Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG KHỞI KIỆN vụ án KINH DOANH THƯƠNG mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (75.8 KB, 7 trang )

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI
18/11/2010@21h10, 1381 lượt xem, viết bởi: LUẬT SƯ LÊ
Chuyên mục: 01. TÔI VIẾT
Kỹ năng của luật sư trong việc trợ giúp cho khách hàng khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại là một
nhóm các kỹ năng của luật sư được chia theo các giai đoạn trong việc hỗ trợ khách hàng trong vụ án
kinh doanh, thương mại nói riêng và trong vụa án dân sự nói chung. Trong mỗi giai đoạn tố tụng, luật
sư đều thực hiện các kỹ năng khác nhau, đối với mỗi luật sư khi hành nghề đều có những cách làm
riêng. Song, những kỹ năng chung của luật sư trong giai đoạn khởi kiện vụ án phát sinh từ các tranh
chấp kinh doanh, thương mại mà luật sư cần lưu ý để có thể thực hiện tốt vai trò của mình là: kỹ năng
tư vấn cho khách hàng về việc có nên hay không nên khởi kiện vụ án; kỹ năng kiểm tra các điều kiện
khởi kiện; chuẩn bị hồ sơ khỏi kiện vụ án và kỹ năng hộ trợ nộp đơn khởi kiện để Toà án thụ lý vụ án.
1. Kỹ năng tư vấn cho khách hàng nên hay không nên khởi kiện.
Cũng tương tự như các loại tranh chấp khác, khi nhận tư vấn tiền tố tụng trong một tranh chấp kinh
doanh, thương mại, trước tiên, luật sư hỗ trợ khách hàng xác đinh xem có nên hay không nên đưa vụ
tranh chấp ra tòa án. Do đó, luật sư cần làm rõ những vấn đề sau:
1.1. Làm rõ quan hệ giữa cá bên, để từ đó xác đinh tranh chấp phát sinh từ quan hệ đó có phải là
tranh chấp kinh doanh, thương mại không.
Tranh chấp kinh doanh thương mại là một trong các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật này, các tranh
chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được liệt kê bao gồm: i) các
tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữ cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh
doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận gồm: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối;
đại diện, đại lý; ký gửi; … ii) tranh chấp vế quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; iii) tranh chấp giữa công ty với các thành viên của
công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty và các tranh chấp khác về
kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Theo các quy định này, để xác định tranh chấp nào là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án, luật sư cần dựa vào các tiêu chí sau:
Tiêu chí đầu tiên để xác định một tranh chấp thuộc loại tranh chấp này là tranh chấp đó phát sinh


trong hoạt động kinh doanh thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động thực hiện
một hoặc nhiều hành vi thương mại. Hoạt động kinh doanh thương mại không chỉ là hoạt động trực
tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy,
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại.
Tiêu chí thứ hai là tiêu chí về chủ thể, chủ thể của loại tranh chấp này là chủ thể có đăng ký kinh
doanh. Cá nhân, tổ chức được coi là có đăng ký kinh doanh là cá nhân tổ chức đã được cơ quan có
thẩm quyền đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Đây là điều kiện bắt buộc đối với các tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Bô luật tố
tụng dân sự. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại mục 1, phần I, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì Tòa
án nhân dân tối cao đã xác định thêm một loại tranh chấp kinh doanh thương mại so với Bộ luật trên,
đó là tranh chấp kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng
đều có mục đích lợi nhuận.
Mục đích lợi nhuận không những là một tiêu chí quan trọng để xác định một tranh chấp là tranh chấp
kinh doanh thương mại. Đây còn là tiêu chí duy nhất để xác định loại tranh chấp về sở hữu trí tuệ,
chuyển giao công nghệ là tranh chấp kinh doanh, thương mại theo khoản 2 Điều 29 Bô luật tố tụng
dân sự. Mục đích lợi nhuận của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại là mong muốn của
các chủ thể đó là thu được lợi nhuận mà không phân biệt là có thu được hay không thu được lợi nhuận
từ các hoạt động này.
Hoạt động kinh doanh, thương mại chủ yếu là hoạt động được các chủ thể tự do thỏa thuận. Do đó,
tranh chấp trong hoạt động này chủ yếu là tranh chấp về hợp đồng. Ngoài việc luật sư giúp khách
hàng xác định tranh chấp đó có là tranh chấp kinh doanh thương mại hạy không, luật sư còn phải giúp
khách hàng phân biệt tranh chấp loại này với các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
như tranh chấp lao động, dân sự.
1.2. Làm rõ quan hệ tranh chấp, nội dung, tính chất của tranh chấp.
Quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể là tranh chấp tranh chấp hợp đồng trong hoạt động
kinh doanh thương mại được liệt kê tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Tranh chấp hợp đồng
là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hợp đồng, tranh chấp về giá trị pháp lý của hợp
đồng. Ngoài ra, tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng có thể là tranh chấp về quyền sỡ hữu trí tuệ
hoặc tranh chấp công ty. Xác định rõ quan hệ tranh chấp giúp khách hàng viện dẫn chính xác các quy
định của pháp luật về tố tụng và nội dung để yêu cầu giải quyết vụ án.

Bên cạnh đó, luật sư phải xác định rõ ràng, cụ thể nội dung tranh chấp như các bên tranh chấp quyền
lợi, nghĩa vụ nào, trị giá phần quyền lợi tranh chấp, …. Ngoài ra, khi thực hiện các công việc này, luật
sư cần lưu ý làm rõ cho được nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, những ưu thế và bất lợi của khách
hàng trong quan hệ tranh châp để từ đó đưa ra lời khuyên tốt nhất cho khách hàng. Lời khuyên tốt
nhất có thể là nên thương lượng, hòa giải hay khởi kiện vụ án ra trước tòa án hoặc nên thực hiện trình
tự các bước giải quyết tranh chấp trên. Luật sư cần tư vấn cho thân chủ cương quyết giữ các yêu cầu
nào, nhượng bộ các quyền lợi gì trong quá trình thương luợng, hòa giải. Và trong quá trình khởi kiện vụ
án, nên đưa ra các yêu cầu nào, nên sửa đổi hoặc rút các yêu cầu nào khi cần thiết trong quá trình tố
tụng.
1.3. Xác định được yêu cầu của khách hàng đối với việc giải quyết vụ việc.
Việc xác định được yêu cầu cụ thể, triệt để cho khách hàng sẽ giúp họ đưa ra đầy đủ và rõ ràng yêu
cầu khởi kiện vụ tranh chấp tại tòa án. Việc luật sư rõ yêu cầu của khách hàng còn giúp luật sư trong
việc tư vấn cho khách hàng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phù hợp
nhất. Tính phù hợp trong việc giải quyết tranh chấp này hay bất cứ loại tranh chấp nào khác, đó là
phương án giải quyết phải đảm bảo thời gian ngắn nhất, ít thiệt hại nhất, đảm bảo quyền lợi khách
hàng tốt nhất, …Ví dụ, trong vụ án khách hàng là người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa với đối
tác. Khách hàng đã thu mua hàng, tập kết và đưa lên phương tiện vận tải để giao hàng như đối tác
không chịu thực hiện chuyển khoản thanh toán tiền đặt cọc như thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu
khách hàng mong muốn các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng bởi nhiều lý do thì luật sư tư vấn cho họ
lựa chọn hình thức thương lượng, nếu không tương lượng được thì yêu cầu tòa án buộc đối tác thực
hiện hợp đồng. Tuy nhiên, nếu khách hàng muốn được bồi thường, buộc đối tác chịu phạt vi phạm, …
và không muốn thực hiện hợp đồng thì nếu các bên không thương lượng được về việc giải quyết tranh
chấp, luật sư khuyên khách hàng khởi kiện đến tòa án để yêu cầu hủy hợp đồng hoặc tuyên hợp đồng
vô hiệu, yêu cầu đồi tác bồi thường thiệt hại, chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc
theo quy định pháp luật
2.Kỹ năng kiểm tra các điều kiện khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại
Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp
sau: thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện …; sự việc đã được giải
quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ một số trường hợp ngoại lệ; chưa đủ điều kiện khởi kiện; vụ án

không thuộc thẩm quyền của tòa án. Do đó, để tránh bị trả đơn khởi kiện, đảm bảo triệt để quyền lợi
của khách hàng ngay từ khi khởi kiện, luật sư cần giúp khách hàng kiểm tra rõ các điều kiện khởi kiện.
2.1. Xác định quyền khởi kiện của khách hàng
Quyền khởi kiện là quyền của các chủ thể khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm . Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là người không
thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 161, 162 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với tranh chấp kinh
doanh, thương mại, việc không có quyền khởi kiện thể hiện ở chỗ người khởi kiện không bị xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp mà là một chủ thể khác. Luật sư muốn xác địch khách hàng có quyền khởi
kiện vụ án kinh doanh, thương mại phải xem xét vụ việc của khách hàng từ các phương diện sau đây.
Đầu tiên, luật sư cần xem xét tư cách pháp lý để khởi kiện vụ án tại tòa án của khách hàng. Quyền
khởi kiện được xác định theo quy định của pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng. Để xác định
khách hàng có quyền khởi kiện hay không, luật sư cần xác định đúng tranh chấp đó phát sinh từ quan
hệ pháp luật nào, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật này được thể hiện như thế
nào. Qua đó, luật sư xác định được khách hàng có bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp hay không,
chủ thể nào đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp đó và đối tượng nào phải thực hiện một hay
nhiều nghĩa vụ đối với khách hàng của luật sư khi có việc xâm phạm như trên.
Để minh chứng cho kỹ năng của luật sư trong việc xác định tư cách khởi kiện của khách hàng và đối
tượng khởi kiện trong tranh chấp của khách hàng, chúng ta cùng xem xét ví dụ như sau: Công ty
TNHH Hoàng Minh nhận giao đại lý cho Công ty TNHH Ánh Dương để bán sản phẩm của mình là đồ gỗ
gia dụng. Công ty TNHH ABC là người mua hàng từ đại lý đồ gỗ là Công ty TNHH Ánh Dương để làm
trang thiết bị văn phòng. Tuy nhiên, sau khi nhận hàng, Công ty ABC không thanh toán. Ngay sau đó,
cả Công ty Ánh Dương và Công ty Hoàng Minh đều thông báo bằng văn bản khiếu nại hành vi vi phạm
nghĩa vụ thanh toán đến Công ty ABC nhưng Công ty ABC vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và
không phản hồi gì. Công ty Ánh Dương yêu cầu luật sư tư vấn khởi kiện vụ án ra Tòa án để yêu cầu
bên bán phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Để xác định Công ty Ánh Dương có quyền khởi kiện Công ty ABC hay không, luật sư cần phân tích rõ
quan hệ trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Ánh Dương với Công ty ABC và vai trò của
Công ty Ánh Dương là đại lý bán hàng của Công ty Hoàng Minh. Căn cứ vào quy định tại Điều 166 Luật
thương mại 2005 thì Hợp đồng này do Công ty Ánh Dương đứng ra ký kết nhân danh chính mình để
mua bán hàng hóa cho Công ty Hoàng Minh, tức là chủ thể quan hệ hợp đồng là Công ty Ánh Dương

và Công ty ABC. Mặc dù hàng hóa được bán là của công ty Hoàng Minh, nhưng Công ty Ánh Dương có
nghĩa vụ phải giao lại tiền hàng cho Công ty Hoàng Minh sau khi nhận thanh toán từ Công ty ABC.
Tranh chấp này phát sinh do sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Công ty ABC với Công ty Ánh Dương.
Do đó, Công ty Ánh Dương có quyền khởi kiện Công ty ABC.
Sau khi xác định được quyền khởi kiện của khách hàng, luật sư cần xác định đối tượng mà khách hàng
khởi kiện. Chủ thể của các tranh chấp kinh doanh, thương mại thường là các doanh nghiệp, các đơn vị
trực thuộc doanh nghiệp. Các đơn vị trực thuộc chỉ có thể có đủ tư cách tham gia quan hệ tố tụng nếu
nó là đơn vị hạch toán độc lập; còn đối với nhưng đơn vị phụ thuộc, đối tượng gánh vác nghĩa vụ phát
sinh từ các giao dịch do đơn vị phụ thuộc thực hiện đươc xác định là doanh nghiệp chủ quản chứ
không phải chính đơn vị.
2.2.Xác định thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại.
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự thì nếu hết thời hiệu khởi kiện, Tòa
án phải trả lại đơn khởi kiện. Nếu sau khi thụ lý vụ án, Tòa án căn cứ vào quy định tịa Điều 192 Bộ luật
này để đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, việc xác định thời hiệu khởi kiện rất quan trọng, đánh giá về
việc người khởi kiện còn đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật hay không. Việc xác định
thời hiệu khởi kiện dựa vào thời điểm phát sinh tranh chấp để tính thời hiệu. căn cứ vào quy định tại
các Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại mục 2, phần IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP
thì cách tính thời hiệu đối với vụ án dân sự như sau:
- Nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày 1/1/2005;
- Nếu tranh chấp phát sinh kể từ ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ thời điểm quyền
lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.
Việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với vụ án kinh doanh, thương mại nếu pháp luật đã có quy định về
thời hiệu khác với quy định tại Điều 159 BLTTDS thì áp dụng theo thời hiệu của luật chuyên ngành còn
nếu không quy định thì áp dụng cách tính thời hiệu theo quy định của BLTTDS. Ví dụ: thời hiệu khởi
kiện tranh chấp hợp đồng kinh doanh bảo hiểm là 03 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp .
2.3. Làm rõ việc vụ việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu luật pháp luật hay
chưa.
Đây là kỹ năng không khó đối với nhóm kỹ năng của luật sư trong việc tư vấn, hỗ trợ khách hàng khởi
kiện loại vụ án này. Tuy nhiên, thông thường các luật sư ít kinh nghiệm thường không để ý đến kỹ
năng này. Vả lại, đối với tranh chấp kinh doanh thương mại, chủ yếu là tranh chấp phát sinh từ hợp

đồng và khách hàng của luật sư thường có trình độ pháp lý tương đối. Do đó, khách hàng thường trao
đổi ngay với luật sư về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu khách hàng không trao đổi, luật sư cũng cần phải
làm rõ. Việc làm rõ sẽ giúp khách hàng không phải tốn công sức, thời gian và tiền bạc để theo đuổi vụ
kiện, bởi khách hàng sẽ bị trả lại đơn khởi kiện hoặc bị đình chỉ giải quyết vụ án tùy vào thời điểm Tòa
án phát hiện điều kiện trên.
2.4. Xác định thẩm quyền của tòa án
a. Thẩm quyền chung
Thẩm quyền là giới hạn những việc tranh chấp được pháp luật quy định cho Tòa án giải quyết. Thẩm
quyền quyền giải quyết của Tòa án về các loại việc được xác định theo quy định tại Điều 29 Bộ luật tố
tụng dân sự. Nếu tranh chấp không thuộc các loại việc được liệt kê trong điều luật này thì không thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Hiện nay ở Việt Nam, ngoài Tòa án, trọng tài thương mại cũng là cơ quan tài phán có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Theo quy định tại Điều 5, 6 của Luật trọng tài thì: “Tranh
chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể
được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”. Thỏa thuận trọng tài phải đảm bảo giá trị hiệu lực theo
quy định của Luật trong tài tại các Điều 16, 18. Theo quy định tại Điều 6 Luật này: “Trong trường hợp
các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối
thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện
được”.
b. Thẩm quyền theo cấp xét xử
Căn cứ vào quy định tại các Điều 33 và 34 Bộ luật tố tụng dân sự, luật sư có thể xác định thẩm quyền
theo cấp xét sử vụ án kinh doanh, thương mại. Theo đó, tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền
giải quyết những tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối,
đại diện, đại lý, ký gởi, thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn kỹ thuật, vận chuyển bằng đường sắt, đường
bộ, đường thủy nội địa mà không có yếu tố nước ngoài hoặc không cần phải ủy thác cho cơ quan lãnh
sự của Việt Nam ở nước ngoài hoặc tòa án nước ngoài. Có thể thấy, về tính chất, đây là những tranh
chấp tương đối phổ thông và đơn giản.
Ngoài những tranh chấp trên thuộc tòa án nhân dân cấp huyện, các tranh chấp kinh doanh, thương
mại còn lại theo quy định tại Điều 29 Bộ luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp
tỉnh nếu như không thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mài như đã nói ở trên.

Việc xác định đúng thẩm quyền theo cấp xét xử cũng giúp khách hàng khởi kiện đúng cơ quan có thẩm
quyền giải quyết, tranh kéo dài thời gian giải quyết vụ án do phải thực hiện thủ tục chuyển vụ án theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc phải làm lại hồ sơ khởi kiện.
c. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Khi hỗ trợ khách hàng trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, luật sư phải nắm
vững các quy định tại Điều 35, 36 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc phân định thẩm quyền theo lãnh
thổ giải quyết vụ án dân sự được giải quyết theo các quy tắc sau :
Thứ nhất, xác định theo nơi có địa chỉ của bị đơn. Nơi có địa chỉ của bị đơn được hiểu là: đối với cá
nhân là nơi cư trú, làm việc; đối với tố chức là nơi có trụ sở, hoặc trụ sở chính. Nguyên tắc này có
ngoại lệ đó là nguyên đơn và bị đơn có thể thỏa thuận bằng văn bản về việc lựa chọn Tòa án nơi có
địa chỉ của nguyên đơn để khởi kiện cụ án dân sự nói chung, trong đó có vụ án kinh doanh, thương
mại.
Thứ hai, là xác định theo quy tắc tòa án nơi có bất động sản. Trong việc giải quyết vụ án kinh doanh
thương mại, nguyên tắc nà thường ít sử dụng hơn. Quy tắc này xác định tòa án nơi có bất động sản
tọa lạc có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp được áp dụng nguyên tắc này là các tranh
chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản.
Bên cạnh các nguyên tắc luật định trên, nguyên đơn có quyền lựa chọn tòa án để giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại. Các trường hợp này được quy định tại Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sư. Quyền
lựa chọn của nguyên đơn cũng bị giới hạn bởi việc phải cam kết là chỉ khởi kiện tại Tòa án mà mình lựa
chọn, nếu nguyên đơn khởi kiện tại nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền thì Tòa án thụ lý đầu tiên có
thẩm quyền giải quyết.
3. Kỹ năng chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại
Hồ sơ khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại là hồ sơ mà nguyên đơn nộp cho Tòa án khi khởi kiện vụ
án kinh doanh thương mại. Hồ sơ khởi kiện giúp đưa các thông tin chính của nguyên đơn đối với hội
đồng xét xử. Hồ sơ khởi kiện chứa đựng những ý tưởng quan trọng mà qua đó nguyên đơn muốn làm
sáng tỏ yêu cầu của mình.
Sau khi thống nhất với khách hàng khởi kiện hay không khởi kiện, nếu khách hàng quyết định khởi
kiện, luật sư sẽ tiến hành giúp khách hàng chuẩn bị hồ sơ khởi kiện. Theo quy định tại Điều 166 của Bộ
luật tố tụng dân sự thì hồ sơ khởi kiện mà người khởi kiên phải gửi đến Tòa án gồm: Đơn khởi kiện và
các giấy tờ, tài liệu nộp kèm đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện là tài liệu đầu tiên luật sư cần giúp khách hàng chuẩn bị. Đây là tài liệu có ý nghĩa quan
trọng, luật sư cần trao đổi với khách hàng về diễn biến quá trình diễn ra vụ tranh chấp, những sự kiện
mấu chốt trong quan hệ tranh chấp và mong muốn của khách hàng; từ đó giúp khách hàng làm đơn
khởi kiện hoặc giúp khách hàng sửa lại đơn khởi kiện cho phù hợp.
Đơn khởi kiện càng thể hiện rõ các yêu cầu của khách hàng và những căn cứ chứng minh cho yêu cầu
đó bao nhiêu thì càng thuận lợi cho khách hàng bấy nhiêu khi đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại tòa
án. Đơn khởi kiện mà luật sư giúp khách hàng soạn thảo phải đảm bảo đầy đủ các nội dung và hình
thức theo quy định tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự. Về hình thức, luật sư có thể căn cứ
vào biểu mẫu Đơn khởi kiện ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Kèm theo đơn khởi kiện, luật sư cần giúp khách hàng chuẩn bị các giấy tờ, tài liệu nộp kèm theo đơn
khởi kiện. Các giấy tờ, tài liệu gửi kèm đơn kiện cũng là yếu tố giữ vai trò quan trọng. Vai trò của các
tài liệu này là chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.
Đối với từng loại tranh chấp, luật sư cần chuẩn bị các giấy tờ, tài liệu nộp kèm theo đơn kiện có khác
nhau. Nhưng nhìn chung, thường có các tài liệu sau:
- Các giấy tờ nhằm xác định địa vị pháp lý của người khởi kiện (hồ sơ pháp nhân), như GCNĐKKD
(GCNĐKDN), Quyết định thành lập, điều lệ… đối với chủ thể khởi kiện là tổ chức. Đối với chủ thể khởi
kiện là các nhân thì phải nộp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng minh nhân dân hoặc hộ
chiếu;
- Các giấy tờ nhằm xác định tư cách đại diện của người ký đơn kiện: Quyết định bổ nhiệm, biên bản
bầu, giấy ủy quyền…;
- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh địa vị pháp lý của người bị kiện cũng tương tự như người khởi kiện
nếu người khởi kiện có thể thu thập được;
- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện, bao gồm:
+ Đối với tranh chấp hợp đồng, tài liệu chứng minh yêu cầu là: văn bản hợp đồng, các phụ lục hợp
đồng; hóa đơn chứng từ…liên quan đến quá trình giao nhận hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thanh
toán; công văn, giấy tờ mà các bên trao đổi với nhau trước và sau khi ký hợp đồng, thư từ, văn bản đề
nghị đàm phán giải quyết tranh chấp, văn bản khiếu nại thương mại, Biên bản thanh lý hợp đồng, biên
bản các cuộc họp, các buổi làm việc giữa các bên để thương lượng, hòa giải …
+ Đối với tranh chấp công ty khách hàng cần phải nộp theo các giấy tờ, tài liệu như: Điều lệ công ty,

Danh sách thành viên, Biên bản bầu các chức danh, Biên bản định giá tài sản góp vốn; Biên bản các
cuộc họp của cơ quan quản lý; Các quyết định quản lý liên quan đến quan hệ đang tranh chấp; Giấy
chứng nhận phần vốn góp, các thông báo, hồ sơ mời họp giải quyết tranh chấp, Biên bản các cuộc họp
của cơ quan quản lý công ty liên quan đến nội dung đang tranh chấp, Các quyết định quản lý công ty
liên quan đến quan hệ pháp luật đang tranh chấp… Ngoài ra, đối với Công ty cổ phần thì luật sư cần tư
vấn chuẩn bị cho khách hàng thu thập các giấy tờ, tài liệu gồm: các giấy tờ, tài liệu xác định quyền sở
hữu cổ phiếu, trái phiếu; Hợp đồng mua bán cổ phiếu, trái phiếu; Hóa đơn chứng từ liên quan đến việc
thanh toán tiền mua bán cổ phiếu, trái phiếu; Điều lệ hoạt động của công ty phát hành cổ phiếu, trái
phiếu đang có tranh chấp trong việc chuyển nhượng; …
+ Đối với tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, luật sư tư vấn cho khách hàng cần phải nộp: hợp đồng
chuyển giao, chuyển nhượng (nếu có), Văn bằng bảo hộ đối với đối tượng sở hữu công nghiệp và
quyền tác giả; Các tài liệu, chứng cứ chứng minh sự vi phạm bản quyền đã được bảo hộ, các tài liệu,
hồ sơ về khiếu nại, thông bào hành vi vi phạm, các văn bản thỏa thuận giải quyết tranh chấp, …
Các giấy tờ, tài liệu nộp kèm đơn kiện có thể là bản chính hoặc bản sao hợp lệ. Để hạn chế nguy cơ
thất lạc bản chính, khi nộp các giấy tờ tài liệu có liên quan kèm theo đơn khởi kiện, luật sư nên khuyên
khách hàng của mình nộp bản sao thông thường có đóng dấu của doanh nghiệp. Trường hợp cần thiết,
theo yêu cầu băt buộc của pháp luật tố tụng hoặc của tòa án, người nộp đơn mới nên xuất trình bản
chính để tòa án đối chiếu khi cần thiết hoặc khi có yêu cầu.
Mọi giấy tờ, tài liệu giao nộp cho tòa án đều phải được pho to thêm ít nhất 2 bản để lưu một bản trong
hồ sơ của luật sư. Trước khi nộp hồ sơ khởi kiện, người nộp đơn cần chuẩn bị sẵn danh mục các tài liệu
nộp kèm đơn khởi kiện. Danh mục này được chuẩn bị thành hai bản có chữ ký xác nhận của người nộp
đơn. Khi nộp hồ sơ khởi kiện cần yêu cầu người đơn ký xác nhận vào danh mục các tài liệu nộp kèm
đơn khởi kiện và lưu lại một bản trong hồ sơ luật sư. Đây là hoạt động cần thiết để bảo vệ quyền và lợi
ích của khách hàng và loại bỏ những tranh chấp phát sinh giữa luật sư đối với khách hàng trong việc tư
vấn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
4. Kỹ năng của luật sư trong việc hỗ trợ khách hàng nộp đơn khởi kiện.
Theo quy định tại Điều 166 Bô luật tố tụng dân sự thì đơn khởi kiện và các giấy tờ kèm theo đơn được
nộp cho tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Hồ sơ khởi kiện có thể được nộp trực tiếp tại tòa
án hoặc gửi qua đường bưu điện. nếu luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng trong việc đại
diện theo uỷ quyền nộp đơn khởi kiện thì phải có văn bản uỷ quyền của khách hàng. Nếu khách hàng

tự mình thực hiện thì luật sư cần hướng dân khách hàng thực hiện việc nộp đơn đúng quy định pháp
luật và tiến hành đúng thủ tục để bảo vệ lợi ích của khách hàng.
Nếu nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Toà án, luật sư cần hướng dẫn khách hàng yêu cầu bộ phận tiếp
nhận đơn khởi kiện phải cấp giấy báo nhận đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trong giấy báo này, cần
yêu cầu cán bộ nhận đơn ghi rõ các giấy tờ, tài liệu mà khách hàng nộp kèm để tránh việc thất lạc, bất
lợi về sau. Nếu gửi đơn qua đường bưu điện, luật sư cần tư vấn cho khách hàng sử dụng dịch vụ
chuyển phát bảo đảm có báo phát ghi số. Giấy báo phát là cơ sở chứng minh việc đã nộp đơn khởi
kiện. Việc nộp đơn khởi kiện qua đường bưu điện phù hợp trong trường hợp khách hàng bận công việc,
bị nơi nhận đơn trả đơn do yêu cầu những thủ tục không cần thiết hoặc sắp hết thời hiệu khởi kiện. Khi
Toà án nhận đơn khởi kiệnqua bưu điện, Toà án phải gửi giấy báo nhận đơn khởi kiện để thông báo
cho người khởi kiện biết. Do đó, luật sư cần tư vấn cho khách hàng cần lưu giữ để làm cơ sở xác định
một số loại thời hạn tố tụng.
Ngoài ra, luật sư cũng cần lưu ý khách hàng về thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí để Toà án thụ lý vụ án.
Sau khi Toà án xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Toà án ra Thông báo tạm ứng án
phí. Toà án ấn định cho người khởi kiện trong thời hạn mười lăm ngày, trong thời hạn này, người khởi
kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án được chỉ định trong Thông báo. Sau khi nộp
tiền tại cơ quan thi hành án, người khởi kiện phải nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.
Theo quy định, cơ quan thi hành án giao cho người nộp 02 biên lai, người khởi kiện chỉ phải nộp một
bản cho Toà án, bàn còn lại phải lưu giữ trong hồ sơ để chứng minh cho việc đã thực hiện trên vụ trên.
Luật sư cũng cần lưu ý khách hàng nếu hết thời hạn mà Toà án ấn định mà không có lý do chính đáng,
Toà án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Bên cạnh đó, việc thực hiện ngay việc nộp tiền tạm ứng án phí sẽ giúp
cho việc giải quyết vụ tranh chấp được nhanh chóng.
Kết luận:
Thông qua các phân tích trên, trong giai đọn khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại, luật sư cần tư
vấn cho khách hàng các vấn đề sau:
- Tư vấn cho khách hàng nên hay không nên khởi kiện vụ án tại Toà án thông qua các hoạt động: làm
rõ quan hệ giữa cá bên, để từ đó xác đinh tranh chấp phát sinh từ quan hệ đó có phải là tranh chấp
kinh doanh, thương mại; giúp khách hàng làm rõ quan hệ tranh chấp, nội dung, tính chất của tranh
chấp; xác định yêu cầu của khách hàng đối với việc giải quyết vụ việc.
- Tư vấn cho khách hàng các điều kiện khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại thông qua các hoạt

động: xác định quyền khởi kiện của khách hàng; xác định thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh, thương
mại; làm rõ việc vụ việc đã được giải quyết bằng bàn án hoặc quyết định có hiệu luật pháp luật chưa
và xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
- Tư vấn cho khách hàng về việc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại thông qua
hoạt động soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ phù hợp để nộp theo đơn khởi
kiện.
- Tư vấn, hỗ trợ cho khách hàng trong việc nộp đơn khởi kiện thông qua hình thức đại diện theo uỷ
quyền hoặc tư vấn cho họ hình thức gửi đơn, thủ tục nhận đơn, thủ tục nộp tiền tam ứng án phí để
Toà án thụ lý vụ án.
Có nhiều ý kiến cho rằng, việc khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại nói chung và vụ án dân sự nói
riêng chỉ là cơ sở để bắt đầu một vụ kiện tại Toà án, trong quá trình tố tụng, người khởi kiện có thể sử
dụng quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu hay bổ sung chứng cứ. Tuy nhiên, ý kiến đó là hoàn toàn sai
lầm, việc luật sư tư vấn cho khách hàng xác định rõ ràng, cụ thể và đúng pháp luật các yêu cầu khởi
kiện, đưa ra đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện sẽ giúp cho Toà án nhanh
chóng xác định được yêu cầu khởi kiện, định hướng giải quyết vụ án, giúp người khởi kiện rút ngắn
được thời gian, công sức.
Đối với luật sư, việc tư vấn nghiêm túc ngay từ đầu sẽ tạo thiện cảm của khách hàng đối với luật sư,
tạo niềm tin khách hàng và quyết định đến sự lực chọn của khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của
luật sư trong các giai đoạn tiếp theo hoặc trong các vụ việc khác. Ngoài ra, uy tín của luật sư cũng sẽ
được khẳng định đối với Toà án, với đối tác và các đồng nghiệp khác tham gia giải quyết vụ việc.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Bô luật Tố tụng dân sự năm 2004;
2) Bô luật dân sự năm 2005;
3) Luật thương mại năm 2005
4) Luật trọng tài thương mại năm 2009;
5) Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
6) Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai: “Thủ tục giải
quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự;
7) Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ nhất: “Những
quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự;

8) Tống Công Cường – Nguyễn Văn Tiến: Luật tố tụng dân sự, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, TP.HCM, 2008;
9) Học viện Tư pháp: Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà nội,
2009;

×