Câu hỏi 4


Vì sao thêm muối quá sớm thì đậu không nhừ?
Vì sao thêm muối quá sớm thì đậu không nhừ?
Trong đậu nành khô nước rất ít. Do đó có thể coi nó như một dung dịch đặc,
Trong đậu nành khô nước rất ít. Do đó có thể coi nó như một dung dịch đặc,


lớp vỏ là một màng bán thấm. Khi nấu nước bên ngoài sẽ thấm vào trong đậu, làm

lớp vỏ là một màng bán thấm. Khi nấu nước bên ngoài sẽ thấm vào trong đậu, làm


đậu nở to ra, sau một thời gian các tế bào trong đậu bị phá vỡ làm cho đậu mềm.
đậu nở to ra, sau một thời gian các tế bào trong đậu bị phá vỡ làm cho đậu mềm.


Nếu khi nấu ta cho muối quá sớm thì nước ở bên ngoài sẽ không đi vào trong đậu,
Nếu khi nấu ta cho muối quá sớm thì nước ở bên ngoài sẽ không đi vào trong đậu,


thậm chí nước trong đậu sẽ thẩm thấu ra ngoài do nồng độ muối trong nước lớn
thậm chí nước trong đậu sẽ thẩm thấu ra ngoài do nồng độ muối trong nước lớn


hơn nhiều so với nồng độ muối trong đậu nếu cho quá nhiều. Vì vậy, khi nấu cháo
hơn nhiều so với nồng độ muối trong đậu nếu cho quá nhiều. Vì vậy, khi nấu cháo


đậu không nên cho đường, muối quá sớm hoặc nấu thịt bò, thịt lợn không nên cho
đậu không nên cho đường, muối quá sớm hoặc nấu thịt bò, thịt lợn không nên cho


muối quá sớm, gây khó khăn cho sự thẩm thấu nước vào đậu, thịt và bị đông tụ
muối quá sớm, gây khó khăn cho sự thẩm thấu nước vào đậu, thịt và bị đông tụ


cứng lại không có lợi cho tiêu hoá thức ăn.
cứng lại không có lợi cho tiêu hoá thức ăn.
Câu hỏi 5

Câu hỏi 5


Khi làm đậu phụ người ta phải thêm nước chua vào nước đậu phụ để
Khi làm đậu phụ người ta phải thêm nước chua vào nước đậu phụ để


làm gì?
làm gì?
Hạt đậu có chứa hàm lượng protein thực vật đáng kể, lượng protein này tan
Hạt đậu có chứa hàm lượng protein thực vật đáng kể, lượng protein này tan


trong nước thành nước đậu dưới dạng dung dịch keo. Người ta phải cho nước chua
trong nước thành nước đậu dưới dạng dung dịch keo. Người ta phải cho nước chua


vào để làm đông tụ protein (protein ở dạng rắn), sau đó ép lại thành miếng đậu theo
vào để làm đông tụ protein (protein ở dạng rắn), sau đó ép lại thành miếng đậu theo


nhu cầu sử dụng.
nhu cầu sử dụng.
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6


Tại sao sữa tươi để lâu trong không khí bị vón lại?
Tại sao sữa tươi để lâu trong không khí bị vón lại?
Là do một số chất trong sữa lên men tạo môi trường axit gây nên sự đông tụ

Là do một số chất trong sữa lên men tạo môi trường axit gây nên sự đông tụ


protein, trường hợp này thì sữa đã bị nhiễm khuần nên không đảm bảo vệ sinh an
protein, trường hợp này thì sữa đã bị nhiễm khuần nên không đảm bảo vệ sinh an


toàn thực phẩm.
toàn thực phẩm.


Áp dụng:
Áp dụng:
Giáo viên dùng câu hỏi 4,5,6 để vào bài: Peptit và protein (tiết 16, 17 -
Giáo viên dùng câu hỏi 4,5,6 để vào bài: Peptit và protein (tiết 16, 17 -


HH 12 chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình nâng cao). Sau khi
HH 12 chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình nâng cao). Sau khi


học xong phần tính chất vật lý của bài, học sinh đã có thể trả lời câu hỏi giáo viên
học xong phần tính chất vật lý của bài, học sinh đã có thể trả lời câu hỏi giáo viên


đưa ra. Đồng thời, còn giảI thích được những hiện tượng khác có liên quan đến sự
đưa ra. Đồng thời, còn giảI thích được những hiện tượng khác có liên quan đến sự


đông tu protein.

đông tu protein.
5
Hai trong ba câu hỏi còn lại dung để đặt câu hỏi trong phần củng cố kiến
Hai trong ba câu hỏi còn lại dung để đặt câu hỏi trong phần củng cố kiến


thức hoặc bài tập về nhà.
thức hoặc bài tập về nhà.
Câu hỏi 7
Câu hỏi 7


Khi bị ngộ độc bởi chì trong thức ăn, người ta khuyên nên uống ngay
Khi bị ngộ độc bởi chì trong thức ăn, người ta khuyên nên uống ngay


nhiều sữa?
nhiều sữa?


Để protein trong sữa kết hợp với muối chì gây nên sự đông tụ protein bất
Để protein trong sữa kết hợp với muối chì gây nên sự đông tụ protein bất


thuận nghịch, cơ thể khó hấp thu sẽ hạn chế tính độc của chì.
thuận nghịch, cơ thể khó hấp thu sẽ hạn chế tính độc của chì.
Áp dụng:
Áp dụng:
Ngộ độc chì có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Việc
Ngộ độc chì có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Việc



đưa ra một cách đơn giản để giải độc chì là một kinh nghiệm thực tế cần thiết cho
đưa ra một cách đơn giản để giải độc chì là một kinh nghiệm thực tế cần thiết cho


mọi người. Học sinh biết vận dụng bài học của mình để sơ cứu khi cần thiết là điều
mọi người. Học sinh biết vận dụng bài học của mình để sơ cứu khi cần thiết là điều


rất có ý nghĩa. Vì vậy, tôi đã đưa câu hỏi 7 vào nội dung bài học: peptit và protein.
rất có ý nghĩa. Vì vậy, tôi đã đưa câu hỏi 7 vào nội dung bài học: peptit và protein.
Câu hỏi 8
Câu hỏi 8


Tại sao khi nấu thịt, cá cùng với rau, quả có vị chua thì nhanh nhừ hơn?
Tại sao khi nấu thịt, cá cùng với rau, quả có vị chua thì nhanh nhừ hơn?




Trong môi trường axit là các rau, quả có vị chua sẽ xúc tác cho sự thuỷ phân
Trong môi trường axit là các rau, quả có vị chua sẽ xúc tác cho sự thuỷ phân


protein tạo thành aminoaxit và những protein đơn giản hơn, nên thịt cá nhanh nhừ
protein tạo thành aminoaxit và những protein đơn giản hơn, nên thịt cá nhanh nhừ



hơn.
hơn.
Áp dụng:
Áp dụng:
Việc đặt vấn đề bằng những câu hỏi thực tiễn gần gũi với học sinh sẽ
Việc đặt vấn đề bằng những câu hỏi thực tiễn gần gũi với học sinh sẽ


đưa học sinh vào tình huống có vấn đề. Việc giải quyết vấn đề giúp học sinh hiểu
đưa học sinh vào tình huống có vấn đề. Việc giải quyết vấn đề giúp học sinh hiểu


sâu sắc bài học hơn. Câu hỏi 8 được đặt ra khi bắt đầu phần tính chất hoá học của
sâu sắc bài học hơn. Câu hỏi 8 được đặt ra khi bắt đầu phần tính chất hoá học của


protein (tiết 16, 17- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình
protein (tiết 16, 17- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình


nâng cao). Từ khái niệm ptotein và tính chất hoá học của peptit (đã học), học sinh
nâng cao). Từ khái niệm ptotein và tính chất hoá học của peptit (đã học), học sinh


sẽ tìm cách trả lời câu hỏi trên. Từ đó, mà nâng cao kỹ năng phân tích và tư duy
sẽ tìm cách trả lời câu hỏi trên. Từ đó, mà nâng cao kỹ năng phân tích và tư duy


của học sinh.
của học sinh.

Câu hỏi 9
Câu hỏi 9


Phân biệt các chất liệu vải như thế nào
Phân biệt các chất liệu vải như thế nào?
Căn cứ vào bản chất của có chất liệu làm nên vải ta có thể nhận biết cách
đơn giản sau:
- Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu
vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
- Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi
bông, có mùi khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì
tan.
6
- Nếu vải làm bằng lông cừu( len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không
nhanh, bốc khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng,
rồi vón cục có màu đen hơi óng ánh, giòn, bóp tan ngay.
- Nếu vải làm bằng sợi visco: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu
vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít.
- Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm ,thành giọt
dẻo màu nâu đậm, có hoa lửa, không bốc cháy thành ngọn lửa, sau đó kết
thành cục màu đen, dễ bóp nát.
- Nếu vải làm bằng sợi poliamit(nilon): Khi đốt sợi vải không cháy
ngọn lửa mà co vón lại và cháy thành từng giọt dẻo màu trắng, khi nguội
thì biến thành cục cứng có màu nâu nhạt, bóp khó nát.

Áp dụng:
Áp dụng:
Với câu hỏi 9,
Với câu hỏi 9, tôi đặt ra cho học sinh dưới dạng yêu cầu về nhà

(tiết 21- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 28- HH 12 chương trình nâng cao).
(tiết 21- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 28- HH 12 chương trình nâng cao).


T
Từng nhóm học sinh tìm hiểu một số loại vải và thực hành ở nhà, giờ học sau
sẽ trình bày kết quả. Thực tế là học sinh rất tích cực tìm hiểu để đưa ra kết quả
thực hành. Giáo viên hoàn chỉnh câu trả lời. Học sinh có thêm những kinh
nghiệm bổ ích trong việc lựa chọn vải.
Câu hỏi 10 Vì sao vonfram (W) thường được lựa chọn để chế tạo dây tóc
bóng đèn?
Phải ở nhiệt độ khoảng 3000
o
C mới có thể phát sáng, vonfram (W) có
nhiệt độ nóng chảy cao 3410
o
C, nên có thể chịu được nhiệt độ cao đáp ứng
yêu cầu làm dây tóc. Hơn nữa, W có thể dát mỏng và có điện trở phù hợp, vì
nếu kim loại có điện trở nhỏ thì gây đoản mạch, nếu kim loại có điện trở lớn
thì hiệu suất toả nhiệt thấp nên hiệu suất phát sáng thấp.
Câu hỏi 11 Một trong những chất liệu làm nên vẻ đẹp kì ảo của tranh sơn
mài đó là những mảnh màu vàng lấp lánh cực mỏng. Những mảnh màu vàng
lấp lánh cực mỏng đó được làm từ nguyên liệu gì vậy?
Chính là từ kim loại vàng được dát mỏng thành những lá vàng có chiều dày
1.10
-4
mm. Nếu dát mỏng 1 chỉ vàng (có khối lượng là 3,75g Au và có d =
7
19,32g/cm
3

) tới chiều dày 1.10
-4
mm thì diện tích lá vàng thu được là rất lớn
194,1m
2
.
Câu hỏi 12 Tại sao những đồ dùng bằng bạc lâu ngày bị xỉn màu, mất đi ánh bạc
lấp lánh? Muốn làm sạch bề mặt này người ta thường làm gì?
Bạc đã phản ứng với hiđrosunfua trong không khí tạo ra bạc sunfua (Ag
2
S) màu
đen. Để loại bỏ lớp bạc sunfua này, người ta cho vật đó vào một chảo nhôm chứa
dung dịch muối và được đun đến gần sôi sẽ xảy ra phản ứng:
2Al + 3H
2
O + Ag
2
S

→Al
2
O
3
+ 2Ag + H
2
S

Áp dụng:
Áp dụng:
Trong bài tính chất của kim loại, ngoài những yêu cầu chung cần

Trong bài tính chất của kim loại, ngoài những yêu cầu chung cần


nắm được, tôi đặt ra yêu cầu cho học sinh cần giải thích được một số những
nắm được, tôi đặt ra yêu cầu cho học sinh cần giải thích được một số những


ứng dụng của kim loại, hợp kim như câu hỏi 10, 11, 12. Vì vậy, những câu
ứng dụng của kim loại, hợp kim như câu hỏi 10, 11, 12. Vì vậy, những câu


hỏi này, tôi đặt ra sau khi học xong tính chất có liên quan đến những nguyên
hỏi này, tôi đặt ra sau khi học xong tính chất có liên quan đến những nguyên


tố kim loại này để củng cố kiến thức. Đồng thời, dùng để làm rõ ứng dụng
tố kim loại này để củng cố kiến thức. Đồng thời, dùng để làm rõ ứng dụng


của vàng (Au), bạc (Ag) ở bài: Sơ lược về kim loại (tiết 70- HH 12 chương
của vàng (Au), bạc (Ag) ở bài: Sơ lược về kim loại (tiết 70- HH 12 chương


trình nâng cao)
trình nâng cao)
Câu hỏi 13 Hãy giải thích tại sao có thể bảo vệ vỏ tàu thuỷ bằng cách gắn
những tấm kẽm vào vỏ tàu (phần ngâm dưới nước)?
Vỏ tàu biển làm bằng thép, là hợp kim của Fe và C. Khi vỏ tàu tiếp xúc với
nước sông, nước biển có hoà tan CO
2

, O
2
và các muối tạo dung dịch chất điện ly
làm xuất hiện vô số pin điện hoá mà Fe là cực âm, C là cực dương
Cực âm: Fe Fe
2+
+ 2e, Fe
2+
Fe
3+
+e dưới tác dụng của ion OH
-
tạo ra gỉ
sắt có thành phần chủ yếu là Fe
2
O
3
.nH
2
O.
Cực dương: O
2
+ 2H
2
O + 4e4OH
-
Khi gắn vào vỏ tàu những tấm Zn, do Zn là kim loại mạnh hơn Fe nên Zn là
điện cực âm bị oxi hoá thành Zn
2+
trở thành “vật hi sinh”, thép là điện cực dương,

vỏ tàu đựoc bảo vệ. Sau một thời gian, người ta lại thay những tấm Zn khác.

Áp dụng:
Áp dụng:
Đây là một ứng dụng quan trọng trong ngành công nghiệp tàu thuỷ, nên
Đây là một ứng dụng quan trọng trong ngành công nghiệp tàu thuỷ, nên


tôi đã đặt câu hỏi này cho học sinh khi bắt đầu phần bảo vệ kim loại(tiết 37- HH 12
tôi đã đặt câu hỏi này cho học sinh khi bắt đầu phần bảo vệ kim loại(tiết 37- HH 12


chương trình chuẩn và tiết 40- HH 12 chương trình nâng cao). Học sinh dựa vào
chương trình chuẩn và tiết 40- HH 12 chương trình nâng cao). Học sinh dựa vào


8
kiến thức về ăn mòn điện hoá để giải thích. Từ đó, học sinh tự nêu lên phương
kiến thức về ăn mòn điện hoá để giải thích. Từ đó, học sinh tự nêu lên phương


pháp bảo vệ kim loại. Bằng cách này, có thể nâng cao khả năng vận dụng kiến thức
pháp bảo vệ kim loại. Bằng cách này, có thể nâng cao khả năng vận dụng kiến thức


lý thuyết để giải quyết các bài toán thực tế của học sinh.
lý thuyết để giải quyết các bài toán thực tế của học sinh.
Câu hỏi 14 Vì sao uống xođa NaHCO
3
lại có tác dụng giải khát?

Dạ dày có môi trường axit, khi uống xođa NaHCO
3
sẽ xảy ra phản ứng
HCO
3
-
+ H
+
 CO
2
+ H
2
O
Khí CO
2
sinh ra hấp thụ nhiệt của cơ thể và thải ra ngoài qua đường hô hấp,
làm giảm nhiệt độ cơ thể, nên có tác dụng giải khát.
Câu hỏi 15 Một trong những ứng dụng của cao su là dùng để làm đệm, bằng cách
nào để tạo độ xốp cho cao su?
Trong công nghệ tạo xốp cho cao su, người ta thường dùng phối hợp natri
hiđrocacbonat với axit stearic. Axit stearic ngoài tác dụng chính là phản ứng với
natri hiđrocacbonat giải phóng khí cacbon đioxit, còn có tác dụng hoá dẻo và tăng
trợ lưu hoá hỗn hợp cao su.
Câu hỏi 16 Sau khi đi bơi, tóc thường khô do nước trong bể bơi rất có hại cho tóc.
Nếu dùng nước xôđa để gội đầu thì tóc sẽ trở lại mượt mà và mềm mại. Hãy giải
thích việc làm đó.
Clo được dùng làm chất chống tạo rong rêu trong vệ sinh bể bơi theo phản
ứng sau: Ca(OCl)
2
+ 2H

2
O → 2HClO + Ca(OH)
2


Canxi hipoclorit phản ứng với nước tạo axit hipoclorơ là một tác nhân hoạt động.
Ở pH bằng 7,0 có 27,5% axit ion hoá thành ion hipoclorit không hoạt động. Phần
axit hipoclorơ còn lại (72,5%) chuyển thành clo dùng làm sạch hồ bơi. Một lượng
nhỏ Ca(OH)
2
là nguyên nhân chủ yếu làm khô tóc. Khi gội bằng NaHCO
3
sẽ xảy
ra phản ứng sau, loại bỏ Ca(OH)
2
khỏi tóc, tóc mềm mượt trở lại:
9

NaHCO
3
+ Ca(OH)
2
CaCO
3
+ Na
2
CO
3
+ H
2

O
Câu hỏi 17 Vì sao dung dịch natri hiđrocacbonat có tính kiềm và khi đun nóng
dung dịch này thì tính kiềm lại mạnh hơn?
Dung dịch NaHCO
3
tồn tại cân bằng sau :
HCO
3
-
+ H
2
O  H
2
CO
3
+ OH
-

Dung dịch hiđrocacbonat có dư OH
-
nên có tính kiềm. Khi đun nóng có sự
phân huỷ H
2
CO
3
thành CO
2
và H
2
O làm cho cân bằng chuyển dịch theo chiều

thuận tạo thêm OH
-
nên tính kiềm lại mạnh hơn.
Áp dụng:
Áp dụng:
Tính chất của một số hợp chất kim loại kiềm hầu như không mới, điều
Tính chất của một số hợp chất kim loại kiềm hầu như không mới, điều


này dễ gây sự nhàm chán cho học sinh. Việc đặt những câu hỏi gắn liền với thực tế
này dễ gây sự nhàm chán cho học sinh. Việc đặt những câu hỏi gắn liền với thực tế


gần gũi của học sinh giúp bài học trở nên thú vị hơn, gây được sự tập trung chú ý
gần gũi của học sinh giúp bài học trở nên thú vị hơn, gây được sự tập trung chú ý


của học sinh. Vì vậy, tôi đã chọn một trong các câu hỏi 14, 15, 16 để đặt vấn đề
của học sinh. Vì vậy, tôi đã chọn một trong các câu hỏi 14, 15, 16 để đặt vấn đề


cho phần tính chất hoá học của NaHCO
cho phần tính chất hoá học của NaHCO
3
3
. Hai trong 3 câu hỏi còn lại và câu hỏi 17,
. Hai trong 3 câu hỏi còn lại và câu hỏi 17,


tôi đặt ra dưới dạng phiếu học tập về nhà, để học sinh củng cố kiến thức.

tôi đặt ra dưới dạng phiếu học tập về nhà, để học sinh củng cố kiến thức.
Câu hỏi 18. Những người thợ lặn lâu dưới nước lấy khí oxi ở đâu để thở ?
Natri peoxit (Na
2
O
2
), kali supeoxit (KO
2
) là những chất dễ dàng hấp thụ khí
cacbonic và giải phóng khí oxi theo phản ứng sau:
Na
2
O
2
+ CO
2
 Na
2
CO
3
+ 1/2O
2
2KO
2
+ CO
2
 K
2
CO
3

+ 3/2O
2
Do đó chúng được sử dụng trong bình lặn hoặc tàu ngầm để phục vụ quá
trình hô hấp của con người.
Câu hỏi 19. Tại sao trong bột giặt, người ta thường cho thêm vào một ít bột natri
peoxit?cách tốt nhất để bảo quản bột giặt làgì?
Natri peoxit (Na
2
O
2
) khi tác dụng với nước sẽ sinh ra H
2
O
2
là một chất oxi
hoá mạnh có thể tẩy trắng được quần áo. Vì vậy để tăng hiệu quả tẩy trắng của bột
giặt người ta thường cho thêm Na
2
O
2
.
Na
2
O
2
+ 2H
2
O → 2 NaOH + H
2
O

2
;

2H
2
O
2
→ 2H
2
O + O
2

↑.
10
Vậy cách tốt nhất để bảo quản bột giặt là .Để trong một hộp có nắp kín để
nơi râm mát.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Mặc dù
Mặc dù Na
2
O
2
, KO
2
là những hợp chất không được giới thiệu trong
chương trình học. Nhưng để giúp học sinh có thêm hiều biết về ứng dụng trong đời
sống hằng ngày của các nguyên tố kim loại kiềm. Tôi đặt câu hỏi 18,19 để học sinh

tìm hiểu và sau đó sẽ giải thích trong giờ luyện tập.


Câu hỏi 20. Trộn đều một phần vôi với bốn phần cát và lượng nước vừa đủ ta thu
được một khối nhão gọi là vữa vôi dùng để kết dính các viên gạch, đá với nhau
trong các công trình xây dựng. Sau một thời gian, vữa vôi đông cứng dần và gắn
chặt với gạch, đá. Vì sao vữa vôi lại đông cứng dần và gắn chặt vào gạch, đá?
Chủ yếu là nhờ CO
2
trong không khí và SiO
2
trong vữa vôi tác dụng với
Ca(OH)
2
tạo ra chất rắn, hơi nước bay hơi. Sau một thời gian, vữa vôi đông cứng
dần và gắn chặt với gạch, đá.
CO
2
+ Ca(OH)
2
CaCO
3
+ H
2
O
SiO
2
+ Ca(OH)
2
 CaSiO

3
+ H
2
O
Câu hỏi 21. Để khử chua cho đất, người nông dân thường dùng vôi toả để bón
ruộng. Vì sao người ta không dùng vôi sống bón trực tiếp cho đất, cho cây trồng
mà lại dùng vôi toả?
Cách làm vôi toả như sau: để những cục vôi sống vào chỗ râm mát trong vài
ngày, vôi sống sẽ dần bở tơi ra thành bột mịn, do sự hút ẩm trong không khí của
CaO tạo ra Ca(OH)
2
. Khi dùng vôi bột để bón ruộng Ca(OH)
2
sẽ trung hoà môi
trường axit của đất (khử chua). Không thể dùng vôi sống để bón ruộng, vì phản
ứng :
CaO + H
2
O Ca(OH)
2
+ Q, nhiệt lượng toả ra sẽ làm chết cây trồng.
Câu hỏi 22. Trong các hang động của núi đá vôi nhiều chỗ nhũ đá tạo thành bức
rèm đá lộng lẫy nhiều chỗ lại tạo thành rừng măng đá, có chỗ lại tạo thành các
cây cột đá vĩ đại (do nhũ đá và măng đá nối với nhau) trông rất đẹp. Bằng sự hiểu
biết của mình em hãy giải thích sự tạo thành nhũ đá, măng đá.
11
Về mùa mưa, ở nhiệt thường, CaCO
3
tan dần trong nước có hoà tan khí CO
2

,
nhất là nước mưa, tạo ra Ca(HCO
3
)
2
làm tan đá vôi.
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O  Ca(HCO
3
)
2
Về mùa khô, khi áp suất CO
2
giảm đi thì Ca(HCO
3
)
2
bị phân huỷ tạo ra
CaCO
3
kết tủa tạo ra những nhũ đá và măng đá trong hang động. Như vậy, tính
trung bình cứ mỗi năm lại tạo thêm một lớp đá trên các măng đá. Người ta có thể
dựa vào điều này để tính tuổi của các núi đá vôi.
Câu hỏi 23. Trong quá trình sản xuất vôi xảy ra phản ứng sau :
CaCO

3


CaO + CO
2
– Q.
Để thu được nhiều vôi ta cần tác động vào hệ những yếu tố nào? Trong sản xuất
vôi, người ta đã dùng những biện pháp nào để đạt hiệu suất cao?
Để thu được nhiều vôi, ta cần tăng nhiệt độ và giảm áp suất. Thực tế trong
sản xuất, để tăng hiệu suất nung vôi người ta thực hiện ở điều kiện 900- 1000
o
C,
đặt lò ở hướng thoáng gió để thổi CO
2
khỏi lò và đồng thời kích thước của nguyên
liệu vừa phải, không quá to sẽ khó chín, không quá nhỏ dễ gây tắc lò.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Việt Nam là quốc gia có nhiều những dãy núi đá vôi là hợp chất của kim
Việt Nam là quốc gia có nhiều những dãy núi đá vôi là hợp chất của kim


loại kiềm thổ. Vì vậy, nội dung bài học
loại kiềm thổ. Vì vậy, nội dung bài học


: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm
: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm



thổ giúp học sinh giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên thú vị, cũng như những
thổ giúp học sinh giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên thú vị, cũng như những


ứng dụng phổ biến của hợp chất kim loại kiềm. Để học sinh chuẩn bị tốt bài học
ứng dụng phổ biến của hợp chất kim loại kiềm. Để học sinh chuẩn bị tốt bài học


này, sau khi học xong bài: kim loại kiềm thổ, tôi đặt câu hỏi 20, 21, 22, 23 cho 4
này, sau khi học xong bài: kim loại kiềm thổ, tôi đặt câu hỏi 20, 21, 22, 23 cho 4


nhóm học sinh tìm hiểu trước. Trong bài học
nhóm học sinh tìm hiểu trước. Trong bài học


: Hợp chất quan trọng của kim loại
: Hợp chất quan trọng của kim loại


kiềm thổ (tiết 44- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 48- HH 12 chương trình nâng
kiềm thổ (tiết 44- HH 12 chương trình chuẩn và tiết 48- HH 12 chương trình nâng


cao), thông qua phần trình bày của học sinh, giáo viên đặt vấn đề khi bắt đầu dạy
cao), thông qua phần trình bày của học sinh, giáo viên đặt vấn đề khi bắt đầu dạy



về hợp chất có liên quan. Bằng cách như vậy, học sinh hiểu bài nhanh và sâu sắc
về hợp chất có liên quan. Bằng cách như vậy, học sinh hiểu bài nhanh và sâu sắc


hơn.
hơn.
Câu hỏi 24. Để bảo quản trứng tươi lâu, người ta đã nhúng trứng vào dung dịch
nước vôi rồi vớt ra để ráo, em hãy giải thích cách làm trên?
Trên bề mặt vỏ trứng gia cầm có những lỗ khí nhỏ nên không khí và vi sinh
vật có thể xâm nhập, hơi nước trong trứng thoát ra, lượng cacbon đioxit tích tụ
12
trong trứng tăng làm trứng nhanh bị hỏng. Khi ngâm trứng trong dung dịch nước
vôi sẽ xảy ra phản ứng sau:
CO
2
+ Ca(OH)
2
CaCO
3
+ H
2
O
CaCO
3
sinh ra bịt các lỗ khí đó ngăn cản không khí và vi sinh vật có thể xâm
nhập vào trứng, hơi nước trong trứng không thoát ra được, trứng được tươi lâu
hơn.
Á
Áp dụng: Đây là kinh nghiệm nhỏ trong đời sống hằng ngày, mà giáo viên có thể
đặt câu hỏi cho học sinh trong phần ứng dụng của Ca(OH)

2
.
Câu hỏi 25. Tại sao trong công nghệ sản xuất bia, người ta lại dùng axit lactic để
xử lý nguồn nước?
Nước là nguyên liệu quan trọng trong ông nghệ sản xuất bia. Chất lượng của
nguồn nước ảnh hưởng lớn đến chất lượng của bia nên nước được xử lí rất kĩ.
Người ta dùng axit lactic để khử độ cứng tạm thời theo phương trình hoá học sau:
2CH
3
CH(OH)COOH + Mg(HCO
3
)
2
(CH
3
CH(OH)COO)
2
Mg + 2CO
2
+ 2H
2
O
muối lactat của canxi, magie không tan trong nước, nên làm mềm nước. Axit lactic
còn có tác dụng làm giảm pH của nước nhằm tăng cường hoạt lực của hệ enzim
thuỷ phân trong nước.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Câu hỏi 25 được đặt ra sau khi học xong phần làm mềm nước cứng

Câu hỏi 25 được đặt ra sau khi học xong phần làm mềm nước cứng


bằng phương pháp kết tủa trong bài: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ để
bằng phương pháp kết tủa trong bài: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ để


rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học, để giải thích những ứng dụng thực
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học, để giải thích những ứng dụng thực


tế.
tế.
Câu hỏi 26. Nồi nhôm chỉ nên dùng để nấu cơm, nấu nước; không nên dùng để nấu
canh chua, không nên để canh chua quá lâu trong nồi nhôm. Em hãy giải thích vì
sao?
Canh chua có môi trường axit sẽ hoà tan Al vào làm thức ăn bị nhiễm bẩn
Al
3+
,không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Câu hỏi 26 được đặt ra trong phần ứng dụng của nhôm, để học sinh có
Câu hỏi 26 được đặt ra trong phần ứng dụng của nhôm, để học sinh có


thêm kiến thức khi dùng các đồ nhôm làm dụng cụ nhà bếp. Sử dụng đúng cách để
thêm kiến thức khi dùng các đồ nhôm làm dụng cụ nhà bếp. Sử dụng đúng cách để



bảo vệ sức khoẻ cho mình và mọi người trong gia đình.
bảo vệ sức khoẻ cho mình và mọi người trong gia đình.
13
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2


7
7



Vì sao phèn chua có thể làm trong nước?
Phèn chua có công thức là K
2
SO
4
.Al
2
(SO
4
)
3
.24H
2
O, khi hoà tan vào nước
xảy ra sự thuỷ phân như sau :
Al

3+
+ 3H
2
O  Al(OH)
3
+ 3H
+
Al(OH)
3
sinh ra là những nhân keo hút các chất rắn còn lơ lửng trong nước làm
cho kích thước của các hạt keo đủ nặng và lắng xuống làm rong nước.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Rất nhiều vùng ở nông thôn Việt Nam còn chưa được sử dụng nước máy
Rất nhiều vùng ở nông thôn Việt Nam còn chưa được sử dụng nước máy


trong sinh hoạt, mà dùng nước giếng đào, giếng khoan nên tôi đặt câu hỏi 27
trong sinh hoạt, mà dùng nước giếng đào, giếng khoan nên tôi đặt câu hỏi 27


trong phần ứng dụng của nhôm. Việc trả lời câu hỏi 27 giúp học sinh có thêm một
trong phần ứng dụng của nhôm. Việc trả lời câu hỏi 27 giúp học sinh có thêm một


kinh nghiệm nho nhỏ trong cuộc sống, làm cho giờ học trở nên thú vị hơn.
kinh nghiệm nho nhỏ trong cuộc sống, làm cho giờ học trở nên thú vị hơn.
Câu hỏi 28 Có một mẫu boxit dùng để sản xuất nhôm có lẫn tạp chất là sắt (III)

oxit,silicđioxit . Làm thế nào để từ mẫu này có thể điều chế được nhôm tinh khiết?
Để điều chế được nhôm tinh khiết cần làm sạch quặng boxit như sau:
Hoà tan quặng bằng NaOH đặc ở 180
0
C, loại được Fe
2
O
3
không tan.
SiO
2
+ 2NaOH  Na
2
SiO
3
+ H
2
O
Al
2
O
3
+ 2NaOH  2NaAlO
2
+ H
2
O
Sục CO
2
vào dung dịch thu được, phản ứng xảy ra:

CO
2
+ 2H
2
O + NaAlO
2
Al(OH)
3
+ NaHCO
3
Nhiệt phân Al(OH)
3
theo phương trình hoá học:
2Al(OH)
3
Al
2
O
3
+ 3H
2
O
Sau đó chuẩn bị hỗn hợp điện phân, điện phân nóng chảy Al
2
O
3
thu được Al
tinh khiết.
Á
Á

p dụng:
p dụng:
với câu hỏi 28 tôi đặt ra khi bắt đầu dạy phần sản xuất nhôm.
với câu hỏi 28 tôi đặt ra khi bắt đầu dạy phần sản xuất nhôm.
Câu hỏi 29. Tại sao nước giếng khoan khi vừa bơm lên rất trong, nhưng để trong
không khí một thời gian thì bị vàng. Làm thế nào để nước trong trở lại ?
Trong nước ngầm thường tồn tại ở dạng ion trong sắt (II) hiđrocacbonat và
sắt (II) sunfat là muối tan không màu.Khi bơm lên hợp chất Fe(II) bị oxi hoá thành
Fe(III) ở dạng sắt (III) hiđroxit là chất rắn màu nâu đỏ làm cho nước có màu vàng,
gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người nên cần phải loại bỏ. Ta có thể
14
dùng một số các phương pháp đơn giản để loại bỏ sắt như sau: Dùng giàn phun
mưa hoặc bể tràn để cho nước mới hút từ giếng khoan lên được tiếp xúc nhiều với
không khí rồi lắng, lọc hoặc sục clo vào bể nước mới hút từ giếng khoan lên với
liều lượng thích hợp.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
đây là hiện tượng khá phổ biến trong nguồn nước ăn ở vùng nông
đây là hiện tượng khá phổ biến trong nguồn nước ăn ở vùng nông


thôn Việt Nam, giáo viên đưa vào bài hợp chất của sắt để liên hệ thực tế, giúp
thôn Việt Nam, giáo viên đưa vào bài hợp chất của sắt để liên hệ thực tế, giúp


học sinh có thêm kiến thức để bảo vệ sức khoẻ cho mình và gia đình.
học sinh có thêm kiến thức để bảo vệ sức khoẻ cho mình và gia đình.
Câu hỏi 30 . Khi đồ dùng bằng đồng bị gỉ xanh, bạn có thể dùng khăn tẩm giấm để

lau chùi. Đồ dùng của bạn sẽ sáng đẹp như mới. Hãy giải thích cách làm đó?
Thành phần hoá học chủ yếu của lớp gỉ đồng là muối đồng cacbonat và đồng
hiđroxit.
Khi ding giấm là dung dịch axit axetic để lau chùi sẽ làm sạch lớp gỉ theo phương
trình hoá học sau:
CuCO
3
+ 2CH
3
COOH(CH
3
COO)
2
Cu + CO
2
+ H
2
O
Cu(OH)
2
+ 2CH
3
COOH (CH
3
COO)
2
Cu + 2H
2
O
Á

Á
p dụng:
p dụng: câu hỏi 30 được đặt ra khi bắt đầu phần đồng (Cu) trong bài: Sơ lược về
một số kim loại khác.
C. KIỂM NGHIỆM
1. Nhận xét định tính.
1.1. Đối với học sinh.
-Học sinh vận dụng tốt hơn kiến thức hoá học khi giải quyết các vấn đề thực
tiễn có liên quan đến hoá học.
-Học sinh thấy hứng thú hơn khi học môn hoá học.
-Học sinh thấy rõ hơn ý nghĩa, vai trò của việc học môn hoá học.
- Kích thích sự tìm tòi, tham khảo các tài liệu trong sách, trong báo chí, thư
viện, các phương tiện phát thanh truyền hình, internet…có liên quan đến ứng dụng
hoá học trong sản xuất và đời sống xã hội.
Những kết quả tích cực đó đã góp phần thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của
việc dạy – học môn hoá học THPT.
1.2. Đối với giáo viên.
15
- Các giáo viên dạy môn hoá học rất hứng thú với mảng bài tập này nhưng
cũng cho rằng việc tìm kiếm nguồn tư liệu để xây dựng và giải loại bài tập loại này
mất khá nhiều thời gian và công sức.
- Các giáo viên có ý kiến nên đưa nhiều hơn loại bài tập thực tiễn vào dạy
học hoá học.
2. Nhận xét định lượng.
Từ kết quả xử lí số liệu thực nghiệm tôi thấy:
- Điểm trung bình cộng của các lớp thực nghiệm luôn cao hơn các lớp đối
chứng.
- Mức độ phân tán kiến thức quanh điểm trung bình cộng của các lớp thực
nghiệm là nhỏ hơn.
⇒ Các kết quả trên đã khẳng định việc sử dụng hệ thống câu hỏi thực tiễn môn hoá

học ở bậc THPT vào dạy học là cần thiết và có hiệu quả.
D. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
I. Kết luận
Với thời gian tích luỹ có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều, bản SKKN này
mới chỉ dừng lại ở số lượng câu hỏi chưa nhiều, chủ yếu là câu hỏi lý thuyết, hầu
như chưa có hình ảnh minh họa và chắc chắn không tránh khỏi những điều khiếm
khuyết. Tôi xin chân thành mong đợi những lời nhận xét, góp ý, chỉ dẫn của Hội
đồng khoa học đánh giá SKKN, đồng nghiệp và các bạn đọc để tôi bổ sung và hoàn
thiện thêm cho đề tài cũng như cho công việc giảng dạy và tích luỹ kiến thức.
II. Đề xuất
Qua quá trình nghiên cứu đề tài và tiến hành thực nghiệm đề tài, chúng tôi
có một số đề nghị sau:
- Cần đưa các bài tập thực tiễn vào các sách giáo khoa, sách bài tập, sách
tham khảo với số lượng nhiều hơn và có nội dung phong phú.
- Cần đưa thêm hình ảnh minh họa các ứng dụng hoá học, mô hình phân tử,
các quá trình sản xuất hoá học…vào bài giảng, bài tập nhằm tăng thêm hứng thú
học tập cho học sinh.
Cần tăng cường số lượng và chất lượng các bài tập thực tiễn trong kiểm tra
đánh giá.
16

×