Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Tìm hiểu thêm về các ngôi quốc tự ở huế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (97.85 KB, 8 trang )

1
TÌM HIỂU THÊM
VỀ CÁC NGÔI QUỐC TỰ Ở HUẾ

Đặng Vinh Dự
*


Xứ Thuận Hoá thuở Nguyễn Hoàng di dân lập ấp là vùng ñất
hoang vu, nơi còn lắm hùm beo cùng biết bao thách thức từ những di
sản, di tích văn hoá Champa với ñền tháp, cơ sở tín ngưỡng mang ñậm
tính cách Ấn Độ của những Shiva, Vishnu, Brahma,... xa lạ và ñầy sự
ñe doạ ñến yếu tố văn hoá Indonesien của người Thượng Trường Sơn
huyền bí. Trước những thử thách sự bình an của tâm hồn trong mỗi
người, ngôi chùa với ñức Thế Tôn từ bi xuất hiện như tấm lòng ấm áp
của người mẹ che chở ñàn con, giúp họ có thêm nghị lực ñể sinh tồn
khi ñã lìa xứ. Ban ñầu, ngôi chùa chỉ là những mái nhà tranh vách ñất
nép mình vào thiên nhiên, hoà vào khung cảnh núi ñồi uốn lượn của
chốn Thần kinh sau này. Dần dần cùng với dấu chân hoằng pháp của
chư vị thiền sư ngôi thảo am mọc lên ngày một nhiều hơn lưu dấu cho
nhiều ngôi chùa lớn xuất hiện về sau. Tuy nhiên ñể ñánh dấu sự phát
triển mạnh mẽ của hệ thống chùa chiền trên mảnh ñất xứ Huế và sự
xuất hiện của hàng loạt ngôi Quốc tự phải ñến thời kỳ trị vì của các
vua nhà Nguyễn, ñặc biệt từ thời vua Gia Long (1802) cho ñến vua
Duy Tân (1916). Trong thời kỳ này, nhiều ngôi chùa nổi tiếng ñược
trùng kiến và phát triển cực thịnh như chùa Thiên Mụ, chùa Thánh
Duyên, ñồng thời những ngôi chùa mới ñược chính các vua xây dựng
tạo nên những danh lam bậc nhất của xứ Kinh kỳ như Linh Hựu quán
(1830), chùa Giác Hoàng (1839), chùa Diệu Đế (1844). Các ngôi
Quốc tự tuy chiếm số lượng không nhiều trong hệ thống chùa Huế


*
Khoa Xã hội – Nhân văn, Trường Đại học Phú Xuân, Huế.
2
nhưng ñã ñóng vai trò rất quan trọng trong việc hoằng dương Phật
pháp trên mảnh ñất Kinh ñô nhà Nguyễn.
Những nghiên cứu về văn hoá Huế, Phật giáo Huế ñã chỉ ra ñiều
ñó. Tuy vậy, ñể hiểu thế nào là Quốc tự và số lượng cụ thể các ngôi
Quốc tự trên mảnh ñất này là câu hỏi có không ít hơn một ñáp án.
Theo Lịch sử Phật giáo xứ Huế thì Huế có 4 ngôi Quốc tự ñó là Thiên
Mụ, Giác Hoàng, Thánh Duyên và Diệu Đế [1:572]. Tác giả Hà Xuân
Liêm cũng ñồng ý với nhận ñịnh trên nhưng cho rằng Huế chỉ có 3
ngôi Quốc tự (chính thức) là Thiên Mụ, Thánh Duyên và Diệu Đế
[4:573]. Ông cũng cho rằng các ngôi chùa Giác Hoàng, Linh Quang,
Long Quang, Ngọc Sơn
1
, Từ Ân là chùa quan, không phải là Quốc tự
vì thế ñã bị triều vua Duy Tân, Khải Định lần lượt hạ chiếu dụ dẹp bỏ
[4:564].
Trong một bài viết về chùa Từ Ân trên trang Web của Trung tâm
Văn hoá Phật giáo Liễu Quán Huế, tác giả Lê Quang Thái ñã chỉ ra
rằng chùa Từ Ân là ngôi Quốc tự thứ 7 ở chốn kinh sư: “Theo CHÂU
BẢN TRIỀU NGUYÊN thì ngày 9 tháng 11 năm Tự Đức thứ 32, tức
năm 1879, vua Tự Đức ñã châu phê xếp chùa cổ Từ Ân trở thành
Quốc tự thứ 7 ở chốn kinh sư” [8]. (Thực ra tờ Châu bản này nhắc ñến
chuyện bộ Lễ tâu việc “chùa Bửu (Bảo) Sơn xin tu bổ và xét cấp ñồ
thờ”. Qua ñó, vua châu phê cùng với chùa Bửu Sơn, chùa Từ Ân ñược
xếp vào hàng “quan tự” chứ không phải là Quốc tự [2: 513-521].)
Trở lại tờ chiếu dụ trong Châu bản triều Nguyễn dưới thời Khải
Định ngày 19 tháng 9 năm 1918 do Nội các thần Phạm Hoàn, Đương
trực thần Bảo Thạch, Khoa ñạo thần Nguyễn Duy Thắng về việc xin

dẹp bỏ 4 ngôi chùa quan thì: “...Lại nữa phụng chiếu các chùa quan

1
: Ngọc Sơn ban ñầu có tên là Bảo Sơn. Năm 1866, loạn “Chày Vôi” mưu giết vua Tự
Đức, lập con của Hồng Bảo. Vì nhiều nhà sư ở chùa này có dính dáng với cuộc biến
ñộng nên vua giận, toan phá chùa, may nhờ hoàng hậu can ngăn, chùa chỉ bị ñổi tên
thành Ngọc Sơn. Năm 1904, cơn bão Giáp Thìn ñã làm ñổ nát chùa. Do vị trí nằm trên
ñồi Kim Sơn nên khi trùng tu lại chùa vào năm 1944, bác sĩ Lê Đình Thám và hội An
Nam Phật học xây viện Phật học ñầu tiên trên ñồi, nơi di tích ñổ nát của “chùa quan”
cũ ñã lấy tên là Tùng Lâm Kim Sơn, hay còn gọi là chùa Kim Sơn [4:51-67].
3
tại kinh thành có 7 sở (Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, Long
Quang, Từ Ân, Linh Quang và Linh Hựu Quán). Trong ñó Thiên Mụ,
Diệu Đế, Thánh Duyên là 3 chùa ñều thuộc danh lam thắng cảnh, xin
lưu giữ phụng thờ ñể bảo tồn cổ tích. Còn lại 4 chùa quán là Long
Quang, Từ Ân, Linh Quang, Linh Hựu nhiều phen bị gió mưa dột nát
chưa tu bổ, không tiện trần thiết ñồ thờ ñể phụng thờ Phật tượng.
Nhưng Long Quang là chùa quan vậy Phật tượng và ñồ thờ xin ñệ về
thờ ở chùa Thiên Mụ, còn cột kèo cây gỗ sẽ do Bộ Công triệt hạ ñem
về cất ñể sau này khi có việc cần dùng. Còn các chùa quán như Từ
Ân, Linh Quang, Linh Hựu vốn là chùa tư ñược nhập tịch vào chùa
quan thì do bọn thần phái kiểm, giao về cho xã dân, hoặc chư tăng ai
có nguyện nhận phụng thờ thì cho. Nếu chùa nào không có ai nguyện
nhận thì tượng Phật và ñồ thờ xin phân chia ra ñể vào các chùa quan
hiện còn (Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên) ñể trần thiết thờ phụng,
còn cột kèo, cây gỗ thì do bộ Công triệt giỡ ñể khỏi tu bổ, tốn kém...”
[2:930 - 931]. Theo văn bản này thì ñến năm Khải Định thứ 3 (1918),
phủ Thừa Thiên lúc ấy và Huế ngày nay có 7
2
ngôi chùa quan và 3

ngôi chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên và Diệu Đế ñược nhắc ñến là
những ngôi chùa quan trọng bậc nhất, phải bảo tồn ñể lưu giữ thắng
tích.
Như vậy câu hỏi thế nào là Quốc tự, số lượng bao nhiêu vẫn khó
ñể trả lời chính xác. Điều ñó cũng dễ hiểu vì khi nghiên cứu về chùa
Huế, vấn ñề là Quốc tự hay không Quốc tự thường ít ñược ñể ý do ñó
ñể xác ñịnh tiêu chí “xếp loại” Quốc tự chưa ñược ñặt ra và Quốc tự
vẫn ñược hiểu mơ màng, cảm tính. Ở ñây, chúng tôi không có ý ñịnh
nêu ra các tiêu chí của một ngôi Quốc tự và cũng không dám xác ñịnh
cụ thể các ngôi Quốc tự. Bài viết này chỉ xin góp một vài ý kiến nhỏ

2
: Chính xác hơn thì ñến thời ñiểm năm 1918 Kinh ñô Huế có 9 ngôi chùa quan trong ñó
chùa Giác Hoàng bị phá bỏ năm 1885, chùa Ngọc Sơn bị hư hại do cơn bão năm 1904
không ñược nhắc ñến.
4
về Quốc tự xứ Huế, mong ñược cụ thể hơn khi nhìn nhận ñối tượng
này.
Trước hết, Quốc tự có thể hiểu là chùa vua nhưng không ñồng
nghĩa với chùa quan. Vì quốc tự là những ngôi chùa do chúa hoặc vua
trùng kiến, xây dựng trong khi chùa vua cũng thường do các vua chúa
xây dựng hoặc trùng kiến [4:23]. Loại chùa này kiến trúc ñẹp, phong
cảnh mỹ lệ hài hoà với thiên nhiên. Với chùa quan, còn gọi là chùa
công, là những chùa không phải quốc tự nhưng do Hoàng gia tài trợ
ngoại hộ, nên ñược bộ Lễ của Hoàng triều quản lý, bổ dụng tăng cang,
trú trì ñến ñể thống suất tăng chúng và lo việc thờ tự, trùng tu, sắp ñặt
thường xuyên ở chùa ñó. Tại Huế, dưới triều Nguyễn có 8 chùa quan:
Thiên Mụ, Thánh Duyên, Diệu Đế (ba chùa này là quốc tự), Giác
Hoàng, Linh Quang, Long Quang, Ngọc Sơn, Từ Ân là chùa quan
[4:564]. Như vậy, nội hàm quốc tự và chùa vua tương ñối giống nhau

trong khi quốc tự và chùa quan có sự khác biệt.
Với những “tiêu chí” mà ba ngôi chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên,
Diệu Đế ñược “thừa nhận” là Quốc tự chúng tôi thấy rằng ñể trở thành
Quốc tự thường có những ñặc ñiểm sau:
Thứ nhất, Quốc tự là ngôi chùa ñược Chúa Nguyễn và sau này là
Vua Nguyễn ñứng ra trùng kiến hoặc xây dựng. Với chùa Thiên Mụ
tuy trước ñó trên ngọn ñồi Hà Khê ñã tồn tại một ngôi chùa dạng chùa
làng nhưng chỉ từ khi chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng mới và các
ñời Chúa Nguyễn, Vua Nguyễn sau trùng tu, mở rộng nên Thiên Mụ
mới trở thành một ngôi phạn vũ nổi tiếng. Chùa Thánh Duyên lại ñược
vua Minh Mạng xây dựng với lý do “Những danh lam thắng tích ta
không có quyền ñể chúng lụi tàn, mất hết dấu tích, không lưu lại cho
thế hệ mai sau. Huống gì quang cảnh nơi ñây ñều do Hoàng tổ của ta
(Minh vương Nguyễn Phúc Chu) vì triều ñình, vì thần dân mà tạo
dựng, nhằm mục ñích khuyến khích mọi người tu tâm, tích thiện, tạo
phước ñiền” [3:305]. Chùa Diệu Đế do vua Thiệu Trị xây dựng ñể ghi
lại dấu tích nơi mình từng ñược sinh ra. Cũng do ý chỉ của chúa, vua
5
dựng chùa còn phải kể ñến Linh Hựu quán (vốn là một ngôi chùa
ñúng nghĩa) [7] ñược vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1829 và
chùa Giác Hoàng dựng năm 1839 trên nền ñất của tiềm ñể ngày mình
còn là Thái tử. Như vậy, số lượng chùa do gắn liền trực tiếp với các vị
chúa, vua nhà Nguyễn trên mảnh ñất Kinh ñô xưa là năm
3
và những
ngôi chùa Long Quang, Từ Ân, Ngọc Sơn, Linh Quang ñều không
thuộc trong tiêu chí này.
Thứ hai, tuy tất cả các ngôi chùa quan ñều ñược bộ Công, bộ Lễ
quản lý và ñều ñược treo biển “Sắc tứ” nhưng ñể khẳng ñịnh những
ngôi chùa kiểu này là Quốc tự thì e hơi “phóng khoáng”. Vì có ngôi tự

không nằm trong danh sách trên vẫn có biển “Sắc tứ” và vẫn ñược bộ
Công, bộ Lễ quản lý, cấp kinh phí trùng tu, trai ñàn hằng năm chu
ñáo. Chùa Kim Quang là một ví dụ. Kim Quang tự với tên gọi ban ñầu
là Tường Quang do bà Như Diệu Nguyễn Thị Lựu lập nên vào những
năm cuối thế kỷ XIX. Nguyễn Thị Lựu nếu xét trong gia phả là dì
(ruột) của vua Thành Thái và cũng là bà ngoại dì của vua Duy Tân, do
vậy các ñời vua này ñã giúp cho ngôi tự phát triển bằng việc cấp kinh
phí ñể tu bổ và tổ chức trai ñàn hằng năm. Ban ñầu chùa chỉ là một
ngôi nhà tranh thờ Phật, Thánh và tổ tiên của bà. Sau khi bà mất, ngôi
tự nhờ sự ngoại hộ của Hoàng triều nên ñã ñược xây mới và mở rộng.
Chính vua Thành Thái ra sắc chỉ ban biển ngạch và ñổi tên chùa thành
“Sắc tứ Kim Quang tự”. Ngoài ra vẫn có nhiều ngôi chùa không phải
chùa quan nhưng vẫn ñược treo biển “Sắc tứ” như chùa Bảo Quốc,
chùa Quốc Ân,... Vì vậy, có thể khẳng ñịnh tiêu chí “Sắc tứ” và ñược
tổ chức Trai ñàn, ñược Triều ñình cấp kinh phí tu bổ, sửa chữa chùa
chỉ là một ñiều kiện “cần” ñể các ngôi chùa có thể trở thành Quốc tự.
Thứ ba, Quốc tự phải ñược Triều ñình bổ dụng chức Tăng cang
lo việc Phật sự và cai quản Tăng chúng ở ngôi tự. Thiền sư ñược bổ

3
: Chùa Sùng Hoá (làng Sình) cũng ñược chúa Nguyễn Hoàng trùng kiến năm 1602
nhưng ñã lụi tàn theo năm tháng và không ñược Châu Bản Triều Nguyễn – Tư liệu
Phật giáo qua các triều ñại nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 ñến Bảo Đại 1945
nhắc ñến.

×