Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Bài tập: Thị trường chứng khoán Công ty chứng khoán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (335.55 KB, 27 trang )








BÀI TẬP MÔN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Công ty chứng khoán




Mục lục
BÀI TẬP MÔN 1
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1
Đề tài: Công ty chứng khoán 1
Danh sách các thành viên: 1
STT 1
Họ và tên 1
Mã học viên 1
1 1
Nguyễn Thùy Chăm 1
CH210365 1
2 1
Nguyễn Thị Duyên 1
CH210385 1
3 1
Nguyễn Thị Hiền 1


CH210400 1
4 1
Nguyễn Thị Minh Hiếu 1
CH210405 1
5 1
Trương Xuân Hoàng 1
CH210409 1
6 1
Nguyễn Thu Hương 1
CH210425 1


7 1
Nguyễn Thành Luân 1
CH210449 1
8 1
Phạm Thị Hương Tâm 1
CH210495 1
9 1
Nguyễn Xuân Tuấn 1
CH210534 1
Mục lục 2
I.Tổng quan 5
1.1. Khái niệm 5
1.2. Phân loại 5
1.2.1. Công ty chuyên doanh chứng khoán 5
1.2.2. Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán 5
1.3. Điều kiện để thành lập công ty chứng khoán 6
1.3.1. Điều kiện về vốn 6
1.3.2. Điều kiện về nhân sự 7

1.3.3. Điều kiện về cơ sở vật chất 7
1.4. Vai trò của công ty chứng khoán 7
1.4.1. Là cầu nối giữa cung - cầu chứng khoán 7
1.4.2. Vai trò góp phần điều tiết và bình ổn giá trên th ị trường 8
1.4.3. Vai trò cung cấp dịch vụ cho thị trường chứng khoán 8
1.5. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán 9
1.5.1. Môi giới chứng khoán (brokerage services) 9
1.5.2. Tự doanh chứng khoán 10
1.5.3. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư 10
1.5.4. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành 11


1.5.5. Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán 12
1.5.6. Các nghiệp vụ hỗ trợ khác 13
II. Thực trang công ty chứng khoán ở Việt Nam qua các giai đoạn phát
triển 14
2.1. Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn đầu của các công ty chứng khoán 14
2.1.1. Thành tựu 14
2.1.2. Hạn chế 15
2.2. Giai đoạn 2006-2007: Sự phát triển đột phá và bùng nổ của các công ty
chứng khoán Việt Nam. 16
2.3. Năm 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, các công ty chứng
khoán Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh 19
2.4. Giai đoạn 2009-2010: Sự phục hồi nhẹ của các công ty chứng khoán 19
2.5. Giai đoạn 2011-2012: Tiếp tục rơi vào vòng xoáy suy giảm 20
III. Những thành tựu, hạn chế và định hướng phát triển cho các Công
ty chứng khoán trong thời gian tới 22
3.1. Những thành tựu đạt được 22
3.2. Những điểm hạn chế 23
3.3. Phương hướng phát triển công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian

tới 25
3.3.1. Nâng cao năng lực nghiệp vụ cho các công ty chứng khoán 25
3.3.2. Tăng cường công tác quản trị rủi ro tại các công ty chứng khoán
25
3.3.3. Hoàn thiện nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng tại các công ty chứng
khoán 26
3.3.4. Các giải pháp về phía nhà nước, Ủy ban chứng khoán nhà nước
26


CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
I.Tổng quan
1.1. Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ
trên thị trường chứng khoán.
Ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998 của Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp
giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán.
1.2. Phân loại
Hiện nay trên thế giới có hai loại hình hoạt động của công ty chứng khoán:
1.2.1. Công ty chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập,
chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận. Các ngân hàng không được
trực tiếp tham gia kinh doanh chứng khoán.
 Ưu điểm:
+ Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
+ Tính chuyên môn hóa cao giúp thị trường chứng khoán phát triển (thường phát
triển ở các nước Mỹ, Nhật, Canada)
1.2.2. Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán

Theo mô hình này, các công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ
hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ
và các dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức sau:
+ Loại đa năng một phần: theo mô hình này, các ngân hàng muốn kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và
hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ.
+ Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác.
 Ưu điểm:


+ Đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, qua đó giúp hạn chế bớt rủi ro trong kinh
doanh nói chung.
+ Khả năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán là cao.
+ Ngân hàng có thể tận dụng được thế mạnh về chuyên môn, vốn và cơ sở vật chất
để kinh doanh chứng khoán.
+ Khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân
hàng.
 Nhược điểm:
+ Không phát triển được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng thường bảo thủ
không thích phát hành cổ phiếu trái phiếu, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn.
+ Dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính (vì nếu có biến động trên thị trường
chứng khoán sẽ gây ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống ngân hàng, dễ dẫn tới các
cuộc khủng hoảng kinh tế).
Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã áp dụng mô hình
này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đã chuyển sang mô hình
chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến ngày nay.
1.3. Điều kiện để thành lập công ty chứng khoán

1.3.1. Điều kiện về vốn
Vốn điều lệ bằng tối thiểu mức vốn pháp định
Ở Việt Nam công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ thực bằng mức vốn pháp
định theo quy định tại điều 18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 như sau:
Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công ty
chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại
Việt Nam là:
- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ VNĐ
- Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ VNĐ
- Bảo lãnh phát hàng chứng khoán: 165 tỷ VNĐ
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ VNĐ
Trường hợp công ty chứng khoán xin cấp phép cho nhiều loại hình kinh doanh thì
vốn pháp định là tổng số vốn pháp định của từng loại riêng lẻ.
1.3.2. Điều kiện về nhân sự


Những người quản lý hay nhân viên giao dịch của công ty phải đáp ứng các yêu
cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, cũng như mức độ tín nhiệm,
tính trung thực.
Ở Việt Nam, theo khoản 3, điều 30, nghị định 48/1998/NĐ-CP quy định: “Giám
đốc (tổng giám đốc), các nhân viên kinh doanh (không kể nhân viên kế toán, văm thư
hành chính, thủ quỹ) của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề chứng
khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp”
1.3.3. Điều kiện về cơ sở vật chất
Các tổ chức và cá nhân sáng lập công ty chứng khoán phải đảm bảo yêu cầu cơ sở
vật chất tối thiểu cho công ty chứng khoán.
1.4. Vai trò của công ty chứng khoán
1.4.1. Là cầu nối giữa cung - cầu chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian tham gia hầu hết vào quá
trình luân chuyển của chứng khoán : từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp đến khâu

giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp.
• Trên thị trường sơ cấp:
+ Công ty chứng khoán là cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, giúp các tổ
chức phát hành huy động vốn một cách nhanh chóng thông qua nghiệp vụ bảo lãnh
phát hành. Một doanh nghiệp khi thực hiện huy động vốn bằng cách phát hành chứng
khoán, thường họ không tự bán chứng khoán của mình mà thông qua một tổ chức
chuyên nghiệp tư vấn và giúp họ phát hành chứng khoán. Đó là tổ chức trung gian tài
chính như ngân hàng, công ty chúng khoán …
+ Công ty chứng khoán là cầu nối và là kênh dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu
vốn. Công ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ
máy tổ chức thích hợp, họ thực hiện tốt vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành
chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiễn một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và
người phát hành.
• Trên thị trường thứ cấp: Công ty chứng khoán là cầu nối giữa các nhà đầu tư, là
trung gian chuyển các khoản đầu tư thành tiền và ngược lại. Công ty chứng khoán với
nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư đảm nhận tốt vay trò chuyển đổi này, giúp cho các
nhà đầu tư giảm thiểu thiệt hại về giá trị khoản đầu tư của mình.
1.4.2. Vai trò góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường.
Từ sau cuộc khủng hoảng của thị trường chứng khoán thế giới ngày 28/10/1929,
Chính phủ các nước đã ban hành những luật lệ bổ sung cho hoạt động của thị trường


chứng khoán, trong đó đòi hỏi một sự phối hợp giữa Nhà nước với các thành viên tham
gia Sở giao dịch chứng khoán nhằm ngăn chặn những cơn khủng hoảng giá chứng
khoán có thể xảy ra trên thị trường, vì nếu thị trường chứng khoán bị khủng hoảng thì
không những nền kinh tế bị ảnh hưởng mà ngay cả quyền lợi nhà đầu tư, các công ty
chứng khoán cũng bị ảnh hưởng.
Theo quy định của các nước, các công ty chứng khoán có nghiệp vụ tự doanh phải
dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá giảm
và bán chúng khoán dự trữ ra khi giá lên quá cao nhằm góp phần điều tiết và bình ổn

giá trên thị trường. Tuy nhiên, tại Vịêt Nam chưa có quy định này.
Dĩ nhiên sự can thiệp của các công ty chứng khoán chỉ có hạn, phụ thuộc vào
nguồn vốn tự doanh và quỹ dự trữ chứng khoán. Tuy vậy, nó vẩn có ý nghĩa nhất định,
có tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường. Với vai trò này, các công ty
chứng khoán góp phần tích cực vào sự tồn tại và phát triển bền vững của thị trường
chứng khoán.
1.4.3. Vai trò cung cấp dịch vụ cho thị trường chứng khoán
Công ty chúng khoán với các chức năng và nghiệp vụ của mình cung cấp các dịch
vụ cần thiết góp phần cho thị trường chứng khoán hoạt động ổn định, cụ thể:
+ Thực hiện tư vấn đầu tư, góp phần giảm chi phí giao dịch cho nhà đầu tư: thị
trường chứng khoán cũng tương tự như tất cả các thị trường khác, để tiến hành giao
dịch, người mua người bán phải có cơ hội gặp nhau, thẩm định chất lượng hàng hoá và
thoả thuận giá cả. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán với những đặc trưng riêng của nó
như người mua người bán có thể ở rất xa nhau, hàng hoá là “vô hình”, vì vậy để cung
cầu gặp nhau thẩm định chất lượng , xác định giá cả thì phải mất rất nhiều thời gian,
công sức, tiền bạc cho một giao dịch để phục vụ cho việc thu nhập, phân tích, xử lý
thông tin… Công ty chứng khoán với lợi thế chuyên môn hoá, trình độ, kinh nghiệm
nghề nghiệp sẽ thực hiện tốt vai trì tư vấn đầu tư, tìm kiếm đối tác và làm trung gian
mua bán chứng khoán, giúp các nhà đầu tư giảm được chi phí trong từng giao dịch.
+ Cung cấp cơ chế xác định giá cho các khoản đầu tư: Công ty chứng khoán thông
qua Sở giao dịch và thị trường OTC cung cấp một cơ chế xác định giá nhằm giúp các
nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác các khoản đầu tư của mình.
- Trên thị trường sơ cấp: khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán,
các công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc
xác định và tư vấn cho các tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý.
- Trên thị trường thứ cấp: tất cả các lệnh mua bán thông qua các công ty chứng
khoán được tập trung tại thị trường giao dịch và trên cơ sở đó, giá chứng khoán được
xác định theo quy luật cung cầu



Ngoài ra, công ty chứng khoán còn cung cấp nhiều dịch vụ khác hỗ trợ giao dịch
chứng khoán. Với các nghiệp vụ đa dạng của mình, công ty chứng khoán giữ vai trò
quan trọng trong việc phát triển của thị trường chứng khoán, là chất “xúc tác “, không
thể thiếu cho hoạt động của thị trường chứng khoán.
+ Thực hiện tính thanh khoản của chứng khoán: Khi đầu tư, các nhà đầu tư luôn
muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại. Các
công ty chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư
phải chịu ít nhiều thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Chẳng hạn, trong hầu hết các
nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC ngày nay, một nhà
đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà
không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình.
1.5. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
1.5.1. Môi giới chứng khoán (brokerage services)
Là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán trong đó công ty chứng
khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở
giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách
nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài khoản giao
dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách
hàng và công ty.
Trường hợp khách hàng của công ty chứng khoán mở tài khoản lưu ký chứng
khoán tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nhà nước,
công ty chứng khoán có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục giao dịch, mua bán cho
khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký. Tiền hoa hồng môi
giới thường được tính phần trăm trên tổng giá trị của một giao dịch.
Tuỳ theo qui định của mỗi nước, cách thức hoạt động của từng Sở giao dịch chứng
khoán mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau như sau:
+ M ôi giới dịch vụ (Full Service Broker) : cung cấp đầy đủ dịch vụ mua bán chứng
khoán, giữ hộ cổ phiếu, thu cổ tức, cho khách hàng vay tiền, cho vay cổ phiếu bán
trước, cung cấp tài liệu và cố vấn trong đầu tư.

+ M ôi giới chiết khấu (Discount Broker) : chỉ cung cấp một số dịch vụ như mua
bán hộ chứng khoán, phí nhẹ hơn môi giới toàn dịch vụ vì không có tư vấn, nghiên cứu
thị trường.
+ M ôi giới ủy nhiệm hay môi giới thừa hành: đây là những nhân viên của một công
ty chứng khoán của một Sở giao dịch, làm việc hưởng lương của một công ty chứng


khoán và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay
cho khách hàng của công ty trên sàn giao dịch.
+ M ôi giới độc lập (Independent Broker) chính là các môi giới làm việc cho chính
họ và hưởng hoa hồng hay thù lao theo dịch vụ. Họ là một thành viên tự bỏ tiền ra thuê
chỗ tại sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như các công ty chứng khoán thành viên. Họ
chuyên thực thi các lệnh cho các công ty thành viên khác của sở giao dịch.
1.5.2. Tự doanh chứng khoán
Là nghiệp vụ mà trong đó công ty chứng khoán thực hiện mua bán chứng khoán
cho chính mình
- Mục đích: thu lợi hoặc can thiệp điều tiết giá trên thị trường.
- Hoạt động này hiện nay được xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất
của các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận. Tuy nhiên,
do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích nên các nước thường
quy định các công ty chứng khoán phải tổ chức thực hiện hai nghiệp vụ ở hai bộ phận
riêng biệt.
1.5.3. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua bán và nắm giữ các
chứng khoán vì quyền lợi khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa công ty chứng
khoán và khách hàng.
Nghiệp vụ này được thực hiện khi một số nhà đầu tư là tổ chức hoặc cá nhân muốn
tham gia thị trường chứng khoán nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian hoặc
kiến thức chuyên môn để quyết định đầu tư, vì vậy họ uỷ thác cho công ty chứng
khoán đầu tư kèm theo thoã thuận lãi lỗ. Người uỷ thác đầu tư thường không can dự

vào việc đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứng
khoán theo thoã thuận.
Các công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ này ngoài việc được hưởng phí
quản lý họ còn có thể nhận được những khoản tiền phí nhất định khi mang lại lợi
nhuận cao cho nhà đầu tư.
Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán phải quản lý tiền và
chứng khoán cho từng khách hàng uỷ thác và sử dụng tiền trong tài khoản theo đúng
các điều kiện qui định trong hợp đồng đã ký kết. Hợp đồng phải xác định rõ mức dộ uỷ
quyền của khách hàng phải chịu mọi rủi ro của hoạt động đầu tư. Để đảm bảo quyền
lợi của khách hàng, định kỳ, công ty chứng khoán phải gửi báo cáo giá trị các khoản
đầu tư theo giá thị trường tại thời điểm báo cáo cho khách hàng.


1.5.4. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Là việc bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán
chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để
bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết.
Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên
số tiền thu được từ đợt phát hành.
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
+ Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh phát hành
cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối hết hay không.
+ Bảo lãnh cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh
thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành.Tổ chức bảo lãnh không cam
kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa. Số chứng khoán còn lại
nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành. Như vậy, kết quả của việc
bán chứng khoán của tổ chức phát hành tuỳ thuộc vào khả năng, uy tín và sự lựa chọn
nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh.
+ Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát
hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định phát hành, nếu

không phân phối hết sẽ huỷ bỏ đợt phát hành. Theo phương thức này, không có một sự
bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
thường qui định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian cần bán sẽ được
giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành. Nếu đợt phát
hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc.
+ Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu : là phương thức kết hợp giữa phương thức bảo
lãnh cố gắng tối đa và phương thức bảo lãnh tất cả họăc không.Theo phương thức này,
tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỉ lệ chứng khoán nhất
định. Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ được
huỷ bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mau chứng khoán sẽ được trả laị cho nhà đầu tư. Đây là
phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức phát hành
vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh.
1.5.5. Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực tư vấn
đầu tư chứng khoán, tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia tách sáp nhập, hợp nhất doanh
nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp chi việc phát hành và niêm yết chứng khoán.
* Tư vấn tài chính (Tư vấn cho người phát hành)


Đây là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối cao cho công
ty chứng khoán. Thực hiện tốt nghiệp vụ này sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các doanh
nghiệp và tạo ra những hàng hoá có chất lượng cao trên thị trường. Khi thực hiện
nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên
đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết. Hoạt động này tương đối
đa dạng bao gồm:
+ Xác định giá trị doanh nghiệp : là việc định giá các tài sản hữu hình và vô hình
của doanh nghịêp trước khi chào bán chứng khoán. Đây là khâu quan trọng trước khi
phát hành chứng khoán vì nó dùng để đánh giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi
doanh nghịêp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu.
+ Tư vấn về loại chứng khoán phát hành : tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng doanh

nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty …mà xác định loại
chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu.
+ Tư vấn chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp…: khi một doanh nghiệp
muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với
một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các công ty chứng khóan để nhờ trợ giúp về các
vấn đề kỹ thuật ,phương pháp tiến hành sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí….
* Tư vấn đầu tư chứng khoán:
Là việc các chuyên viên tư vấn sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để tư vấn
cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng khoán, loại chứng khoán mua bán, thời
gian nắm giữ, tình hình diễn biến thị trường, xu hướng giá cả… Đây là hoạt động phổ
biến trên thị trường thứ cấp, diễn ra hàng ngày, hàng giờ với nhiều hình thức khác
nhau. Việc tư vấn có thể bằng lời nói, hoặc có thể thông qua những bản tin, các báo
cáo phân tích…, khách hàng có thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện
truyền thông như điện thoại, fax… để nhờ tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông
qua các báo cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành.
Theo qui định tại Việt Nam, khi thực hiện tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách
hàng, các công ty chứng khoán và nhân viên kinh doanh phải:
- Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp.
- Bảo đảm tính trung thực, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn.
- Không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng
hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loại chứng khoán nào.
- Không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay mời gọi khách
hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó.


- Bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trừ trường hợp
được khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tư vấn và bồi thường thiệt hại cho
người sử dụng dịch vụ tư vấn khi vi phạm cam kết trong hợp đồng tư vấn.
Tuy nhiên, các nhà tư vấn thường đánh giá tình huống theo kiến thức, kinh nghiệm

và tư duy chủ quan của họ, do vậy việc đánh giá tình huống của mỗi nhà tư vấn là khác
nhau. Tính khách quan và chính xác của các bản phân tích sẽ mang lại uy tín cho nhà
tư vấn.
1.5.6. Các nghiệp vụ hỗ trợ khác
Nhìn chung các nghiệp vụ hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuân lợi cho nhà
đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
+ Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán: là công việc đầu tiên để các chứng khoán có thể
giao dịch trên thị trường tập trung - việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán - được
thực hiện thông qua các thành viên lưu ký của thị trường giao dịch chứng khoán.
Lưu ký chứng khoán là một hoạt động rất cần thiết trên thị trường chứng khoán.
Bởi vì trên thị trường chứng khoán tập trung, việc thanh toán các giao dịch diễn ra tại
Sở giao dịch chứng khoán. Vì vậy, lưu ký chứng khoán một mặt giúp cho quá trình
thanh toán tại Sở giao dịch được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng dễ dàng. Mặt khác, nó
hạn chế rủi ro cho người nắm giữ chứng khoán như rủi ro bị rách, hỏng, thất lạc chứng
chỉ chứng khoán ….
+ Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi
vay. Dùng số chứng khoán sở hữu hơp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay tiền
nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
+ Cho vay bảo chứng: là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để mua
chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản cầm cố
cho khoản vay.
+ Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc công ty chứng khoán ứng trước
tiền bán chứng khoán cho khách hàng ngay sau khi lệnh bán chứng khoán của khách
hàng được thực hiện tại thị trường chứng khoán.

II. Thực trang công ty chứng k hoán ở Việt Nam qua các giai đoạn phát
triển



Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường
chứng khoán Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặ biệt là
các công ty chứng khoán. Sự trưởng thành của các công ty chứng khoán Việt Nam
không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể hiện rõ
nét qua phương thức và chất lượng cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
2.1. Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn đầu của các công ty chứng khoán
2.1.1. Thành tựu
* Về số lượng và quy mô hoạt động của công ty chứng khoán:
+ Ngày 28/11/1996, Chính phủ ra quyết định thành lập Ủy ban chứng khoán Nhà
nước.
+ Ngày 11/7/1998, thủ tướng chính phủ quyết định thành lập hai trung tâm chứng
khoán thuộc ủy ban chứng khoán nhà nước.
+ Ngày 20/7/2000: trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí M inh
chính thức đi vào hoạt động với 4 công ty chứng khoán và thực hiện phiên giao dịch
đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Ở thời điểm đó, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại
cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ
được niêm yết giao dịch.
+ Từ đó cho đến 2005, thị trường không có biến động lớn, loại trừ cơn sốt vào
năm 2001 (chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưng chỉ
trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất
giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ
còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001.
+ Ngày 08/03/2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức đi vào
hoạt động. Giai đoạn thức tỉnh dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữ của nhà
đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng).
+ Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan
tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác
động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới
cuộc sống của mỗi người dân. Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số
liệu sau:

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số công ty niêm yết/đăng
ký giao dịch
5 5 20 22 26 32


Mức vốn hóa thị trường
cổ phiếu (%GDP)
0.28 0.34 0.48 0.39 0.64 1.21
Số lượng công ty chứng
khoán
3 8 9 11 13 14
Số tài khoản khách hàng

2908

8774

13520

15735

21616

31316

* Về chất lượng hoạt động:
Tính đến năm 2004 các công ty chứng khoán mở rộng hoạt động nghiệp vụ và tiềm
năng phát triển khả quan: Chất lượng các loại hình dịch vụ và tiện ích phục vụ người
đầu tư ngày càng được nâng cấp và đa dạng hóa. Các mô hình đầu tư mới như quỹ đầu

tư chứng khoán, hợp đồng mua lại trái phiếu, cổ phiếu có kỳ hạn…cũng đã bắt đầu
xuất hiện trên thị trường, làm phong phú thêm hàng hóa để người đầu tư lựa chọn.
Nguồn vốn điều lệ của các công ty chứng khoán đã lên tới 810 tỷ đồng.
Năm 2004, 6/13 công ty chứng khoán triển khai nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
với giá trị chứng khoán trong danh mục trên 240 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các công ty
chứng khoán đã thực hiện bảo lãnh phát hành với tổng giá trị là 9.034 tỷ đồng.
+ Về kết quả kinh doanh: Hầu hết các công ty chứng khoán đều có lãi. So với năm
2003 doanh thu tăng 8 lần (tự doanh trái phiếu chiếm 90% tổng giá trị tự doanh),
doanh thu môi giới tăng 3 lần và doanh thu tư vấn tăng 1.6 lần.
2.1.2. Hạn chế
+ Khung pháp lý và chính sách phát triển thị trường chứng khoán cũng như các
công ty chứng khoán vẫn chưa hoàn thiện: chưa có Luật chứng khoán, hệ thống các
văn bản chứng khoán và thị trường chứng khoán hiện hành có tính pháp lý chưa cao và
còn nhiều bất cập.
+ Quy mô của thị trường cổ phiếu nhỏ nên chưa thu hút các nhà đầu tư. Với
khoảng 30 công ty niêm yết đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổng giá trị vốn
hóa thị trường cổ phiếu chỉ vào khoảng 0.64% (năm 2004) và 1.21% (năm 2005).
+ Cơ chế hoạt động thị trường chứng khoán chưa ổn định ảnh hưởng xấu tới công
ty chứng khoán.

2.2. Giai đoạn 2006-2007: Sự phát triển đột phá và bùng nổ của các công ty
chứng khoán Việt Nam.
Là thời kì bùng nổ mạnh mẽ của thị trường chứng khoán nói chung và công ty
chứng khoán nói riêng. Sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, quy mô và mở rộng nghiệp
vụ của các công ty chứng khoán là rất đáng kinh ngạc.


+ Về số lượng và quy mô các công ty chứng khoán:
Tính đến 30/8/2007, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp phép hoạt động kinh
doanh chứng khoán cho 61 công ty, với tổng số vốn điều lệ đạt 5.735 tỷ đồng. Trong

đó, có 43 công ty được cấp phép 4 nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư
chứng khoán, tự doanh chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán
+ Về chất lượng hoạt động :
- Về hoạt động môi giới đầu tư:
Tính đến hết ngày 30/6/2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán tại các công ty
chứng khoán đạt 255.185 tài khoản (tăng 169.001 tài khoản, tương đương 196% so với
thời điểm ngày 31/12/2006).
Trong đó, đối với những công ty chứng khoán đã có bề dày hoạt động, đều chiếm
tỷ trọng cao về số lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch như: VCBS có 34.490 tài
khoản, chiếm 16,52% tổng số tài khoản toàn thị trường; BVSC có 34.395 tài khoản,
chiếm 13,48%; công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) có 26.746 tài khoản, chiếm
10,48%; công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư (BSC) có 24.525 tài khoản, chiếm
9,61%.
Bên cạnh đó, một số công ty chứng khoán tuy mới triển khai hoạt động nhưng đã
thu hút được khá nhiều nhà đầu tư, như SBS đạt 7.720 tài khoản, chiếm 3,03% thị
phần, ABS đạt 6.104 tài khoản, chiếm 2.39% thị phần, công ty chứng khoán Vndirect
đạt 5.195 tài khoản, chiếm 2.04% thị phần
Tổng giá trị giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong tháng 6/2007 qua các công
ty chứng khoán đạt 25.196 tỷ đồng. Những công ty chứng khoán có doanh số môi giới
giao dịch lớn đa số là những công ty đã có nhiều năm hoạt động, có nhiều nhà đầu tư
mở tài khoản như bảng dưới:

Công ty ch
ứng
khoán
Doanh s
ố giao dịch tháng
6/2007
Th
ị phần giao dịch tháng

6/2007
VCBS

6.362,5

25,25%

ACBS

3.361

13,34%

SSI

3.253

12,91%

BVSC

2.182

8,66%

BSC 1.313 5,21%



- Về hoạt động tự doanh:

Tổng giá trị chứng khoán tự doanh tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 9.667 tỷ
đồng (tăng 4.671 tỷ đồng, tương đương 48,31% so với thời điểm 01/01/2007).
Đối với 14 công ty chứng khoán đã hoạt động lâu năm, giá trị chứng khoán tự
doanh (2 công ty là SCBS và BSC không báo cáo số liệu này) tính tại thời điểm ngày
30/6/2007 đạt 5.997 tỷ đồng (tăng 1.000 tỷ đồng, tương đương 16,69% so với giá trị
ngày 01/1/2007). Một số công ty có giá trị tự doanh cuối kỳ tăng khá nhanh và đạt giá
trị cao.
Đối với khối công ty chứng khoán được cấp phép vào cuối năm 2006, tại thời điểm
đầu kỳ, giá trị tự doanh không đáng kể vì công ty chưa triển khai hoạt động thì đến
thời điểm 30/6/2007, giá trị chứng khoán tự doanh của khối công ty này đạt 3.345 tỷ
đồng (chiếm 35,63% giá trị tự doanh của 59 công ty chứng khoán). M ột số công ty đã
đẩy nhanh nghiệp vụ tự doanh mặc dù hoạt động chưa lâu như: Công ty chứng khoán
Ngân hàng sacombank (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 571 tỷ đồng), Công ty chứng
khoán Vndirect (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 587 tỷ đồng), Công ty chứng khoán
Ngân hàng Đông Nam Á (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 458 tỷ đồng).
- Về hoạt động bảo lãnh phát hành:
Hoạt động bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán 6 tháng đầu năm 2007
vẫn tập trung chủ yếu là bảo lãnh phát hành các loại trái phiếu như trái phiếu chính phủ
cho Kho bạc Nhà nước, trái phiếu ngân hành, trái phiếu đô thị (xem bảng dưới đây).
Công ty
chứng
khoán
Kh
ối
lượng bảo
lãnh
Giá b
ảo
lãnh (đ
ồng)

V
ốn chủ sở
h
ữu của CTCK
(tỷ đồng)
Hình th
ức
bảo lãnh
S
ố hợp
đồng bảo
lãnh
Giá tr
ị bảo
lãnh (tỷ
đồng)
BVSC

5.314

33.500

150

Ch
ắc chắn

1

0.178


ACBS 880.000 67.000 250 Chắc chắn 1 58.960
Thăng Long
108.758

451.000

120

Ch
ắc chắn

2

49.050

Như vậy, các công ty chứng khoán đã thực hiện 4 hợp đồng bảo lãnh phát hành với
hình thức bảo lãnh cam kết chắc chắn. Các hợp đồng bảo lãnh nói trên đã thực hiện
theo đúng quy định hiện hành do giá trị chứng khoán đã được bảo lãnh không vượt quá
50% vốn điều lệ của công ty chứng. Tuy nhiên, số liệu trên cũng cho thấy, trong thời
gian gần đây, có rất ít công ty chứng khoán thực hiện việc bảo lãnh phát hành và các
công ty chưa chú trọng đầu tư tìm kiếm khách hàng, đào tạo nhân sự, xây dựng quy
trình chuẩn để triển khai nghiệp vụ này.


- Về hoạt động tư vấn:
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán: Mảng hoạt động này nhìn chung đã bắt đầu tiến triển
với số hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán của các công ty đạt 55 hợp đồng (tại thời
điểm 1/1/2007 chỉ có 6 hợp đồng tư vấn đầu tư). Điều này cho thấy trong sự phát triển,
các công ty chứng khoán đang dần chuyển sang hướng quan tâm, chú trọng hơn đến

hoạt động chăm sóc khách hàng. Tuy nhiên, so với khoảng 255.000 tài khoản giao dịch
chứng khoán tại các công ty chứng khoán hiện nay, số hợp đồng trên là không đáng kể
và tiềm năng để các công ty chứng khoán phát triển mảng hoạt động này là không nhỏ.
+ Tư vấn niêm yết: Tổng số hợp đồng tư vấn niêm yết tại thời điểm này của các
công ty chứng khoán là 100 hợp đồng, trong đó có 9 hợp đồng được ký trong tháng
6/2007 (so với 67 hợp đồng tại thời điểm 1/1/2007). Như vậy, hoạt động tư vấn niêm
yết có những dấu hiệu khả quan hơn so với thời điểm đầu năm. Những công ty chứng
khoán đang thực hiện nhiều hợp đồng tư vấn niêm yết là công ty chứng khoán Sài Gòn
(30 hợp đồng), Công ty chứng khoán Ngân hàng ACB (14 hợp đồng).
+ Tư vấn khác: Tổng số hợp đồng tư vấn khác tại ngày 30/6/2007 là 305 hợp đồng,
trong đó có 77 hợp đồng được ký, 42 hợp đồng được thanh lý trong tháng 6/2007. Các
hợp đồng này chủ yếu là hợp đồng tư vấn cổ phần hóa và bán đấu giá cổ phần.
Nhìn chung, hoạt động tư vấn đã có những phát triển đáng kể so với thời gian đầu
năm, các công ty chứng khoán đã chú trọng hơn đến nghiệp vụ tư vấn. Không chỉ
những công ty đã hoạt động lâu năm mà những công ty được cấp phép trong năm 2006
cũng đã triển khai hoạt động này khá tốt.
2.3. Năm 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, các công ty chứng
khoán Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Những điểm nổi bật của thị trường chứng khoán năm 2008: VN-Index giảm điểm,
thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơi xuống dưới mệnh giá), tính
thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sự can thiệp của các cơ quan điều hành
và sự ảm đạm trong tâm lý các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng nóng trong
năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm cũng đưa đến những dấu hiệu bất ổn về
kinh tế vĩ mô.
Về hiệu quả kinh doanh: các công ty chứng khoán đã phải gánh chịu những khoản
lỗ khổng lồ trong năm 2008. Ví dụ khoản lỗ 554 tỷ đồng của công ty chứng khoán
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam( BSC). Một số công ty khác có khoản lỗ/
vốn điều lệ lớn như: Kim Long, Âu Việt, Hải Phòng.

2.4. Giai đoạn 2009-2010: Sự phục hồi nhẹ của các công ty chứng khoán



Năm 2009 là năm nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do tác động của khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có dấu hiệu
hồi phục, tạo đà cho các bước tăng trưởng của những năm tiếp theo.
+ Về số luợng và quy mô của các công ty chứng khoán: mạng lưới, quy mô hoạt
động của công ty chứng khoán ngày càng được mở rộng, với 80 chi nhánh, 42 phòng
giao dịch đang hoạt động tập trung ở nhiều tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Hải Phòng. Cùng với sự phát triển mạng lưới
hoạt động, số lượng tài khoản giao dịch tại các công ty chứng khoán cũng tăng mạnh
với tổng số tài khoản trên 800.000 tài khoản, tăng 1,5 lần so với năm 2008.
+ Về chất lượng hoạt động:
Cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, các công ty chứng khoán đã thực hiện
trên 5.000 hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành.
Tính đến cuối năm 2009 đã có gần 80 công ty chứng khoán hoạt động có lãi trong
năm 2009. Quy mô vốn hoạt động của các công ty chứng khoán ngày càng được nâng
cao. Tính đến cuối năm 2009, tổng số vốn điều lệ của các công ty chứng khoán là
24.855 tỷ đồng, tăng 9,4% so với năm 2008.
Số lượng người hành nghề kinh doanh chứng khoán ngày càng tăng. Tính đến nay,
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp chứng chỉ người hành nghề chứng khoán cho
2.744 nhân viên.
Năm 2009 là năm hết sức khó khăn đối với hoạt động của thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, hoạt động của các công ty chứng khoán đã diễn ra khá suôn sẻ, không có
trường hợp nào bị giải thể, phá sản.
Bước sang năm 2010, mặc dù nền kinh tế nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nhất định từ
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng đã lấy lại được đà hồi phục. Cùng với đó,
thị trường chứng khoán Việt Nam đã tìm lại được nhịp độ phát triển ổn định hơn. Hoạt
động của các công ty chứng khoán cũng có những bước phát triển nhất định trên các
mặt như mạng lưới hoạt động, quy mô vốn, cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp
dịch vụ và chất lượng hoạt động.

+ Về quy mô, số lượng các công ty chứng khoán: ngày càng được mở rộng với 133
chi nhánh và 80 phòng giao dịch (so với cuối năm 2009 là 80 chi nhánh, 42 phòng giao
dịch) đang hoạt động tập trung ở nhiều tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ, Hải Phòng, Thanh Hóa.
Cùng với sự phát triển mạng lưới hoạt động,số lượng tài khoản giao dịch tại các
công ty chứng khoán cũng tăng mạnh với tổng số trên 1.000.000 tài khoản, tăng 1,2 lần
so với năm 2009.


Quy mô vốn hoạt động của các công ty chứng khoán ngày càng được nâng cao; vốn
điều lệ của các công ty chứng khoán là 33.341 tỷ đồng, tăng 1,3 lần so với năm 2009.
+ Về hoạt động nghiệp vụ: Hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán phát
triển mạnh với tổng doanh thu năm 2010 đạt trên 10.000 tỷ đồng trên cả bốn mảng
nghiệp vụ là môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư. Bên cạnh hoạt động
chính là môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán đã tập trung phát triển hoạt
động bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng khoán một cách chuyên nghiệp và bài
bản hơn, góp phần tăng doanh thu cho hoạt động của công ty.
+ Về quản trị điều hành: nhìn chung các công ty đã tăng cường công tác quản trị,
quản lý rủi ro, dần đi vào hoạt động theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên trong quá trình
hoạt động, một số công ty còn chưa tuân thủ quy định pháp luật, đã bị kiểm tra và xử
phạt theo quy định.

2.5. Giai đoạn 2011-2012: Tiếp tục rơi vào vòng xoáy suy giảm
Năm 2011 là một năm đầy sóng gió trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Công
ty chứng khoán là khối bị ảnh hưởng nặng nhất bởi khó khăn của kinh tế vĩ mô trong
năm 2011. Sự suy giảm mạnh của thị trường đã dẫn đến hệ quả là tính thanh khoản sụt
giảm, thị giá nhiều cổ phiếu xuống rất thấp. Không ít cổ phiếu đã mất 80-90% giá trị
so với đầu năm.
+ Về chất lượng hoạt động của các công ty chứng khoán: Theo đánh giá của Ủy
ban Chứng khoán, tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi nên hoạt động của các công

ty chứng khoán khá ảm đạm và kết quả không được khả quan trong năm 2011. Từ con
số 20 công ty chứng khoán thua lỗ trong năm 2010, tăng lên 62/105 công ty chứng
khoán lỗ trong quý I/2011 và tổng số công ty có lỗ luỹ kế đến thời điểm cuối năm 2011
là 61/105 công ty.
Do ảnh hưởng của thị trường, các công ty chứng khoán đã trải qua một năm đầy
khó khăn. Đầu năm, Chứng khoán Kim Long (KLS) đã từng toan tính bỏ lĩnh vực
chứng khoán, rồi hàng loạt các sự kiện liên quan đến công ty chứng khoán
như
SME
bị đình chỉ lưu ký vì thiếu hụt thanh khoản; Chủ tịch Chứng khoán Hà
Thành “biến mất” cùng khoản âm tiền hơn 100 tỷ đồng, nhà đầu tư kiện chứng khoán
FLC, vụ việc PVFI-Chứng khoán Phố Wall… Một số công ty như
Chứng khoán Hà
Nội
(HSSC),
Chứng khoán Đông Dương
(DDS) xin rút nghiệp vụ môi giới. Với tình
hình như vậy thì phần lớn các công ty chứng khoán sẽ khó tránh được tình cảnh thua
lỗ, đặc biệt là nhóm nhỏ. Trong 9 tháng đầu năm 2011, có 18 trên 27 công ty chứng
khoán niêm yết lỗ với mức lỗ gần 1.400 tỷ đồng.


Nhiều công ty chứng khoán đã được thay tên, đổi chủ trong năm như Chứng khoán
Vincom thành Chứng khoán Xuân Thành; Chứng khoán Standard thành Chứng khoán
Maritime Bank; Chứng khoán E-Việt thành Chứng khoán Navibank và Chứng khoán
Artex thành Chứng khoán FLC. Trong số 105 công ty chứng khoán đang hoạt động thì
có trên 10 công ty chứng khoán đang rơi vào diện cảnh báo.
Mặc dù thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn rất khó khăn song theo đánh
giá sơ bộ từ phía Ủy ban Chứng khoán về cơ bản các công ty chứng khoán đã đáp ứng
đủ các quy định về tỷ lệ an toàn tài chính. Các công ty chứng khoán bằng cách này hay

cách khác cũng đã dần thu hồi các tài khoản thấu chi.
+ Về quy mô, số lượng các công ty chứng khoán: Trong khi tình hình thị trường
chứng khoán gặp nhiều khó khăn, vẫn có một bộ phận không ít các công ty chứng
khoán tranh thủ giai đoạn thị trường khó khăn này để “sốc” lại hoạt động kinh doanh
của mình thông qua các hoạt động tái cấu trúc về vốn, cổ đông chiến lược, nghiệp vụ
kinh doanh, công nghệ, nhân sự, tổ chức. Nhờ đó, quy mô vốn điều lệ của các công ty
chứng khoán tiếp tục tăng 833 tỷ đồng so với cuối 2010, đưa tổng vốn điều lệ các công
ty đến nay lên 35.045 tỷ đồng. Bên cạnh một số các công ty giảm bớt chi nhánh, phòng
giao dịch thì cũng có các công ty tiếp tục mở rộng mạng lưới, khiến số lượng mạng
lưới chi nhánh của công ty chứng khoán tăng thêm 24 so với cuối 2010, đưa tổng số
chi nhánh lên 157, số phòng giao dịch tăng 16, đưa tổng số phòng giao dịch lên 96.
Năm 2012, trước tình hình khó khăn chung của nền kinh tế và thị trường chứng
khoán trong năm 2011, vấn đề tái cấu trúc thị trường chứng khoán, đặc biệt là tái cấu
trúc công ty chứng khoán đang rất ược quan tâm. Trong tháng 12 năm 2011, Ủy ban
chứng khoán đã trình Chính phủ đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán giai đoạn
2011-2015 gồm các nội dung: tái cấu trúc công ty chứng khoán; nâng cao tiêu chuẩn
niêm yết; đa dạng hóa các sản phẩm đầu tư theo hướng giảm số lượng các công ty,
thu hẹp nghiệp vụ và ban hành hệ thống quản lý an toàn tài chính và quản trị rủi ro
mới.
Theo đề án này, số lượng các công ty chứng khoán sẽ cơ cấu theo hướng thu hẹp
(không phân biệt công ty lớn hay bé), cơ cấu lại thành phần tham gia góp vốn trong
công ty chứng khoán theo hướng hiệu quả và phù hợp thông lệ quốc tế; nâng cao chất
lượng hoạt động, năng lực tài chính, khả năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứng
khoán. Việc cấu trúc lại công ty chứng khoán là nhằm đáp ứng việc mở cửa thị trường
dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết.
Tái cấu trúc các công ty chứng khoán đồng nghĩa với việc sẽ loại bỏ những công ty
chứng khoán yếu kém ra khỏi thị trường.


Trong quá trình triển khai vừa qua, thực hiện theo báo cáo về mức vốn khả dụng

của các công ty chứng khoán, một số công ty chứng khoán bị đưa vào diện kiểm soát
đặc biệt, và đã đưa vào diện công bố, công khai cho nhà đầu tư biết. Ủy ban Chứng
khoán đã công bố danh sách 6 công ty chứng khoán bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc
biệt từ ngày 23/4/2012. 6 công ty này bao gồm: Công ty Cổ phần Chứng khoán Cao
Su, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vina, Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội,
Công ty Cổ phần Chứng khoán Trường Sơn, Công ty Cổ phần Chứng khoán Đà Nẵng
và Công ty Cổ phần Chứng khoán Mê Kông.
Nguyên do, các công ty này có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro nhỏ hơn 120%, bị
đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Thông tư số 226/2010/TT-
BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chính về quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện
pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an
toàn tài chính.
III. Những thành tựu, hạn chế và định hướng phát triển cho các Công
ty chứng khoán trong thời gian tới
3.1. Những thành tựu đạt được
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường
chứng khoán Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là
các công ty chứng khoán. Sự trưởng thành của các công ty chứng khoán Việt Nam
không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể hiện rõ nét
qua phương thức và chất lượng cung cấp dịch vụ cho khách hàng:
+ Về quy mô, mười hai năm qua từ chỗ chỉ có 4 công ty chứng khoán khi thị
trường đi vào hoạt động, đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã có hơn 700
công ty niêm yết, 4 chứng chỉ quỹ, 105 công ty chứng khoán, 47 công ty quản lý quỹ,
8 ngân hàng lưu ký, hơn 1,2 triệu tài khoản đầu tư; trong đó có trên 14.000 nhà đầu tư
nước ngoài.
+ Các công ty Chứng khoán trong quá trình phát triển luôn đồng thời tăng vốn điều
lệ, nhằm đáp ứng được khả năng tài chính và sự phát triển. Các công ty chứng khoán
đã góp phần tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp. Tính đến
nay, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 40% GDP, trong khi 12 năm trước
con số này chỉ đạt 0.24% GDP. Điều này chứng tỏ, Các công ty chứng khoán đã giúp

các doanh nghiệp niêm yết có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn từ công chúng đầu tư,
ổn định và với chi phí vốn thấp, mang tính dài hạn.
+ Trong thời gian đầu mới tham gia vào thị trường các công ty chứng khoán chủ
yếu làm nghiệp vụ môi giới là chính thì nay hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh
chứng khoán đã triển khai đầu tư các hoạt động như Tư vấn tài chính, Tự doanh, Bảo


lãnh phát hành. Năng lực tài chính của các công ty chứng khoán ngày càng được nâng
cao và đạt mức bình quân vốn điều lệ trên 150 tỷ đồng trên công ty. Các công ty
chứng khoán đang hoạt động trên thị trường liên tục có các đợt tăng vốn điều lệ, mở
rộng quy mô hoạt động, gia tăng thị phần khiến tình hình cạnh tranh giữa các công ty
chứng khoán ngày càng trở nên gay gắt
+ Các công ty chứng khoán không chỉ tăng về số lượng và cả chất lượng, sự cạnh
tranh lành mạnh là lực đẩy khiến các tổ chức này ngày càng phải nâng cao hiệu quả
hoạt động và chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Các tổ chức này đã chú
trọng nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư trang thiết bị
máy móc hiện đại phục vụ cho kinh doanh. Cùng với việc triển khai giao dịch trực
tuyến, các loại hình dịch vụ cung cấp trên thị trường ngày càng đa dạng và có chất
lượng, đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường. Các dịch vụ
gia tăng giá trị như liên kết tài khoản với ngân hàng, báo giá chứng khoán qua điện
thoại, theo dõi giao dịch chứng khoán trực tuyến, đặt lệnh giao dịch qua điện thoại,
internet … được các công ty chứng khoán đưa vào áp dụng ngày càng nhiều.
3.2. Những điểm hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích có được trong 12 năm qua, nhiều vấn đề mới
đã và đang phát sinh có nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến hoạt động và hiệu quả của
các công ty chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung:
+ Năng lực nghiệp vụ của các công ty chứng khoán còn yếu: Các tổ chức kinh
doanh chứng khoán nhiều nhưng quy mô và năng lực tài chính thấp, không đảm bảo
hiệu quả hoạt động, tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Đặc biệt có một số công ty chứng khoán
có hạn chế về năng lực nghiệp vụ, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro dẫn đến tình

trạng không hiệu quả (đặc biệt là hoạt động tự doanh) dẫn đến tình trạng thua lỗ. Theo
đánh giá phân loại các công ty chứng khoán theo tiêu chí an toàn tài chính, có 40/105
công ty chứng khoán có khó khăn về thanh khoản không đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài
chính; có 71 công ty chứng khoán bị thua lỗ chủ yếu là nghiệp vụ tự doanh (do giá cổ
phiếu giảm thấp và đầu tư không hiệu quả).
Trong thời gian qua có nhiều công ty chứng khoán đã phát hành những báo cáo về
nhận định, phân tích thị trường, xu hướng biến động của các mã chứng khoán trong
tương lai. Những nhận định, phân tích đó khác nhau giữa các công ty chứng khoán và
tính chính xác không cao, tạo ra tâm lý hoang mang, mất niềm tin đối với các nhà đầu
tư.
+ Quy trình quản trị rủi ro tại các công ty chứng khoán còn yếu kém: Tình trạng
làm giá, thao túng chứng khoán vẫn còn tồn tại. Công ty chứng khoán làm giá chính cổ
phiếu của mình, tạo dòng tiền ảo, cho người thân quen vay ưu đãi và khách hàng vay


mua cổ phiếu, sử dụng tiền nhà đầu tư sai mục đích, không xử lý bán cổ phiếu khi giá
trị cổ phiếu giảm gây thiệt hại cho công ty, mua bán sai luật… Với hàng loạt những vụ
việc sai phạm dẫn đến khởi tố hình sự các công ty chứng khoán và lãnh đạo các công
ty này, điển hình như vụ việc chủ tịch hội đồng quản trị của công ty cổ phần chứng
khoán Cao su (RUBSE) bị bắt tạm giam vì hành vi “cố ý làm trái quy định của Nhà
nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” vào tháng 8/2012 vừa qua, ngày
2/8, cơ quan công an cũng đã khởi tố và bắt giam ông Phan Huy Chí - Chủ tịch Hội
đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SME - về tội "lừa đảo chiếm
đoạt tài sản"
+ Tình trạng tùy tiện, thiếu kiểm soát trong công bố thông tin: cũng giống như các
thông tin chi tiết của các khách hàng tại các ngân hàng, thông tin về tài khoản của nhà
đầu tư (kể cả các công ty chứng khoán có chức năng tự doanh), trong đó có thông tin
về danh mục đầu tư, là những thông tin mật, chỉ được phép tiết lộ khi có yêu cầu của
các cơ quan thực thi pháp luật. Thế nhưng, các công ty chứng khóan lại không đảm
bảo tính bí mật về danh mục đầu tư cho các nhà đầu tư.

+ Cơ sở hạ tầng, vấn đề nguồn lực tại các công ty chứng khoán cũng còn nhiều yếu
kém: Thời điểm hiện nay, cơ sở hạ tầng của thị trường chứng khoán nói chung và các
công ty chứng khoán nói riêng chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và có thể nói là chưa an
toàn. Với bất kỳ sự thay đổi nhỏ nào về giải pháp kỹ thuật hay phương thức trong giao
dịch đều sẽ có những ảnh hưởng đến việc quản lý giao dịch tại các công ty chứng
khoán. Nếu đầu tư công nghệ không được xây dựng một cách đồng bộ thì khả năng
tích hợp giữa các công ty chứng khoán với Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ nảy
sinh nhiều vấn đề.
Mặt khác nhân sự đang là bài toán khó đối với các công ty chứng khoán. Cả nước
hiện chỉ có khoảng trên 300 nhà môi giới trong các công ty chứng khoán nhưng phải
phụ trách một số lượng vốn rất lớn. Không chỉ thiếu về số lượng, trình độ, nghiệp vụ
tư vấn của đội ngũ các nhà môi giới còn rất hạn chế khiến cho hoạt động này hiện nay
là không đáng kể.
3.3. Phương hướng phát triển công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
3.3.1. Nâng cao năng lực nghiệp vụ cho các công ty chứng khoán
 Về nghiệp vụ tự doanh:
+ Nâng cao khả năng của các công ty chứng khoán.
+ Xem xét lại các khoản mục đầu tư.
+ Tận dụng lợi thế thông tin để nâng cao hoạt động đầu tư.
 Về nghiệp vụ môi giới chứng khoán


+ Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin.
+ Có chính sách thích đáng về chi phí môi giới.
+ Mở thêm các dịch vụ giá trị gia tăng.
 Về nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
+ Xây dựng đội ngũ nhân viên tư vấn chất lượng cao.
+ Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời.
 Về nghiệp vụ bảo lãnh và phát hành chứng khoán
+ Xem xét cẩn trọng các công ty muốn phát hành chứng khoán, tránh những rủi ro

có thể xảy ra.
+ Đảm bảo đủ nguồn vốn để thực hiện hoạt động bảo lãnh
3.3.2. Tăng cường công tác quản trị rủi ro tại các công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán cần phải tập trung chú ý vào công tác quản trị công ty,
cũng như tăng cường công tác quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ. Trong bối cảnh khó
khăn của thị trường như hiện nay, các công ty chứng khoán càng phải bền bỉ bám trụ
thị trường để cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư. Đồng thời cũng tái cơ cấu lại, giảm
thiểu chi phí, củng cố lại nhân sự, bộ máy trong đó có cả những nhân sự cấp cao.
Thực tế tại các công ty chứng khoán lớn, quản trị công ty được xây dựng rất bài
bản, trong đó quy trình kiểm soát rủi ro cũng được đặc biệt quan tâm và thực hiện
nghiêm túc. Song bên cạnh đó, cũng còn không ít công ty chỉ xây dựng cho có, cho đủ,
còn việc thực thi và tuân thủ các quy định đó chưa nghiêm túc.
3.3.3. Hoàn thiện nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng tại các công ty chứng khoán.
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cần thường xuyên mở các lớp đào tạo về nghiệp vụ
chứng khoán, phổ biến các kinh nghiệm quản lí cho đội ngũ nhân sự trong các công ty
này. Sau khi đã đạt được các yêu cầu về nghiệp vụ chuyên môn, các cá nhân phải qua
kỳ thi sát hạch do cơ quan quản lí Nhà nước về chứng khoán tổ chức. Bên cạnh đó cần
có biện pháp thích hợp nhằm đưa việc đào tạo nhân lực cho ngành chứng khoán trở lên
phổ biến trong các trường đại học khối kinh tế.Có như vậy vấn đề nguồn nhân lực cho
các công ty chứng khoán mới được giải quyết triệt để trong thời gian tới.
Để tăng cường minh bạch và nâng cao chất lượng của các công ty chứng khoán,
cần hiện đại hóa các phương tiện công bố thông tin và đa dạng hóa phương pháp công
bố thông tin trên các Sở giao dịch chứng khoán. Song song với việc hoàn thiện hệ
thống cung cấp thông tin qua internet để cung cấp tất cả những thông tin về thị trường
và các thông tin có liên quan đến tổ chức niêm yết. Cần khẩn trương xây dựng mạng

×