Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

Một số vấn đề về xây dựng thương hiệu tại Công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIC) Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (320.8 KB, 58 trang )

Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
LỜI MỞ ĐẦU
Chưa bao giờ thương hiệu lại trở thành một chủ đề thời sự được các doanh
nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội thương mại quan tâm một cách
đặc biệt như hiện nay. Nhiều hội thảo, hội nghị đã được tổ chức, hàng trăm bài báo
và cả những trang website thường xuyên đề cập đến các khía cạnh khác nhau của
thương hiệu, thậm chí thương hiệu của tỉnh quốc gia cũng được đưa ra thảo luận.
Trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thị trường bảo hiểm trở
nên sôi động, các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt để giành giật thị phần. Chủ đề về
thương hiệu lại được các công ty Bảo hiểm quan tâm hơn bao giờ hết.
Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một công ty
mới xuất hiện trên thị trường bảo hiểm, việc khuếch trương định vị hình ảnh trong
tâm trí khách hàng lại càng trở nên quan trọng. Ngày 01/01/2006 đã trở thành một cột
mốc đáng nhớ, ghi dấu năm đầu tiên công ty Liên doanh bảo hiểm Việt Úc đi vào
hoạt động với tên gọi mới BIC, hệ thống mới và những nguồn lực mới. Trên chặng
đường phát triển đầu tiên này, song song với việc phát triển, xây dựng vị thế trên thị
trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, việc xây dựng và phát triển thương hiệu của
công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) là một nhiệm vụ
chiến lược.
Sau một thời gian thực tập tại công ty em đã chọn đề tài:”Một số vấn đề về
xây dựng thương hiệu tại công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam” để hoàn thành báo cáo của mình.
Nội dung báo cáo gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về thương hiệu và thương hiệu trong kinh
doanh bảo hiểm
Chương II: Hoạt động kinh doanh và công tác tạo dựng thương hiệu của BIC từ
khi thành lập đến nay.
Chương III: Một số kiến nghị về công tác tạo dựng thương hiệu và nâng cao
hiệu quả kinh doanh của công ty.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1


Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ THƯƠNG
HIỆU TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯƠNG HIỆU
1.1.1 Khái niệm thương hiệu
Thương hiệu đã xuất hiện cách đây hàng thế kỷ với ý nghĩa để phân biệt hàng
hoá của nhà sản xuất này với hàng hoá của nhà sản xuất khác.
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ:
Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ thiết kế,…
hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một
người hoặc một nhóm người bán hàng với hàng hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh
tranh”.
Một thương hiệu được cấu tạo bởi hai phần:
Phát âm được: là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác của
người nghe như tên công ty, tên sản phẩm, câu khẩu hiệu, đoạn nhạc hát đặc trưng và
các yếu tố phát âm được khác.
Không phát âm được: là những yếu tố không đọc được, mà chỉ có thể cảm nhận
được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì và
các yếu tố nhận biết khác.
Ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn
hiệu hàng hoá. Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm thương hiệu được hiểu rộng hơn
nhiều, nó có thể là bất kỳ cái gì được gắn liền với sản phẩm hoặc dịch vụ làm cho
chúng được nhận diện dễ dàng và khác biệt với các sản phẩm cùng loại. Do đó, việc
đầu tiên trong quá trình tạo dựng thương hiệu là lựa chọn và thiết kế cho sản phẩm
hoặc dịch vụ một tên gọi, logo, biểu tượng màu sắc kiểu dáng thiết kế, bao bì và các
yếu tố phân biệt khác trên cơ sở phân tích thuộc tính của sản phẩm, thị hiếu và hành
vi tiêu dùng của khách hàng mục tiêu và các yếu tố khác như pháp luật, văn hoá, tín
ngưỡng…Chúng ta có thể gọi các thành phần khác nhau đó của một thương hiệu là
các yếu tố thương hiệu.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

2
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Để hiều rõ hơn về khái niệm thương hiệu chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về
đặc tính của thương hiệu. Đặc tính thương hiệu là một thuật ngữ mới xuất hiện gần
đây và chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực marketing và truyền thông. Đặc tính của
một con người bao gồm: định hướng mục đích và lẽ sống của anh ta. Do đó để biết
đặc tính của một con người đòi hỏi cần phải trả lời các câu hói: Bản chất của anh ta là
gì? Anh ta muốn trở thành ai? Anh ta muốn được người khác đánh giá như thế nào?
Và đối với anh ta mối quan hệ nào là quan trọng nhất trong cuộc đời?
Tương tự như vậy,đặc tính của một thương hiệu cũng thể hiện những định
hướng, mục đích và ý nghĩa của thương hiệu đó. Nó chính là trái tim và linh hồn của
một thương hiệu.Xác định đặc tính thương hiệu là trọng tâm của một chiến lược phát
triền thương hiệu. Hãng Nestle sử dụng thuật ngữ “tính cách thương hịệu” để phản
ánh tầm quan trọng và mối liên hệ giữa đặc tính của thương hiệu và chính bản thân
thương hiệu. Vậy như thế nào là “Đặc tính của thương hiệu”?
Đặc tính của thương hiệu là một tập hợp duy nhất các liên kết thuộc tính mà các
nhà chiến lược thương hiệu mong muốn tạo ra và duy trì. Những sự liên kết này sẽ
phản ánh cái mà thương hiệu hướng tới và là sự cam kết của nhà sản xuẩt đối với
khách hàng. Có thể nói đây là những đặc điểm nhận dạng, giúp ta phân biệt được các
thương hiệu khác nhau.
Để biết được thực chất đặc tính của một thương hiệu cụ thể cần phải tìm lời giải
đáp cho những câu hỏi sau:
• Những nét riêng của nó là gì?
• Tham vọng và mục đích dài hạn của nó là gì?
• Chính kiến của nó là gì?
• Những dấu hiệu để nhận biết ra nó là gì?
Đặc tính của thương hiệu có thể góp phần quan trọng trong việc thiết lập mối
quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng bằng cách thương hiệu cam kết mang đến
cho khách hàng những lợi ích có thể là lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và là công cụ
để khách hàng thể hiện giá trị bản thân.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Đặc tính của thương hiệu được xem xét ở bốn khía cạnh và bao gồm 12 thành
phần:
• Thương hiệu – như một sản phẩm (phạm vi sản phẩm, đặc tính sản
phẩm, giá trị/chất lượng, tính hữu dụng, người sử dụng, nước xuất xứ).
• Thương hiệu – như một tổ chức (đặc tính của tổ chức, sự kết hợp giữa
tính địa phương và tính toàn cầu).
• Thương hiệu – như một con người (tính cách thương hiệu, mối quan hệ
thương hiệu – khách hàng).
• Thương hiệu – như một biểu tượng (một hình ảnh, một ẩn dụ, và sự kế
thừa thương hiệu).
Cơ cấu đặc tính của một thương hiệu bao gồm yếu tố hạt nhân và các đặc tính
mở rộng. Yếu tố hạt nhân - yếu tố trung tâm và bền chặt nhất của thương hiệu - sẽ
luôn được duy trì trong những chuyến viễn du tới thị trường mới và sản phẩm mới
của thương hiệu được gắn kết và bổ sung cho nhau theo từng nhóm, cho thấy kết cấu
và sự toàn vẹn của thương hiệu.
Mục đích của phần này là đưa ra một định về đặc tính của thương hiệu và các
đặc tính có liên quan, chẳng hạn như sự kỳ vọng và sự tin tưởng mà một thương hiệu
có thể tạo ra. Hiện nay, sự hiểu biết hạn chế và ngắn hạn về các khía cạnh của một
thương hiệu đã ngăn cản các nhà chiến lược xây dựng một thương hiệu mạnh, mặc dù
thương hiệu đó có thể có rất nhiều tiềm năng. Để tối đa hoá sức mạnh của một
thương hiệu, thì cần phải mở rộng các đặc tính của thương hiệu hơn là thu hẹp chúng
lại, các tác nghiệp cần phải mang tính chiến lược hơn là chiến thuật.
Tại sao các nhà quản trị thương hiệu cần tập trung vào đặc tính thương
hiệu chứ không phải hình ảnh thương hiệu?
Khi nói đến hình ảnh thương hiệu, tức là chúng ta xét từ phía người nhận
thông điệp - tức là khách hàng. Hình ảnh là kết quả của sự tưởng tượng và hình dung
của một nhóm công chúng nào đó về một sản phẩm, một thương hiệu, một công ty

hay một quốc gia, v.v…Hình ảnh thương hiệu cho ta biết cách thức công chúng giải
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
mã các dấu hiệu thông qua các sản phẩm, dịch vụ và các chương trình truyền thông,
quảng cáo của nó.
Ngược lại, đặc tính của thương hiệu lại được xét từ phía người gửi thông điệp
– phía công ty. Nhiệm vụ của người gửi thông điệp là phải cụ thể hoá ý nghĩa, định
hướng, và mục đích của thương hiệu. Do vậy, hình ảnh thương hiệu là kết quả của
việc giải mã thông điệp nhận được. Từ góc độ quản trị thương hiệu, đặc tính thương
hiệu phải được xác định trước và thông qua truyền thông tạo nên hình ảnh thương
hiệu. Tức là trước khi muốn tạo ra một hình ảnh trong tâm trí khách hàng và công
chúng, công ty cần phải biết chính xác sẽ phác hoạ cái gì. Trong tâm trí khách hàng
sẽ định hình một hình ảnh cụ thể qua quá trình tổng hợp tất cả các dấu hiệu nhận biết
về thương hiệu như tên gọi của thương hiệu, các dấu hiệu có thể cảm nhận thị giác,
bản thân sản phẩm, các chương trình quảng cáo, tài trợ và thông cáo báo chí.v.v…
Hình ảnh là kết quả của sự giải mã sự cắt nghĩa và giải thích các dấu hiệu. Vậy thì
các dấu hiệu này bắt đầu từ đâu? Có hai nguồn mà trước tiên là đặc tính thương hiệu.
Tuy nhiên, có thể xuất hiện một số tác động ngoại lai mà chúng không liên quan tới
đặc tính thương hiệu nhưng lại góp phần giúp thương hiệu thể hiện ý nghĩa của mình.
Sơ đồ 1: Đặc tính và hình ảnh thương hiệu
Người gửi Truyền thông Người nhận
Sự cạnh tranh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
5
Đặc tính thương
hiệu
Các tác động
ngoại lai
Các dấu hiệu được

truyền tải
Hình ảnh thương
hiệu
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Nếu trong trường hợp các đặc tính của thương hiệu không được xác định rõ
ràng, các công ty sẽ bắt chước hoặc chạy theo các cách thức quảng cáo của đối thủ
cạnh tranh. Thêm vào đó, việc cố gắng thoả mãn tất cả các phân đoạn thị trường và
theo đuổi một “thương hiệu lý tưởng” sẽ khiến các nhà quản lý quên mất đặc tính của
thương hiệu và bị lôi cuốn theo những thị hiếu luôn thay đổi của khách hàng. Bằng
việc cố gắng chớp lấy mọi cơ hội và thâm nhập mọi đoạn thị trường, ý nghĩa của
thương hiệu sẽ bị loãng và mất dần đi bản chất thật của nó. Thương hiệu lúc này chỉ
đơn thuần là một cái tên vô cảm, không để lại bất kỳ một ấn tượng một hình ảnh nào
trong tâm trí khách hàng.
Nếu trong trường hợp đặc tính thương hiệu được tạo ra nhưng không chính
xác, không chân thực so với thương hiệu và bản thân sản phẩm mà nó đại diện.
Không lâu sau, khách hàng sẽ sớm nhận ra sự khác biệt này và hậu quả là nó sẽ mất
đi sự tôn trọng và mối thiện cảm trong tâm trí khách hàng. Đây chính là cơ hội cho
đối thủ cạnh tranh của bạn.
1.1.2 Phân loại thương hiệu
Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng theo tiếp cận của quản trị và
Marketing thì thương hiệu có thể được chia thành: Thương hiệu cá biệt; Thương hiệu
gia đình; Thương hiệu tập thể; Thương hiệu quốc gia.
a. Thương hiệu cá biệt:
Thương hiệu cá biệt (còn gọi là thương hiệu cá thể, hoặc thương hiệu riêng) là
thương hiệu của từng chủng loại hoặc từng tên hàng hoá, dịch vụ cụ thể. Với thương
cá biệt, mỗi loại hàng hoá mang một thương hiệu riêng và như thế doanh nghiệp sản
xuất và kinh doanh nhiều loại hàng hoá khác nhau có thể có nhiều thương hiệu khác
nhau. Ví dụ: Future, Dream II, Super Dream, Wave α, @ là những thương hiệu cá
biệt của công ty Honda; Mobi4U, Mobichat là những thương hiệu cá biệt của
Mobiphone…

Thương hiệu cá biệt luôn gắn liền với từng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể và có
thể tồn tại độc lập trên hàng hoá, cũng có thể được gắn với các loại thương hiệu khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
6
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Trong thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng tạo ra thương hiệu cá biệt cho hàng
hoá.
b. Thương hiệu gia đình:
Thương hiệu gia đình là thương hiệu chung của tất cả hàng hoá, dịch vụ của
một doanh nghiệp. Mọi hàng hoá thuộc các chủng loại khác nhau của doanh nghiệp
đều mang thương hiệu như nhau. Đặc điểm của thương hiệu gia đình là tính khái quát
rất cao và phải có tính đại diện cho tất cả các chủng loại hàng hoá của doanh nghiệp.
Một khi tính đại diện và khái quát bị vi phạm hay mất đi, người ta sẽ phải nghĩ ngay
đến việc tạo ra những thương hiệu cá biệt cho từng chủng loại hàng hoá cụ thể để
chúng không ảnh hưởng đến thương hiệu gia đình. Thương hiệu gia đình có thể xuất
hiện độc lập trên hàng hoá và có thể đi kèm cùng thương hiệu cá biệt hay thương hiệu
quốc gia. Ví dụ: Honda gán cho tất cả hàng hoá của công ty Honda - từ xe máy, ôtô,
máy thuỷ, các loại cưa, động cơ… là thương hiệu gia đình.
c. Thương hiệu tập thể:
Thương hiệu tập thể (còn được gọi là thương hiệu nhóm) là thương hiệu của
một nhóm hay một số chủng loại hàng hoá nào đó, có thể do một số cơ sở sản xuất
hoặc do các cơ sở sản xuất khác nhau sản xuất và kinh doanh (thưòng là trong cùng
một khu vực địa lý, gắn với các yếu tố xuất xứ, địa lý nhất định).
Thương hiệu tập thể có đặc điểm khá giống với thương hiệu gia đình vì có tính
khái quát và tính đại diện cao, nhưng điểm khác nhau rất cơ bản là thương hiệu tập
thể thường được gắn liền với các chủng loại hàng hoá của nhiều doanh nghiệp khác
nhau trong một mối liên kết kinh tế, kỹ thuật nào đó và tính đại diện được phát triển
chủ yếu theo chiều sâu hơn là theo chiều rộng của hàng hoá.
Khi sử dụng thương hiệu tập thể sẽ vấp phải vấn đề là mọi thành viên đều có
thể sử dụng tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý để cấu thành thương hiệu cho hàng hoá

của mình, không ai có quyền độc chiếm về tên gọi xuất xứ hoặc chỉ dẫn địa lý.
d. Thương hiệu quốc gia:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
7
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Thương hiệu quốc gia là thương hiệu gán chung cho các sản phẩm, hàng hoá
của một quốc gia nào đó (nó thường gắn với những tiêu chí nhất định, tuỳ thuộc vào
từng quốc gia, từng giai đoạn).
Đặc điểm của thương hiệu quốc gia là thường có tính khái quát và trừu tượng
cao và không bao giờ đứng độc lập, luôn phải gắn liền với các thương hiệu cá biệt
hay thương hiệu nhóm, thương hiệu gia đình. Thực tế, thương hiệu quốc gia luôn
được định hình như là một chỉ dẫn địa lý đa dạng dựa trên uy tín của nhiều chủng
loại hàng hoá với những thương hiệu riêng khác nhau theo định vị khác nhau.
Trong thực tế, với một hàng hoá cụ thể, có thể tồn tại chỉ duy nhất một thương
hiệu, nhưng cũng có thể tồn tại đồng thời nhiều loại thương hiệu. Sử dụng duy nhất
một thương hiệu hay sử dụng đồng thời nhiều thương hiệu cho hàng hoá, dịch vụ là
một chiến lược trong quản trị, chiến lược Marketing.
1.1.3 Vai trò của thương hiệu trong kinh doanh
• Công cụ để nhận diện và khác biệt của hàng hoá sản phẩm
• Là phương tiện bảo vệ hợp pháp các lợi thế và đặc điểm riêng có của
sản phẩm
• Khẳng định đẳng cấp chất lượng trước khách hàng
• Đưa sản phẩm ăn sâu vào tâm trí khách hàng
• Nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh
• Nguồn gốc của lợi nhuận
Về cơ bản, thương hiệu đáp ứng mục đích nhận diện để đơn giản hoá việc xử lý
sản phẩm hoặc truy tìm nguồn gốc sản phẩm cho công ty. Về mặt hoạt động, thương
hiệu giúp các tổ chức kiểm kê, tính toán và thực hiện các ghi chép khác. Thương hiệu
cho phép công ty bảo vệ hợp pháp những đặc điểm, hình thức đặc trưng, riêng có của
sản phẩm. Thương hiệu có thể được bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ, đem lại tư cách

hợp pháp cho người sở hữu thương hiệu. Tên gọi sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được
bảo hộ thông qua việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Các quy trình sản xuất có thể
được bảo vệ thông qua bằng sáng chế, giải pháp hữu ích. Bao bì kiểu dáng thiết kế có
thể được bảo vệ thông qua kiểu dáng công nghiệp hoặc các bản quyền cho các câu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
8
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
hát đoạn nhạc. Các quyền sở hữu trí tuệ này đảm bảo rằng công ty có thể đầu tư một
cách an toàn cho thương hiệu và thu lợi nhuận từ một tài sản đáng giá.
Thương hiệu có thể cam kết một tiêu chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của một
sản phẩm và đáp ứng mong muốn của khách hàng, giúp họ tìm kiếm, lựa chọn sản
phẩm một cách dễ dàng, thuận tiện. Lòng trung thành với thương hiệu của khách
hàng cho phép công ty dự báo và kiểm soát thị trường. Hơn nữa, nó tạo nên một rào
cản, gây khó khăn cho các công ty khác muốn xâm nhập thị trường. Mặc dù các quy
trình sản xuất và các thiết kế sản phẩm có thể dễ dàng bị sao chép lại, nhưng những
ấn tượng ăn sâu trong đầu người tiêu dùng qua nhiều năm về sản phẩm thì không dễ
dàng sao chép lại như vậy. Về khía cạnh này, thương hiệu có thể được coi như một
cách thức hữu hiệu để đảm bảo lợi thế cạnh tranh.
Do đó với các công ty, thương hiệu được coi như một tài sản có giá trị rất lớn
bởi nó có khả năng tác đông đến thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Nó được
mua và bán bởi có thể bảo đảm thu nhập bền vững trong tương lai cho chủ sở hữu
thương hiệu. Vì lẽ đó người ta phải trả những khoản tiển không nhỏ cho thương hiệu
khi liên doanh, liên kết hoặc mua lại thương hiệu.
1.1.4 Xây dựng và bảo vệ thương hiệu
Xây dựng một thương hiệu là cả một quá trình lâu dài, bền bỉ đòi hỏi có một
chiến lược cụ thể khoa học và phù hợp với thực tiễn của doanh nghiệp cũng như đối
với từng thị trường, nó quyết định thành công hay thất bại của quá trình xây dựng
thương hiệu.
Thiết kế thương hiệu: Các yếu tố chính của một thương hiệu bao gồm tên
thương hiệu hay còn gọi là nhãn hiệu hàng hoá, logo, biểu tượng, câu khẩu hiệu, đoạn

nhạc và kiểu dáng thiết kế bao bì. Khác với những quyết định về thiết kế sản phẩm
hoặc cách thức tiêu thụ chúng trên thị trường, việc lựa chọn các yếu tố thương hiệu
nhằm mục đích tạo dựng một thương hiệu ngày càng có giá trị. Điều này có nghĩa là,
việc lựa chọn các yếu tố thương hiệu vừa phải tăng cường nhận thức của công chúng
đối với thương hiệu vừa phải dễ dàng tạo ra sự liên hệ mật thiết, có ý nghĩa và nhất
quán với sản phẩm. Để kiểm chứng khả năng của các yếu tố thương hiệu trong việc
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
9
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
góp phần tạo dựng một thương hiệu mạnh, chúng ta cần trả lời câu hỏi: Người tiêu
dùng sẽ nghĩ gì về sản phẩm nếu họ chỉ biết về nó qua tên thương hiệu, biểu tượng,
logo và các đặc điểm khác?
Các tiêu chí lựa chọn yếu tố thương hiệu:
1. Dễ nhớ 2. Có ý nghĩa 3. Dễ bảo hộ 4. Dễ
thich nghi
2 Có khả
năng chuyển
đổi
Dễ nhận ra
Dễ gợi nhớ
Có tính mô tả
Có sức thuyết phục
Hài hước và hấp
dẫn
Giàu hình tượng
Về mặt pháp

Về mặt cạnh
tranh
Linh hoạt.

Có thể cập
nhật được.
Trong cùng loại
sản phẩm và giữa
các sản phẩm với
nhau.
Qua biên giới địa
lý văn hoá.
- Các chiến lược phát triển thương hiệu:
∗ Chiến lược thương hiệu - sản phẩm: Đặt cho mỗi sản phẩm độc lập một
thương hiệu riêng biệt phù hợp với định vị thị trường của sản phẩm
∗ Chiến lược thương hiệu dãy: Mở rộng một khái niệm, một ý tưởng hoặc
một cảm hứng nhất định cho các sản phẩm khác nhau và do đó các
thương hiệu khác nhau của công ty.
∗ Chiến lược thương hiệu nhóm: Đặt cùng một thương hiệu và một thông
điệp nhóm cho một nhóm các sản phẩm có cùng một thuộc tính hoặc
chức năng.
∗ Chiến lược thương hiệu hình ô: Một thương hiệu chung sẽ hỗ trợ cho
mọi sản phẩm của công ty ở các thị trường khác nhau nhưng mỗi sản
phẩm lại có cách thức quảng bá và cam kết riêng trước khách hàng và
công chúng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
10
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
∗ Chiến lược thương hiệu nguồn (hay còn gọi là thương hiệu mẹ): Tương
tự như chiến lược hình ô, nhưng điểm khác biệt chủ yếu là mỗi sản
phẩm được đặt thêm một tên riêng.
∗ Chiến lược thương hiệu chuẩn: Đưa ra một sự chứng thực hay xác nhận
của công ty lên tất cả các sản phẩm vốn hết sức đa dạng và phong phú
và được nhóm lại theo chiến lược thương hiệu sản phẩm, thương hiệu

dãy, thương hiệu nhóm.
Tạo dựng hình ảnh công ty: Hình ảnh của công ty thường được liên hệ và hình
thành trong trí nhớ người tiêu dùng như một nhà sản xuất hay cung ứng dịch vụ. Do
đó, hình ảnh công ty chỉ được liên hệ một cách cụ thể khi thương hiệu công ty đóng
vai trò nổi bật trong chiến lược xây dựng thương hiệu.
Hình ảnh công ty phụ thuộc vào một số yếu tố như: Các sản phẩm mà công ty
sản xuất, các hoạt động được công ty tiến hành, và cách thức giao tiếp với người tiêu
dùng…
Một tiêu chí cực kỳ quan trọng với người quản trị thương hiệu đó là khả năng
bảo vệ cả về mặt pháp lý và lợi thế trong cạnh tranh. Bởi nếu không có những khảo
sát kịp thời và chính xác, nó sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền của và thời gian của công ty
trong những kiện tụng pháp lý.
Về mặt pháp lý, điều quan trọng là:
- Chọn các yếu tố thương hiệu có thể được bảo vệ một cách hợp pháp trên cơ
sở quốc tế;
- Đăng ký chính thức các yếu tố thương hiệu với các cơ quan pháp luật có
thẩm quền chức năng;
- Bảo vệ triệt để các nhãn hiệu hàng hoá khỏi sự xâm phạm cạnh tranh trái
phép. Khi mà trên thị trường tràn ngập các loại hàng hoá, sản phẩm thì cũng là lúc
nhu cầu bảo vệ thương hiệu về mặt pháp lý tăng lên tương ứng.
Việc thiết kế và đăng ký các yếu tố của thương hiệu như nhãn hiệu hàng hoá,
kiểu dáng bao bì… phải được tiến hành rất sớm, thậm chí trước cả khi sản phẩm ra
đời. Tuy nhiên, ở Việt Nam, rất nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức đúng đắn và đầy
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
11
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
đủ về tầm quan trọng của thương hiệu, do vậy không tiến hành đăng ký bảo hộ. Hậu
quả là mặc dù sản phẩm đã xuất hiện rất lâu và được nhiều người biết đến nhưng đã
buộc phải từ bỏ thương hiệu của mình vì đã có người nhanh chân đăng ký trước nhãn
hiệu này với cơ quan Nhà Nước. Điều này sẽ gây cho doanh nghiệp những tổn thất,

mất mát rất lớn: mất thị phần, mất đi uy tín, mất đi tiền của đã đầu tư cho thương
hiệu như quảng cáo, tuyên truyền… bởi đơn giản vì khách hàng chỉ biết đến công ty
và sản phẩm qua thương hiệu. Nếu rơi vào tình trạng này có thể nói: “chúng ta phải
làm lại từ đầu”.
Đối với những thương hiệu được thiết kế lần đầu cho những sản phẩm mới,
việc đặt tên thương hiệu hay một logo, biểu tượng cũng cần phải tham khảo ý kiến
chuyên gia nhằm ngăn chặn khả năng bị từ chối bảo hộ.
1.2 THƯƠNG HIỆU TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.2.1 Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm
Ngành bảo hiểm là một ngành dịch vụ, do đó sản phẩm bảo hiểm cũng có các
đặc điểm chung của các sản phẩm dịch vụ như tính vô hình, tính không thể tách rời
và không thể cất trữ được, tính không đồng nhất và tính không được bảo hộ bản
quuyền. Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm còn có các đặc điểm riêng đó là: Sản phẩm
“không mong đợi”, sản phẩm của “chu trình kinh doanh đảo ngược” và sản phẩm có
hiệu quả “xê dịch”. Chính vì có những đặc điểm chung và đặc điểm riêng này nên
sản phẩm bảo hiểm được xếp vào loại sản phẩm dịch vụ “đặc biệt”.
a. Đặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ
• Tính vô hình
Khi mua bảo hiểm, mặc dù khách hàng nhận được các yếu tố hữu hình đó là
những tờ giấy trên đó có in biểu tượng của doanh nghiệp, in tên gọi của sản phẩm, in
những nội dung thoả thuận… Nhưng khách hàng không thể chỉ ra được màu sắc, kích
thước, hình dáng hay mùi vị của sản phẩm. Nói một cách khác, sản phẩm bảo hiểm là
sản phẩm “vô hình”- người mua không thể cảm nhận được sản phẩm bảo hiểm thông
qua các giác quan của mình.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
12
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho việc giới thiệu, chào bán sản
phẩm trở nên khó khăn hơn. Nếu như đa số các sản phẩm hữu hình có thể được trưng
bày trong các cửa hàng, được vẽ trên các bảng biển hiệu hay tờ rơi quảng cáo, được

“phô diễn” công dụng trước người mua tiềm năng…do đó các sản phẩm này tác động
đến giác quan của khách hàng, mang đến cho khách hàng “cảm giác vật chất”; khách
hàng dễ dàng nhận thấy sự tồn tại của sản phẩm. Nhưng các sản phẩm dịch vụ trong
đó có sản phẩm bảo hiểm thì không như vậy. Khi mua sản phẩm bảo hiểm, người
mua chỉ nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảm bảo vật chất trước các
rủi ro.
Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm còn làm cho khách hàng khó nhận thấy
sự khác nhau giữa các sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm. Việc kiểm nghiệm
chất lượng thực sự của một sản phẩm bảo hiểm chỉ xảy ra khi có các sự kiện bảo
hiểm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường hay chi trả của công ty bảo hiểm. Chỉ đến
lúc đó khách hàng mới thực sự so sánh được chất lượng các sản phẩm bảo hiểm mà
doanh nghiệp cung cấp.
Để khắc phục các vấn đề nảy sinh, các doanh nghiệp bảo hiểm cần sử dụng
nhiều biện pháp nhằm tăng tính hữu hình cho sản phẩm, nhấn mạnh tới yếu tố chất
lượng của sản phẩm như: In ấn hợp đồng bảo hiểm trên giấy chất lượng cao; sử dụng
phông chữ khác biệt để tăng tính hấp dẫn đối với bề ngoài của sản phẩm; cung cấp
cho người mua các hướng dẫn, các minh hoạ chi tiết về giá trị tiền mặt tích luỹ của
đơn bảo hiểm nhân thọ; xây dựng các chiến dịch truyền thông gắn kết sản phẩm của
doanh nghiệp với các hình ảnh hữu hình quen thuộc, thông qua những người thụ
hưởng quyền lợi bảo hiểm để tuyên truyền về lợi ích của sản phẩm …
• Tính không thể tách rời và không thể cất trữ
Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời - tức là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ
bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó (quá trình cung ứng và quá trình tiêu
thụ là một thể thống nhất). Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm cũng không thể cất trữ
được – có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo hiểm vào một thời điểm nào đó sẽ
không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng vào một thời điểm khác trong tương lai.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
13
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Điều này hoàn toàn khác biệt với sản phẩm hữu hình. Đa số các sản phẩm hữu hình

có thể được sản xuất với số lượng lớn sau đó được lưu trữ trong kho bán dần. Còn
các sản phẩm dịch vụ thì không thể cất trữ được. Các nhân viên của doanh nghiệp
cũng như các đại lý bảo hiểm chỉ có một số giờ nhất định trong một ngày để gặp gỡ
khách hàng và số giờ sẵn có trong ngày không thể mang sang ngày khác. Doanh
nghiệp bảo hiểm cũng không thể “sản xuất” trước một lượng lớn các cuộc kiểm tra
các khiếu nại hay các dịch vụ khách hàng khác và gửi chúng cho các khách hàng có
yêu cầu.
Tính không thể tách rời và không thể cất trữ được đòi hỏi doanh nghiệp bảo
hiểm phải chú trọng đến lượng thời gian dành cho bán hàng cá nhân và cần nâng cao
năng lực của các bộ phận cung cấp các dịch vụ. Nói cách khác, các doanh nghiệp bảo
hiểm cần phải đào tạo những nhân viên có thể nhận biết và đáp ứng nhu cầu khách
hàng từ đó bán được nhiều sản phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm cần cố gắng
cân bằng nhu cầu của khách hàng với khả năng xét nhận bảo hiểm, khả năng quản lý
khiếu nại, khả năng cung cấp các dịch vụ khách hàng… Nếu doanh nghiệp có dư
thừa năng lực phục vụ sẽ chịu sự lãng phí do nguồn lực không được sử dụng hết.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có đủ năng lực phục vụ, sẽ phải trì hoàn việc
cung cấp các dịch vụ và có thể sẽ mất khách hàng.
• Tính không đồng nhất
Dịch vụ bảo hiểm cũng như các dịch vụ khác, chủ yếu được thực hiện bởi con
người. Nhưng cho dù là người có kỹ năng đến đâu đi chăng nữa thì dịch vụ họ thực
hiện không phải lúc nào cũng nhất quán. Ví dụ, các đại lý khi bán các sản phẩm có
thể quên các chi tiết, có thể chậm trễ hoặc mất kiên nhẫn… Nhìn chung chất lượng
phục vụ của một cá nhân nào đó tại các thời điểm khác nhau là khác nhau. Chất
lượng phục vụ này phụ thuộc vaà tình trạng sức khoẻ, các yếu tố xung quanh. Ngoài
ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lượng phục vụ cũng khác nhau.
Do vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm sự không ổn định về chất
lượng, các doanh nghiệp bảo hiểm cần chú trọng đến công tác tuyển chọn, đào tạo và
khuyến khích những người trực tiếp bán hàng. Lý do là khi mua một sản phẩm hữu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
14

Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
hình, để đánh giá về sản phẩm, người tiêu dùng thường xuyên xem xét sản phẩm có
đáp ứng được sự trông đợi của họ hay không. Còn khi mua và sử dụng một sản phẩm
dịch vụ, người tiêu dùng thường căn cứ vào thái độ của nhân viên hoặc đại lý cung
cấp dịch vụ đó để đánh giá về sản phẩm.
• Tính không được bảo hộ bản quyền
Mặc dù trước khi tung một sản phẩm nào đó ra thị trường, các doanh nghiệp
bảo hiểm thường phải đăng ký sản phẩm để nhận được sự phê chuẩn của cơ quan
quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, việc phê chuẩn này chỉ mang
tính nghiệp vụ kỹ thuật chứ không mang tính bảo hộ bản quyền. Do đó, các doanh
nghiệp bảo hiểm cạnh tranh có thể bán một cách hợp pháp các sản phẩm bảo hiểm là
bản sao của các hợp đồng bảo hiểm của các doanh nghiệp khác.
b. Đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm
• Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm “không mong đợi”
Một trong những đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không
mong đợi. Điều này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảo hiểm thuần
tuý, mặc dù đã mua sản phẩm – nhưng khách hàng đều không mong muốn rủi ro xảy
ra để được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hày trả tiền bảo hiểm. Bởi vì rủi ro
một khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí là mất mát, do đó
số tiền mà doanh nghiệp bồi thường chi trả khó mà bù đắp được. Đặc tính này cũng
làm cho việc giới thiệu chào bán sản phẩm trở nên vô cùng khó khăn.
Nói như vậy không có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm không thể triển khai
kinh doanh bảo hiểm. Đơn giản là vì mặc dù các cá nhân, tổ chức “không mong đợi”
nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra ở bất cứ đâu bất cứ nơi nào.
• Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của “chu trình hạch toán đảo ngược”
Nếu như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả sản phẩm được xác định
trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh thì trong lĩnh vực bảo hiểm, phí bảo hiểm – giá cả
của sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên những số liệu ước tính về các chi phí
có thể phát sinh trong tương lai như chi bồi thường (trả tiền bảo hiểm), chi hoa hồng,
chi tái bảo hiểm…Trong đó, khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất là chi bồi thường (trả

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
15
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
tiền bảo hiểm). Khoản chi này được xác định chủ yếu dựa trên số liệu thống kê quá
khứ và các ước tính tương lai về tần suất và quy mô tổn thất. Việc sử dụng các số liệu
thống kê trong quá khứ để xác định cho giá cả sản phẩm bảo hiểm trong tương lai đòi
hỏi phải hết sức chặt chẽ nhằm giúp các doanh nghiệp có thể bù đắp các chi phí có
thể phát sinh và thu được lợi nhuận hợp lý.
• Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu phí của
người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có các sự kiện bảo
hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm mới phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường hay chi
trả. Do vậy, với việc thu phí trước, nếu không có hoặc ít có rủi ro xảy ra, doanh
nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn dự kiến. Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần
suất và quy mô lớn hơn dự kiến, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thua lỗ. Điều này có
nghĩa là nếu như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, hiệu quả kinh doanh có thể xác
định được khá chính xác ngay tại thời điểm sản phẩm được tiêu thụ, thì trong lĩnh
vực kinh doanh bảo hiểm hiệu quả kinh doanh khó có thể xác định được ngay tại thời
điểm được bán.
Về phía khách hàng, hiệu quả từ việc mua sản phẩm cũng mang tính “xê dịch”
– không xác định. Điều này xuất phát từ việc không phải khách hàng nào tham gia
bảo hiểm cũng được nhận số tiền chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm (trừ trường hợp
mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mang tính tiết kiệm).
1.2.2 Vai trò của thương hiệu đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
a. Thương hiệu dịch vụ
Với những đặc trưng riêng của mình, thương hiệu dịch vụ có những đặc điểm
khác biệt so với thương hiệu hàng hoá:
Thương hiệu dịch vụ được xem như một sản phẩm, vì vậy nó đòi hỏi đáp ứng
đầy đủ 4P trong Marketing căn bản: Sản phẩm dịch vụ như thế nào? Giá cả ra sao?
Xúc tiến dịch vụ có được thực hiện tốt không? Bằng chứng và xác nhận của bên thứ

ba nào đối với chất lượng của dịch vụ?
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
16
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Thương hiệu dịch vụ như là một quá trình, tức là chú trọng hơn đến sự trải
nghiệm trong việc tiêu dung thương hiệu dịch vụ. Quá trình này là một sự tương tác
giữa người mua và người bán mà tại đó phân phối dịch vụ diễn ra. Người tiêu dung
sẽ lựa chọn thông qua một số bước trước khi đưa ra quyết định mua.
Xem thương hiệu dịch vụ là một tổ chức là ý nhấn mạnh đến khía cạnh văn
hoá trong cách thể hiện thương hiệu dịch vụ. Văn hoá tổ chức trở thành động lực thúc
đẩy các nổ lực bên trong tổ chức, đồng thời nó khuyến khích việc chuỷân hoá các kỹ
năng nghiệp vụ của hệ thống nhân viên sẽ chuyển từ giá trị kinh nghiệm sang giá trị
tiêu dùng.
Thương hiệu dịch vụ như là một con người, vì nó có cá tính riêng biệt và đặc
tính của nó khá phức tạp và luôn linh động biến đổi. Khi thương hiệu dịch vụ trở
thành một người bạn thân thiết thì người tiêu dùng và mong muốn luôn sát cánh cùng
người bạn trong lần đồng hành sau.
Xem thương hiệu dịch vụ như là một dấu hiệu, người ta muốn nhấn mạnh đến
việc dấu hiệu có thể có nhiều phương thức biểu hiện, đòi hỏi dịch vụ phải liên kết
trọng vẹn dấu hiệu đến bộ nhớ của khách hàng về hình ảnh mà nó đang muốn in hằn
trong tâm trí khách hàng.
Sự khác nhau giữa thương hiệu dịch vụ và thương hiệu sản phẩm xuất phát từ
thực tế là sản phẩm thì hữu hình còn dịch vụ thì vô hình. Đây chính là lý do khiến các
thương hiệu dịch vụ luôn gặp phải những khó khăn trong việc tạo nên hình ảnh về
bản thân mình.
b. Vai trò đặc biệt của thương hiệu đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Thương hiệu sản phẩm bảo hiểm cũng như thương hiệu các sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ khác nhằm xác nhận hàng hoá hay dịch vụ của một doanh nghiệp và
phân biệt chúng với những hàng hoá và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
Việc phát triển thương hiệu cho sản phẩm bảo hiểm là rất cần thiết. Vì:

• Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm vô hình, khó hình dung
đối với khách hàng nên việc gắn thương hiệu cho sản phẩm sẽ làm cho sản phẩm
trở nên “hữu hình” hơn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
17
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
• Ngoài ra do sản phẩm bảo hiểm dễ bị sao chép, bắt chước, vì vậy chỉ thông qua
thương hiệu sản phẩm, khách hàng mới có thể xác định xuất xứ của sản phẩm và
phân biệt được sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp
khác.
• Các sản phẩm bảo hiểm mà các doanh nghiệp triển khai ngày càng đa dạng
chúng không còn đơn thuần là các sản phẩm truyền thống mà thường kết hợp khá
phức tạp, nên một tên gọi rõ ràng không chỉ giúp khách hàng phân biệt mà còn có
tác dụng xúc tiến bán hàng.
• Thương hiệu sẽ giúp doanh nghiệp tạo dựng được hình ảnh cho riêng mình,
tăng hiểu biết về doanh nghiệp trong dân chúng.
Trong ngành bảo hiểm nếu như khách hàng được hỏi rằng họ biết đến thương
hiệu của những công ty bảo hiểm nào thì các khách hàng sẽ lúng túng. Họ sẽ trả lời
rằng họ chỉ biết đến tên của công ty bảo hiểm chứ không biết đến thương hiệu của
công ty bảo hiểm. Những cái tên này không phải là thương hiệu của một dịch vụ cụ
thể mà là tên công ty hoặc là các dấu hiệu về một nơi nào đó. Tên các công ty bảo
hiểm không thể hiện những loại dịch vụ tài chính những sản phẩm bảo hiểm mà nó
cung cấp, không biểu hiện chất lượng dịch vụ mà công ty bảo hiểm muốn cung cấp.
Vì vậy các công ty bảo hiểm đã sử dụng các khẩu hiệu như là thương hiệu của mình.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
18
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÔNG TÁC TẠO
DỰNG THƯƠNG HIỆU CỦA BIC TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY
2.1 Một số nét về hoạt động kinh doanh của công ty

2.1.1 Giới thiệu chung
Tên Việt Nam: Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam
Tên Tiếng Anh: BIDV Insurance Company.
Tên viết tắt: BIC
Trụ sở chính:
- Địa chỉ: Tầng 10, toà tháp A, VINCOM CITY TOWERS, số 191 Bà Triệu, Quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội.
- Điện thoại: (+84) 4 220082
- Fax: (+84) 4 2200281
- Q. Giám đốc: Ông Phạm Quang Tùng
Cùng với các chi nhánh và văn phòng đại diện của BIC trong cả nước chi tiết về
các đại lý và văn phòng đại diện được làm rõ ở phụ lục.
c. Năm thành lập
- Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC), tiền thân
là công ty liên doanh Bảo Hiểm Việt – Úc (là công ty liên doanh bảo hiểm giữa Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và công ty Bảo hiểm Quốc tế QBE thuộc tập
đoàn Bảo hiểm QBE của Úc) được cấp giấy phép thành lập theo giấy phép đầu tư số
2126/GP của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư ngày 16 tháng 07 năm 1999.
- Theo Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC4/KDBH ngày 27 tháng 12 năm
2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính, Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt – Úc đổi tên
thành công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam dựa trên cơ sở
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mua lại toàn bộ phần vốn góp của Công ty
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
19
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
Bảo hiểm Quốc tế QBE thuộc tập đoàn bảo hiểm QBE trong Công ty Liên doanh Bảo
hiểm Việt – Úc.
- Theo giấy phép số 11GP/KDBH ngày 10 tháng 4 năm 2006 Công ty bảo
hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chính thức được cấp giấy phép thành
lập và hoạt động. Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một

đơn vị thành viên thuộc hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được
thành lập theo quyết định số 292/QĐ-HĐQT ngày 28/12/2005 của Hội đồng Quản trị
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, có vốn điều lệ 200 tỷ đồng do Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam đầu tư 100% vốn, có con dấu riêng và hạch toán độc
lập. BIC chính thức hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
- Thời hạn hoạt động: 89 năm.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
20
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
d. Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
- Mô hình tổ chức của BIC gồm các cấp độ như sau:
• Trụ sở chính tại Hà Nội: điều hành chung toàn bộ hoạt động của BIC và là
đầu mối báo cáo, tiếp nhận thông tin với ban điều hành tại hội sở chính của
BIDV.
• Các chi nhánh BIC tại các vùng trọng điểm: sẽ là đơn vị trực tiếp kinh
doanh. BIC sẽ giao địa bàn phụ trách cho từng chi nhánh của mình. Các
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
P. KIỂM TRA NỘI BỘ
P.HÀNH CHÍNH NHÂN SỰ
P. KHIẾU NẠI
P. KẾ TOÁN
P. ĐẦU TƯ
P. QLÝ NGHIỆP VỤ
P. KINH DOANH 1
P. KINH DOANH 2
CN.TP

HCM
CN
ĐÀ NẴNG
CN
HẢI PHÒNG
CN
NGHỆ AN
CN TÂY NGUYÊN CN ĐỒNG NAI CN VŨNG TÀU
CN
BÌNH ĐỊNH
CN CẦN THƠ
PHÓ GIÁM ĐỐC
21
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
dịch vụ phát sinh từ chi nhánh BIDV sẽ được gửi/liên hệ về chi nhánh BIC
được giao phụ trách địa bàn.
• Các văn phòng đại diện: Các văn phòng đại diện của BIC tại những vùng
tiềm năng sẽ là cầu nối, cung cấp thông tin, hỗ trợ hoạt động khai thác bảo
hiểm của chi nhánh BIDV.
- Theo kế hoạch phát triển mạng lưới năm 2007, BIC sẽ phân công các chi
nhánh phụ trách các địa bàn như sau:
• Các phòng kinh doanh tại trụ sở chính BIC tại Hà Nội: đầu mối hợp tác đại
lý bảo hiểm của BIC đối với các chi nhánh BIDV khu vực phía bắc (ngoài
địa bàn đã giao cho chi nhánh).
• BIC Hải Phòng phụ trách địa bàn Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương,
Thái Bình, Nam Định.
• BIC Nghệ An phụ trách địa bàn Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình.
• BIC Đà Nẵng : phụ trách địa bàn từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi.
• BIC Bình Định: phụ trách địa bàn Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia

Lai, Kontum.
• BIC Hồ Chí Minh: phụ trách địa bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và
Bình Thuận, Ninh Thuận, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng.
• BIC Cần Thơ phụ trách toàn bộ địa bàn các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu
Long.
- Hệ thống hỗ trợ đại lý bảo hiểm của BIC đối với các chi nhánh BIDV được
thực hiện như sau:
• BIC sẽ phân công/cử cán bộ hỗ trợ trực tiếp các chi nhánh BIDV cán
bộ chuyên quản lý đại lý là đầu mối liên hệ:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
22
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
 Đào tạo nhân viên ngân hàng các kỹ năng, quy trình bán bảo
hiểm và kiến thức sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ.
 Hỗ trợ các cán bộ bán bảo hiểm của ngân hàng xây dựng kế
hoạch khai thác bảo hiểm, tìm kiếm khách hàng.
 Trực tiếp phối hợp cùng cán bộ bán bảo hiểm của ngân hàng
gặp gỡ thuyết phục khách hàng tham gia bảo hiểm.
• BIC sẽ cử cán bộ hỗ trợ thông qua điên thoại, Email, fax:
 Trả lời những thắc mắc của cán bộ bán bảo hiểm của ngân
hàng và khách hàng liên quan về sản phẩm.
 Trợ giúp cán bộ chuyên quản lý trong việc đào tạo nhân viên
ngân hàng.
• Tại trụ sở chính cũng như các chi nhánh của BIC đều có số điện thoại nóng
(có cán bộ trực trong giờ hành chính và sẽ thực hiện chuyển cuộc gọi sang
máy di động ngoài giờ hành chính). Các cán bộ bảo hiểm của ngân hàng,
khách hàng có thể liên hệ với số điện thoại nóng để thông báo tổn thất và sẽ
được hướng dẫn các thủ tục giải quyết khiếu nại nhanh chóng. Số điện
thoại nóng tại trụ sở chính BIC là 042200286
e. Lĩnh vực hoạt động

BIC có chức năng kinh doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ; tái bảo
hiểm phi nhân thọ trong và ngoài nước; hoạt động đầu tư tài chính, cụ thể như sau:
- Kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo hiểm tài sản và bảo
hiểm thiệt hại; Bảo hiểm thân tàu; Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường
bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường hàng không; Bảo hiểm
trách nhiệm chung; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy; Bảo hiểm tín
dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểm con
người và các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
23
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
- Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ: BIC đã xây dựng được mối quan
hệ hợp tác kinh doanh với các công ty bảo hiểm có uy tín trên thế giới như
Swiss Re, Labuan Re, B.E.S.T Re, Malaysian Re Berhad, Caisse Centrale
De Reassurance và ở Việt nam như Tổng công ty tái bảo hiểm quốc gia
Vinare. Tái bảo hiểm là một trong những công cụ quản lý rủi ro, đảm bảo
khả năng tài chính cho các hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn và tăng
doanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng từ nhượng tái bảo hiểm.
- Đầu tư tài chính: Công tư bảo hiểm BIDV sẽ thực hiện hoạt động đầu tư
tài chính theo hướng chuyên nghiệp hoá nhằm nâng cao năng lực tài chính
của công ty, hỗ trợ hoạt động khai thác. Ngoài ra, hoạt động đầu tư tài
chính là một kênh chính tạo ra lợi nhuận cho công ty điều hoà nguồn vốn
và sử dụng hợp lý tối đa nguồn vốn nhàn rỗi. Với nhiệp vụ đầu tư tài
chính chuyên nghiệp Công ty bảo hiểm BIDV sẽ có điều kiện thực hiện
chiến lược mở rộng đầu tư, chiến lượcvào các doanh nghiệp trong lĩnh
vực bảo hiểm cũng như lĩnh vực có nhiều tiềm năng.
- Các dịch vụ có liên quan: Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất,
đại lý giám định, xét giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba.
f. Danh mục sản phẩm bảo hiểm
Bảo hiểm tài sản

∗ Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
∗ Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản
∗ Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm kỹ thuật
∗ Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng
∗ Bảo hiểm mọi rủi ro trong lắp đặt
∗ Bảo hiểm máy móc thiết bị xây dựng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
24
Lớp bảo hiểm 45B Nguyễn Thị Doan
∗ Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
∗ Bảo hiểm nồi hơi
∗ Bảo hiểm thiết bị điện tử
∗ Bảo hiểm kho lạnh
∗ Bảo hiểm tổn thất lợi nhuận do đổ vỡ máy móc
Bảo hiểm tai nạn con người
∗ Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
∗ Bảo hiểm bồi thường cho người lao động
∗ Bảo hiểm xe cơ giới
∗ Bảo hiểm vật chất xe
∗ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba
∗ Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe
Bảo hiểm trách nhiệm
∗ Bảo hiểm trách nhiệm công cộng
∗ Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm
∗ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá
∗ Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu (đường biển, đường hàng không)
∗ Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa (đường bộ, đường sắt, nội thuỷ)
Bảo hiểm tàu

∗ Bảo hiểm thân tàu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
25

×