Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Vấn đề giai cấp công nhân ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (178.34 KB, 18 trang )

Sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân
việt nam
Giai cấp công nhân việt nam ra đời từ đầu thế kỉ 20.sinh ra và lớn lên ở
một nớc thuộc địa nửa phong kiến,dới sự thống trị của đế quốc pháp,nên
giai cấp cong nhân việt nam phát triển chậm.
Mặc dù số lợng ít,trình độ nghề nghiệp thấp ,còn mang nhiều tàn d của
tập quán nông nhân,song giai cấp công nhân việt nam đã nhanh chóng vơn
lên đảm đơng vai trò lãnh đạo cách mạng ở nớc ta do những diều kiện sau
đây:
_Giai cấp công nhân VN sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống
đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm.ở giai cấp công nhan nỗi nhuc mất n-
ớc cộng với nỗi khổ vì áp bức bóc lột của giai cấp t sản làm cho lợi ích giai
cấp và lợi ích dan tộc kết họp làm một,khiến cho động cơ cách mạng của
giai cấp cong nhân dợc tăng lên gấp bội .
_Giai cấp cong nhân VN ra đời từng bớc trỏng thành trong không khí sôi
sục của một loạt phong trào yêu nớc và các cuộc khởi nghĩa chống thực
dân kể từ khi thực dân pháp đặt chân lên đất nớc ta ,
_Vào lúc đó phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển,cuộc
cách mang tháng mời nga bùng nổ và gình thắng lợi ảnh hởng đến phong
trào công nhân thế giới,phong trào cong nhân VN cũng không ngoại
lệ.chính vào lúc đó nhà yêu nớc Nguyễn ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa
Mac_lê nin và ở đó ngời đã phát hiện ra là phải biêt phát huy sức mạnh của
giai cấp công nhân đẻ làm cuộc cánh mạng dân chủ nhân dân là con đờng
duy nhất.
Tấm gơng cách mạng nga và một số phong trào cánh mạng ở nhiều nớc
đã cổ vũ cho phong trào cong nhân non trẻ việt nam đứng lên nhận lấy sứ
mệnh lãnh đạo cách mạng nớc ta đồng thời cũng là chất súc tác khích lệ
nhân dân lựa chọn ,tiếp nhận con đờng cách mạng chủ nghĩa và đi theo con
đờng của giai cấp công nhân.Từ đó giai cấp công nhân việt nam là giai cấp
duy nhất lãnh đạo cánh mạng.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân


viêt nam
Giai cấp công nhân trên toàn thế giới cũng nh ở từng quốc gia đều có
môt sứ mệnh lịch sử nhất đinh và nhiêm vụ của họ là phải hoàn thành sứ
mệnh lịch sử đó.ở việt nam cũng vậy ,giai cấp công nhân cũng có sứ mệnh
lịch sủ của mình.
ở nớc ta giai cấp công nhân trớc hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dan.Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo
1
cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là đảng cộng sản
việt nam ,đấu tranh giành
chính quyền,thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dâniTrong giai đoạn
cách mạng xã hội chủ nghĩa ,giai cấp công nhân từng bớc lãnh đạo nhân
dân lao động xây dung thành công chủ nghĩa xã hội,không có ngời bóc lột
ngời ,giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức,bóc lôt,bất công.
vai trò l nh đạo của giai cấp công nhânã
trong cách mạng viêt nam.

Lịch sử viêt nam chứng minh rằng ,giai cấp công nhân viêt nam ra đời
cha đợc bao lâu ngay cả khi cha có đảng mà đã tổ choc một cách tự phát
nhiều cuộc đấu tranh chống thực dân và dợc nhân dân ủng hộ.Những cuộc
đấu tranh không chỉ giới hạn trong công nhân ,mà còn tác động sâu sắc đến
các tầng lớp khac, đặc biệt là giai cấp nông dân,làm cho bọn thực dân
hoảng sợ.
Giai cấp công nhân việt nam đã lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên
phong cũa nó là đảng cộng sản việt nam .Để có thể lãnh đạo ,giai cấp công
nhân phải có lực lợng ,có tổ choc tiêu biểu cho sự tự giác và bản chất giai
cấp của mình.Lực lợng đó là đảng cộng sản.Xét về thành phần xuât thân thì
nớc ta có nhiều đảng viên không phải là công nhân,nhng bất cứ đảng viên
nào cũng phảI đứng trên lập trờng giai cấp công nhân thể hiện ý tởng ở lý
luận Mac _Lê nin và đờng lối cách mạng.ở tinh thần kiên quyết cách mạng

trong cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh của giai cấp công nhân,vì lợi
ích của giai cấp công nhân,của nhân dân lao động ,và của cả dân tộc.
Trong công cuộc xây dựng đất nớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện
nay ,đội ngũ công nhân việt nam bao gồm những ngời lao động chân tay và
lao động chí óc hoạt động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ tạo
thành một lực lợng giai cấp công nhân thống nhất đai diện cho phơng thức
sản xuất tiên tiến dới sự lãnh đạo của đảng đang lãnh đạo công cuộc đổi
mới và phát triển đất nớc.Họ là lực lợng điđầu rong công cuôc công nghiệp
hoá,hiện đại hoá.

2
Giai cÊp c«ng nh©n lu«n lµ lùc
l îng ®I ®Çu
Tại Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt
Nam khoá VIII, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã khẳng định như vậy. Tuy
chỉ chiếm tỷ lệ không lớn trong dân số và lực lượng lao động xã hội,
nhưng giai cấp công nhân vẫn luôn luôn là lực lượng đi đầu, giữ vai trò
nòng cốt trong khối liên minh công nhân-nông dân-trí thức và khối đại
đoàn kết dân tộc, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư nêu rõ: ''Trong thời kỳ quá độ với
nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp,
tầng lớp xã hội khác nhau cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã
hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh đó, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là
quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác
lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo
thống nhất của Đảng. Lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
hoàn toàn thống nhất với lợi ích toàn dân tộc vì mục tiêu chung là: độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh''.

Khẳng định sự cần thiết phải xây dựng và phát triển các tổ chức công đoàn
cơ sở trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ, nội dung hoạt
động của tổ chức công đoàn trong các đơn vị này là phát động thi đua hoàn
thành nhiệm vụ sản xuất gắn với việc yêu cầu giới chủ bảo đảm sự đãi ngộ
và quyền lợi thỏa đáng cho giai cấp công nhân và người lao động làm thuê;
đấu tranh đòi giới chủ phải thực hiện đúng luật pháp của Nhà nước Việt
Nam, thực hiện đúng các hợp đồng lao động; xây dựng mối quan hệ vừa
đoàn kết, vừa đấu tranh với giới chủ trong việc bảo đảm hài hòa các lợi
ích.
Tổng Bí thư cũng lưu ý Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam về trách nhiệm trong việc giúp Trung ương xây dựng Nghị quyết về
giai cấp công nhân, trong đó phải làm rõ được những vấn đề lý luận và
thực tiễn bức xúc hiện nay như: định nghĩa về giai cấp công nhân trong
tình hình mới; về nội dung bóc lột và chống bóc lột, làm chủ và làm thuê;
về hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức
3
cụng on trong cỏc loi hỡnh doanh nghip; v vai trũ tiờn phong v lónh
o ca giai cp cụng nhõn.
Tng Bớ th cng yờu cu Tng Liờn on tng cng giỏo dc ch ngha
Mỏc- Lờnin v T tng H Chớ Minh i vi cụng nhõn, viờn chc. ng
thi cn tip tc nghiờn cu cú hỡnh thc t chc cỏc trng lp phự
hp vi iu kin v tỡnh hỡnh hin nay b tỳc v nõng cao trỡnh hc
vn, trỡnh nghip v ca cụng nhõn viờn chc lao ng; to iu kin
cho t chc cụng on hot ng cú hiu qu, sỏt thc t, khc phc bnh
hnh chớnh húa, to iu kin cụng on tham gia qun lý Nh nc,
qun lý xó hi.
ở việt nam,giai cấp công nhân là dũng cảm
nhất,cách mạng nhất.
T khi bc lờn v i chớnh tr, giai cp cụng nhõn luụn luụn dng

cm nht, cỏch mng nht, gan gúc ng u vi bn quc, thc dõn
Giai cp cụng nhõn Vit Nam l sn phm trc tip ca chớnh sỏch khai
thỏc thuc a ca thc dõn Phỏp. Lp cụng nhõn Vit Nam u tiờn xut
hin gn lin vi cuc khai thỏc thuc a ln th nht 1897. Trc chin
tranh th gii ln th nht (1914-1918) giai cp cụng nhõn nc ta mi ch
cú 10 vn ngi, trỡnh cũn yu kộm. n cuc khai thỏc thuc a ln
th hai (1924-1929) s lng cụng nhõn ó tng lờn 22 vn, chim 1,2%
dõn s. Va mi ra i, giai cp cụng nhõn Vit Nam ó tr thnh lc
lng tiờn phong ca xó hi Vit Nam. Trong ba phn t th k qua, giai
cp cụng nhõn Vit Nam m i tin phong l ng Cng sn Vit Nam
ó dn dt cỏch mng nc ta thu c nhng thnh qu v i, ginh li
c lp dõn tc, ỏnh thng cỏc cuc chin tranh xõm lc, thng nht
nc nh. Ngy nay giai cp cụng nhõn thụng qua ng tiờn phong ca
mỡnh ang thc hin s mnh lónh o s nghip i mi ton din, y
mnh cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ (CNH,HH) t nc a nc ta
phỏt trin theo con ng xó hi ch ngha.
Giai cp cụng nhõn Vit Nam phỏt trin qua nhiu thi k, c bit t nm
1986 khi ng tin hnh cụng cuc i mi ton din t nc n nay.
Nm 1985 i ng cụng nhõn nc ta cú 3,38 triu ngi, chim 16% lc
lng lao ng xó hi. Nm 1998 s lng cụng nhõn tng lờn 5.646.675
ngi. Nm 1999 l 6.304.350 ngi. Nm 2000 l 7.639.914 ngi,
chim 9% dõn s, 16% lao ng xó hi. Nm 2002 l 10,81 triu ngi,
chim 13,55% dõn s.
4
Lịch sử đã chứng minh kể từ khi bước lên vũ đài chính trị, giai cấp công
nhân Việt Nam luôn luôn là lực lượng tiên phong gắn liền với quá trình
đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam. Sinh ra và lớn lên từ một nước
vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn
dân tộc, dù còn non trẻ, song giai cấp công nhân đã sớm trở thành giai cấp
duy nhất được lịch sử dân tộc thừa nhận, giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách

mạng Việt Nam từ sau thất bại của phong trào yêu nước theo lập trường
phong kiến, lập trường tư sản và tiểu tư sản. Ra đời muộn, nhưng giai cấp
công nhân Việt Nam đã sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lê nin, hệ tư tưởng
của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị
tự giác và thống nhất, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giáo dục, rèn luyện đã
sớm giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, chân lý của thời đại là độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam luôn luôn nêu
cao tinh thần và bản chất cách mạng triệt để. Chủ yếu xuất thân từ nông
dân lao động, bị thực dân, phong kiến bóc lột, bần cùng hoá nên giai cấp
công nhân có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, liên minh giai
cấp đã trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc. Từ khi trở
thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam luôn phát huy bản
chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn là lực lượng
đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Tổng kết 30 năm hoạt động của
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “ Giai cấp phong kiến đã đầu
hàng đế quốc, giai cấp tư sản non yếu thì chỉ mong thoả hiệp với đế quốc
để tìm một lối sống. Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng
bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất,
cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân.
Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản
quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và
đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”
Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương khoá X, lại tiếp tục khẳng
định: Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang
phát triển, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với
quá trình CNH, HĐH đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những
chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất
lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công

nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách
mạng, vì vậy: “ Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của
Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người công nhân và
5
của toàn xã hội” và đó cũng chính là đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới,
của chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội.
Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, giai cấp công nhân nước ta luôn
luôn giữ vai trò trung tâm của quá trình biến đổi cách mạng và quyết định
xu hướng của sự biến đổi đó. Vốn sẵn có truyền thống cách mạng và kinh
nghiệm đấu tranh, giai cấp công nhân luôn là giai cấp tiên phong, là lực
lượng chủ đạo, là cơ sở xã hội chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH
đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng
được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ
năng nghề nghiệp của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế,
thiếu các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề,
tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế. Giác ngộ
giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều. Tỷ lệ cán bộ
lãnh đạo, đảng viên xuất thân từ công nhân còn thấp. Lợi ích của một bộ
phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của
công cuộc đổi mới. Đồng thời những hạn chế, yếu kém trong phát triển
kinh tế-xã hội cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và tư tưởng,
tình cảm của công nhân.
Để tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, không những phải kiên trì những quan điểm chỉ đạo,
mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp do Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành
Trung ương khoá X đề ra, mà còn đòi hỏi sự năng động, sáng tạo, quyết
tâm cao của các cấp uỷ Đảng, của cả hệ thống chính trị trong quá trình tổ
chức thực hiện. Đặc biệt là nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn, đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng cho sát với thực tiễn, phát huy vai trò

hạt nhân lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Muốn tổ chức và phát triển lực lượng xây
dựng to lớn của giai cấp công nhân thì cần có công đoàn mạnh và cán bộ
công đoàn tốt” Muốn thực hiện lời dạy của Lênin: “Công đoàn là trường
học của chủ nghĩa cộng sản”, Người chỉ rõ “cán bộ công đoàn phải thấm
nhuần và giáo dục cho công nhân thấm nhuần ý thức làm chủ tập thể và
cấn kiệm xây dựng nước nhà. Nâng cao nhiệt tình lao động và tôn trọng kỷ
luật lao động. Đẩy mạnh thi đua yêu nước. Ra sức giúp đỡ nông dân cải
tiến kỹ thuật canh tác, củng cố hơn nữa khối công nông liên minh. Chống
tệ quan liêu, lãng phí, tham ô, chống tư tưởng chờ đợi, ỷ lại và cục bộ. Cán
bộ phải cố gắng học tập văn hóa, chính trị, nghiệp vụ. Kinh tế của ta ngày
càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng thêm đông. Muốn làm tròn
nhiệm vụ của mình thì cán bộ phải luôn luôn cố gắng học tập, cố gắng
vươn lên để không ngừng tiến bộ. Phải tiếp tục đẩy mạnh cải tiến quản lý
6
thực hiện tốt công nhân tham gia quản lý và cán bộ tham gia lao động.
Công đoàn phải thực sự chăm nom nơi ăn, nơi ở của công nhân, viên chức
công đoàn phải đi sát quần chúng, tăng cường kiểm tra, bớt giấy tờ và hội
họp. Đã gần nửa thé kỷ, nhưng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp
tục soi sáng cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Giai cÊp c«ng nh©n viªt nam –thùc tr¹ng vµ
suy ngÉm
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về tổ chức, giỏi về chuyên môn,
vững vàng về bản lĩnh chính trị, đủ sức làm chủ quá trình đổi mới, chủ
động và tích cực hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa là trách nhiệm của
toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Giai cấp công nhân Việt Nam chính là
nền tảng và là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng. Xây dựng giai
cấp công nhân lớn mạnh trong điều kiện hiện nay về thực chất là góp phần
quan trọng vào quá trình xây dựng Đảng.
Hơn 20 năm đổi mới vừa qua, nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề

này, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ
giai cấp công nhân. Nhờ đó, giai cấp công nhân Việt Nam đã có bước phát
triển lớn mạnh, trưởng thành về chất và có những đóng góp to lớn vào quá
trình đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, giai cấp công nhân nước
ta đang phải đối mặt với không ít thách thức, những con số khảo sát dưới
đây thực sự là những vấn đề rất đáng để chúng ta suy ngẫm.
1 - Chất lượng nguồn nhân lực - thách thức của quá trình phát triển.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của dòng vốn đầu tư nước ngoài và xu thế
phát triển của các doanh nghiệp trong nước, đội ngũ công nhân nước ta
đang bộc lộ dấu hiệu hụt hẫng và bất cập. Tình trạng thiếu hụt lao động có
tay nghề cao và các chức danh quản lý có trình độ đang là hiện thực. Số
liệu khảo sát tại tỉnh Đồng Nai cho thấy, 72,55% công nhân lao động trong
các doanh nghiệp có độ tuổi từ 18 - 35. Tuyệt đại bộ phận đều là học sinh
phổ thông và xuất thân từ nông thôn, trong đó lao động phổ thông chiếm
đến 43%; 27% có tay nghề đáp ứng được yêu cầu của công việc đang đảm
nhận nhưng đại đa số chưa qua đào tạo và không có bằng cấp. Số đã qua
đào tạo có bằng cấp chỉ chiếm 30%, trong số đã được đào tạo, tỷ lệ có tay
nghề cao cũng rất ít.Bậc 1- 3 chiếm tỷ lệ 66,51%, bậc 4 - 5 chiếm tỷ lệ
25,01%, bậc 6 và 7 chiếm chỉ có 6,88%. Không cần phải cảnh báo, với tốc
độ thu hút FDI và xu thế phát triển như 2 năm gần đây (2006 - 2007), vấn
7
đề thiếu hụt nguồn nhân lực có tay nghề sẽ càng trở nên trầm trọng. Giai
cấp công nhân nước ta không những bất cập so với yêu cầu phát triển
chung của thời đại mà đang thực sự bất cập với chính yêu cầu phát triển
của bản thân sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
2 - Vấn đề ý thức giai cấp và phẩm chất chính trị của đội ngũ công nhân.
Chúng ta không phủ định mặt tích cực và những đóng góp chung to lớn
của đội ngũ giai cấp công nhân nước ta, bởi họ là lực lượng đang vận hành
những cơ sở vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội,
quyết định phương hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế, nhưng trước

mặt trái của cơ chế thị trường và diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,
nhiều công nhân lao động có biểu hiện phai nhạt về chính trị, một bộ phận
chỉ lo lắng nhiều đến những vấn đề thiết thực trước mắt, ít quan tâm đến
những vấn đề lâu dài có tính chiến lược như định hướng xã hội chủ nghĩa,
vai trò vị trí của giai cấp công nhân
Khảo sát tại Đồng Nai cho thấy: 95% công nhân trả lời chỉ quan tâm đến
việc làm và thu nhập, có 40% công nhân được hỏi có quan tâm tới vấn đề
định hướng xã hội chủ nghĩa, 3,5% công nhân không trả lời. Tỷ lệ công
nhân là đảng viên rất thấp, năm 2003 là 7,69%, năm 2004 là 8,18%, năm
2005 là 6,87%. Tổ chức đảng được đánh giá là hoạt động tốt chỉ chiếm
35,7%, Công đoàn 45,5%, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chỉ có
24,6%, Hội Cựu chiến binh 5,9%. Cũng theo số liệu khảo sát tại 13 doanh
nghiệp khác nhau với 5.400 công nhân, cho thấy chỉ có 38,2% công nhân
thường xuyên được học tập các nghị quyết của Đảng. Trong đó doanh
nghiệp nhà nước có tỷ lệ 51,9%, doanh nghiệp liên doanh 40%, công ty cổ
phần 37,5%, công ty tư nhân 32,8%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài chỉ có 24,9%. Bản thân công nhân cũng không thường xuyên cập
nhật thông tin. Khảo sát 100 công nhân Công ty Giầy Thái Bình về WTO
chỉ có 10% trả lời có nghe nói về WTO nhưng không hiểu WTO là gì.
Rõ ràng, nếu bản thân người công nhân chưa giác ngộ về mục tiêu lý
tưởng, non yếu về bản lĩnh chính trị cộng với trách nhiệm của các cấp và
công tác đào tạo chăm lo như hiện nay, thì sẽ rất khó vượt qua được áp lực
của toàn cầu hóa và hội nhập.
3 - Cường độ lao động, việc làm, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đang
xuất hiện nhiều vấn đề nghịch lý.
8
Nước ta hiện đang thuộc nhóm quốc gia có số lượng lao động thất nghiệp
cao, nhiều công nhân thiếu việc làm. Tuy thiếu việc làm nhưng nhìn chung
cường độ làm việc của công nhân tại các doanh nghiệp lại rất căng. Hầu
hết các doanh nghiệp đều tăng ca để bảo đảm kế hoạch và tăng doanh thu.

Điều đáng nói là Luật Lao động quy định công nhân làm việc không quá
200h/người/năm, nhưng trong nhiều doanh nghiệp công nhân đã phải làm
việc bình quân tới 500 - 600h/người/năm.
Ở hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có công trình và
những điều kiện bảo đảm sinh hoạt văn hóa tối thiểu cho công nhân. Theo
một kết quả điều tra xã hội học tại Bình Dương có đến 71,8% công nhân
không hề đến rạp chiếu phim, 88,2% không đi xem ca nhạc, 84,7% không
đi xem thi đấu thể thao, 95,3% chưa từng đến sinh hoạt tại các câu lạc bộ,
91,8% không bao giờ đến các nhà văn hóa tham gia các hoạt động vui chơi
giải trí, văn hóa tinh thần, 89% giải trí bằng ti-vi, 82,4% bằng nghe đài, chỉ
có 1,2% sử dụng In-tơ-nét. Nguyên nhân của tình hình trên đều do công
nhân không có đủ thời gian và bản thân các khu công nghiệp cũng không
có đủ cơ sở vật chất để đáp ứng.
Thực trạng trên đây đã dồn nén làm bùng nổ các cuộc đình công lan rộng
và rất khó kiểm soát như hiện nay. Nếu từ 1995 đến 2005 tất cả các khu
công nghiệp, khu chế xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh có 437 vụ đình
công (bình quân 40 vụ/năm), riêng 6 tháng đầu năm 2006 đã có 303 vụ. Có
những vụ số lượng tham gia đến hàng nghìn người, nhiều vụ kéo dài từ 1 -
2 ngày. Xu hướng cho thấy các cuộc đình công tự phát ngày càng gia tăng
và lan rộng, tính chất gay gắt, phức tạp khó lường. Đình công trở thành
hiện tượng phổ biến ở tất cả các thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp
nhà nước là 6,9%, doanh nghiệp tư nhân 30%, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất 66,5%. Nguyên nhân của các cuộc đình
công phần lớn đều xuất phát từ phía người sử dụng lao động không thực
hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật: Không trả lương đúng bảng
lương đã đăng ký, tự ý thay đổi định mức lao động, sa thải công nhân vô
cớ, hà khắc trong quản lý điều hành, điều kiện lao động không bảo đảm vệ
sinh tối thiểu, tiền phụ cấp độc hại thấp, không đóng bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế đầy đủ cho công nhân Đáng nói hơn cả là tỷ lệ ký kết các hợp
đồng lao động với công nhân rất thấp. Nếu có ký chủ yếu cũng chỉ là các

hợp đồng ngắn hạn. Hiện nay mới chỉ có 21% doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho công nhân, 69% còn lại
chưa được bảo đảm về những quyền lợi tối thiểu.
4 - Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phong trào công nhân.
9
Cùng với sự nghiệp đổi mới, giai cấp công nhân nước ta đã có sự trưởng
thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, chưa bao giờ chúng ta có lực
lượng công nhân đông đảo như hiện nay. Tính đến cuối năm 2005, tổng số
công nhân lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế đã lên đến 11,3 triệu người. Trong đó doanh nghiệp nhà nước là
1,84 triệu, công nhân trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước 2,95 triệu,
tăng 6,86 lần; 1,3 triệu công nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tăng 12,3 lần; doanh nghiệp cá thể 5,29 triệu, tăng 1,63
lần so với 1995.
Công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm
70,9%, ngành dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, các ngành khác chiếm
4,8%. Riêng các cơ sở kinh tế cá thể công nhân chủ yếu làm việc trong các
lĩnh vực dịch vụ và thương mại chiếm 66,67%; 33,33% còn lại làm việc
trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Các số liệu trên đây cho thấy, đội ngũ và cơ cấu giai cấp công nhân tăng
nhanh, nhưng công tác phát triển đảng và vai trò của Công đoàn, Đoàn
Thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên trong công nhân chưa tương xứng,
thậm chí rất mờ nhạt.
Nói giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nhưng nhiều công
nhân chưa muốn vào Đảng. Công tác phát triển đảng trong công nhân rất
chậm, không có mục tiêu, kế hoạch và định hướng chiến lược cụ thể. Ở
hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân
đều không muốn hoặc không quan tâm đến việc xây dựng các tổ chức
đảng. Những nơi có tổ chức đảng thì lúng túng trong công tác tổ chức và
phương thức hoạt động, chất lượng đảng viên, hiệu quả hoạt động của các

tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp loại hình này đa phần là yếu
kém.
Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên trong phong trào công nhân
cũng đang nổi lên nhiều vấn đề bức xúc. Đoàn, hội là lực lượng xung kích
và là trường học giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên công nhân,
nhưng nhiều năm qua, tổ chức đoàn, hội cũng chưa có bước chuyển thích
hợp. Hình thức tổ chức và tập hợp thanh niên công nhân của đoàn, hội
chưa thực sự hấp dẫn, chưa phù hợp với cuộc sống và nhu cầu của tuổi trẻ
trước những đổi thay phong phú, đa dạng của đời sống thực tiễn. Nhiều
cuộc đình công, bãi công tự phát liên tiếp diễn ra trong các doanh nghiệp
thời gian qua chưa thấy rõ vai trò của tổ chức Đoàn và Hội Liên hiệp thanh
niên công nhân. Nếu đoàn và hội không là người đi tiên phong bảo vệ lợi
10
ích chính đáng của đoàn viên, hội viên, không là chỗ dựa vững chắc chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần, là nơi gửi gắm tình cảm, niềm tin, đoàn và
hội sẽ không tập hợp và tổ chức được thanh niên.
Từ thực tiễn và các vấn đề nêu trên, xin có một số kiến nghị đề xuất.
Một là: Cần định hướng lại mục tiêu của giáo dục cho sát với yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có kế hoạch đào tạo nguồn nhân
lực thích ứng với mục tiêu phát triển cụ thể của từng giai đoạn. Thực hiện
nhất quán chủ trương xã hội hóa giáo dục, trong đó Nhà nước và các tổ
chức xã hội có nhiệm vụ đào tạo cơ bản ban đầu, các doanh nghiệp trực
tiếp sử dụng công nhân phải có trách nhiệm đào tạo nâng cao tay nghề, cập
nhật kiến thức chuyên môn, tiêu chuẩn hóa chức danh nghề nghiệp trong
mỗi doanh nghiệp.
Quan tâm đến đội ngũ giai cấp công nhân hiện nay là phải quan tâm đến
trình độ văn hóa, năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp và ý thức
chính trị của họ. Xây dựng giai cấp công nhân phải thể hiện trước hết ở
việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn.
Cần xem việc đào tạo nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn là một

trong những chỉ tiêu pháp lệnh như mọi chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
khác. Một thế hệ công nhân mới giỏi về chuyên môn, vững vàng về ý thức
chính trị, tự họ sẽ vươn lên làm chủ và đủ sức đối đầu với mọi thách thức.
Nâng tầm trí tuệ, năng lực chuyên môn và ý thức chính trị cho đội ngũ giai
cấp công nhân, chính là nhân tố góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị,
củng cố vững chắc cơ sở chính trị - xã hội của Đảng trong thời kỳ mới.
Hai là: Phải xem công tác xây dựng Đảng, củng cố các đoàn thể quần
chúng là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với phong trào công nhân hiện
nay. Để làm được điều này chúng ta phải thẳng thắn trả lời một câu hỏi
lớn. Vì sao Đảng của giai cấp công nhân, Công đoàn của công nhân, Đoàn
Thanh niên là tổ chức chính trị của tuổi trẻ công nhân, nhưng một bộ phận
công nhân chưa thiết tha vào Đảng vào Đoàn, chưa hoàn toàn xem công
đoàn là tổ chức của họ. Thực tế cho thấy công tác xây dựng Đảng và tổ
chức công đoàn, đoàn thanh niên chưa theo kịp yêu cầu phát triển của sự
nghiệp đổi mới. Một mặt do áp lực của những điều kiện khách quan, mặt
khác bản thân các tổ chức đảng, công đoàn cũng bộc lộ những bất cập yếu
kém, tự thân không theo kịp yêu cầu của sự phát triển, nhưng không có
những chấn chỉnh kịp thời. Đã đến lúc không chỉ dừng lại ở những chỉ thị
nghị quyết mà nên có những văn bản pháp luật thể chế rõ chỉ thị nghị
quyết thành những quy định cụ thể. Đảng ta là Đảng cầm quyền, hoạt động
11
của các tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên phải được hình thành
trong từng doanh nghiệp bất kỳ thuộc thành phần kinh tế nào. Tuy nhiên
hoạt động của các tổ chức trên đây phải góp phần làm cho doanh nghiệp
phát triển, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Đời sống vật chất, tinh
thần và các quyền lợi khác của người công nhân phải được bảo đảm tốt
hơn. Các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước phải được thực thi và chấp hành nghiêm túc.
Tóm lại, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng
lâu dài khó khăn và đầy thách thức. Chúng ta không thể nói giữ vững và

tăng cường bản chất giai cấp công nhân một khi giai cấp không hoàn thành
được những trọng trách và những nhiệm vụ kinh tế - xã hội cụ thể do sự
nghiệp đổi mới đang đặt ra. Vì thế phải bằng sự nhạy cảm và bản lĩnh
chính trị kiên định, Đảng ra sức phấn đấu làm cho giai cấp công nhân,
bằng lao động sáng tạo của mình, tạo ra sự giàu có và phát triển ổn định
cho đất nước. Chuẩn bị cho họ những điều kiện để thông qua những đóng
góp cống hiến của mình, giai cấp công nhân được xã hội trân trọng, tôn
vinh. Nhờ đó mà phát triển đội ngũ về số lượng, chất lượng và tổ chức,
nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp,
vươn lên trở thành giai cấp công nhân trí thức, lực lượng trụ cột của Đảng
và của toàn xã hội.
X©y dùng,ph¸t triÓn toµn diÖn giai cÊp c«ng nh©n v
iÖt nam trong thêi k× ®æi míi.
Bước vào thế kỷ XXI, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tư duy của Đảng về
giai cấp công nhân ngày càng phát triển và hoàn thiện. Tại Đại hội IX
(năm 2001), Đảng ta khẳng định: "Đối với giai cấp công nhân, coi trọng
phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính
trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện "trí thức hóa công nhân",
nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng
suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi
đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò lãnh
đạo cách mạng trong thời kỳ mới "
(5)
.
Như vậy, có thể khẳng định: Sự đổi mới tư duy của Đảng ta về vị trí, vai
trò của giai cấp công nhân từng bước được bổ sung trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng, tạo nền tảng cho việc hoàn thiện đường lối, chủ
trương xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân, đã và đang là
12

động lực mạnh mẽ thúc đẩy giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh và
ngày càng có những đóng góp to lớn, có tính chất quyết định đến sự phát
triển của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, giai cấp công nhân nước ta tuy
chỉ chiếm 17,5% tổng lực lượng lao động xã hội, nhưng hằng năm tạo ra
khoảng 70% giá trị tổng sản phẩm trong nước, và đang nắm giữ những cơ
sở vật chất quan trọng nhất và có tính quyết định tới phương hướng phát
triển của nền kinh tế - xã hội, thực sự là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức,
là nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết dân tộc.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đang
phát triển nhanh chóng và có tác động sâu sắc, mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, cuộc đua giành thắng lợi trong sản xuất, kinh doanh
hiện nay chủ yếu là đua tranh về trí tuệ, về hàm lượng chất xám, chất
lượng nguồn nhân lực, giai cấp công nhân nước ta hiện đang còn bộc lộ
không ít mặt hạn chế: Trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đa phần
chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc, nhiều công nhân
chưa qua đào tạo; thiếu kỹ sư giỏi và công nhân lành nghề trong nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và công
nghệ; có sự mất cân đối trong cơ cấu lao động kỹ thuật giữa các bộ phận
công nhân; ý thức phấn đấu rèn luyện, học tập nâng cao trình độ, ý thức tổ
chức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp của không ít công nhân chưa
cao; một bộ phận bị tha hóa, có lối sống thực dụng, phai nhạt lý tưởng
Trước yêu cầu của tình hình mới, việc xây dựng, phát triển giai cấp công
nhân là yêu cầu khách quan và cấp bách, đòi hỏi Đảng, Nhà nước cũng
như cả hệ thống chính trị cần hoạch định và thực hiện tốt chiến lược xây
dựng, phát triển, phát huy triệt để vai trò tiên phong và gương mẫu của giai
cấp công nhân, coi đây là nhiệm vụ chiến lược tất yếu, liên tục, gắn liền
với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Trước mắt cũng như lâu dài, Đảng và Nhà nước cần tập trung đầu tư toàn

diện nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam phát triển vững về số
lượng, mạnh về chất lượng, tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống quan
điểm, nguyên tắc về việc xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công
nhân.
Từ cách nhìn đó, Đảng ta tiếp tục đưa ra những đường lối, chủ trương
đúng đắn, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế và lãnh đạo Nhà nước thể
chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật để
giải quyết thỏa đáng các vấn đề sau:
13
1 - Đẩy mạnh cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân về việc
nâng cao hơn nữa nhận thức và ý thức phát triển trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ trong tầng lớp công nhân, lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của
sự phát triển đất nước, từ đó góp phần nâng cao địa vị của người lao động,
phát triển các giá trị văn hóa lao động, hình thành phong cách lao động
công nghiệp, tiên tiến, văn minh, góp phần cải thiện đời sống, phát triển
kinh tế - xã hội đất nước.
2 - Nhà nước cần tập trung nghiên cứu, hoàn thiện chính sách đào tạo, đào
tạo lại công nhân, xác định rõ tiêu chuẩn công nhân phải qua đào tạo, đặc
biệt trong các ngành trọng điểm, các lĩnh vực đòi hỏi trình độ kỹ thuật và
công nghệ cao. Cần xây dựng, hoàn thiện chính sách hướng nghiệp ở cấp
học phổ thông nhằm giúp học sinh định hướng đúng đắn việc chọn nghề;
có cơ chế khuyến khích, tuyển chọn một bộ phận thanh niên ưu tú, nhất là
con em các gia đình có truyền thống làm công nhân, những thanh niên
hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quân sự được đào tạo trong các trường dạy
nghề. Tạo điều kiện thuận lợi về cả vật chất và tinh thần cho công nhân
học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và
tin học; nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi trong tuyển chọn, sử dụng
đối với những công nhân giỏi nghề, học tập có kết quả cao, để đưa đi thực
tập hoặc đào tạo thêm ở các nước có nền công nghiệp phát triển. Đồng
thời, cần có quy định về việc tôn vinh những công nhân hội tụ đủ đức và

tài, có nhiều sáng kiến, thành tích nổi bật trong lao động, sản xuất nhằm
khuyến khích và thúc đẩy không khí thi đua phấn đấu trong đội ngũ công
nhân.
Nhà nước cần tiến hành kế hoạch hóa công tác dạy nghề một cách đồng
bộ, bảo đảm sự cân đối ngay trong hệ thống giáo dục, cũng như sự cân
bằng giữa giáo dục - đào tạo, dạy nghề, hướng nghiệp với nhu cầu và yêu
cầu thực tế của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng đầu tư kinh phí và
cơ sở vật chất cho các trường dạy nghề, ưu tiên xây dựng trường dạy nghề
chuẩn với chương trình chuẩn trong cả nước để đào tạo những ngành nghề
mũi nhọn; có chính sách phù hợp phát triển đa dạng và chuyên sâu nhiều
loại hình đào tạo tại các trường, trung tâm và tại chính các doanh nghiệp,
thu hút người lao động học tập nâng cao trình độ, tay nghề.
3 - Thông qua các chính sách xã hội và bằng chính sách xã hội, Nhà nước
cần đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu và điều kiện thiết yếu cho công
nhân, lao động, quan tâm hơn đến việc thực hiện chính sách xã hội đối với
công nhân, như: tiền lương, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế , bởi
nguyện vọng chính đáng của công nhân là khi tham gia lao động được trả
14
công tương xứng với sức lao động bỏ ra, có và được hưởng lợi ích vật
chất, tinh thần, cũng như các quyền lợi chính trị - xã hội một cách công
bằng. Sớm hoàn thiện chính sách nhà ở và chính sách khuyến khích đầu tư
phát triển nhà ở cho công nhân, lao động (đặc biệt ở các khu công nghiệp
tập trung) theo hướng Nhà nước và doanh nghiệp cùng góp vốn, hoặc huy
động thêm vốn của người lao động để xây các khu tập thể, hoặc nhà bán
trả góp cho họ, hoặc cho thuê, hỗ trợ về nhà ở cho những gia đình công
nhân, lao động nghèo nhằm giúp họ ổn định về chỗ ở, yên tâm cống hiến
cho công việc.
Xét ở góc độ quản lý, việc đáp ứng các điều kiện cho người lao động thực
chất là đầu tư chiều sâu, là bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trước mắt, cần xây
dựng, hoàn thiện hơn nữa môi trường xã hội và thị trường lao động lành

mạnh, tạo mọi điều kiện để công nhân, lao động được phát huy hết khả
năng của mình. Đồng thời, cần chú trọng khuyến khích các lĩnh vực, ngành
nghề, khuyến khích người có vốn, kỹ thuật, công nghệ, có trình độ quản
lý đầu tư vào sản xuất, kinh doanh để tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút
thêm nhiều lực lượng lao động.
4 - Hoàn thiện chính sách về bảo hiểm xã hội, thành lập quỹ hỗ trợ thất
nghiệp trên cơ sở huy động sự đóng góp của Nhà nước, người sử dụng lao
động, người lao động và sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân để trợ cấp một
phần tài chính cho người lao động khi bị thất nghiệp; cải cách chính sách
tiền lương và công tác tổ chức tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp
nhằm bảo đảm đời sống cho công nhân.
Đồng thời, cần quan tâm hơn nữa đến các chính sách khuyến khích xã hội,
như: chính sách thi đua - khen thưởng, tôn vinh các cá nhân, tập thể xuất
sắc, có nhiều sáng kiến, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, góp phần
rút ngắn thời gian lao động, nâng cao hiệu suất lao động, chất lượng và
hiệu quả công việc; có quy định ưu đãi những công nhân có thành tích lao
động, sản xuất tốt, nổi bật, nhằm khuyến khích họ cống hiến năng lực, trí
tuệ và sức lao động một cách hiệu quả nhất.
5 - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, chính
sách có liên quan trực tiếp đến người lao động: có quy định xử lý nghiêm
những vi phạm đến quyền lợi người lao động, chú trọng cải thiện điều kiện
lao động, phòng chống có hiệu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chính sách chăm sóc sức khỏe cho họ,
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh định kỳ, đặc biệt đối với nữ giới.
15
6 - Chú trọng công tác phát triển đảng trong công nhân, xây dựng đội ngũ
công nhân là đảng viên làm nòng cốt cho mọi hoạt động, phong trào của
các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Các cấp ủy cần triển khai tổ chức thực
hiện tốt các quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng và
phát triển tổ chức đảng, các đoàn thể (đặc biệt là tổ chức công đoàn) trong

những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân,
để bênh vực, bảo vệ các lợi ích chính đáng của người lao động, giúp họ
hiểu và được biết, thực hiện và được hưởng các quyền lợi cũng như nghĩa
vụ của mình.
16
Tài liệu tham khảo

1;Giáo trình chủ nghĩa x hội khoa họcã
2;báo điện tử đảng cộng sản việt nam
3;Một số tài liệu tham khảo khác


17
Mục lục:
Trang
Sự ra đời và phát triển của giai cấp
nhân việt nam
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân việt nam
vai trò l nh đạo của giai cấp công nhân trong ã
cách mạng viêt nam.
Giai cấp công nhân luôn là lực
l ợng đI đầu
ở việt nam,giai cấp công nhân là dũng cảm nhất;
cách mạng nhất
Giai cấp công nhân viêt nam thực trạng và suy ngẫm
Xây dựng,phát triển toàn diện giai cấp công nhân
việt nam trong thời kì đổi mới
Tài liệu tham khảo
18

×