Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Vấn đề nghiên cứu công nghệ thích hợp xử lý nước thải cho ngành chế biến thuỷ sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (488.61 KB, 105 trang )


Chương I
GIỚI THIỆU CHUNG
I.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguồn gốc mọi sự biến đổi về môi trường sống đang xảy ra hiện nay trên
thế giới cũng như ở nước ta là các hoạt động kinh tế , phát triển của xã hội loài
người. Các hoạt động này một mặt làm cải thiện chất lượng cuộc sống của con
người , mặt khác lại đang tạo ra hàng loạt khan hiếm , cạn kiệt nguồn tài nguyên
thiên nhiên, gây ô nhiễm , suy thoái môi trường khắp mọi nơi trên thế giới. Vì vậy,
bảo vệ môi trường trở thành vấn đề toàn cầu, là quốc sách của hầu hết các nước
trên thế giới.
Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nền kinh tế thò trường là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi ngành kinh
tế , trong đó có ngành chế biến lương thực , thực phẩm tạo ra các sản phẩm có giá
trò phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành
này cũng tạo ra một lượng lớn chất thải rắn, khí, lỏng… là một trong những nguyên
nhân gây ra ô nhiễm môi trường chung của đất nước. Cùng với ngành công nghiệp
chế biến lương thực, thực phẩm thì ngành chế biến thuỷ sản cũng trong tình trạng
đó. Do đặc điểm công nghệ của ngành, ngành chế biến thuỷ sản đã sử dụng một
lượng nước khá lớn trong quá trình chế biến. Vì vậy, ngành đã thải ra một lượng
nước khá lớn cùng với các chất thải rắn, khí thải. Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do
ngành chế biến thuỷ sản thải trực tiếp ra môi trường đang là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà quản lý môi trường. Nước bò nhiễm bẩn sẽ ảnh hưởng đến con
người và sự sống của các loài thuỷ sinh cũng như các loài động thực vật sống gần
đó. Vì vậy, việc nghiên cứu xử lý nước thải ngành chế biến thuỷ sản cũng như các
ngành công nghiệp khác là một yêu cầu cấp thiết đặt ra không chỉ đối với những
nhà làm công tác bảo vệ môi trường mà còn cho tất cả mọi người chúng ta.
Trang 1
I.2. MỤC ĐÍCH
Với hiện trạng môi trường như vậy, vấn đề nghiên cứu công nghệ thích hợp
xử lý nước thải cho ngành chế biến thuỷ sản là cần thiết. Đề tài này được thực hiện


nhằm mục đích nghiên cứu và đề xuất công nghệ xử lý thích hợp cho một trường
hợp cụ thể, đó là Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Kiên Giang.
I.3. PHẠM VI
Việc ứng dụng công nghệ xử lý chung cho một ngành công nghiệp là rất khó
khăn , do mỗi nhà máy có đặc trưng riêng về công nghệ, nguyên liệu, nhiên liệu…
nên thành phần và tính chất nước thải khác nhau. Phạm vi ứng dụng của đề tài là
xử lý nước thải của Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Kiên Giang và một số
công ty khác nếu có cùng đặc tính chất thải đặc trưng.
Trang 2
Chương II
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THUỶ HẢI SẢN VÀ
CÁC VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
II.1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN THUỶ HẢI SẢN Ở VIỆT NAM
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa , ẩm ướt cũng như chòu sự chi phối của
các yếu tố như gió , mưa , đòa hình , thổ nhưỡng , thảm thực vật nên tạo điều kiện
hình thành dòng chảy với hệ thống sông ngòi dày đặc . Không kể đến các sông
suối không tên thì tổng chiều dài của các con sông là 41.000 km.
Theo thống kê của Bộ thuỷ sản thì hiện nay chúng ta có hơn 1.470.000 ha
mặt nước sông ngòi có thể dùng cho nuôi trồng thuỷ sản . Ngoài ra còn có khoảng
544.500.000 ha ruộng trũng và khoảng 56.200.000 ha hồ có thể dùng để nuôi cá .
Tính đến nay cả nước xây dựng được 650 hồ , đập vừa và lớn , 5.300 hồ và đập nhỏ
với dung tích xấp xỉ 12 tỉ m
3
, đặc biệt chúng ta có nhiều hồ thiên nhiên và nhân
tạo rất lớn như hồ Tây ( 10 – 14 triệu m
3
) , hồ Thác Bà (3000 triệu m
3
) , hồ Cấm
Sơn (250 triệu m

3
)
Mặt khác , chúng ta có bờ biển dài trên 3200 km , có rất nhiều vònh thuận lợi
kết hợp với hệ thống sông ngòi , ao hồ là nguồn lợi to lớn để phát triển ngành nghề
nuôi trồng , đánh bắt và chế biến động thực vật chế biến thuỷ hải sản . Rong biển
và các loài thuỷ sản thân mềm , cá và các loài nhuyễn thể , giáp xác có trong
biển , ao , hồ , sông suối là nguồn protit có giá trò to lớn , giàu các vitamin và các
nguyên tố vi lượng , là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp , là kho tàng và
tài nguyên vô tận về động vật , thực vật. Biển Việt Nam thuộc vùng biển nhiệt đới
nên có nguồn lợi vô cùng phong phú . Theo số liệu điều tra của những năm 1980-
1990 thì hệ thực vật thuỷ sinh có tới 1300 loài và phân loài gồm 8 loài cỏ biển và
gần 650 loài rong , gần 600 loài phù du , khu hệ động vật có 9250 loài và phân loài
trong đó có khoảng 470 loài động vật nổi , 6400 loài động vật đáy , trên 2000 loài
cá , 5 loài rùa biển , 10 loài rắn biển . Tổng trử lượng cá ở tầng trên vùng biển Việt
Nam khoảng 1.2 – 1.3 triệu tấn , khả năng khai thác cho phép là 700-800 nghìn
Trang 3
tấn/ năm . Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì tôm he khoảng 55- 70 nghìn
tấn/năm và khả năng cho phép là 50 nghìn tấn/năm. Các nguồn lợi giáp xác khác
là 22 nghìn tấn/năm. Nguồn lợi nhuyễn thể (mực) là 64-67 nghìn tấn/năm với khả
năng khai thác cho phép là 13 nghìn tấn /năm .Như vậy nguồn lợi thuỷ sản chủ yếu
là tôm cá , có khoảng 3 triệu tấn/ năm nhưng hiện nay mới khai thác hơn 1 triệu
tấn/năm.
Cùng với ngành nuôi trồng thuỷ sản , khai thác thuỷ sản thì ngành chế biến
thuỷ sản đã đóng góp xứng đáng chung trong thành tích của ngành thuỷ sản Việt
Nam. Nguồn ngoại tệ cơ bản của ngành đem lại cho đất nước là của ngành chế
biến thuỷ sản . Trong đó mặt hàng đông lạnh chiếm khoảng 80%. Trong 5 năm
(1991-1995) ngành đã thu về 13 triệu USD, tăng 529,24% so với kế hoạch 5 năm
(1982-1985) và tăng 143% so với kế hoạch 5 năm (1986-1990) , tăng 49 lần trong
15 năm. Tốc độ trung bình trong 5 năm (1991-1995) đạt trên 21% / năm, thuộc
nhóm hàng tăng trưởng mạnh nhất của ngành kinh tế quốc doanh Việt Nam ( trong

năm 1995 đạt 550 triệu USD ). Tổng kim ngạch xuất khẩu (1991-1995) có được là
do ngành đã xuất khẩu được 127.700 tấn sản phẩm ( tăng 156,86% so với năm
1990 ) cho 25 nước trên thế giới, trong đó có tới 75% lượng hàng được nhập cho thò
trường Nhật, Singapore, Hong Kong, EU, đạt 30 triệu USD/ năm. Sản phẩm thuỷ
hải sản của Việt Nam đứng thứ 19 về sản lượng, đứng thứ 30 về kim ngạch xuất
khẩu, và đứng hàng thứ năm về nuôi tôm .
Ngành chế biến thuỷ sản là một phần cơ bản của ngành thuỷ sản, ngành có
hệ thống cơ sở vật chất tương đối lớn, bước đầu tiếp cận với trình độ khu vực, có
đội ngũ quản lý có kinh nghiệm, công nhân kỹ thuật có tay nghề giỏi. Sản lượng
xuất khẩu 120.000 – 130.000 tấn/ năm, tổng dung lượng kho bảo quản lạnh là 230
ngàn tấn, năng lực sản xuất nước đá là 3.300 tấn/ ngày, đội xe vận tải lạnh hơn
1000 chiếc với trọng tải trên 4000 tấn, tàu vận tải lạnh khoảng 28 chiếc, với tổng
trọng tải 6150 tấn. Chế biến nước nắm được duy trì ở mức 150 triệu lít/ năm. Đối
với hàng chế biến xuất khẩu, ngành đang chuyển dần từ hình thức bán nguyên liệu
sang xuất khẩu các sản phẩm tươi sống, sàn phẩm ăn liền và sản phẩm bán lẻ siêu
thò có giá trò cao hơn. Tuy vây, giá trò các mặt hàng đông lạnh của nước ta chỉ bằng
1/2 hay 2/3 giá trò xuất khẩu các mặt hàng tương tự của Trung Quốc, Đài Loan,
Thái Lan . Hiện nay cả nước có khoảng 168 nhà máy, cơ sở chế biến đông lạnh với
công suất tổng cộng khoảng 100.000 tấn sản phẩm/ năm.
Quy trình công nghệ chế biến hàng động lạnh ở nước ta hiện nay chủ yếu
dừng ở mức độ sơ chế và bảo quản đông lạnh. Chủ yếu là đưa tôm cá từ nơi đánh
bắt về sơ chế, đóng gói, cấp đông, bảo quản lạnh … và xuất khẩu. Về thiết bò, đại
đa số các nhà máy và cơ sở chế biến thuỷ hải sản đông lạnh được xây dựng sau
Trang 4
1975, tập trung vào những năm 80 cho nên còn tương đối mới, trang bò bằng máy
cấp đông kiểu tiếp xúc 2 băng chuyền .
II.2. CÁC VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP
CHẾ BIẾN THUỶ SẢN.
II.2.1. Các loại chất thải có thể sinh ra trong quá trình sản xuất
II.2.1.a. Chất thải rắn

Chất thải rắn sinh ra trong quá trình chế biến tồn tại dưới dạng vụn thừa :
tạp chất , đầu , đuôi , xương vẩy ,… phần lớn các chất này được tận dụng lại để chế
biến thành các loại thức ăn gia súc. Tuy nhiên, vẫn còn xót lại một lượng chất thải
rắn trôi theo dòng nước thải do quá trình làm vệ sinh nhà xưởng không kỹ, lượng
chất thải này có thể là nguôn gây ô nhiễm không khí bổ sung do mùi từ chúng bốc
lên, gây khó chòu và ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân trong công ty và cư
dân ở khu vực lân cận.
II.2.1.b. Khí thải
Khí thải sinh ra từ các lò đốt (lò đốt dầu của lò hơi), máy phát điện có
chứa các chất gây ô nhiễm như : NO
2
, SO
2
, bụi với mức độ ô nhiễm dao động theo
thời gian và mức độ vận hành theo lò hơi. Tuy vậy, các chất ô nhiễm này đều có
nồng độ nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5937 - 1995). Trong ngành chế biến
thủy hải sản, các chất gây ô nhiễm không khí khá đặc trưng đó là H
2
S với nồng độ
có khả năng đạt từ 0,2 – 0,4 mg/m
3
, sinh ra chủ yếu từ sự phân huỷ các chất thải
rắn (đầu, ruột, vẩy,…) của các vi khuẩn và NH
3
sinh ra từ mùi nguyên liệu thủy sản
hoặc do sự thất thoát từ các máy nén khí của các thiết bò đông lạnh. Các khí này có
đặc điểm không phát tán đi xa nên mức độ ô nhiễm chỉ giới hạn trong khu vực phát
sinh chúng. Nhìn chung, các chất gây ô nhiễm không khí của ngành chế biến thủy
hải sản là khá đa dạng nhưng ở mức độ nhẹ và có thể khắc phục.
II.2.1.c. Nước thải

Cùng với sự phát triển theo từng năm thì ngành chế biến thủy hải sản
cũng đưa vào môi trường một lượng nước thải khá lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng
nguồn nước. Nước thải ngành này chứa phần lớn các chất thải hữu cơ có nguồn gốc
từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và các chất béo. Trong hai thành
phần này, chất béo khó bò phân hủy bởi vi sinh vật.
Trang 5
II.2.2. Thành phần tính chất nước thải thủy sản
Với các chủng loại nguyên liệu tương đối phong phú cùng đối với điều kiện
của nước ta nên thành phần các chất thải trong nước thải thủy sản cũng rất đa dạng.
Nước thải thủy sản có thể chia thành ba nguồn khác nhau: nước thải sản xuất , nước
thải vệ sinh công nghiệp và nước thải sinh hoạt . Cả 3 loại nước thải trên đều có
tính chất gần tương tự nhau . Trong đó nước thải sản xuất có mức độ ô nhiễm cao
hơn cả . Nước thải của phân xưởng chế biến thuỷ sản có hàm lượng COD dao động
trong khoảng từ 300- 3000 (mg/L) , giá trò điển hình là 1500 (mg/L) , hàm lượng
BOD
5
dao động từ 300-2000 (mg/L) , giá trò điển hình là 1000 (mg/L) . Trong nước
thường có các vụn thuỷ sản và các vụn này dễ lắng , hàm lượng chất rắn lơ lững
dao động từ 200-1000 (mg/L) , giá trò thường gặp là 500 (mg/L) . Nước thải thuỷ
sản cũng bò ô nhiễm chất dinh dưỡng với hàm lượng Nitơ khá cao từ 50-200
(mg/L) , giá trò điển hình là 30 (mg/L). Ngoài ra , trong nước thải của ngành chế
biến thuỷ hải sản có chứa các thành phần hữu cơ mà khi bò phân huỷ sẽ tạo ra các
sản phẩm trung gian của sự phân huỷ các acid béo không bảo hoà , tạo mùi rất khó
chòu và đặc trưng , gây ô nhiễm về mặt cảm quan và ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ công nhân làm việc . Đối với các công ty thủy sản có sản xuất thêm các sản
phẩm khô , sản phẩm đóng hộp thì trong dây chuyền sản xuất sẽ có thêm các công
đoạn nướng , luộc , chiên thì trong thành phần nước thải sẽ có chất béo , dầu . Giá
trò các thông số ô nhiễm đặc trưng của nước thải chế biến thuỷ sản được tóm tắt
qua bảng sau :
Bảng 2.1: Bảng các thông số ô nhiễm đặc trưng của nước thải thuỷ sản.

Các thông số ô nhiễm Tiêu chuẩn phát thải
(TCVN 5945 - 1995 , loại B )
pH : 6,5 ÷ 7,5
BOD
5
: 300 ÷ 2000 mg/L
COD : 500 ÷ 3000 mg/L
SS : 200 ÷ 1000 mg/L
N : 50 ÷ 200 mg/L
P : 10 ÷ 100 mg/L
pH : 5,5 ÷ 9
BOD
5
: 50 mg/L
COD :100 mg/L
SS :100 mg/L
N : 60 mg/L
P : 6 mg/L
Trang 6
Chương 3
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHẾ BIẾN THUỶ
SẢN XUẤT KHẨU KIÊN GIANG
III.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY
 Tên cơ sở: CÔNG TY CB THỦY SẢN XUẤT KHẨU KIÊN GIANG
 Đòa chỉ: 62 Ngô Thời Nhiệm, An Hoà – Rạch Giá – Kiên Giang.
 Năm thành lập: tháng 10/1996.
 Năm bắt đầu hoạt động : 1997.
 Tình hình sản xuất kinh doanh:
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Sản phẩm Mực, Ghẹ, Cá Tôm, Mực, Ghẹ Tôm

Sản lượng 1500 tấn 2800 tấn 3080 tấn
Kim ngạch 12.000.000 USD 20.645.000 USD 22.709.500 USD
Thò trường Châu âu, Nhật,
Hàn Quốc,…
Mỹ, Châu Âu,
Nhật, Hàn Quốc,
Mỹ, Châu Âu,
Nhật, Hàn Quốc,…
III.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC
Công nhân
Tổng số công nhân sản xuất : 363 người.
Số lượng công nhân tại thời điểm cao nhất/ca sản xuất: 363 người. Trong đó:
Khu tiếp nhận nguyên liệu : 12 người.
Khu vực sơ chế: 98 người.
Khu vực chế biến : 121 người.
Khu vực cấp đông bao gói : 26 người.
Khu vực khác : 82 người.
Khu vực băng chuyền IQF : 24 người.
Cơ cấu tổ chức (xem phụ lục)
Trang 7
III.3. TÓM TẮT HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT:
III.3.1. Nhà xưởng
Tổng diện tích các khu vực sản xuất chính: 2.916,34 m
2
. Trong đó:

Khu vực tiếp nhận: 84,00m
2

Khu vực sơ chế: 182,00m

2
.

Khu vực chế biến: 227,94m
2
.

Khu vực cấp đông: 926,40m
2
.

Khu vực kho lạnh: 261,00m
2
.

Khu vực sản xuất khác: 1232,00m
2
.
Mô tả hiện trạng điều kiện cơ sở vật chất nhà xưởng và kết cấu: Kết cấu
nhà xưởng khung thép tiền chế, tường xây gạch thu hồi, mái lợp tol mạ kẽm, xung
quanh bên trong ốp gạch men cao 1,25m. Các vách ngăn bằng nhôm, kính. Nền
bằng đá mài màu trắng, trần tấm nhôm sóng. Trang bò các thiết bò lạnh, quạt thông
gió.
III.3.2. Trang thiết bò chính
STT Tên trang thiết bò Nước sản
xuất
Số lượng Năm đưa
vào sử
dụng
1 Hệ thống cấp đông tiếp xúc

1tấn/mẻ. Sabro – HM128L
Đan Mạch 04 bộ 1997
2 Hệ thống kho trữ đông 200
tấn Capland 15HP
Mỹ 04 bộ 1997
3 Hệ thống hấp- Cấp đông IQF
500kg/h-Carnitech-Mycom
Đan Mạch 01 bộ 2002
4 Hệ thống kho trữ đông 150
tấn Bitzer + Surely
Đức + Nhật 01 bộ 2002
5 Các thiết bò khác:
 Máy hút chân không
 Máy dò kim loại
Đài Loan
Nhật
01
01
2002
2002
Trang 8
 Nồi hơi
 Máy làm lạnh nước
 Máy SX đá vẩy 15tấn/ngày
 Hệ thống xử lý, lọc nước
60m
3
/giờ
Việt Nam
Đan Mạch

Việt Nam
Việt Nam
01
01
01
01
2002
2002
1997
1997
Nhận xét chung về hiện trạng hoạt động của các thiết bò: Các loại trang
thiết bò đang hoạt động tốt.
III.3.3. Hệ thống phụ trợ
III.3.3.1. Nguồn nước sử dụng cho khu vực sản xuất
Nguồn nước đang sử dụng: Nước giếng khoan với độ sâu 140m. Phương
pháp đảm bảo chất lượng nước cung cấp cho khu vực sản xuất (kể cả khu vực sản
xuất nước đá)
 Hệ thống có lắng lọc với 01 bể chứa có dung tích 400m
3
.
 Hệ thống khử trùng dùng Chlorine đònh lượng.
III.3.3.2. Nguồn nước đá
 Tự sản xuất : đá vẩy với công suất 15tấn/ngày.
 Mua ngoài : đá cây với công suất 120tấn/ngày.
III.3.3.3. Hệ thống xử lý chất thải
Mô tả tóm tắt hệ thống thoát, xử lý nước thải: Nước thải  Mương nổi
 ống PVC chìm  Cống ngầm  Hầm xử lý  Ao xử lý  Sông.
Chất thải rắn: Chất thải rắn chứa trong thùng nhựa đậy nắp kín, vận
chuyển ra bãi đổ.
Danh mục các loại hoá chất:

Trang 9
Tên hoá chất Nước sản xuất Mục đích sử dụng
Chlorine bột, nước Nhật Khử trùng bề mặt tiếp xúc sản
phẩm , xử lý nước.
Muối ăn Việt Nam Bảo quản, ngâm quay
III.4. QUY TRÌNH SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY
III.4.1. Đặc tính nguyên liệu – nhiên liệu
III.4.1.a. Nguyên liệu
Nguồn nguyên liệu chủ yếu được vận chuyển về công ty là các loại hải
sản như tôm, cua, cá, mực phục vụ cho việc chế biến các sản phẩm đông lạnh xuất
khẩu. Số lượng nguyên liệu được vận chuyển từ các đòa phương về công ty luôn
thay đổi tuỳ theo đơn đặt hàng và nhu cầu của thò trường . Tuy nhiên trong năm
2002 công ty chế biến chủ yếu mặt hàng tôm đông lạnh .
Do các loại thuỷ hải sản tươi sống rất dễ bò hỏng hoặc giảm phẩm chất nếu không
được chuyên chở , giao nhận , tồn trữ đúng kỹ thuật nên nguyên liệu thuỷ hải sản
được chuyên chở và giao nhận bằng các xe lạnh chuyên dùng của công ty và được
tồn trữ trong các kho lạnh với thời gian quy đònh chặt chẽ.
III.4.1.b. Nhiên liệu
Nhiên liệu được sử dụng chủ yếu là dầu DO dùng cho lò hơi , chạy máy
phát điện . Ngoài ra còn có nước để rửa nguyên liệu , hoá chất khử trùng. Đối với
hoá chất khử trùng dùng trong chế biến thuỷ sản đông lạnh thì công ty sử dụng
Chlorine . Mục đích của việc khử trùng là nhằm bảo quản sản phẩm và vệ sinh nhà
xưởng theo tiêu chuẩn của ngành.
III.4.2. Quy trình sản xuất
Các quy trình công nghệ chế biến đông lạnh của công ty
QUY TRÌNH CHẾ BIẾN TÔM VỎ LẶT ĐẦU (HLSO) ĐÔNG LẠNH
Trang 10
Sơ đồ quy trình

Trang 11

NGUYÊN LIỆU
RỬA LẦN 1
SƠ CHẾ
PHÂN CỞ, HẠNG
RỬA LẦN 2
NGÂM
NGÂM, QUAY
RỬA LẦN 3
CÂN ĐÔNG IQF
XẾP KHUÔN
BAO GÓI, BẢO QUẢN
MẠ BĂNG
CẤP ĐÔNG
CÂN
TÁI ĐÔNG
BAO GÓI, BẢO QUẢN
MẠ BĂNG
QUY TRÌNH CHẾ BIẾN TÔM THỊT (PD, PUD, PTO) ĐÔNG LẠNH
Sơ đồ quy trình :
Trang 12
NGUYÊN LIỆU
RỬA LẦN 1
SƠ CHẾ
PHÂN CỞ, HẠNG
RỬA LẦN 2
NGÂM
RỬA LẦN 3
CẤP ĐÔNG
CÂN
TÁI ĐÔNG

BAO GÓI, BẢO QUẢN
MẠ BĂNG
CÂN
XẾP KHUÔN
BAO GÓI, BẢO QUẢN
TÁCH KHUÔN, MẠ BĂNG
CHỜ ĐÔNG
CẤP ĐÔNG
BLOCK IQF
III.5. VẤN ĐỀ GÂY Ô NHIỄM CỦA CÔNG TY
Tương tự như các công ty chế biến thủy sản khác nói riêng và ngành chế biến
thủy sản nói chung, vấn đề gây ô nhiễm môi trường mà công ty cần quan tâm trong
quá trình sản xuất là ô nhiễm môi trường do khí thải, bụi, mùi, ô nhiễm môi trường
do chất thải rắn và ô nhiễm môi trường do nước thải.
III.5.1. Ô nhiễm do khí thải, bụi, mùi
Ô nhiễm mùi phát sinh từ chất thải rắn, các chất này là phế liệu bỏ ra từ
nguyên liệu chính (đầu tôm, vây cá, xương cá,…). Nếu để lâu ngày sẽ diễn ra quá
trình phân hủy làm phát sinh mùi hôi, ảnh hưởng đến môi trường bên trong và
ngoài nhà máy. Do đó cần xử lý triệt để lượng chất thải rắn phát sinh nhằm hạn
chế ô nhiễm mùi.
Khí thải phát sinh từ nhà máy chủ yếu từ các lò hơi sử dụng dầu DO, máy
phát điện, các máy nén khí của các thiết bò đông lạnh với các loại khí như: NH
3
,
NO
2
, SO
2
,, bụi, H
2

S. Tuy vậy mức độ ô nhiễm không lớn và có thể khống chế nếu
công ty thường xuyên quan tâm đến việc bảo quản và sửa chữa trang thiết bò.
III.5.2. Ô nhiễm do chất thải rắn
Với lượng chất thải rắn thải ra ngày càng nhiều trong quá trình sản xuất mà
không có biện pháp xử lý kòp thời thì sẽ gây ô nhiễm mùi , ảnh hưởng đến môi
trường xung quanh . Nhằm tránh hiện tượng này , công ty đã có biện pháp tách
riệng chất thải rắn từ khu vực sản xuất với chất thải sinh hoạt , chất thải rắn từ khu
sản xuất được đưa ra khỏi nhà máy và mang đi xử lý theo quy đònh chung . Chất
thải rắn từ khâu bao bì , đóng gói … và chất thải rắn sinh hoạt được tập trung về vò
trí riêng và được cơ quan quản lý công trình vệ sinh công cộng mà công ty hợp
đồng vận chuyển ra bãi đỗ.
III.5.3. Ô nhiễm do nước thải
Nguồn nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động
 Nước thải sản xuất : Nước thải sản xuất phát sinh chủ yếu từ
khâu rửa nguyên liệu trong quá trình tiếp nhận , sơ chế hải sản . Đây là loại nước
thải có độ ô nhiễm cao nhất.
Trang 13
 Nước thải vệ sinh công nghiệp : Đây là lượng nước cần dùng
cho việc rửa sàn nhà mỗi ngày , ngoài ra còn dùng cho việc rửa máy móc , thiết bò ,
rửa xe …
 Nước thải sinh hoạt : Nước thải ra từ việc tắm giặt , vệ sinh
của toàn bộ công nhân , cán bộ trong xí nghiệp.
Cả 3 loại nước thải trên được thoát chung đến khu vực xử lý nước của công
ty . Tổng lưu lượng của 3 loại nước thải này dao động khoảng 400 m
3
/ng.đ (Nguồn
từ công ty)
 Kết quả xét nghiệm nước thải
Sau đây là bảng kết quả xét nghiệm các thông số ô nhiễm trong nước thải được lấy
từ mương thoát nước thải.

STT Chỉ tiêu Đơn vò Kết quả Tiêu chuẩn
1
pH 6,5 ÷ 7,1 5,5 ÷ 9
2
Nhiệt độ
0
C 27 ÷ 33 40
3
BOD
5
mgO
2
/L 600 ÷ 800 < 50
4
COD mgO
2
/L 700 ÷ 1200 < 100
5
Tổng cặn lơ lửng SS mg/L 250 ÷ 400 < 100
6
Tổng Nitơ mg/L 80,45 < 60
7
Tổng Photpho mg/L 9,56 < 6
Nguồn : Phòng thí nghiệm khoa Môi Trường – Trường Đại Học Bách Khoa
TP.HCM
Do thời gian làm luận văn và kinh phí có giới hạn nên chỉ có thể khảo sát sự
biến thiên của các thông số như : COD , BOD
5
, SS , pH . Nếu có điều kiện nghiên
cứu tiếp theo sẽ khảo sát thêm hàm lượng Nitơ , Photpho ……

Qua kết quả phân tích và hệ thống xử lý nước thải hiện tại của công ty , ta
nhận thấy nước thải của công ty không đạt tiêu chuẩn xã thải vào môi trường . Do
vậy , việc thiết kế trạm xử lý nước thải cho công ty là vấn đề cần thiết và cấp
bách.
Trang 14
CHƯƠNG IV
TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
NƯỚC THẢI
IV.1. XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC
Phương pháp xử lý cơ học sử dụng nhằm mục đích tách các chất không hoà tan
và một phần các chất ở dạng keo ra khỏi nước thải .Những công trình xử lý cơ học
bao gồm :
IV.1.1. Song chắn rác
Song chắn rác nhằm chắn giử các cặn bẩn có kích thước lớn hay ở dạng sợi:
giấy, rau cỏ, rác … được gọi chung là rác .Rác được chuyển tới máy nghiền để
nghiền nhỏ ,sau đó đổ trở lại trước song chắn rác hoặc chuyển tới bể phân huỷ cặn
(bể mêtan) .Đối với các tạp chất < 5 mm thường dùng lưới chắn rác .Cấu tạo của
thanh chắn rác gồm các thanh kim loại tiết diện chử nhật ,hình tròn hoặc bầu dục.
Song chắn rác được chia làm 2 loại di động hoặc cố đònh .Song chắn rác được đặt
nghiêng một góc 60 – 90
0
theo hướng dòng chảy .
IV.1.2. Bể lắng cát
Bể lắng cát dùng để tách các chất bẩn vô cơ có trọng lượng riêng lớn hơn
nhiều so với trọng lượng riêng của nước như xỉ than , cát …… ra khỏi nước thải . Cát
từ bể lắng cát đưa đi phơi khô ở sân phơi và cát khô thường được sử dụng lại cho
những mục đích xây dựng .
IV.1.3. Bể lắng
Bể lắng dùng để tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng lớn hơn trọng
lượng riêng của nước. Chất lơ lửng nặng hơn sẽ từ từ lắng xuống đáy, còn chất lơ

Trang 15
lửng nhẹ hơn sẽ nổi lên mặt nước. Dùng những thiết bò thu gom và vận chuyển các
chất bẩn lắng và nổi (ta gọi là cặn ) tới công trình xử lý cặn .
 Dựa vào chức năng , vò trí có thể chia bể lắng thành các loại : bể
lắng đợt 1 trước công trình xử lý sinh học và bể lắng đợt 2 sau công trình xử lý sinh
học .
 Dựa vào nguyên tắc hoạt động, người ta có thể chia ra các loại bể
lắng như : bể lắng hoạt động gián đoạn hoặc bể lắng hoạt động liên tục .
 Dựa vào cấu tạo có thể chia bể lắng thành các loại như sau : bể
lắng đứng , bể lắng ngang ,bể lắng ly tâm và một số bể lắng khác .
IV.1.3.1. Bể lắng đứng
Bể lắng đứng có dạng hình tròn hoặc hình chử nhật trên mặt bằng.
Bể lắng đứng thường dùng cho các trạm xử lý có công suất dưới 20.000 m
3
/ng.đ .
Nước thải được dẫn vào ống trung tâm và chuyển động từ dưới lên theo phương
thẳng đứng . Vận tốc dòng nước chuyển động lên phải nhỏ hơn vận tốc của các hạt
lắng . Nước trong được tập trung vào máng thu phía trên .Cặn lắng được chứa ở
phần hình nón hoặc chóp cụt phía dưới .
IV.1.3.2. Bể lắng ngang
Bể lắng ngang có hình dạng chử nhật trên mặt bằng ,tỷ lệ giữa
chiều rộng và chiều dài không nhỏ hơn ¼ và chiều sâu đến 4m .Bể lắng ngang
dùng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 15.000 m
3
/ ng.đ. Trong bể lắng nước
thải chuyển động theo phương ngang từ đầu bể đến cuối bể và được dẩn tới các
công trình xử lý tiếp theo , vận tốc dòng chảy trong vùng công tác của bể không
được vượt quá 40 mm/s . Bể lắng ngang có hố thu cặn ở đầu bể và nước trong được
thu vào ở máng cuối bể .
IV.1.3.3. Bể lắng ly tâm

Bể lắng ly tâm có dạng hình tròn trên mặt bằng ,đường kính bể từ
16 đến 40 m (có trưòng hợp tới 60m) ,chiều cao làm việc bằng 1/6 – 1/10 đường
kính bể .Bể lắng ly tâm được dùng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 20.000
m
3
/ng.đ . Trong bể lắng nước chảy từ trung tâm ra quanh thành bể .Cặn lắng được
dồn vào hố thu cặn được xây dựng ở trung tâm đáy bể bằng hệ thống cào gom cặn
ở phần dưới dàn quay hợp với trục 1 góc 45
0
.Đáy bể thường làm với độ dốc I =
Trang 16
0,02 – 0,05 .Dàn quay với tốc độ 2-3 vòng trong 1 giờ .Nước trong được thu vào
máng đặt dọc theo thành bể phía trên .
IV.1.4. Bể vớt dầu mỡ
Bể vớt dầu mở thường được áp dụng khi xử lý nước thải có chứa dầu mở
(nước thải công ngiệp) ,nhằm tách các tạp chất nhẹ .Đối với thải sinh hoạt khi hàm
lượng dầu mở không cao thì việc vớt dầu mở thực hiện ngay ở bể lắng nhờ thiết bò
gạt chất nổi .
IV.1.5. Bể lọc
Bể lọc nhằm tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng cách cho
nước thải đi qua lớp lọc đặc biệt hoặc qua lớp vật liệu lọc , sử dụng chủ yếu cho
một số loại nước thải công nghiệp . Quá trình phân riêng được thực hiện nhờ vách
ngăn xốp ,nó cho nước đi qua và giữ pha phân tán lại .Quá trình diễn ra dưới tác
dụng của áp suất cột nước .
 Phương pháp xử lý cơ học : có thể loại bỏ được đến 60% tạp chất
không hoà tan có trong nước thải và giảm BOD đến 30% . Để tăng hiệu suất công
tác của các công trình xử lý cơ học có thể dùng biện pháp thoáng sơ bộ ,thoáng gió
đông tụ sinh học ,hiệu quả xử lý có thể đạt tới 75% theo hàm lượng chất lơ lửng và
40-50 % theo BOD.
Trong số các công trình xử lý cơ học có thể kể đến bể tự hoại , bể lắng hai

vỏ , bể lắng trong có ngăn phân huỷ là những công trình vừa để lắng vừa để phân
huỷ cặn lắng .
IV.2. XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA LÝ
Bản chất của quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp hoá lý là áp dụng
các quá trình vật lý và hoá học để đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây
tác động với các tạp chất bẩn ,biến đổi hoá học , tạo thành các chất khác dưới dạng
cặn hoặc chất hoà tan nhưng không độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường .Giai
đoạn xử lý hoá lý có thể là giai đoạn xử lý độc lập hoặc xử lý cùng với các phương
pháp cơ học , hoá học , sinh học trong công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh .
Những phương pháp hoá lý thường được áp dụng để xử lý nước thải là : keo tụ,
tuyển nổi , đông tụ , hấp phụ , trao đổi ion , thấm lọc ngược và siêu lọc …v…v…
Trang 17
IV.2.1. Phương pháp đông tụ và keo tụ
Quá trình lắng chỉ có thể tách được các hạt rắn huyền phù nhưng không thể
tách được các chất gây nhiễm bẩn ở dạng keo và hoà tan vì chúng là những hạt rắn
có kích thước quá nhỏ .Để tách các hạt rắn đó một cách có hiệu quả bằng phương
pháp lắng ,cần tăng kích thước của chúng nhờ sự tác động tương hổ giữa các hạt
phân tán liên kết thành tập hợp các hạt ,nhằm tăng vận tốc lắng của chúng .Việc
khử các hạt keo rắn bằng lắng trọng lượng đòi hỏi trước hết cần trung hoà điện tích
của chúng ,thứ đến là liên kết chúng với nhau .Quá trình trung hoà điện tích thường
được gọi là quá trình đông tụ (coagulation) , còn quá trình tạo thành các bông lớn
hơn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ (flocculation).
IV.2.1.a. Phương pháp đông tụ
Quá trình thuỷ phân các chất đông tụ và tạo thành các bông keo xảy ra
theo các giai đoạn sau :
Me
3
+ HOH

Me(OH)

2+
+ H
+
Me(OH)
2+
+ HOH

Me(OH)
+
+ H
+
Me(OH)
+
+ HOH

Me(OH)
3
+ H
+
Me
3+
+ 3HOH

Me(OH)
3
+ 3 H
+
Chất đông tụ thường dùng là muối nhôm ,sắt hoặc hoặc hỗn hợp của chúng . Việc
chọn chất đông tụ phụ thuộc vào thành phần ,tính chất hoá lý , giá thành , nồng độ
tạp chất trong nước , pH .

Các muối nhôm được dùng làm chất đông tụ : Al
2
(SO
4
)
3
.18H
2
O , NaAlO
2
,
Al(OH)
2
Cl, Kal(SO
4
)
2
.12H
2
O , NH
4
Al(SO
4
)
2
.12H
2
O .Thường sunfat nhôm làm chất
đông tụ vì hoạt động hiệu quả pH = 5 – 7.5


, tan tốt trong nước , sử dụng dạng khô
hoặc dạng dung dòch 50% và giá thành tương đối rẽ .
Các muối sắt được dùng làm chất đông tụ : Fe(SO)
3
.2H
2
O , Fe(SO
4
)
3
.3H
2
O ,
FeSO
4
.7H
2
O và FeCl
3
. Hiệu quả lắng cao khi sử dụng dạng khô hay dung dòch
10 -15%.
IV.2.1.b. Phương pháp keo tụ
Keo tụ là quá trình kết hợp các hạt lơ lửng khi cho các chất cao phân tử
vào nước. Khác với quá trình đông tụ , khi keo tụ thì sự kết hợp diễn ra không chỉ
Trang 18
do tiếp xúc trực tiếp mà còn do tương tác lẫn nhau giữa các phân tử chất keo tụ bò
hấp phụ trên các hạt lơ lửng .
Sự keo tụ được tiến hành nhằm thúc đẩy quá trình tạo bông hydroxyt nhôm
và sắt với mục đích tăng vận tốc lắng của chúng . Việc sử dụng chất keo tụ cho
phép giảm chất đông tụ , giảm thời gian đông tụ và tăng vận tốc lắng .

Cơ chế làm việc của chất keo tụ dựa trên các hiện tượng sau : hấp phụ phân
tử chất keo trên bề mặt hạt keo ,tạo thành mạng lưới phân tử chất keo tụ .Sự dính
lại các hạt keo do lực đẩy Vanderwalls .Dưới tác động của chất keo tụ giữa các hạt
keo tạo thành cấu trúc 3 chiều ,có khả năng tách nhanh và hoàn toàn ra khỏi nước .
Chất keo tụ thường dùng có thể là hợp chất tự nhiên và tổng hợp chất keo tự
nhiên là tinh bột , ete , xenlulo , dectrin (C
6
H
10
O
5
)
n
và dioxyt silic hoạt tính
(xSiO
2
.yH
2
O).
IV.2.2. Tuyển nổi
Phương pháp tuyển nổi thường được sử dụng để tách các tạp chất (ở dạng
rắn hoặc lỏng) phân tán không tan , tự lắng kém ra khỏi pha lỏng . Trong xử lý
nước thải ,tuyển nổi thường được sử dụng để khử các chất lơ lửng và làm đặc bùn
sinh học .Ưu điểm cơ bản của phương pháp này so với phương pháp lắng là có thể
khử được hoàn toàn các hạt nhỏ hoặc nhẹ , lắng chậm , trong một thời gian ngắn
.Khi các hạt đã nổi lên bề mặt ,chúng có thể thu gom bằng bộ phận vớt bọt
Quá trình tuyển nổi được thực hiện bằng cách sục các bọt khí nhỏ (thường là
không khí ) vào trong pha lỏng .Các khí đó kết dính với các hạt và khi lực nổi của
tập hợp các bóng khí và hạt đủ lớn sẽ kéo theo hạt cùng nổi lên bề mặt ,sau đó
chúng tập hợp lại với nhau thành các lớp bọt chứa hàm lượng các hạt cao hơn trong

chất lỏng ban đầu .
IV.2.3. Hấp phụ
Phương pháp hấp phụ được dùng rộng rãi để làm sạch triệt để nước thải khỏi
các chất hữu cơ hoà tan sau khi xử lý sinh học cũng như xử lý cục bộ khi nước thải
có chứa một hàm lïng rất nhỏ các chất đó .Những chất này không phân huỷ bằng
con đường sinh học và thường có độc tính cao .Nếu các chất cần khử bò hấp phụ tốt
và khi chi phí riêng lượng chất hấp phụ không lớn thì viêc ứng dụng phương pháp
này là hợp lý hơn cả .
Các chất hấp phụ thường được sử dụng như : than hoạt tính ,các chất tổng
hợp và chất thải của vài ngành sản xuất được dùng làm chất hấp phụ (tro , rỉ , mạt
cưa …). Chất hấp phụ vô cơ như đất sét , silicagen , keo nhôm và các chất hydroxit
Trang 19
kim loại ít được sử dụng vì năng lượng tương tác của chúng với các phân tử nước
lớn . Chất hấp phụ phổ biến nhất là than hoạt tính , nhưhg chúng cần có các tính
chất xác đònh như : tương tác yếu với các phân tử nước và mạnh với các chất hữu
cơ , có lỗ xốp thô để có thể hấp phụ các phân tử hữu cơ lớn và phức tạp , có khả
năng phục hồi .Ngoài ra ,than phải bền với nước và thấm nước nhanh .Quan trọng
là than phải có hoạt tính xúc tác thấp đối với phản ứng oxy hoá bởi vì một số chất
hữu cơ trong nước thải có khả năng bò oxy hoá và bò hoá nhựa .Các chất hoá nhựa
bít kín lổ xốp của than và cản trở việâc tái sinh nó ở nhiệt độ thấp .
IV.2.4. Phương pháp trao đổi ion
Trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion trên bề mặt của chất rắn trao
đổi với ion có cùng điện tích trong dung dòch khi tiếp xúc với nhau .Các chất này
gọi là các ionit (chất trao đổi ion) ,chúng hoàn toàn không tan trong nước .
Các chất có khả năng hút các ion dương từ dung dòch điện ly gọi là cationit ,những
chất này mang tính axit . Các chất có khả năng hút các ion âm gọi là anionit và
chúng mang tính kiềm .Nếùu như các ionit nào đó trao đổi cả cation và anion gọi là
các ionit lưỡng tính .
Phương pháp trao đổi ion thường được ứng dụng để loại ra khỏi nước các kim
loại như : Zn , Cu , Cr , Ni , Pb , Hg , Mn ,…v…v…,các hợp chất của Asen , photpho ,

Cyanua và các chất phóng xạ .
Các chất trao đổi ion là các chất vô cơ hoặc hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên
hay tổng hợp nhân tạo . Các chất trao đổi ion vô cơ tự nhiên gồm có các zeolit ,
kim loại khoáng chất , đất sét , fenspat , chất mica khác nhau …v…v… vô cơ tổng hợp
gồm silicagen ,pecmutit (chất làm mềm nước ) , các oxyt khó tan và hydroxyt của
một số kim loại như nhôm , crôm , ziriconi …v…v… Các chất trao đổi ion hữu cơ có
nguồn gốc tự nhiên gồm axit humic và than đá chúng mang tính axit , các chất có
nguồn gốc tổng hợp là các nhựa có bề mặt riêng lớn là những hợp chất cao phân
tử .
IV.2.5. Các quá trình tách bằng màng
Màng được đònh nghóa là một pha đóng vai trò ngăn cách giữa các pha khác
nhau .Viêc ứng dụng màng để tách các chất phụ thuộc vào độ thấm của các hợp
chất đó qua màng . Người ta dùng các kỹ thuật như : điện thẩm tích , thẩm thấu
ngược , siêu lọc và các quá trình tương tự khác .
Thẩm thấu ngược và siêu lọc là quá trình lọc dung dòch qua màng bán thẩm
thấu ,dưới áp suất cao hơn áp suất thấm lọc . Màng lọc cho các phân tử dung môi đi
Trang 20
qua và giữ lại các chất hoà tan . Sự khác biệt giữa hai quá trình là ở chổ siêu lọc
thường được sử dụng để tách dung dòch có khối lượng phân tử trên 500 và có áp
suất thẩm thấu nhỏ (ví dụ như các vi khuẩn , tinh bột , protein , đất sét …) . Còn
thẩm thấu ngược thường được sử dụng để khử các vật liêu có khối lượng phân tử
thấp và có áp suất cao .
IV.2.6. Phương pháp điện hoá
Mục đích của phương pháp này là xử lý các tạp chất tan và phân tán trong
nước thải , có thể áp dụng trong quá trình oxy hoá dương cực , khử âm cực , đông tụ
điện và điện thẩm tích . Tất cả các quá trình này đều xảy ra trên các điện cực khi
cho dòng điện 1 chiều đi qua nước thải.
Các phương pháp điện hoá giúp thu hồi các sản phẩm có giá trò từ nước thải
với sơ đồ công nghệ tương đối đơn giản , dễ tự động hoá và không sử dụng tác
chất hoá học

Nhược điểm lớn của phương pháp này là tiêu hao điện năng lớn
Việâc làm sạch nước thải bằng phương pháp điện hoá có thể tiến hành gián
đoạn hoặc liên tục
Hiệu suất của phương pháp điện hoá được đánh giá bằng 1 loạt các yếu tố
như mật độ dòng điện , điện áp , hệ số sử dụng hữu ích điện áp , hiệu suất theo
dòng , hiệu suất theo năng lượng .
IV.2.7. Phương pháp trích ly
Trích ly pha lỏng được ứng dụng để làm sạch nước thải chứa phenol , dầu ,
axit hữu cơ , các ion kim loại … Phương pháp này được ứng dụng khi nồng độ chất
thải lớn hơn 3-4 g/l ,vì khi đó giá trò chất thu hồi mới bù đắp chi phí cho quá trình
trích ly .
Làm sạch nước thải bằng phương pháp trích ly bao gồm 3 giai đoạn :
 Giai đoạn thứ nhất : Trộn mạnh nước thải với chất trích ly (dung môi
hữu cơ ) trong điều kiện bề mặt tiếp xúc phát triển giữa các chất lỏng hình thành 2
pha lỏng . Một pha là chất trích với chất được trích , còn pha khác là nước thải với
chất trích .
 Giai đoạn thứ hai : Phân riêng hai pha lỏng nói trên
 Giai đoạn thứ ba : Tái sinh chất trích ly .
Để giảm nồng độ tạp chất tan thấp hơn giới hạn cho phép cần phải chọn
đúng chất trích và vận tốc của nó khi cho vào nước thải .
Trang 21
IV.3. XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG PHƯƠNG PHÁP HOÁ HỌC
Các phương pháp hoá học dùng trong xử lý nước thải gồm có : trung hoà ,
oxy hoá và khử . Tất cả các phương pháp này đều dùng các tác nhân hoá học nên
là phương pháp đắt tiền . Người ta sử dụng các phương pháp hoá học để khử các
chất hoà tan và trong các hệ thống cấp nước khép kín . Đôi khi các phương pháp
này được dùng để xử lý sơ bộ trước xử lý sinh học hay sau công đoạn này như là
một phương pháp xử lý nước thải lần cuối để thải vào nguồn .
IV.3.1. Phương pháp trung hoà
Nước thải chứa các axit vô cơ hoặc kiềm cần được trung hoà đưa pH về

khoảng 6,5 đến 8,5 trước khi thải vào nguồn nước hoặc sử dụng cho công nghệ xử
lý tiếp theo .
Trung hoà nước thải có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau :
 Trộn lẫn nước thải axit với nước thải kiềm
 Bổ sung các tác nhân hoá học
 Lọc nước axit qua vật liệu có tác dụng trung hoà
 Hấp thụ khí axit bằng nước kiềm hoặc hấp thụ amoniac bằng nước
axit
Việc lựa chọn phương pháp trung hoà là tuỳ thuộc vào thể tích và nồng độ
nước thải , chế độ thải nước thải , khả năng sẳn có và giá thành của các tác nhân
hoá học . Trong quá trình trung hoà , một lượng bùn cặn được tạo thành . Lượng
bùn này phụ thuộc vào nồng độ và thành phần của nước thải cũng như loại và
lượng các tác nhân sử dụng cho quá trình .
IV.3.2. Phương pháp oxy hoá khử
Mục đích của phương pháp này là chuyển các chất ô nhiễm độc hại trong
nước thải thành các chất ít độc hơn và được loại ra khỏi nước thải .Quá trình này
tiêu tốn một lượng lớn các tác nhân hoá học , do đó quá trình oxy hoá hoá học chỉ
được dùng trong những trường hợp khi các tạp chất gây ô nhiễm bẩn trong nước
thải không thể tách bằng những phương pháp khác . Thường sử dụng các chất oxy
hoá như : Clo khí và lỏng , nước Javen NaOCl , Kalipermanganat KMnO
4
,
Hypocloric Canxi Ca(ClO)
2
, H
2
O
2
, Ozon …
Trang 22

IV.3.3. Khử trùng nước thải
Sau khi xử lý sinh học , phần lớn các vi khuẩn trong nước thải bò tiêu diệt
.Khi xử lý trong các công trình sinh học nhân tạo (Aerophin hay Aerotank ) số
lượng vi khuẩn giảm xuống còn 5% , trong hồ sinh vật hoặc cánh đồng lọc còn
1-2%. Nhưng để tiêu diệt toàn bộ vi khuẩn gây bệnh ,nước thải cần phải khử trùng
Chlor hoá ,Ozon hoá , điện phân , tia cực tím …
 Phương pháp phổ biến nhất hiện nay là phương pháp Chlor hoá :
Chlor cho vào nước thải dưới dạng hơi hoặc Clorua vôi. Lượng
Clor hoạt tính cần thiết cho một đơn vò thể tích nước thải là : 10 g/m
3
đối với nước
thải sau xử lý cơ học , 5 g/m
3
sau xử lý sinh học hoàn toàn . Clor phải được trộn đều
với nước và để đảm bảo hiệu quả khử trùng ,thời gian tiếp xúc giữa nước và hoá
chất là 30 phút trước khi nước thải ra nguồn .Hệ thống Clor hoá nước thải Clor hơi
bao gồm thiết bò Clorato , máng trộn và bể tiếp xúc . Clorato phục vụ cho mục đích
chuyển Clor hơi thành dung dòch Clor trước khi hoà trộn với nước thải và được chia
thành 2 nhóm : nhóm chân không và nhóm áp lực . Clor hơi được vận chuyển về
trạm xử lý nước thải dưới dạng hơi nén trong banlon chòu áp. Trong trạm xử lý cần
phải có kho cất giữ các banlon này. Phương pháp dùng Clor hơi ít được dùng phổ
biến .
 Phương pháp Clor hoá nước thải bằng Clorua vôi :
p dụng cho trạm nước thải có công suất dưới 1000 m
3
/ngđ .Các
công trình và thiết bò dùng trong dây chuyền này là các thùng hoà trộn , chuẩn bò
dung dòch Clorua vôi , thiết bò đònh lượng máng trộn và bể tiếp xúc .
Với Clorua vôi được hoà trộn sơ bộ tại thùng hoà trộn cho đến dung dòch 10 -15%
sau đó chuyển qua thùng dung dòch . Bơm đònh lượng sẽ đưa dung dòch Clorua vôi

với liều lượng nhất đònh đi hoà trộn vào nước thải . Trong các thùng trộn dung
dòch , Clorua vôi được khuấy trộn với nước cấp bằng các cánh khuấy gắn với trục
động cơ điện .
 Phương pháp Ozon hoá
Ozon hoá tác động mạnh mẽ với các chất khoáng và chất hữu cơ ,
oxy hoá bằng Ozon cho phép đồng thời khử màu , khử mùi , tiệt trùng của nước .
Bằng Ozon hoá có thể xử lý phenol , sản phẩm dầu mỏ , H
2
S , các hợp chất Asen ,
thuốc nhuộm … Sau quá trình Ozon hoá số lượng vi khuẩn bò tiêu diệt đến hơn 99.
Trang 23
Ngoài ra ,Ozon còn oxy hoá các hợp chất Nito ,Photpho … Nhược điểm chính của
phương pháp này là giá thành cao và thường được ứng dụng rộng rãi trong xử lý
nước cấp .
IV.4. XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC
Phương pháp xử lí sinh học là sử dụng khả năng sống, hoạt động của vi sinh
vật để phân huỷ các chất bẩn hữu cơ có trong nước thải. Các vi sinh vật sử dụng
các hợp chất hữu cơ và một số khoáng chất làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng
lượng. Trong quá trình dinh dưỡng,chúng nhận các chất dinh dưỡng để xây dựng tế
bào ,sinh trưởng và sinh sản vì thế sinh khối của chúng được tăng lên . Quá trình
phân huỹ các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hoá sinh hoá . Phương
pháp xử lý sinh học có thể thực hiện trong điều kiện hiếu khí( với sự có mặt của
oxy) hoặc trong điều kiện kỵ khí( không có oxy).
Phương pháp xử lý sinh học có thể ứng dụng để làm sạch hoàn toàn các loại
nước thải chứa chất hữu cơ hoà tan hoặc phân tán nhỏ. Do vậy phương pháp này
thường được áp dụng sau khi loại bỏ các loại tạp chất thô ra khỏi nước thải.
 Quá trình xử lý sinh học gồm các bước :
 Chuyển hoá các hợp chất có nguồn gốc cacbon ở dạng keo và
dạng hoà tan thành thể khí và thành các vỏ tế bào vi sinh
 Tạo ra các bông cặn sinh học gồm các tế bào vi sinh vật và

các chất keo vô cơ trong nước thải
 Loại các bông cặn ra khỏi nước thải bằng quá trình lắng .
IV.4.1. Xử lí nước thải bằng phương pháp sinh học trong điều kiện tự nhiên
Để tách các chất bẩn hữu cơ dạng keo và hoà tan trong điều kiện tự nhiên
người ta xử lí nước thải trong ao , hồ( hồ sinh vật) hay trên đất( cánh đồng tưới,
cánh đồng lọc…).
IV.4.1.1. Hồ sinh vật
Là các ao hồ có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo còn gọi là hồ oxy hoá,
hồ ổn đònh nước thải,… là hồ để xử lí nước thải bằng phương pháp sinh học. Trong
Trang 24
hồ sinh vật diễn ra quá trình oxy hoá sinh hoá các chất hữu cơ như vi khuẩn, tảo và
các loại thuỷ sinh vật khác, tương tự như quá trình làm sạch nguồn nước mặt. Vi
sinh vật sử dụng oxy sinh ra từ rêu tảo trong quá trình quang hợp cũng như oxy từ
không khí để oxy hoá các chất hữu cơ, rong tảo lại tiêu thụ CO
2
, photphat và nitrat
amon sinh ra từ sự phân huỷ, oxy hoá các chất hữu cơ bởi vi sinh vật. Để hồ hoạt
động bình thường cần phải giữ giá trò pH và nhiệt độ tối ưu. Nhiệt độ không được
thấp hơn 6
0
C.
Theo bản chất quá trình sinh hoá, người ta chia hồ sinh vật ra các loại hồ
hiếu khí, hồ sinh vật tuỳ tiện (Faculative) và hồ sinh vật yếm khí.
IV.4.1.1.a. Hồ sinh vật hiếu khí
Quá trình xử lí nước thải xảy ra trong điều kiện đầy đủ oxy, oxy
được cung cấp qua mặt thoáng và nhờ quang hợp của tảo hoặc hồ được làm thoáng
cưỡng bức nhờ các hệ thống thiết bò cấp khí .Độ sâu của hồ sinh vật hiếu khí
không lớn từ 0,5-1,5m.
IV.4.1.1.b. Hồ sinh vật tuỳ tiện
Có độ sâu từ 1,5 – 2,5m , trong hồ sinh vật tùy tiện ,theo chiều

sâu lớp nước có thể diễn ra hai quá trình :oxy hoá hiếu khí và lên men yếm khí các
chất bẩn hữu cơ .Trong hồ sinh vật tuỳ tiện vi khuẩn và tảo có quan hệ tương hổ
đóng vai trò cơ bản đối với sự chuyển hoá các chất .
IV.4.1.1.c Hồ sinh vật yếm khí:
Có độ sâu trên 3m ,với sự tham gia của hàng trăm chủng loại vi
khuẩn kỵ khí bắt buộc và kỵ khí không bắt buộc . Các vi sinh vật này tiến hành
hàng chục phản ứng hoá sinh học để phân huỷ và biến đổi các hợp chất hữu cơ
phức tạp thành những chất đơn giản dễ xử lý . Hiệu suất giảm BOD trong hồ có thể
lên đến 70% .Tuy nhiên nước thải sau khi ra khỏi hồ vẫn có BOD cao nên loại hồ
này chỉ chủ yếu áp dụng cho xử lý nước thải công nghiệp rất đậm đặc và dùng làm
hồ bậc 1 trong tổ hợp nhiều bậc .
IV.4.1.2. Cánh đồng tưới - Cánh đồng lọc
Cánh đồng tưới là những khoảng đất canh tác , có thể tiếp nhận và xử lý
nước thải . Xử lý trong điều kiện này diễn ra dưới tác dụng của vi sinh vật , ánh
Trang 25

×