Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Phân tích, cho ví dụ minh họa để làm rõ dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.29 KB, 11 trang )

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1
NỘI DUNG...................................................................................................................1
Chương I. lý luận chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.......................................1

1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản...............................................................1
2. Đặc điểm của tội danh............................................................................................2
Chương II. Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.............................2
1. Khách thể của tội phạm..........................................................................................2
2. Mặt khách quan của tội phạm................................................................................3

2.1. Hành vi khách quan........................................................................................4
2.2. Hậu quả thiệt hại và mối quan hệ nhân quả...................................................5
3. Chủ thể của tội phạm.............................................................................................5
4. Mặt chủ quan của tội phạm....................................................................................6
4.1. Dấu hiệu lỗi....................................................................................................6
4.2. Dấu hiệu động cơ, mục đích...........................................................................7
5. Khung hình phạt.....................................................................................................7
Chương III. Đánh giá tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS.....8
1. Nhận xét và nêu kiến nghị hoàn thiện....................................................................8
2. Ý nghĩa của tội danh..............................................................................................8
KẾT LUẬN................................................................................................................... 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................9
PHỤ LỤC...................................................................................................................10

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật hình sự BLHS
Cấu thành tội phạm CTTP
Năng lực trách nhiệm pháp luật NLTNPL


Bộ luật dân sự BLDS
Trách nhiệm hình sự TNHS
Năng lực trách nhiệm hình sự NLTNHS
Năng lực hành vi dân sự NLHVDS

MỞ ĐẦU
Cơng cuộc đấu tranh phịng chống tội phạm, bảo đất nước luôn là nhiệm vụ hàng
đầu của Đảng và nhà nước ta. Chính vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ đó nhà nước ta
đã ban hành các đạo luật quan trọng để điều chinh, và luật hình sự là một trong những
công cụ đắc lực nhất. Thế nhưng, trong những năm gần đây tình hình tội phạm ở nước
ta đang có xu hướng gia tăng về cả số lượng, thủ đoạn lẫn quy mô. Diễn biến phức tạp
nhất là ở nhóm các tội xâm phạm sở hữu, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội
danh này đang trở thành nỗi lo của nhiều người, gây mất trật tự an tồn xã hội. Chính
vì vậy nghiên cứu về tội danh này khơng chỉ có ý nghĩa lý luận mà cịn có ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc. Đó chính là lý do em chọn đề tài “Phân tích, cho ví dụ minh họa để làm
rõ dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật
Hình sự năm 2015” để làm bài tiểu luận thi kết thúc học phần của mình.

NỘI DUNG
Chương I. lý luận chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 của BLHS. Điều
luật được xây dựng với 05 khoản, với các điểm, qua đó điều luật đã quy định chi tiết
các dấu hiệu pháp lí, các khung hình phạt. Điều luật là kết tinh của kinh nghiệm thực
tiễn và kỹ năng lập pháp, qua đó giúp của mọi người hiểu và nắm bắt được quy định
của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vậy như thế nào là lửa đào chiếm đoạt
tài sản? Tội danh này được quy định ra sao trong BLHS Việt Nam?
1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động như hiện nay, thì tình trạng lừa đảo

chiếm đoạt tài sản diễn ra rất phổ biến và ngày càng tinh vi. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản được quy định tại chương các tội xâm phạm sở hữu. “Các tội xâm phạm sở hữu”
được quy định tại chương XVI của BLHS năm 2015, gồm 13 Điều, từ Điều 168 đến
Điều 180. Và giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường đại học Luật Hà Nội đã đưa
ra khái niệm của nhóm tội này như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi
có lỗi, xâm hại quan hệ sỡ hữu và sự xâm hại này thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi”. Cũng theo giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường đại
học Luật Hà Nội, thì nhóm các tội xâm phạm sở hữu này sẽ được chia thành 02 nhóm,
dựa vào tính chất của mục đích phạm tội. Đó là nhóm các tội có mục đích tư lợi gồm
10 tội danh đầu, và nhóm các tội khơng có mục đích tư lợi gồm các tội danh cịn lại.
Nhóm các tội có mục đích tư lợi lại được chia thành 02 nhóm, đó là nhóm có tính
chiếm đoạt gồm 08 tội đầu và nhóm khơng có tính chiếm đoạt gồm 02 tội còn lại.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt. Theo đó, nhóm tội này được hiểu:“Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
là những tội xâm phạm sở hữu vằng việc chiếm đoạt do vậy trong CTTP của những tội

1

này có dấu hiệu chiếm đoạt”1. Do vậy, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải
phù hợp với quy định chung về tội xâm phạm sở hữu nhưng cũng phải đảm bảo mang
tính đặc thù riêng của tội danh. Theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015: “Người nào
bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác...”. Như vậy, ta có thể hiểu
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội xâm phạm sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản
của người khác, người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thơng
tin sai sự thật bằng lời nói hoặc hành động khiến người có tài sản hoặc người có trách
nhiệm trông dữ tài sản tin nhầm, tưởng là thật, tự nguyên giao tài sản.

Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt, được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối”.
2. Đặc điểm của tội danh

Mặc dù được quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu, nhưng tội lừa đảo
chiến đoạt tài sản là một tội riêng, được quy định độc lập tại Điều 174 nên tôi danh này
sẽ có các đặc điểm riêng biệt, bao gồm:

Thứ nhất: Người thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội - đó là hành
vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.

Thứ hai: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Vì hơn hết người phạm tội
nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn
hậu quả xảy ra.

Thứ ba: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối của người phạm tội nhằm mục đích chiếm
đoạt đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác

Cuối cùng: Chủ thể là chủ thể thường, do người có NLTNPL thực hiện.
Chương II. Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam, phải là hành vi của con người. Những gì
mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngồi bằng hành vi thì khơng thể là tội
phạm. Và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng vậy, một người chỉ bị xử lí về tội này khi
đảm bảo các yếu tố trên. Để có cái nhìn bao quát hơn về tội danh này cần phải nghiên
cứu các dấu hiệu pháp lí của nó. Theo luật Hình sự Việt Nam, dấu hiệu pháp lí của một
tội danh bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm.
1. Khách thể của tội phạm

Trong luật hình sự, đối tượng bị tội phạm hướng tới gây thiệt hại được gọi là khách
thể của tội phạm. Có nhiều quan điểm khác nhau về khách thể của tội phạm, nhưng

trên cơ sở Điều 8 BLHS năm 2015 quy định về khái niệm tội phạm thì giáo trình luật
hình sự Việt Nam của trường đại học Luật Hà Nội đã đưa ra định nghĩa khách thể của
tội phạm như sau: “khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

1 Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, quyển 1, phần các tội phạm, tr.186

2

và bị tội phạm xâm hại”.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong chương XVI các tội xâm phạm

sở hữu nên khách thể của tội danh này là:“Quan hệ sở hữu”. Quan hệ sở hữu là quan
hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và
bảo vệ, nên hành vi xâm hại đến quan hệ sở hữu là những hành vi xâm hại đến quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu2. Do đặc điểm của tội danh này
không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt nên
tội này chỉ xâm phạm đến một khách thể duy nhất là quan hệ sở hữu. Đây là dấu hiệu
phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội khác như: tội cướp giật tài sản,
tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản...
Ví dụ: Tội cướp giật tài sản ngồi khách thể là “quan hệ sợ hữu”, thì trong tội danh
này cịn quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt nên
nó cịn xâm phạm đến khách thể khác được luật hình sự bảo vệ là “quan hệ nhân
thân”. Còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xâm phạm đến “quan hệ sở hữu”.
 Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Như mọi hành vi phạm tội khác, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng có đối tượng
tác động cụ thể. Đó là “tài sản”, theo Điều 105 BLDS năm 2015 thì tài sản bao gồm:
vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản. Tài sản luôn là đối tượng tác động của tội này,
nhưng những tài sản đó trước hết phải có giá trị sử dụng, phải thuộc về một chủ sở hữu
hợp pháp, và có thể thực hiện được các giao dịch thông thường theo quy định của pháp

luật như: mua, bán, trao đổi...Tóm lại tài sản là đối tượng tác động của tội này phải
được thể hiện dưới dạng vật chất. Giấy tờ có giá vẫn có thể là đối tượng tác động của
tội này, ví dụ: hóa đơn lĩnh hàng...

Tuy nhiên cần lưu ý một số tài sản sau không thể là đối tượng tác động của tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản, như: Thứ nhất, một số vật có tính chất và cơng dụng đặc biệt.
Ví dụ: hệ thống thơng tin liên lạc, vũ khí qn dụng. Thứ hai, vật khơng có giá trị sử
dụng. Ví dụ: vật bị hư hỏng khơng thể sửa chữa. Thứ ba, tài sản vô chủ và tài sản chôn
cùng người chết. Thứ tư, vật khi khơng cịn là tài sản vì đã bị chủ tài sản hủy bỏ. Ví
dụ: gia cầm bị dịch bệnh đã bị chôn.

Pháp luật luôn bảo vệ tài sản hợp pháp của công dân. Mọi hành vi xâm phạm quyền
sở hữu của cơng dân đều bị xử lí, tuy nhiên khơng phải những hành vi xâm phạm tài
sản bất hợp pháp không phải là tội phạm. Trong những trường hợp nhất định, hành vi
đó vẫn cấu thành tội danh được quy định tại Điều 174 này.
2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi khách quan, hậu quả thiệt hại, các
biểu hiện khác. Do vậy, mặt khách quan của tội phạm được hiểu là: “Mặt bên ngồi

2 Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, quyển 1, phần các tội phạm, tr.180

3

của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài
thế giới khách quan”3. Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng vậy,
cũng được xây dựng với những yếu tố trên, mang những đặc trưng nhất định.
2.1. Hành vi khách quan

“Hành vi khách quan là biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan

dưới hình thức cụ thể nhằm đạt mục đích có chủ định”. Trong mặt khách quan của tội
phạm, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất, là tiền đề tiên quyết cho các dấu
hiệu khác. Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm: hành vi
“chiếm đoạt” và hành vi “lừa dối”.

Hành vi lừa dối: là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật để người khác
tin đó là sự thật. Hành vi này có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như
bằng lời nói, hành động hoặc những hành động khác(đưa sai, đếm thiếu...) nhằm đưa
ra những thơng tin khơng chính xác khiến cho chủ sở hữu, hoặc người quản lí tin đó là
sự thật và tự nguyên trao tài sản. Khi giao tài sản chủ sở hữu không biết bị lừa dối. Về
mặt chủ quan thì người phạm tội nhận thức được đó là thơng tin giả nhưng mong
người khác tin đó là sự thật, đây là hành động có mục đích của người phạm tội Ví dụ:
A dùng thơng tin giả để lừa dối B trúng thưởng chiếc xe máy SH và bảo chị B đưa 20
triệu để làm thủ tục, khi nào có xe sẽ hồn trả. Chị B tin tưởng và đưa A 20 triệu. Như
vậy trong trường hợp này A đã dùng những lời nói để lừa dối B, khiến cho B tin những
lời A nói là thật.
Lưu ý: - đôi khi tội phạm dùng thủ đoạn gian dối nhưng không bị xét xử về tội theo
Điều 174 này mà bị xét xử theo tội khác. Ví dụ: hành vi lừa dối cân, đong, đo thiếu
trong bán hàng sẽ cấu thành tội lừa dối khách hàng.
- một người thực hiện hành vi gian dối nhưng chủ sở hữu phát hiện và khơng giao tài
sản, sau đó người này dùng vũ lực để cướp tài sản. Trường hợp này sẽ khơng cấu
thành tội này. Ví dụ: A dùng thủ đoạn gian dối lừa B chiếc vòng, sau đó B phát hiện và
khơng đưa, A dùng vũ lực đánh B để cướp. Hành vi của A sẽ cấu thành tội cướp tài
sản

Hành vi chiếm đoạt: là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái phép tài sản của
người khác thành tài sản của mình. Đó là hành vi là cho chủ sở hữu mất khả năng thực
tế thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Hành vi chiếm
đoạt của tội này có hai hình thức thể hiện cụ thể:


Thứ nhất: nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì
hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa
dối. Vì đã tin vào thơng tin mà người phạm tội cung cấp. Khi người phạm tội nhận
được tài sản cũng là lúc tội phạm hoàn thành. Ví dụ: A là chủ sở hữu của chiếc xe

3 Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phàn chung, đại học Luật Hà Nội, tr.116

4

máy. Khi đi trên đường B xin đi nhờ, đi được một đoạn, B nói với A là mượn xe để
quay lại lấy chiếc balo bỏ quyên, A tưởng thật và đưa xe, sau đó B chiếm đoạt xe.
Trong tình huống tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiễm hữu của chủ tài sản, cụ thể
là A

Thứ hai: nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì
hình thức thể hiẹn của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao
cho người bị lừa dối. Vì đã tin tưởng mà nhận nhầm, nhận thiếu, không nhận tài sản từ
người phạm tội. Tội phạm hoàn thành tại thời điểm chủ sở hữu nhận nhầm, khơng
nhận, nhận thiếu tài sản. Ví dụ: A là nhân viên giao hàng của B. Một hôm A nhận việc
từ B là giao một chuyến hàng với tổng tiền hàng là 50 triệu. Sau khi giao xong A đã
lợi dụng khả năng ăn nói của mình nói chuyện với B, trong lúc mải nói chuyện và trả
lời câu hỏi của A, B đã nhận tiền hàng và kí vào xác nhận trả tiền hàng A đưa. Một lúc
sau B đếm lại mới biết A đã chiếm đoạt của mình 10 triệu. Trong tình huống này tài
sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội là A
2.2. Hậu quả thiệt hại và mối quan hệ nhân quả

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có CTTP vật chất, nên dấu hiệu hậu quả có quy
định trong CTTP. Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản cụ
thể bị chiếm đoạt. Khoản 1 Điều 174 quy định: “... trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới
50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp

sau đây...”. Theo đó nếu tài sản chiếm đoạt trên 2 triệu sẽ cấu thành tội này, còn nếu
tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu ta còn phải căn cứ vào quy định tại các điểm a, b, c,
d của khoản 1 Điều 174. Ngoài hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt thì hành vi
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn gây hậu quả xấu cho xã hội, cho quan hệ sở
hữu và an ninh, trật tự đất nước.

Cũng như những tội có cấu thành vật chất khác, hậu quả và hành vi khách quan của
tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hậu quả thiệt hại về tài sản phải được
xuất phát từ hành vi lừa dối. Nếu việc thiệt hại về tài sản từ nguyên nhân khác thì sẽ
dựa vào những dấu hiệu khách quan để xác định xem có dấu hiệu của tội phạm khơng
và được pháp luật điều chỉnh như thế nào.
3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể là một trong bốn dấu hiệu của CTTP. Chủ thể của tội phạm là con người
cụ thể, nhưng khơng phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện
hành vi được quy định trong luật hình sự, mà những người đó phải cịn sống, có lỗi, và
đạt độ tuổi luật định. Như vậy chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực lỗi và
đạt độ tuổi chịu TNHS. Người thỏa mãn hai điều kiện trên được coi là người có
NLTNHS4. Trong đó năng lực lỗi là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành

4 Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phàn chung, đại học Luật Hà Nội, tr.141

5

vi và năng lực điều khiển hành vi. Từ đó giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường
đại học Luật Hà Nội đã đưa ra định nghĩa chủ thể của tội phạm: “chủ thể của tội phạm
là người có NLTNHS bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo
đòi hỏi của xã hội và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định khi thực hiện hành vi phạm
tội”. Sở dĩ luật hình sự quy định chủ thể của tội phải là người có NLTNHS vì những
người đó khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ nhận thức được hành vi của

mình là nguy hiểm, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến xã hội những họ vẫn thực hiện và mong
muốn hậu quả xấu đó xảy ra.

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường, tức là những người
có NLTNHS, đạt độ tuổi luật định. Theo khoản 1 Điều 12 BLHS: “Người từ đủ 16
tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm”, như vậy ta có thể thấy những người từ
đủ 16 tuổi trở lên, có NLTNHS đầy đủ thì đều có khả năng trở thành chủ thể của tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ví dụ: M(17 tuổi) lừa đảo chiếm đoạt tài sản của A 5 triệu
đồng, do vậy căn cứ theo quy định của pháp luật, M hoàn toàn có thể trở thành chủ thể
của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Do chủ thể của tội này là chủ thể thường nên khơng có trường hợp ngoại lệ. Và
cũng theo quy định của Điều 12 thì những người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi cũng không
thể là chủ thể của tội này, vấn đề truy cứu TNHS cũng không đặt ra với người khơng
có NLHVDS. Ví dụ: A (15 tuổi ) tuổi dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt của
anh B 3 triệu đồng. Nhưng do A mới 15 tuổi nên sẽ không phải là chủ thể của tội này.

Khi xác định chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng cần chú ý đến các yếu
tố nhân thân của người phạm tội, điều này có ý nghĩa trong việc xác định mức phạt
cũng như là có các biện pháp phịng chống hiệu quả.
4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan. Mặt khách quan là
những biểu hiện ra bên ngồi, cịn mặt chủ quan là những hoạt động tâm lí bên trong.
Cũng giống như các yếu tố khác, mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng,
bởi vì hoạt động tâm lí bên trong của người phạm tội ln gắn liền với các biểu hiện ra
bên ngồi. Nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm, phải nghiên cứu dấu hiệu “lỗi”.
Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu trong CTTP . Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có
lỗi cố ý nên ngồi dấu hiệu lỗi, thì mặt chủ quan của tội phạm còn thể hiện mục đích
và động cơ phạm tội.

4.1. Dấu hiệu lỗi

Một trong những nguyên tắc đặc thù của luật hình sự là “ngun tắc có lỗi”. Một
người chỉ bị coi là có lỗi trong trường hợp có khả năng xử sự phù hợp với đòi hỏi của
xã hội nhưng chủ thể đó đã khơng lựa chọn khả năng này. Căn cứ vào mặt hình thức
của lỗi giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường đại học Luật Hà Nội đã đưa ra định

6

nghĩa của lỗi: “lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi có tính gây thiệt hại
cho xã hội của mình và dối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình
thức cố ý hoặc vơ ý” . Lỗi được chia thành hai loại - cố ý và vô ý. Lỗi cố ý gồm, cố ý
trực tiếp và cố ý gián tiếp. Lỗi vơ ý gồm, vơ ý vì q tự tin và vơ ý vì cẩu thả. Ví dụ:
Tội cướp tài sản là lỗi cố ý; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản có lỗi vơ ý.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tài Điều 174 của BLHS, tuy điều luật
không nêu rõ dấu hiệu lỗi của người phạm tội. Nhưng xét theo bẩn chất và tính chất
của hành vi lừa chảo chiếm đoạt tài sản, thì tội này có lỗi “cố ý trực tiếp”, nghĩa là,
người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Lỗi cố ý
trực tiếp của tội này được thể hiện dưới hai yếu tố lí trí và ý chí.

Về lí trí: Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhận thức rõ tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của mình và thấy
trước hậu quả thiệt hại cuẩ hành vi đó.

Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả thiệt hại phát sinh. Đó là mong
muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác
4.2. Dấu hiệu động cơ, mục đích


“Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành
vi phạm tội cố ý”. Động cơ phạm tội có thể được mơ tả trong CTTP hoặc khơng bởi vì
nó khơng có ý nghĩa quyết định đến tính chất nguy hiểm của tội phạm. Tuy nhiên ở
các tội cố lỗi cố ý thì đều có dấu hiệu đơng cơ. Ví dụ, động cơ của tội tội sử dụng trái
phép tài sản người phạm tội là vụ lợi...Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người
phạm tội thực hiện có thể vì nhiều động cơ khác nhau. Ví dụ: vì động cơ tham lam, sở
thích, muốn có tiền để tiêu xài...nhưng tựu chung lại là vị động cơ tư lợi.

“Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra
phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội cố ý(trực tiếp)”. Mục đích bao giờ cũng
có trước khi thực hiện hành vi phạm tội, và ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng vâyh.
Mục đích của tội này là mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác. Ví dụ:
chị A thấy em gái của mình có một chiếc vịng tay rất đẹp và chị rất thích. Xuất phát từ
mục đích muốn chiếm đoạt chiếc vịng tay đó của em gái mình nên chị đã mượn và lừa
là làm mất chiếc vịng đó, nhưng thực ra chị đã giấu chiếc vịng đó đi.
5. Khung hình phạt

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định năm mức hình phạt chính và một hình phạt
bổ sung. Mức phạt thấp nhất cải tạo khơng giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06
tháng đến 03 năm. Mức phạt cao nhất lến đến 20 năm tù hoặc chung thân. Ngoài ra,
người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu cho đến 100 triệu.
Có một lưu ý là tội này khơng quy định hình phạt tử hình

7

Chương III. Đánh giá tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS
1. Nhận xét và nêu kiến nghị hoàn thiện

Điều luật đã quy định chi tiết các dấu hiệu pháp lí về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đã xây dựng khung hình phạt với các tình tiết tương đối phù hợp. Có nhiều đóng góp

trong hoạt động răn đe, trừng trị tội phạm. Tuy nhiên việc quy định tội danh này vẫn
còn một số hạn chế như: thủ đoan gian dối còn dễ nhầm lẫn với các tội khác cùng
chương, việc quy định truy cứu TNHS của pháp nhân còn nhiều bất cập, quy định về
tịch thu tài sản lừa đảo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Đề hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật. Các nhà lập pháp phải nghiên cứu hoàn
thiện điều luật này. Cần nghiên cứu quy định thêm hình phạt tử hình nhằm tăng tính
răn đe triệt để do hiện nay số tiền lừa đảo ngày càng lớn, có những vụ lến đến hàng
trăm tỉ đồng. Quy định chi tiết sự khác biệt về thủ đoạn “gian dối” giũa tội này với một
số tội khác cũng có thủ đoạn này. Hồn thiện hơn các dấu hiệu về lửa đảo cơng nghệ
cao như: lừa đảo trên internet, lừa đảo thông qua ngân hàng tín dụng...
2. Ý nghĩa của tội danh

Xuyên suốt các BLHS qua từng thời kì, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ln là một
tội danh được quan tâm hàng đầu và được quy định trong BLHS. Việc quy định tội
danh này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Thứ nhất, việc quy định tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản là cơ sở pháp lí trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến tội
danh. Qua đó giúp cho cơng tác phòng và chống tội phạm được thuận tiện hơn, đảm
bảo cơng bằng, khơng bỏ sót tội phạm. Thứ hai, việc quy định tội danh còn lại cơ sở để
xác giới hạn phải chịu TNHS. Điều 174 đã quy định chi tiết các dấu hiệu pháp lí của
tội danh và khung hình phát ở 05 khoản, đảm bảo cung cấp đủ lượng tri thức, cơ sở
pháp lí cho hoạt động tố tụng. Cuối cùng, điều luật mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc,
nhờ có điều luật mà quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân được bảo vệ vững chắc
hơn.

KẾT LUẬN
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội phổ biến ở nước ta, với những diễn biến
nghiêm trọng. Nghiên cứu dấu hiệu pháp lí của điều luật giúp ta có cái nhìn rõ hơn về
tội danh này qua đó giúp ta có nhận thức và áp dụng điều luật đúng đắn,góp phần nâng
cao trách nhiệm của mọi người trong hoạt đồng phòng, chống tội phạm. Xây dựng một

xã hội thực sự ổn định, văn minh, nơi mà tội phạm không có điều kiện phát triển

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách vở, báo chí, luật
1. Bộ luật hình sự năm 2015
2. Bộ luật hình sự năm 1999
3. Bộ luật dân sự năm 2015

8

4. Giáo trình luật hình sự Việt Nam, quyền 1, trường đại học Luật Hà Nội
5. Giáo trình luật hình sự Việt Nam, phần chung, trường đại học Luật Hà Nội
6. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam - trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định, Nguyễn Tiến Dũng, luận văn thạc sỹ luật học
7. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở xét xử số
liệu địa bàn thành phố Đà Nẵng), Ngô Thị Hạnh, luận văn thạc sĩ luật học

Internet
8. Bình luận tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Điều 174 BLHS năm 2015,
o/2018/08/binh-luan-toi-lua-dao-chiem-doat-tai-
san.html
9. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất, luật Minh Khuê,
/>10. Một số dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đoàn luật sư TP.HCM,
/>lua-dao-chiem-doat-tai-san-1029/
11. Quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, />lua-dao-chiem-doat-tai-san-va-bi-xu-ly-ra-sao/?lang=vi
12. Thủ đoạn gian dối trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thư viện bản án,
/>dao-chiem-doat-tai-san-va-toi-cuop-giat-tai-san-5090
13. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam - lý luận và thực
tiễn, tạp chí tịa án nhân dân, />chiem-doat-tai-san-theo-phap-luat-hinh-su-viet-nam-ly-luan-va-thuc-tien


9


×