Hiểu thêm về các thông số của ảnh
Một chủ đề rất thú vị mà mình đã định viết từ lâu nhưng cứ bị phân vân về
thứ tự các bài viết giữa các chuyên mục mà thôi Hôm nay nhân tiện có
câu hỏi của các bác bên topic "Chụp ảnh Hoa và Close up" nên mình nghĩ
rằng thời điểm đã tới
Bạn sử dụng bất kỳ một chiếc máy ảnh kỹ thuật số nào thì mọi thông tin về
chụp ảnh đều được ghi kèm cùng với ảnh: những thông số cơ bản đến những
thông số chi tiết mà bạn có thể xem trong tập tin EXIF (
). Ta hãy khoan đi sâu hơn vào chi tiết vì việc đầu tiên
là cần hiểu những thông số hiển thị trên màn hình LCD của máy ảnh nói gì
đã. Ở đây NTL muốn lưu ý các bạn một điều là trong thế hệ máy dCam cấp
độ nghiệp dư đơn giản nhất thì trên màn hình LCD của máy bạn không có
khả năng đọc một số thông tin chi tiết về hình ảnh. Thế nhưng bạn hoàn toàn
có thể đọc được các thông số này bằng các phần mềm đi kèm theo máy tính.
Chẳng hạn trong trường hợp con Canon G2 của bác Nguyễn Việt sẽ là
"Canon FileViewer Utility", chỉ cần bạn chọn một tấm ảnh bất kỳ thì ở cột
thông tin bên tay phải sẽ hiện đầy đủ các thông số. Hiện tại thì phần mềm
ACDsee 6x là một trong những tiện ích khá hoàn hảo cho các bạn chụp ảnh
bằng kỹ thuật số và có nhu cầu chỉnh sửa ảnh đơn giản để gửi qua internet.
ACDsee 6x có thể đọc cả thông tin EXIF. Nếu bạn không muốn dùng phần
mềm này thì đã có một phần mềm khác hoàn toàn "free" để đọc thông tin
EXIF:
Đó là một vài ví dụ để bạn tham khảo. Ở Việt Nam hiện tại thì chỉ mất 8 000
đồng là bạn đã có thể sở hữu phiên bản mới nhất của Photoshop rồi. Với
những bạn không thật chuyên về đồ hoạ hay hình ảnh thì mình thấy dùng
Photoshop Element đơn giản, dễ hiểu hơn mà kết quả vẫn đẹp như thường.
Lợi thế của PS Element là nó rất nhẹ, không tốn nhiều bộ nhớ của máy tính.
Bây giờ ta sẽ đi vào phân tích các thông số mà máy ảnh hiện thị trên màn
hình LCD nhé. Xin được lấy lại hình ảnh minh hoạ của bạn Nguyễn Việt:
Với mỗi loại máy ảnh khác nhau thì thông số hiển thị cũng có đôi phần khác
nhau nhưng về căn bản là có thể hiểu và đoán được. Chẳng hạn như trong
hiển thị ở trên ta đọc được các thông tin sau:
Độ nhạy ISO: 200
Chế độ chụp: tự động P (Program). Máy ảnh tự động hoàn toàn (hình chiếc
máy ảnh và mũi tên)
Tốc độ chụp: 1/50
Khẩu độ ống kính: f/4
Hiệu chỉnh ánh sáng (hình vuông với ký hiệu dấu + và -): 0
Cân bằng trắng: chọn thời tiết có mây mù (hình đám mây)
Chế độ đo sáng: phức hợp
Chế độ chụp: Macro (với hình bông hoa)
Chất lượng ảnh: SuperFin (chữ S)
Kích thước ảnh: cỡ lớn nhất (chữ L)
Trên cùng bên phải là tên của hồ sơ lưu ảnh trên thẻ nhớ và tên ảnh
Phần "rắc rối" nhất của hiển thị này có lẽ là độ thị phía bên tay phải. Thế
nhưng nó lại hoàn toàn dễ hiểu. Trong "Histograms" là thông số hình hoạ về
chất lượng của ảnh cũng như những vấn đề mà bạn cần quan tâm. Bạn hãy
xem nguyên tắc sau đây:
- Nếu bạn thấy đồ thị có những đỉnh cao dồn về phía bên tay phải thì có
nghĩa là tấm ảnh của bạn thiếu tông mầu sáng.
- Nếu bạn thấy những đỉnh cao này dồn về phía bên tay trái thì có nghĩa là
tấm ảnh của bạn thiếu tông màu đậm.
- Nếu đồ thị của bạn có hình răng lược thì điều này có nghĩa là hoặc hình
ảnh đã bị sửa chữa hoặc thông tin kỹ thuật số bị thiếu, không đủ cho ảnh
chất lượng.
- Nếu bạn thấy đồ thì có hình một "quả đồi" nhỏ, tập trung vào giữa và có
một khoảng cách nhỏ so với hai đầu của trục X thì NTL xin được chúc mừng
bạn: tấm ảnh của bạn được phơi sáng chính xác.
Trên đây chỉ là những thông tin căn bản, điều quan trọng nhất là bạn phải
tự chụp thử nghiệm và tự phân tích lấy hình ảnh của mình rồi rút ra kết
luận.
Sau tất cả những gì mà chúng ta đã trao đổi thì có thể đi đến một kết luận
rằng:
- Bạn có thể quên đi tính năng hiệu chỉnh "ánh sáng/độ tương phản" của PS
khi muốn làm "retouche" ảnh. Cách làm này sẽ chỉ cho một hình ảnh xấu mà
thôi.
- Để hiệu chỉnh ảnh về ánh sáng, độ tương phản hay nói chung là các
"niveaux" hay "levels" của ảnh thì bạn nên dùng chức năng trong
"Image/Réglage/Niveaux" (rất tiếc là mình chưa cài PS bản tiếng Anh)
Tuy nhiên việc hiệu chỉnh "Levels" còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng của
bạn: gửi ảnh lên web hay để làm ấn bản? Như bạn đã có thể thấy trong giao
diện hiệu chỉnh "Levels" của PS có 5 hình tam giác nhỏ. Ma thuật của PS
nằm cả trong đấy. Chỉ bằng việc xê dịch những giá trị này bạn sẽ làm thay
đổi hoàn toàn hình ảnh của mình. Để có thể dễ hiểu hơn thì bạn hãy hình
dung dải băng dưới cùng giống như là sự lựa chọn các loại giấy ảnh khác
nhau trong kỹ thuật phim cổ điển. Không có bài giảng nào trên Web hay
trong các sách dạy về nhiếp ảnh có thể nói chính xác về cách hiệu chỉnh này
vì mỗi hình ảnh một khác. Chính bạn và chỉ có bạn là người duy nhất biết
mình muốn gì? Bạn hãy thử nhé và kinh nghiệm thực hành cá nhân sẽ đem
lại cho bạn những điều bất ngờ không nhỏ.
(Bạn có thể tham khảo thêm ở trang web khás thú vị này nhé:
/>series/understanding-histograms.shtml )
RAW vs JPEG
Có thể bạn đã từng sử dụng ít nhiều hoặc tham khảo trong sách báo và
internet về cấu trúc ảnh thật đặc biệt này nhưng để đi đến một kết luận nên
sử dụng loại cấu trúc ảnh nào thì lại không đơn giản. Không giống như với
JPEG và TIFF là hai cấu trúc ảnh được tiêu chuẩn hoá bằng chuẩn ISO trên
thế giới, ảnh RAW lại có cấu trúc tuỳ thuộc theo nhà sản xuất như Canon,
Nikon, Olympus (với Canon là Raw, với Nikon là Nef, Olympus lại Raw )
Vậy thế nào là RAW? Trong định nghĩa tiếng Anh đơn thuần của Encarta
2004 thì Raw nghĩa là "not changed or interpreted: in an original state and
not yet subjected to correction or analysis" mà ta có thể hiểu theo tiếng Việt
trong lĩnh vực nhiếp ảnh là loại cấu trúc ảnh nguyên gốc, chưa qua chỉnh sửa
bất kỳ thông số nào. Vẫn có vẻ khó hiểu nhỉ? Bạn hãy hình dung như thế
này nhé:
Ánh sáng đi tới "sensor" của máy ảnh -> Mạch cảm quang điện tử này
chuyển hoá ánh sáng thành các tín hiệu điện tử -> Sau đó có hai nhánh rẽ
chính về cấu trúc ảnh:
(1) -> Tín hiệu được ghi lại nguyên vẹn trong cấu trúc ảnh RAW.
(2) -> Tín hiệu đi qua hệ thống xử lý hình ảnh của máy ảnh rồi được lưu trữ
dưới dạng JPEG hoặc TIFF. Đây là loại cấu trúc ảnh đã qua xử lý.
Với mỗi một loại cấu trúc ảnh ta có những thuận lợi và những bất tiện trong
sử dụng khác nhau. NTL sẽ cùng bạn tìm hiểu dưới đây nhé.
Nếu bạn vẫn quen với khái niệm phim âm bản và phim dương bản thì trong
kỹ thuật số ta có thể chuyển chúng sang tương đương với cấu trúc ảnh RAW
và JPEG. Khi thao tác chụp ảnh với máy dSLR mình thường đặt ở cấu trúc
ảnh JPEG L và Fine (cấu trúc ảnh ít bị biến dạng nhất) Sự tiện lợi của Jpeg
là nó cho phép ta khai thác ngay lập tức tấm ảnh sau khi chụp (in ấn, gửi qua
internet, trình bày bằng máy chiếu ) Chính vì lợi thế nài của nó mà hầu hết
các máy dSLR đều có chức năng chụp ảnh kép: cho ra cùng lúc ảnh
RAW+JPEG. Điều này cho thấy hai cấu trúc ảnh này không hề phủ nhận
nhau mà chúng cùng tồn tại song song với những mục đích và tiện dụng
khác nhau.
Nói đơn thuần về kỹ thuật thì ảnh RAW được ghi lại với cấu trúc 12 bits cho
từng mầu (thậm chí có thể lên tới 14 bits) điều này giúp cho bạn có thể ghi
lại chính xác và chi tiết các vùng ánh sáng khác nhau cũng như trong bóng
tối. Với RAW ta có thể hiệu chỉnh kết quả phơi sáng, độ tương phản, cân
bằng mầu, tăng độ sắc nét của hình ảnh mà không hề làm thay đổi chất
lượng ảnh bạn đầu. Làm việc với ảnh RAW cũng giống như khi bạn thao tác
in ảnh từ phim âm bản trong buồng tối, tất cả đều là có thể (hoặc gần như
thế) trong giới hạn của chất lượng ảnh gốc ban đầu.
Cấu trúc ảnh Jpeg thường chỉ có 8 bits/mầu. Tuy nhiên ta cũng có thể hiệu
chỉnh ảnh Jpeg như đối với ảnh RAW, sự khác biệt nằm ở chỗ mỗi lần ta
hiệu chỉnh một thông số thì chất lượng ảnh cũng bị suy giảm đi một chút,
như thế ta sẽ nhanh chóng gặp phải giới hạn của những khả năng này. Điều
đó giống như ta vẫn gặp phải với một tấm ảnh chụp bằng phim dương bản
đo sáng sai. Như vậy để có thể đạt được chất lượng ảnh Jpeg cao nhất với
khả năng của máy thì kết quả phơi sáng và mầu sắc phải được thực hiện
hoàn hảo ngay từ đầu. Không hẳn là dễ thực hiện trong thực tế. Với ảnh Jpeg
còn lại một giải pháp an toàn là chụp ảnh với kỹ thuật "Bracketing" nhưng
việc hiệu chỉnh ảnh chụp vẫn có chung giới hạn.
Thế nhưng ảnh RAW không phải là không có những bất tiện của nó. Đầu
tiên là sự chậm trễ đến não lòng của các dCam hay BCam sử dụng cấu trúc
ảnh này (các dSLR có tốc độ làm việc với RAW khá nhanh, tuy nhiên cũng
cần có loại Card Ultra II nữa!) Tiếp theo đó là thời gian cho việc chuyển
giao ảnh giữa máy ảnh (hay đầu đọc card) với máy tính, ngay cả khi bạn
dùng giao diện USB 2.0. NTL cảm thấy đáng tiếc khi kỹ thuật số chưa sử
dụng phổ biến cổng giao diện "i-link" với tốc độ chuyển giao thông tin lớn
hơn gấp nhiều lần. Chưa hết, nếu bạn không có một chiếc máy tính đủ mạnh
(P IV 2,5 - 3 Ghz hoặc Centrino 1,7Ghz, Tối thiểu RAM 512 Mo hoặc lý
tưởng là 1Mo, và một chiếc "video card" đủ nhanh ) thì việc chỉnh sửa các
ảnh có cấu trúc RAW sẽ là một kỷ niệm không bao giờ quên!
Quay lại với chuyện card dùng trong nhiếp ảnh, theo kinh nghiệm của riêng
cá nhân mình thì NTL khuyên bạn nên sắm môt chiếc card kiểu Scandisk
Ultra II hay Extreme, hoặc Lexar x40, x80. Với trọng lượng lớn hơn nhiều
lần ảnh Jpeg thì ảnh RAW sẽ đòi hỏi thời gian ghi ảnh lên card cũng lâu
hơn. Tất nhiên là các máy dSLR hiện hành đều dùng kỹ thuật bộ nhớ đệm để
lưu ảnh khi chụp liên thanh nhưng số lượng ảnh RAW chụp liên thanh
thường rất ít. Hy vọng là trong tương lại các ảnh RAW sẽ có trọng lượng
nhẹ hơn hiện tại.
Với ảnh RAW bạn bắt buộc phải qua các thao tác "phòng tối kỹ thuật số" để
chuyển nó sang cấu trúc có thể khai thác được. Hiện tại thì hầu hết các nhà
chế tạo đều đã cho ra các phần mềm chuyên dụng của mình để xử lý ảnh
RAW. Canon dùng File Viewer, Nikon dùng Nikon Capture Bên cạnh đó
thì Photoshop CS đã có "plug-in" cho phép mở và chỉnh sửa ảnh RAW dù
rằng các chức năng trong cửa sổ giao diện này còn khá nghèo nàn. Kinh
nghiệm thực tế cho thấy bạn sẽ sử dụng cả hai loại phần mềm này theo trật
tự kiểu N.C + PS CS. Để xử lý ảnh Raw bằng phần mềm chuyên dụng bạn
phải tính thời gian từ 3-5 phút cho mỗi ảnh tuỳ theo chất lượng ảnh gốc ban
đầu. Bạn cũng không nên quên căn chỉnh màn hình lại cho mầu sắc chuẩn
trước khi tiến hành hiệu chỉnh ảnh nhé.
Trong lĩnh vực hiệu chỉnh ảnh này thì các cấu trúc Tiff và Jpeg có lợi thế
hơn hẳn vì ta có thể dùng "script" để xử lý ảnh theo lô. Thế nhưng lợi thế
này lại không có được khả năng vi chỉnh đến từng chi tiết của cấu trúc RAW
tuỳ theo các lỗi tự động của máy hay đo sáng chưa đúng. Với ảnh RAW thì
các bước hiệu chỉnh được tiến hành đồng bộ một lần trước khi bạn chọn
"save as " còn với ảnh Jpeg và Tiff thì các bước này lại phải tuân theo trình
tự: Levels, độ tương phản, mầu sắc và cuối cùng là độ sắc nét. Nhưng có
một điểm chung cho cả hai cấu trúc này đó là bạn sẽ hiệu chỉnh chúng khi
bạn thật sự có khả năng về kỹ thuật hay nghề nghiệp của bạn cần như vậy.
Nếu không thì NTL khuyên bạn nên đặt các chế độ ngay trên máy ảnh của
mình để có được các tấm ảnh Jpeg "raw" chất lượng cao mà không cần hiệu
chỉnh thêm.
Cuối cùng là câu hỏi về lưu trữ ảnh đã chụp bằng kỹ thuật số. Bạn sẽ chỉ giữ
ảnh RAW hay cả ảnh JPEG đã chỉnh sửa? NTL xin trả lời là cả hai! Lý do
rất đơn giản: với ảnh RAW thì hàng chục năm sau này bạn có thể phóng lại
một tấm ảnh với những thông số kỹ thuật khác biệt mà chất lượng không hề
thay đổi. Ảnh Jpeg có tiêu chuẩn quốc tế nên việc sử dụng nó chắc chắn sẽ
dễ dàng hơn RAW (trừ khi Raw cũng sẽ có một ISO quốc tế) Với kích cớ
ảnh lớn như thế thì việc lưu trữ ảnh lên DVD-R hay ổ cứng lưu động có
dung lượng lớn là cần thiết.
Sau tất cả những vấn đề kỹ thuật và thực hành dường như rắc rối ấy thì một
lời khuyên bổ ích và thực tế sẽ là cần thiết. Bạn dùng RAW hay JPEG trong
những tình huống nào?
1. Cấu trúc ảnh RAW:
- Chụp ảnh nghệ thuật
- Ảnh kỹ thuật
- Ảnh trong điều kiện thời tiết không thuận lợi hay những tính huống đặc
biêt khác.
- Ảnh có nhu cầu phóng to
2. Cấu trúc ảnh JPEG:
- Chụp ảnh lưu niệm, du lịch
- Ảnh phục vụ cho công việc hàng ngày
- Ảnh dùng cho các mục đích trên internet.
Tất nhiên là bạn có thể thêm vào hay thay đổi danh sách trên đây tuỳ theo
nhu cầu thực tế và hoàn cảnh cụ thể của bạn. NTL sẽ rất vui được trao đổi
các kinh nghiệm thực tế với bạn để mở rộng hơn nữa khả năng hiểu biết và
ứng dụng kỹ thuật số trong nhiếp ảnh của mình.