Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Sự tham gia của các ngân hàng thương mại trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 103 trang )



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG










KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP


ĐỀ TÀI

SỰ THAM GIA CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM





Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phan Anh Tuấn
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Minh Hằng
Lớp : Pháp 2- K41E- KTNT










HÀ NỘI - 2006



LỜI CẢM ƠN

Vấn đề “Sự tham gia của các ngân hàng thương mại trong tiến trình xây
dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam” là một vấn đề không hề
đơn giản, đặc biệt là đối với một sinh viên còn ngồi trên ghế giảng đường. Nếu
không có sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô và bạn bè, khoá luận này sẽ không thể
được hoàn thiện về cả lý luận và thực tiễn.
Trước hết, tôi xin gửi tới Thạc sĩ Phan Anh Tuấn lòng cảm phục và biết ơn
chân thành nhất vì sự tận tình chỉ bảo và những gợi ý quý báu của thầy trong quá
trình thực hiện khoá luận này. Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới: Các thầy
cô trong Hội đồng chấm khoá luận và Khoa Kinh tế Ngoại Thương, trường Đại Học
Ngoại Thương đã cho phép và tạo điều kiện về thời gian cho tôi hoàn thành đề tài
tâm huyết này.
Tôi cũng xin được cám ơn gia đình, toàn thể thầy cô và bạn bè vì sự cổ vũ
tinh thần và những lời góp ý chân thành trong quá trình nghiên cứu.





Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng 11 năm 2006


Phạm Thị Minh Hằng
Mục lục
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- i -
MỤC LỤC

Lời mở đầu 1
Chƣơng 1. Hoạt động của các Ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng
chứng khoán 4
I. Ngân hàng thƣơng mại và thị trƣờng chứng khoán 4
1. Khái niệm và cấu trúc thị trƣờng chứng khoán 4
1.1. Khái niệm 4
1.2. Cấu trúc thị trường chứng khoán 5
1.2.1. Cấu trúc theo hàng hoá 5
1.2.2. Cấu trúc theo mục đích hoạt động của thị trƣờng 5
1.2.3. Cấu trúc theo hình thức tổ chức của thị trƣờng 6
2. Hàng hoá trên thị trƣờng chứng khoán 7
3. Các chủ thể tham gia thị trƣờng chứng khoán 9
3.1. Nhà phát hành chứng khoán 9
3.2. Nhà đầu tư chứng khoán 10
3.3. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán 10
II. Hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán 12
1. Những hoạt động NHTM trực tiếp thực hiện trên TTCK 13
1.1. Hoạt động phát hành chứng khoán 13
1.2. Hoạt động ngân quỹ 14

1.3. Hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán 15
1.4. Hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu 16
1.5. Hoạt động ngân hàng giám sát 16
2.2. Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán 18
2.3. Môi giới chứng khoán 20
2.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán 22
2.5. Quản lý các danh mục đầu tư 22
2.6. Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 23
Mục lục
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- ii -
3. Sự tham gia của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán -
một tất yếu khách quan 24
III. Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán nƣớc ngoài
26
Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động của các NHTM trên TTCK ở Việt Nam
32
I. Khái quát về quá trình phát triển của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 32
1. Về quy mô hoạt động 32
2. Về sự tham gia của các nhà đầu tƣ 38
3. Về cơ chế công bố thông tin 40
4. Về sự tham gia của Nhà nƣớc trong lĩnh vực quản lý 41
5. Về sự tham gia của các chủ thể khác trên TTCK 42
II. Hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán Việt
Nam 43
1. Các văn bản pháp lý về hoạt động của ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng
chứng khoán 43
1.1.Nghị định số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/11/2003 44
1.2. Luật các Tổ chức tín dụng 45
1.3. Luật Đầu tư 47

1.4. Luật Doanh nghiệp 49
1.5. Luật Chứng khoán 50
2. Hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán ở Việt
Nam 52
2.1. Hoạt động phát hành chứng khoán 52
2.2. Hoạt động kinh doanh chứng khoán 56
2.3. Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán 58
2.4. Hoạt động cho vay vốn cầm cố cổ phiếu 60
2.5. Hoạt động môi giới chứng khoán 63
2.6. Hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng
khoán 64
Mục lục
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- iii -
2.7. Các hoạt động khác 65
III. Đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM 67
1. Kết quả hoạt động 67
2. Hạn chế và nguyên nhân 69
Chƣơng 3. Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các ngân hàng
thƣơng mại trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trƣờng chứng
khoán ở Việt Nam 74
I. Xu hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 74
1. Định hƣớng phát triển các NHTM đến năm 2010. 75
2. Định hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 77
II. Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng
và phát triển TTCK ở Việt Nam 79
1. Giải pháp vĩ mô 79
1.1. Tiếp tục thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng thương mại 79
1.2. Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 84
2. Giải pháp vi mô 87

2.1. Tăng cường tiềm lực tài chính của các NHTM 87
2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các NHTM. 89
3. Phát triển và mở rộng nghiệp vụ NHTM trên TTCK 92
Kết luận 94
Tài liệu tham khảo 96
Bng ch vit tt
S tham gia ca cỏc NHTM trong tin trỡnh xõy dng v phỏt trin TTCK Vit Nam
BNG CH VIT TT
UBCKNN
U ban chng khoỏn nh nc
TTCK
TH TRNG CHNG KHON
TTGDCK
Trung tõm giao dch chng khoỏn
NHNN
Ngõn hng nh nc
NHTM
Ngõn hng thng mi
NHTMNN
Ngõn hng thng mi nh nc
NHTMCP
Ngõn hng thng mi c phn
TCTD
T chc tớn dng
DNNN
Doanh nghip nh nc
CTCK
Cụng ty chng khoỏn
TPC
Trỏi phiu chuyn i

ACB
Ngõn hng thng mi c phn Châu
Agribank
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Agriseco
Cụng ty chng khoỏn Ngõn hng Nụng nghip v phỏt trin
nụng thụn
Eximbank
Ngõn hng thng mi c phn Xut nhp khu Vit Nam
VIB Bank
Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Quốc tế
MB
Ngõn hng thng mi c phn Quõn i
EAB Bank
Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Đông á
Habubank
Ngõn hng Phỏt trin nh H Ni
Incombank
Ngõn hng thng mi c phn Cụng thng
Techcombank
Ngõn hng thng mi c phn K thng
Saigonbank
Ngõn hng Si Gũn cụng thng
SCB
Ngõn hng thng mi c phn Si Gũn
Sacombank
Ngõn hng thng mi c phn
STB
Mã cổ phiếu Sacombank
BIDV

Ngõn hng u t v Phỏt trin Vit Nam
BSC
Cụng ty chng khoỏn ngõn hng u t v Phỏt trin
Vietcombank
Ngõn hng Ngoi thng Vit Nam
VCBS
Cụng ty chng khoỏn Ngõn hng Ngoi thng
WB
Ngõn hng Th gii
ADB
Ngõn hng Phỏt trin Chõu
WTO
T chc thng mi th gii
Lời mở đầu
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Xây dựng và phát triển thị trƣờng chứng khoán là một xu thế tất yếu của tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam không tách rời xu thế đó. Thị trƣờng chứng
khoán hình thành và phát triển sẽ cùng với thị trƣờng tiền tệ tạo ra một thị trƣờng tài
chính vận hành có hiệu quả hơn, góp phần đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nƣớc.
Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ khi thành lập vào tháng 7/2000 đến
nay, trải qua 6 năm hình thành và phát triển, tuy quy mô còn nhỏ nhƣng đã có
những bƣớc tiến nhất định góp phần tích cực vào sự phát triển của thị trƣờng tài
chính cũng nhƣ của nền kinh tế quốc dân. Nhà đầu tƣ Việt Nam biết đến một môi
trƣờng đầu tƣ mới mẻ, chứa đựng nhiều rủi ro nhƣng cũng hứa hẹn tiềm năng phát
triển. Sự ra đời của thị trƣờng chứng khoán thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cổ phần
hoá của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nƣớc, tạo nguồn cung

hàng hoá chứng khoán cho thị trƣờng. Bên cạnh đó là sự góp mặt của các trung gian
tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thƣơng mại với vai trò cung cấp những dịch vụ
tài chính mới trên thị trƣờng chứng khoán đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tƣ cũng nhƣ
của các doanh nghiệp cổ phần khi tham gia thị trƣờng.
Là một cấu thành của thị trƣờng tài chính, sự phát triển của thị trƣờng chứng
khoán sẽ kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng. Ngƣời ta
thƣờng cho rằng, khi thị trƣờng chứng khoán có xu hƣớng tăng trƣởng mạnh mẽ thì
lƣợng chu chuyển vốn qua hệ thống ngân hàng thƣơng mại bị giảm sút và ngƣợc lại.
Tuy nhiên, đặc thù của nền kinh tế Việt Nam với tiềm năng về vốn trong dân cƣ còn
rất lớn thì nếu có sự tham gia của các ngân hàng thƣơng mại vào thị trƣờng chứng
khoán sớm hơn và mạnh mẽ hơn thì thị trƣờng chứng khoán còn có những bƣớc
phát triển ngoạn mục hơn nữa. Nhƣ vậy, có thể thấy hệ thống ngân hàng và thị
trƣờng chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết hợp và tác động với
nhau cùng phát triển.
Xuất phát từ thực tế trên, khoá luận này đƣa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về
sự tham gia của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán, khảo sát
Lời mở đầu
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 2 -
hoạt động thực tiễn của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán
nƣớc ngoài, so sánh và đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại
Việt Nam, từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa sự tham gia hiệu
quả của ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu của khoá luận
Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại trên thị
trƣờng chứng khoán Việt Nam, khoá luận đề xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy
sự tham gia của các trung gian tài chính này trên thị trƣờng chứng khoán.
3. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng cũng những phƣơng
thức cụ thể nhƣ: phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá…để phục vụ cho

mục đích nghiên cứu.
4. Phạm vi đối tượng nghiên cứu
TTCK là một thực thể phức tạp, ở đó có sự tham gia của rất nhiều đối tƣợng
khác nhau với những mục đích khác nhau. Trong khuôn khổ hạn hẹp của khoá luận
này, ngƣời viết chỉ nghiên cứu sự tham gia của các NHTM với việc cung cấp những
dịch vụ tài chính mới trên TTCK Việt Nam.
5. Đóng góp khoa học của đề tài:
TTCK là lĩnh vực biến động theo từng giờ, từng phút. Những giải pháp đặt ra
cho TTCK chỉ có ý nghĩa thực tế khi bám sát đƣợc tình hình phát triển của TTCK. ý
thức đƣợc điều này, khoá luận không chỉ dừng lại ở việc đúc kết kinh nghiệm của
các quốc gia trên thế giới làm bài học cho Việt Nam mà còn cố gắng phân tích hoạt
động của các NHTM trên TTCK Việt Nam ở thời điểm hiện tại nhằm đề xuất những
giải pháp có tính khả thi cao nhất.
6. Nội dung nghiên cứu
Bố cục của khoá luận gồm 98 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá
luận gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng
khoán
Lời mở đầu
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 3 -
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại trên thị
trƣờng chứng khoán ở Việt Nam
Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trong tiến trình
xây dựng và phát triển thị trƣờng chứng khoán ở Việt Nam.
7. Cam kết về tính trung thực của đề tài
Tác giả xin đảm bảo về tính trung thực về học thuật của khoá luận, những
chỗ trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ. Tác giả sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung
thực của khoá luận này.
Do những hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và tài liệu nghiên cứu, khoá luận

không tránh khỏi còn nhiều sơ suất. Tác giả kính mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để có thể đi sâu nghiên cứu hơn nữa
trong lĩnh vực này.
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 4 -
Chương 1- Hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
hị trƣờng chứng khoán ở các nƣớc phát triển trên thế giới đã có lịch sử
hình thành và tồn tại hàng trăm năm. Trong suốt tiến trình hình thành
và phát triển của thị trƣờng, các NHTM luôn là những chủ thể tham gia tích cực và
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động của TTCK, làm cho
thị trƣờng vận hành linh hoạt và hiệu quả.
TTCK Việt Nam mới ra đời đƣợc 6 năm nhƣng ngay từ những ngày đầu, các
NHTM đã tham gia trên thị trƣờng với nhiều nghiệp vụ khác nhau. Vị thế và vai trò
của các NHTM trên TTCK Việt Nam dần đƣợc khẳng định. Để có cái nhìn toàn
diện hơn về thực trạng hoạt động của các NHTM trên TTCK ở Việt Nam, trƣớc hết,
ta sẽ tìm hiểu hoạt động của các NHTM trên TTCK phát triển và những đóng góp
của các NHTM trong tiến trình phát triển TTCK này.
I. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm và cấu trúc thị trƣờng chứng khoán
1.1. Khái niệm
TTCK là một bộ phận của thị trƣờng tài chính và mang đầy đủ những đặc
điểm cơ bản của thị trƣờng này.
Thị trƣờng tài chính có chức năng cơ bản là phân bổ vốn một cách hiệu quả
trong nền kinh tế, dẫn vốn từ những ngƣời có vốn tạm thời nhàn rỗi sang những
ngƣời thiếu vốn. Trên thị trƣờng tài chính, ngƣời đi vay có thể vay vốn trực tiếp từ
ngƣời cho vay bằng cách bán cho họ những chứng khoán (còn gọi là những công cụ
tài chính), những chứng khoán này là quyền đƣợc hƣởng đối với thu nhập hoặc tài
sản tƣơng lai của ngƣời vay. Hoặc tiền vốn có thể đƣợc chuyển một cách gián tiếp
từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay thông qua các tổ chức trung gian tài chính nhƣ:

NHTM, công ty tài chính, quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm…
Thị trƣờng tài chính bao gồm thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng vốn. Thị trƣờng
tiền tệ là nơi cung ứng nguồn vốn ngắn hạn trong khi đó thị trƣờng vốn là nơi cung
ứng những khoản vốn trung và dài hạn.
TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trƣờng vốn. Ngƣời đi vay có thể huy
động vốn trên TTCK một cách trực tiếp thông qua việc phát hành và bán các chứng
T
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 5 -
khoán cho ngƣời cho vay để đƣợc sử dụng khoản vốn đó một thời gian trung và dài
hạn trong tƣơng lai.
Vậy, TTCK trong điều kiện nền kinh tế hiện đại, đƣợc quan niệm là nơi diễn
ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Nhƣ đã đề cập ở trên, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của ngƣời sở hữu đối với tài sản hoặc thu nhập tƣơng lai của ngƣời phát
hành, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ.
Tóm lại, là đặc trƣng cơ bản của thị trƣờng vốn, TTCK là nơi cung cấp vốn
trung và dài hạn phục vụ cho mục đích đầu tƣ sinh lợi của các chủ thể trong nền
kinh tế. Thông qua TTCK, nguồn vốn đƣợc di chuyển trực tiếp từ ngƣời cho vay
sang ngƣời đi vay. Qua đó, TTCK góp phần làm cho nền kinh tế hoạt động linh hoạt
và hiệu quả hơn.
1.2. Cấu trúc thị trường chứng khoán
1.2.1. Cấu trúc theo hàng hoá
Căn cứ vào hàng hoá trên thị trƣờng, TTCK đƣợc phân thành các thị trƣờng:
thị trƣờng cổ phiếu, thị trƣờng trái phiếu, thị trƣờng các công cụ chứng khoán phái
sinh.
Thị trường cổ phiếu (stocks market) là thị trƣờng giao dịch và mua bán các
loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ƣu đãi và chứng chỉ quỹ.
Thị trường trái phiếu (bonds market) là thị trƣờng mà hàng hoá mua bán tại

đó là trái phiếu đã đƣợc phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công
ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu Chính phủ.
Thị trường các công cụ phái sinh (derivatives market) là thị trƣờng phát hành
và mua đi bán lại các chứng khoán phái sinh. Đây là loại thị trƣờng cao cấp chuyên
giao dịch những công cụ tài chính cao cấp, do đó thị trƣờng này chỉ xuất hiện ở
những nƣớc có TTCK phát triển mạnh.
Ngoài ra, còn có những thị trƣờng khác nhƣ thị trƣờng mua bán quyền mua
cổ phiếu phát hành bổ sung của công ty, thị trƣờng mua bán chứng quyền…
1.2.2. Cấu trúc theo mục đích hoạt động của thị trường
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 6 -
Căn cứ vào mục đích hoạt động của thị trƣờng, TTCK đƣợc chia thành thị
trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp.
Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (primary market) là thị trƣờng mua
bán các chứng khoán mới phát hành, giá cả chứng khoán là giá phát hành. Trên thị
trƣờng này, vốn từ nhà đầu tƣ sẽ đƣợc chuyển sang nhà phát hành thông qua việc
nhà đầu tƣ mua các chứng khoán mới phát hành. Chủ thể phát hành chứng khoán
trên thị trƣờng sơ cấp thƣờng Chính phủ và các doanh nghiệp. Việc phát hành
chứng khoán giúp cho Chính phủ và các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trƣờng
nhằm tài trợ cho các hoạt động của mình.
Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (secondary market) là nơi giao dịch
các chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp. Thị trƣờng thứ cấp làm
tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán đã đƣợc phát hành. Trên thị trƣờng thứ
cấp, các khoản tiền thu đƣợc từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tƣ và
các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về tổ chức phát hành. Thị trƣờng
thứ cấp là một bộ phận quan trọng của TTCK, gắn bó chặt chẽ với thị trƣờng sơ
cấp. Thị trƣờng thứ cấp có tổ chức chặt chẽ, thông tin chính xác, mua bán thuận lợi
sẽ tạo điều kiện thành công cho thị trƣờng sơ cấp.
1.2.3. Cấu trúc theo hình thức tổ chức của thị trường

Căn cứ theo hình thức tổ chức của thị trƣờng, TTCK đƣợc phân thành thị
trƣờng tập trung (sở giao dịch chứng khoán), thị trƣờng phi tập trung (thị trƣờng
OTC) và thị trƣờng thứ ba.
Tại Sở giao dịch chứng khoán (stocks exchange) các giao dịch đƣợc tập
trung tại một địa điểm, các lệnh đƣợc chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá
trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch. Chứng khoán đƣợc mua bán ở đây
phải là chứng khoán đƣợc niêm yết trên Sở giao dịch và phải đƣợc lƣu ký tại Sở
giao dịch để tạo thuận lợi, đảm bảo an toàn và tiết kiệm chi phí cho việc giao dịch.
Việc mua bán chứng khoán tại Sở giao dịch phải thực hiện qua trung gian là các
công ty chứng khoán thành viên của Sở. Trên thị trƣờng này, nguyên tắc mua bán
chứng khoán đƣợc sử dụng là nguyên tắc đấu giá.
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 7 -
Trên thị trường OTC (over- the- counter market), các giao dịch (cả sơ cấp
lẫn thứ cấp) đƣợc tiến hành qua mạng lƣới các công ty chứng khoán phân tán trên
khắp quốc gia và đƣợc nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá cả trên thị trƣờng này
đƣợc hình thành theo phƣơng thức thoả thuận. Các nhà kinh doanh chứng khoán có
thể trực tiếp thƣơng lƣợng về giá cũng nhƣ thời gian thanh toán của những chứng
khoán mà họ muốn giao dịch mà không cần thông qua các công ty tài chính trung
gian. ở thị trƣờng này, các nhà kinh doanh đóng vai trò là nhà tạo lập thị trƣờng. Họ
có một danh mục chứng khoán và sẵn sàng mua bán chứng khoán với bất cứ ai có
nhu cầu và chấp nhận giá của họ.
Thị trường thứ ba (tertiary market) dành cho việc mua bán các chứng khoán
không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trƣờng tập trung và thị trƣờng OTC. ở đây,
ngƣời môi giới có thể mua bán chứng khoán với giá rẻ hơn vì chi phí về mua chỗ
ngồi (seat) rẻ hơn, hoa hồng thấp, ngƣời mua bán không có trách nhiệm ổn định giá
cả. Mọi hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng đều diễn ra qua telex, điện thoại, theo
giá thoả thuận giữa hai bên.
2. Hàng hoá trên thị trƣờng chứng khoán

Hàng hoá trên TTCK bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ
chứng khoán và chứng khoán phái sinh.
Cổ phiếu (stocks) là một loại chứng khoán đƣợc phát hành dƣới dạng chứng
chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở
hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Khi mua cổ phiếu,
những ngƣời đầu tƣ (các cổ đông) sẽ trở thành chủ sở hữu đối với công ty. Mức độ
sở hữu đó tuỳ thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ
đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng nhƣ tổn thất trong quá trình hoạt động
của công ty. Trong trƣờng hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý hay phá sản, cổ
đông chỉ nhận đƣợc những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các khoản
nghĩa vụ khác (nhƣ thuế, nợ ngân hàng hay trái phiếu…). Cổ phiếu là công cụ
không có thời hạn. Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ƣu đãi.
Trái phiếu (bonds) là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của ngƣời
phát hành (ngƣời vay tiền) phải trả cho ngƣời nắm giữ chứng khoán (ngƣời cho
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 8 -
vay) một khoản tiền xác định, thƣờng là trong những khoảng thời gian cụ thể, và
phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn. Ngƣời phát hành trái phiếu
thƣờng là Chính phủ (trung ƣơng và địa phƣơng) và công ty. Trái phiếu Chính phủ
có độ an toàn cao, có thể nói rủi ro thanh toán của trái phiếu Chính phủ là bằng 0,
trong khi đó các trái phiếu công ty khác nhau có mức độ rủi ro thanh toán khác
nhau. Ngoài ra trái phiếu Chính phủ cũng nhƣ trái phiếu công ty đều phải chịu các
rủi ro khác nhƣ rủi ro lãi suất, rủi ro lạm phát… Trái phiếu thƣờng có thời hạn xác
định, có thể là trung và dài hạn.
Chứng chỉ quỹ đầu tư (fund certificate) là một loại hàng hoá của TTCK. Quỹ
đầu tƣ chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của ngƣời đầu tƣ uỷ thác cho công
ty quản lý quỹ và đầu tƣ tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán.
Chứng chỉ quỹ đầu tƣ chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ do công ty
quản lý quỹ đại diện cho quỹ phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của

nhà đầu tƣ đối với tài sản hoặc vốn của quỹ đầu tƣ theo tỷ lệ tƣơng ứng với số đơn
vị quỹ mà nhà đầu tƣ đó nắm giữ. Ngƣời đầu tƣ không trực tiếp đầu tƣ vào chứng
khoán mà chỉ đầu tƣ vào quỹ bằng cách mua cổ phần hay chứng chỉ quỹ. Việc đầu
tƣ vào chứng khoán do công ty quản lý quỹ tiến hành, vì thế, tính chuyên nghiệp
của hoạt động đầu tƣ cao hơn nhiều so với việc một cá nhân trung bình tự ra quyết
định đầu tƣ.
Chứng khoán có thể chuyển đổi (convertible securities) là những chứng
khoán cho phép ngƣời nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất
định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác. Thông thƣờng có cổ phiếu ƣu đãi
đƣợc chuyển đổi thành cổ phiếu thƣờng và trái phiếu đƣợc chuyển đổi thành cổ
phiếu thƣờng.
Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ đƣợc phát hành trên
cơ sở những công cụ đã có nhƣ cổ phiếu, trái phiếu. Giá cả của chứng khoán phái
sinh đƣợc xác định dựa trên giá cả của các chứng khoán gốc. Chứng khoán phái
sinh đƣợc phát hành với những mục đích rất đa dạng nhƣ để quản lý rủi ro, bảo vệ
quyền lợi của cổ đông hiệu hữu trong đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty
và tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 9 -
trị các đối tƣợng đầu tƣ nhƣ cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ
phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ đƣợc
duy trì ở mức ban đầu. Các công cụ chứng khoán phái sinh rất phong phú và đa
dạng, nhƣng tiêu biểu gồm các công cụ là quyền ƣu tiên mua trƣớc cổ phiếu phổ
thông (right certificates), chứng quyền (warrants), hợp đồng kỳ hạn (forwards), hợp
đồng tƣơng lai (futures), quyền chọn (options) và hợp đồng hoán đổi (swaps). Thị
trƣờng các công cụ phái sinh ngày càng trở nên quan trọng đối với những nhà quản
lý tài chính. Nó cung cấp công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời cũng là công cụ
đầu cơ lý tƣởng cho các nhà đầu tƣ.
3. Các chủ thể tham gia thị trƣờng chứng khoán

Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể đƣợc chia thành 3 nhóm sau:
nhà phát hành, nhà đầu tƣ, tổ chức cung cấp dịch vụ trên TTCK và nhà quản lý thị
trƣờng.
3.1. Nhà phát hành chứng khoán
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK qua
đó cung cấp các chứng khoán – hàng hoá của TTCK. Nhà phát hành có thể là Chính
phủ (trung ƣơng và địa phƣơng), doanh nghiệp và các tổ chức tài chính.
- Chính phủ (trung ương và địa phương) là nhà phát hành các trái phiếu
chính phủ và trái phiếu địa phƣơng. Để tài trợ cho các dự án đầu tƣ hoặc chi tiêu
dùng, Chính phủ và chính quyền địa phƣơng có thể phát hành chứng khoán để huy
động vốn trên TTCK nhƣ trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phƣơng,
trái phiếu đô thị. Những loại trái phiếu này có độ an toàn cao, tính thanh khoản lớn
và thƣờng đƣợc các tổ chức trung gian tài chính mua để thực hiện hoạt động ngân
quỹ.
- Doanh nghiệp là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các
doanh nghiệp là cũng là chủ thể quan trọng trên TTCK cung cấp các loại hàng hoá
đa dạng cho TTCK. Cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn
trái phiếu Chính phủ và là một công cụ hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ. Pháp luật
của từng nƣớc quy định cụ thể loại hình doanh nghiệp nào đƣợc phép phát hành
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 10 -
chứng khoán. Về cơ bản, các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái
phiếu để thu hút vốn trên thị trƣờng. Công ty có thể tự mình phát hành chứng khoán
hoặc phát hành thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành. Phát triển hoạt động phát
hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đa dạng hoá các công cụ đầu tƣ, đồng
thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ của các trung gian tài chính trong đó có các
NHTM liên quan đến TTCK.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính nhƣ các trái
phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ…để huy động vốn phục vụ cho hoạt động của

họ. Chứng khoán do các tổ chức tài chính này phát hành giống nhƣ chứng khoán
của doanh nghiệp có độ rủi ro cao hơn trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính
quyền địa phƣơng và cũng là những chứng khoán đƣợc nhiều nhà đầu tƣ ƣa chuộng.
3.2. Nhà đầu tư chứng khoán
Nhà đầu tƣ là những ngƣời mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tƣ
có thể đƣợc chia thành 2 loại: nhà đầu tƣ cá nhân và nhà đầu tƣ có tổ chức.
Nhà đầu tư cá nhân là những ngƣời có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua
bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Các nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tƣ, hoạt động với
quy mô lớn, có tính chuyên nghiệp cao và thƣờng xuyên mua bán chứng khoán với
số lƣợng lớn trên thị trƣờng. Các tổ chức này thƣờng có các bộ phận chức năng bao
gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trƣờng và đƣa ra các quyết
định đầu tƣ. Một số nhà đầu tƣ chuyên nghiệp chính trên TTCK là các công ty
chứng khoán, các ngân hàng đầu tƣ, các công ty bảo hiểm và các quỹ đầu tƣ.
3.3. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán là thị trƣờng mua bán chứng khoán tập trung. Đây
là nơi tập hợp cung cầu về chứng khoán và thƣờng xuyên thực hiện các giao dịch
chứng khoán với quy mô lớn. Trên SGDCK, các chứng khoán đƣợc mua bán qua
trung gian và theo phƣơng thức đấu giá, khớp lệnh. Để đƣợc niêm yết tại SGDCK,
các chứng khoán phải đáp ứng đủ những điều kiện do Sở đặt ra. Vì vậy những
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 11 -
chứng khoán đƣợc giao dịch trên Sở đều là những chứng khoán có chất lƣợng đảm
bảo, khả năng thanh khoản cao.
SGDCK thực hiện vận hành thị trƣờng thông qua bộ máy tổ chức bao gồm
nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên sở giao dịch. Ngoài ra, sở giao
dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng
khoán trên sở, phù hợp với quy định của luật pháp và Uỷ ban chứng khoán.

Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lƣu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh
toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán. Trung tâm lƣu ký và thanh toán bù trừ
chứng khoán của Việt Nam mới chính thức đƣợc thành lập và đi vào hoạt động từ
tháng 5/2006.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng
khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, đƣợc thành
lập với mục đích bảo vệ lợi ích của các công ty thành viên nói riêng và cho toàn
ngành chứng khoán nói chung.
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh
giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều
khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể. Các nhà
đầu tƣ có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm do công ty đánh giá hệ số tín nhiệm cung
cấp để cân nhắc đƣa ra quyết định đầu tƣ của mình.
Các công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Là tổ chức phụ trợ, phục vụ cho các giao dịch chứng khoán. Công ty này
cung cấp hệ thống máy tính với các chƣơng trình để thông qua đó có thể thực hiện
đƣợc các lệnh giao dịch một cách chính xác và nhanh chóng. Thông thƣờng, công ty
dịch vụ máy tính chứng khoán ra đời khi TTCK đã phát triển đến một trình độ nhất
định, bắt đầu đi vào tự động hoá các giao dịch.
Các tổ chức tài trợ chứng khoán
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 12 -
Là các tổ chức đƣợc thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng và tăng
trƣởng của TTCK thông qua các hoạt động cho vay tiền để mua cổ phiếu và cho vay
chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng. Các tổ chức tài trợ chứng khoán
ở các nƣớc khác nhau có những đặc điểm khác nhau, có một số nƣớc không có loại

hình tổ chức này.
Sự tham gia của các tổ chức này trên TTCK cùng với các chủ thể khác trên
TTCK làm cho quá trình quản lý và vận hành TTCK một cách có hiệu quả, góp
phần phát triển thị trƣờng tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung.
II. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRÊN THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
TTCK đƣợc xem là kênh dẫn vốn trực tiếp cho các tổ chức phát hành. Tuy
vậy, các tổ chức trung gian tài chính trong đó có các NHTM cũng đóng một vai trò
rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và nâng cao tính hiệu quả của thị
trƣờng thông qua các hoạt động của họ trên TTCK.
TTCK là nơi luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Nhƣng rủi ro trong kinh doanh
thƣờng tỷ lệ thuận với lợi nhuận, rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Là một tổ
chức kinh tế hoạt động vì lợi nhuận, các NHTM luôn muốn đƣợc tham gia tích cực
hơn nữa vào thị trƣờng đầy sôi động này.
Tuy nhiên, NHTM là tổ chức nhận tiền gửi trong đó bộ phận tiền gửi thƣờng
chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn. Phần lớn những ngƣời gửi tiền tiết kiệm trong
ngân hàng là các cá nhân, hộ gia đình. Khi tham gia sâu rộng trên TTCK, khả năng
ngân hàng bị vỡ nợ và phá sản rất dễ xảy ra nếu TTCK đi xuống, giá chứng khoán
sụt giảm trầm trọng. Điều này không chỉ tác động tiêu cực tới những cá nhân, hộ gia
đình và gây ra sự náo động trong dân chúng mà còn ảnh hƣởng xấu đến sự ổn định
và phát triển của thị trƣờng tài chính cũng nhƣ của nền kinh tế quốc gia. Chính vì
tầm quan trọng của các NHTM trong nền kinh tế và để bảo vệ những ngƣời gửi tiền
trƣớc rủi ro trên, chính quyền các nƣớc luôn kiểm soát hoạt động của các NHTM
hết sức chặt chẽ.
Theo quy định của hầu hết các quốc gia, trên TTCK, các NHTM đƣợc phát
hành chứng khoán, thực hiện hoạt động ngân quỹ và tham gia cung cấp trực tiếp các
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 13 -
dịch vụ mà tính an toàn đƣợc đảm bảo liên quan đến TTCK nhƣ hoạt động lƣu ký,

thanh toán bù trừ chứng khoán, hoạt động giám sát, và cho vay mua/cầm cố chứng
khoán. Ngoài ra, đối với những hoạt động rủi ro cao nhƣ kinh doanh chứng khoán
có tính an toàn thấp, bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tƣ vấn
đầu tƣ chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ chứng khoán, quản lý quỹ đầu tƣ
chứng khoán, các NHTM phải lập công ty chứng khoán thành viên mới đƣợc phép
tham gia vào các hoạt động này.
1. Những hoạt động NHTM trực tiếp thực hiện trên TTCK
1.1. Hoạt động phát hành chứng khoán
Các NHTM là trung gian tài chính thực hiện huy động vốn trong nền kinh tế
để phục vụ cho các hoạt động của mình. Tuy nhiên, các kênh huy động vốn ngắn
hạn truyền thống thƣờng không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tƣ cả về quy mô và thời
hạn của các NHTM. Do vậy, sự ra đời của TTCK đã tạo ra một kênh huy động mới
mà tại đó các NHTM có thể tìm kiếm những nguồn vốn lớn, ổn định để đầu tƣ trung
và dài hạn trong tƣơng lai. Điều này tạo cơ hội cho các NHTM mở rộng hoạt động,
tham gia vào nhiều nghiệp vụ khác nhằm nâng cao năng lực phục vụ khách hàng và
tăng thu nhập.
Việc phát hành chứng khoán của các NHTM chịu sự điều tiết của nhiều đạo
luật khác nhau nhƣ Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân hàng và các
tổ chức tín dụng.
Trên TTCK, hoạt động phát hành chứng khoán để huy động vốn của các
NHTM diễn ra rất sôi động. Các chứng khoán do các NHTM phát hành thƣờng có
độ hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tƣ do uy tín của các NHTM và có tính thanh
khoản cao hơn so với trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp khác phát hành.
Với tính chất chuyên nghiệp, với uy tín cao trên thị trƣờng tài chính, hoạt
động phát hành chứng khoán của các NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp
thông thƣờng khác, do đó, thƣờng có khối lƣợng huy động lớn với chi phí vốn thấp
hơn. Bên cạnh các trung gian tài chính khác, các NHTM cũng đƣợc xem là đối
tƣợng huy động vốn quan trọng trên TTCK quốc tế.
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam

- 14 -
Tổng lƣợng vốn do các NHTM Mỹ huy động bằng cổ phiếu tới thời điểm
năm 1993 là 375,3 tỷ USD, trong đó chủ yếu là vốn huy động bằng cổ phiếu
thƣờng
1
. Hoạt động huy động vốn là điều kiện quan trọng để đáp ứng cho các hoạt
động của NHTM, trong đó có hoạt động kinh doanh chứng khoán.
1.2. Hoạt động ngân quỹ
Các NHTM hoạt động chủ yếu trên thị trƣờng tín dụng. Do đặc điểm nguồn
vốn, các tổ chức này thƣờng tập trung cho vay thƣơng mại, cho vay tiêu dùng và
cho vay thế chấp. Nhu cầu thanh toán và dự phòng đối với các NHTM là rất lớn và
việc đáp ứng các nhu cầu này không chỉ ảnh hƣởng tới hoạt động của các NHTM
mà còn ảnh hƣởng không nhỏ tới vấn đề an toàn của nền kinh tế. Do vậy, hoạt động
ngân quỹ, một dạng hoạt động kinh doanh chứng khoán, của các NHTM rất đƣợc
coi trọng và các NHTM là thành viên quan trọng của thị trƣờng tín phiếu Kho Bạc.
Trong hoạt động ngân quỹ, các NHTM thƣờng đầu tƣ ngắn hạn vào các
chứng khoán có tính thanh khoản cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu
thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Các chứng khoán thƣờng đƣợc
lựa chọn cho mục đích này là tín phiếu Kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể đƣợc
chuyển nhƣợng, trái phiếu Chính phủ.
Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trƣờng tín dụng và thị
trƣờng chứng khoán. Khi thị trƣờng tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị
trƣờng tín dụng sẽ đƣợc dịch chuyển sang TTCK thông qua hoạt động kinh doanh
chứng khoán của các NHTM. Ngƣợc lại, khi nhu cầu tín dụng tăng, các NHTM sẽ
bán các chứng khoán để tăng lƣợng vốn cho hoạt động tín dụng, vốn không bị đọng
và tính thanh khoản đƣợc đảm bảo.
TTCK mở ra cơ hội cho hoạt động ngân quỹ của NHTM phát triển. Qua đó,
các NHTM có thể duy trì tính thanh khoản và đảm bảo khả năng thanh toán cũng
nhƣ khả năng tích trữ của mình. Nhƣng hoạt động ngân quỹ đòi hỏi sự sẵn có các
công cụ có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và tính ổn định của thị

trƣờng. Đôi khi sự thiếu ổn định của TTCK đã ảnh hƣởng xấu đến khả năng thanh

1
Trần Đăng Khâm (2002), Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trong tiến trình xây
dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, Trƣờng ĐH KTQD, t.33, Hà Nội.
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 15 -
toán của các tổ chức tín dụng và qua đó, có những ảnh hƣởng tiêu cực đối với thị
trƣờng tín dụng. Trong thực tế, nhiều tổ chức tín dụng đã gặp khó khăn về thanh
toán, thậm chí mất khả năng thanh toán do những thay đổi của TTCK.
1.3. Hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán
Đăng ký chứng khoán, lƣu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao
dịch chứng khoán là các dịch vụ hỗ trợ giao dịch chứng khoán mà các NHTM có
thể trực tiếp cung cấp trên TTCK bao gồm ở cả thị trƣờng chính thức và thị trƣờng
phi tập trung.
Giao dịch chứng khoán tại các SGDCK, thị trƣờng phi tập trung và thị
trƣờng các chứng khoán phái sinh…đều là hình thức giao dịch có tổ chức giữa
nhiều bên mua bán với nhau. Để luôn đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng cũng
nhƣ sự an toàn cho tất cả các bên tham gia mua bán, giảm thiểu chi phí giao dịch,
hình thức giao dịch có tổ chức đòi hỏi việc thanh toán tiền và chuyển giao chứng
khoán cũng phải đƣợc thực hiện một cách có tổ chức. Khi giao dịch chứng khoán đã
đƣợc xác nhận thực hiện, việc chuyển giao chứng khoán và thanh toán tiền sẽ đƣợc
thực hiện theo hình thức chuyển khoản trên các tài khoản chứng khoán và tiền
thông qua các bút toán ghi sổ, thay vì chuyển giao vật chất trực tiếp nhƣ trong hình
thức giao dịch tự phát. Để làm đƣợc điều này, chứng khoán niêm yết hay đăng ký
giao dịch trên TTCK cần phải giữ tập trung và bất động hoá ở một nơi. Chính đòi
hỏi này đã dẫn đến sự ra đời của loại hình dịch vụ đăng ký, lƣu ký chứng khoán, bù
trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán để hỗ trợ cho việc thực hiện và hoàn
tất các giao dịch chứng khoán trên các thị trƣờng giao dịch chứng khoán có tổ chức.

Các tổ chức cung ứng dịch vụ đăng ký, lƣu ký chứng khoán, bù trừ và thanh
toán các giao dịch chứng khoán thƣờng là các ngân hàng lƣu ký (ngân hàng thƣơng
mại đƣợc phép hoạt động lƣu ký chứng khoán), các công ty chứng khoán, đƣợc gọi
chung là các tổ chức lƣu ký. Các tổ chức thanh toán tiền cho các giao dịch chứng
khoán là các ngân hàng thanh toán.
Đối với các NHTM, tận dụng đƣợc cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện hoạt
động đăng ký, lƣu ký, bảo quản chứng khoán và đảm nhận thanh toán hộ các nhà
đầu tƣ qua hệ thống thanh toán bù trừ cũng mang lại cho họ nhiều lợi ích. Các
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 16 -
NHTM có thể thêm thu nhập, tăng khả năng giám sát và đảm bảo tính an toàn trong
các giao dịch chứng khoán.
1.4. Hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu
Hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu mới chỉ diễn ra sôi động từ đầu năm nay
ở Việt Nam nhƣng hoạt động này đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Cho vay cầm cố
cổ phiếu là một nghiệp vụ cho vay bình thƣờng có tính thông lệ quốc tế về hoạt
động ngân hàng.
Cho vay cầm cố cổ phiếu là việc ngân hàng cung cấp tín dụng cho khách
hàng dựa trên việc cầm cố các cổ phiếu (niêm yết hoặc chƣa niêm yết) mà ngƣời
khách hàng đó nắm giữ thay vì cầm cố bất động sản hay động sản nhƣ trƣớc đây.
Hoạt động này giúp ngân hàng tăng dƣ nợ cho vay một cách an toàn vì cổ phiếu có
tính thanh khoản cao hơn các tài sản kể trên. Ngoài ra, nghiệp vụ này đƣợc thực
hiện còn nhằm đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng, phân tán rủi ro và tăng thu nhập
ổn định cho ngân hàng.
Hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu không chỉ có đem lại lợi nhuận cho các
NHTM mà còn tác động tích cực tới sự phát triển của TTCK. Nhờ nghiệp vụ này
của các NHTM, ngƣời sở hữu chứng khoán có thể dùng khoản chứng khoán của
mình thế chấp ở ngân hàng và vay vốn để lại tiếp tục đầu tƣ vào chứng khoán, vốn
của họ không bị ứ đọng mà luôn đƣợc linh hoạt luân chuyển. Điều này làm cho tốc

độ chu chuyển vốn của toàn xã hội tăng lên và làm tăng khả năng cầu về chứng
khoán của các nhà đầu tƣ cả trên thị trƣờng tập trung cũng nhƣ trên thị trƣờng OTC.
Từ đó, hoạt động cho vay cầm cố chứng khoán của NHTM có tác dụng kích thích
tăng trƣởng giao dịch chứng khoán trên TTCK.
1.5. Hoạt động ngân hàng giám sát
Bên cạnh các hoạt động trên, các NHTM còn trực tiếp thực hiện nghiệp vụ
ngân hàng giám sát cho các quỹ đầu tƣ chứng khoán.
Để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tƣ, mỗi quỹ đầu tƣ công chúng khi thành
lập và đi vào hoạt động đều phải đƣợc giám sát bởi một ngân hàng độc lập với công
ty quản lý quỹ. Ngoài việc lƣu giữ toàn bộ tài sản của quỹ, ngân hàng giám sát có
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 17 -
trách nhiệm kiểm tra, giám sát thƣờng xuyên để đảm bảo hoạt động của công ty
quản lý quỹ là phù hợp với quy định của pháp luật và điêù lệ quỹ. Mọi hoạt động
thu chi của quỹ đều phải thực hiện qua ngân hàng giám sát.
Hoạt động của các NHTM trên TTCK không chỉ bó hẹp ở những nghiệp vụ
mà ngân hàng đƣợc trực tiếp thực hiện, mà họ còn mở rộng hoạt động của mình
bằng cách thành lập CTCK độc lập để đƣợc tham gia vào những nghiệp vụ khác
trên thị trƣờng.
2. Những hoạt động NHTM gián tiếp thực hiện trên TTCK
2.1. Hoạt động kinh doanh chứng khoán
Hoạt động đầu tƣ chứng khoán của các NHTM thông qua các CTCK tập
trung chủ yếu vào các chứng khoán đƣợc giao dịch trên thị trƣờng tập trung có tính
thanh khoản thấp hơn và đầu tƣ trong thời hạn dài hơn.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các NHTM ngày càng phát triển. Sự
phát triển của TTCK cùng với sự xuất hiện đa dạng các công cụ chứng khoán phái
sinh nâng cao khả năng đầu tƣ chứng khoán của các NHTM. Và sự tham gia của các
NHTM làm tăng tính chuyên nghiệp của hoạt động đầu tƣ chứng khoán và tăng tính
sôi động của thị trƣờng.

Hoạt động đầu tƣ chứng khoán của các NHTM không chỉ vì mục đích tìm
kiếm lợi nhuận qua việc tăng giá các chứng khoán trên thị trƣờng mà còn vì mục
đích thôn tính và sáp nhập. Lịch sử đã ghi nhận sự bành trƣớng thế lực của các
NHTM hàng đầu trên thế giới, nhƣ việc bành trƣớng vào lĩnh vực bảo hiểm và môi
giới chứng khoán của các ngân hàng Mỹ, qua việc thâu tóm các doanh nghiệp loại
này để hình thành các công ty sở hữu ngân hàng (Bank Holding Company), hay
việc hợp nhất của các ngân hàng để tạo nên các tập đoàn tài chính lớn
2
.
Tuy nhiên, nhiều nhà chính sách lo ngại, hoạt động kinh doanh chứng khoán
của các NHTM tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà nếu chúng xảy ra không chỉ tác động xấu
đối với bản thân các NHTM mà còn ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khoẻ của nền kinh
tế. Thực tế đã cho thấy, sự sụt giảm liên tục giá cổ phiếu sau nửa cuối năm 1930 đã
dẫn đến sự sụp đổ của 1/3 số ngân hàng trong thời kỳ Đại suy thoái 1929-1933 ở

2
Trần Đăng Khâm (2002), Giải pháp thúc đẩy sự tham gia…, tài liệu đã dẫn, t.35.
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 18 -
Mỹ
3
. Chính vì vậy, bản thân nƣớc Mỹ sau đó và nhiều nƣớc khác đã hạn chế hoạt
động kinh doanh chứng khoán của các NHTM và xây dựng các quy chế chặt chẽ về
hoạt động đầu tƣ của các ngân hàng.
2.2. Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán
Tại một số thị trƣờng tài chính lớn trên thế giới, các trung gian tài chính,
trong đó có các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trƣờng trái phiếu với tƣ cách
là đại lý, bảo lãnh phát hành. NhƣngTTCK là nơi chứa đựng nhiều rủi ro. Do lo
ngại sự bất ổn định của TTCK có thể tác động xấu cho hoạt động của các NHTM

cũng nhƣ cho nền kinh tế quốc gian nên luật pháp nhiều nƣớc đã giới hạn hoạt động
này của các NHTM. Các ngân hàng chỉ đƣợc phép thực hiện bảo lãnh phát hành đối
với những chứng khoán có tính thanh khoản cao nhƣ trái phiếu Chính phủ. Còn hoạt
động bảo lãnh phát hành đối với những chứng khoán có chất lƣợng thấp hơn nhƣ
trái phiếu và cổ phiếu công ty thì do các CTCK, công ty con của các NHTM, đảm
nhận.
Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán là một nghiệp vụ đầy rủi ro
nhƣng cũng mang lại lợi nhuận lớn cho các ngân hàng. Cơ sở để các NHTM có thể
thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán bắt nguồn từ vị thế là trung
gian tài chính của ngân hàng. Một trong những phƣơng thức đƣợc các doanh nghiệp
sử dụng để huy động vốn của khi có nhu cầu là phát hành chứng khoán. Doanh
nghiệp có thể tự đảm nhiệm việc phát hành chứng khoán, song trong trƣờng hợp
này doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn,
doanh nghiệp phải tự thực hiện các công việc trƣớc khi phát hành nhƣ nghiên cứu,
phân tích thị trƣờng để xác định khả năng huy động vốn, lựa chọn công cụ huy động
vốn, làm các hồ sơ giấy tờ và các thủ tục xin phép phát hành. Để thực hiện các công
việc này, đòi hỏi doanh nghiệp rất nhiều thời gian và chi phí. Ngoài ra, doanh
nghiệp có thể phải đối mặt với rủi ro không huy động đủ vốn, thậm chí doanh
nghiệp có thể bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh khi thời gian huy động vốn kéo dài. Hơn

3
Frederic S. Mishkin (1995), Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học & kỹ thuật, t 234,
Hà Nội.
Chương 1- Hoạt động của các NHTM trên TTCK
Sự tham gia của các NHTM trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam
- 19 -
nữa, luật pháp nhiều nƣớc quy định, doanh nghiệp khi phát hành chứng khoán bắt
buộc phải thực hiện qua hình thức bảo lãnh hoặc đại lý phát hành.
Bởi vậy, các NHTM với lợi thế chuyên môn hoá có thể dễ dàng hỗ trợ cho
các doanh nghiệp thực hiện các công việc trƣớc khi phát hành với chi phí thấp, và tƣ

vấn cho doanh nghiệp về các yếu tố pháp lý và kỹ thuật. Đồng thời, các NHTM còn
hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành chứng khoán, đảm bảo cho việc huy động
vốn của doanh nghiệp nhƣ bao tiêu chứng khoán của doanh nghiệp đó, cam kết sẽ
mua lại tất cả số chứng khoán, sau đó, bán lại cho nhà đầu tƣ. Với sự giúp đỡ của
các NHTM, hoạt động phát hành chứng khoán của doanh nghiệp đƣợc thực hiện
hiệu quả hơn.
Trong hình thức đại lý, bảo lãnh phát hành, tổ chức cung cấp các dịch vụ này
đƣợc nhận một mức phí nhất định. Phí này thƣờng đƣợc xác định bằng một tỷ lệ %
trên khối lƣợng chứng khoán đƣợc phân phối. Tỷ lệ này phụ thuộc vào quy định của
pháp luật, vào tính chất của đợt phát hành, loại hình bảo lãnh và phụ thuộc quan hệ
giữa tổ chức phát hành với tổ chức bảo lãnh. Nói chung, phí bảo lãnh phát hành có
thể thay đổi từ một vài % với hơn 10% lƣợng vốn huy động.
Các trung gian tài chính thƣờng kết hợp với nhau tạo nên một tập đoàn bảo
lãnh phát hành chứng khoán, trong đó, một trung gian tài chính đóng vai trò tổ chức
đầu mối. Việc thành lập các tập đoàn bảo lãnh phát hành sẽ giúp các tổ chức bảo
lãnh san sẻ rủi ro, tận dụng lợi thế của các thành viên và có thể bảo lãnh phát hành
lƣợng chứng khoán vƣợt quá khả năng cho phép của một tổ chức phát hành.
Trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng cho phép các NHTM đƣợc thực
hiện hoạt động bảo lãnh phát hành. Chẳng hạn, ở Đức, các NHTM đƣợc phép tham
gia kinh doanh chứng khoán và nhƣ vậy, các ngân hàng cũng đƣợc thực hiện nghiệp
vụ bảo lãnh phát hành. Trong khi đó, ở nhiều nƣớc khác, các NHTM không đƣợc
thực hiện nghiệp vụ này. ở Mỹ, theo Luật Glass-Steagall 1933, các NHTM chỉ đƣợc
phép tham gia bảo lãnh phát hành chứng khoán do Chính phủ hoặc chính quyền địa
phƣơng phát hành. Đến những năm 80, một số NHTM lớn của Mỹ đã đƣợc FED
cho phép thực hiện nghiệp vụ trên đối với các chứng khoán có độ rủi ro cao hơn
nhƣ chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành. J.P Morgan là ngân hàng đầu tiên

×