Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (8.25 MB, 59 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Nguyễn Thị Thu Trang (Nhóm trưởng)
QHQT49-C1-1456
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>MỤC LỤC</b>
<b>PHẦN 1. KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC</b>
I. Khái niệm
1. Theo một số quan điểm của một số nhà triết học nổi tiếng:
2. Theo quan điểm của Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa triết học Mác Lênin: 3. Hình thái Nhà nước và bản chất của Nhà nước:
a. 4 kiểu nhà nước đã được hình thành cho đến nay: b. 2 bản chất của Nhà nước:
4. Hiểu theo định nghĩa của pháp luật: 5. Bộ máy nhà nước:
II. Nguồn gốc của Nhà nước
<b>PHẦN 2: CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ MỖI QUỐC GIA</b>
I. Khái niệm
II. Phân loại chức năng nhà nước
1. Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, chức năng của nhà nước được phân thành các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại:
2. Căn cứ vào hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực xã hội, chức năng của nhà nước được phân theo từng lĩnh vực cụ thể.
III. Chức năng của nhà nước qua các kiểu nhà nước
<b>PHẦN 3: PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC VÀ THỐNG NHẤT TẬP TRUNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC</b>
I. Phân chia quyền lực Nhà nước (Nguyên tắc Phân quyền) II. Thống nhất tập trung quyền lực Nhà nước (Nguyên tắc Tập quyền) III. Vấn đề phân quyền và tập quyền trong thế giới đương đại
<b>PHẦN 4: PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC (ANH, PHÁP, MỸ)</b>
<b>I. Khái quát về hệ thống chính trị và sự phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nướcVương Quốc Anh</b> b.4. Hệ thống cơ quan tư pháp
c. Ưu điểm và nhược điểm của mơ hình nhà nước
<b>II. Khái quát về hệ thống chính trị và sự phân chia quyền lực Nhà nước Cộng hòa Pháp</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">b.1. Hệ thống cơ quan hành pháp b.2. Hệ thống cơ quan lập pháp b.3. Hệ thống cơ quan tư pháp
c. Ưu điểm và nhược điểm của mơ hình nhà nước
<b>III. Khái qt về hệ thống chính trị và sự phân chia quyền lực ở Mỹ</b>
A. Phân chia quyền lực theo chiều ngang ở Mỹ: 1. Các nguyên tắc của học thuyết phân chia quyền lực:
a. Nguyên tắc ba bộ phận của nhà nước có nguồn gốc hình thành khác nhau a.1 Nghị viện (Quốc hội):
a.2 Tổng thống:
a.3 Pháp viện tối cao (Tòa án tối cao):
b. Nguyên tắc ba bộ phận của nhà nước có nhiệm kỳ khác nhau b.1 Nghị viện (Quốc hội):
b.2 Tổng thống:
b.3 Pháp viện tối cao (Tòa án tối cao):
c. Nguyên tắc ba bộ phận của nhà nước có sự độc lập và kiềm chế lẫn nhau c.1 Hoạt động độc lập của ba bộ phận của nhà nước
c.2 Sự kiềm chế và đối trọng quyền lực giữa ba bộ phận của nhà nước
B. Phân chia quyền lực theo chiều dọc ở Mỹ: 1. Đặc điểm của một nhà nước Liên bang 2. Mỹ là một nhà nước Liên bang: C. Giải quyết vấn đề (chưa nhỉ?)
a. Hạn chế của mơ hình Tam quyền phân lập ở Mĩ: b. Những lần mô hình Tam quyền phân lập bộc lộ hạn chế
1. Trắc trở đạo luật Obama Care
2. Cựu tổng thống Mỹ Donald Trump 'đấu' với lưpng viện về đạo luật chi tiêu quốc phịng
3. Chính phủ Mỹ trước nguy cơ đóng cửa
<b>PHẦN 5. THỐNG NHẤT TẬP TRUNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC</b>
I. Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam II. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Đối với khái niệm về nhà nước, ta có nhiều cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau, với mỗi cách hướng đến một ý nghĩa riêng, hay để phục vụ cho một mục tiêu, một nhiệm vụ nghiên cứu riêng nào đó.
Khi nghiên cứu về nguồn gốc nhà nước, F. Engels đã từng cho rằng Nhà nước là một sản phẩm của xã hội khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định nào đấy, đã xuất hiện sự phân chia giai cấp và hình thành mâu thuẫn giai cấp. Là tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị về mặt kinh tế thành lập, nhà nước sinh ra nhằm thực hiện quyền lực chính trị, làm giảm bớt và ổn định các xung đột giai cấp.
Với bản chất về giai cấp, khái niệm nhà nước chỉ thực sự biết đến khi bắt đầu tồn tại sự phân chia giai cấp trong xã hội, và giai cấp nào sẽ quyết định loại hình nhà nước như vậy. Giai cấp thống trị thành lập nên nhà nước với mục đích duy trì quyền trị vì, khẳng định quyền lực và bảo vệ quyền lợi cho giai cấp.
<b>b. 2 bản chất của Nhà nước: </b>
- Tính xã hội: nhà nước là đại diện chính thức của tồn xã hội, ở mức độ này hay mức độ khác thì nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc và cơng dân của mình.
- Tính giai cấp: là thuộc tính cơ bản và tất yếu của bất kỳ nhà nước nào, nhà nước là công cụ bảo vệ cho lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, mà chủ yếu là của giai cấp thống trị, thực hiện các mục đích đề ra bởi giai cấp ấy. → 2 mặt cơ bản thống nhất của Nhà nước, dù trong tình cảnh cũng phải quan tâm đến lợi ích chung của cả xã hội và bảo vệ lợi ích của lực lượng nắm quyền.
<b>4.Hiểu theo định nghĩa của pháp luật:</b>
Nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt vận hành và chi phối bởi quyền lực chính trị, thành lập bởi giai cấp thống trị để thực hiện quyền lực ấy.
Nhà nước ln có sự phân bố dân cư theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ, có bộ máy quyền lực cơng, có chủ quyền trong phạm vi lãnh thổ đất nước mình, có quyền quy định các loại thuế bắt buộc với các cá nhân, tổ chức của xã hội.
<b>5.Bộ máy nhà nước:</b>
- Là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương hợp thành hệ thống được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
- Một số cơ quan của Nhà nước (điển hình ở Việt Nam):
+ Hệ thống cơ quan Nhà nước cấp trung ương; Quốc hội, Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ , Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. + Hệ thống cơ quan Nhà nước cấp địa phương: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Về nguồn gốc, Nhà nước ra đời từ khi xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp cho nên trong công xã nguyên thủy, khi chưa xuất phân chia giai cấp thì chưa tồn tại khái niệm
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">và sự hình thành của Nhà nước. Tuy nhiên vấn đề nguồn gốc của Nhà nước vẫn còn gây nhiều tranh luận từ xưa nay do xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau, dẫn đến nhiều cách giải thích đối nghịch nhau về nguồn gốc của Nhà nước.
- Hệ tư tưởng của các triết gia, nhà tư tưởng theo các thuyết tôn giáo, thần học đã cho rằng đó là do Thượng đế sáng tạo ra để cai quản con người. Nhà vua là thiên tử, là do Thượng đế chọn để “thế thiên hành đạo”.
- Theo thuyết gia trưởng của 1 số nhà tư tưởng tiêu biểu như Platon, Aristote; Nhà nước là kết quả của sự phát triển tự nhiên của gia đình; xã hội được ví như một gia đình mở rộng. Trong gia đình, tư tưởng gia trưởng là sẽ có người cai quản gia đình, cũng như Nhà nước được coi là người đứng đầu và cai quản xã hội.
- Theo thuyết khế ước xã hội của các nhà tư tưởng như Grotius, Rousseau, Radisep,... đã giải thích xã hội là bắt nguồn của Nhà nước. Trong điều kiện xã hội tự do, con người tự do dễ dẫn đến hỗn loạn, cộng đồng các xã hội đã tụ họp và soạn lên một khế ước chung để lập nên nhà nước và thỏa thuận về nghĩa vụ và quyền của nhà nước. Nếu những điều ấy bị phá bỏ có thể lập nên khế ước mới và thành lập nhà nước mới.
- Thuyết bạo lực của Gumplovich hay During giải thích rằng các cuộc chiến tranh giữa các thị tộc đã dẫn đến sự hình thành Nhà nước. Điều này thể hiện từ thời kỳ nguyên thủy khi các bộ lạc, thị tộc chiến đấu lẫn nhau, để chiến thắng và nô dịch kẻ bại trận thì họ đã lập ra hệ thống cơ quan bạo lực đặc biệt mà đó chính là Nhà nước. - Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước chưa thể tồn tại trong công xã nguyên thủy mà nó gắn liền với sự phát triển của kinh tế và xã hội. Nhà nước chỉ ra đời trong điều kiện địi hỏi nhu cầu cần có một tổ chức quyền lực đặc biệt sở hữu quyền ảnh hưởng đủ mạnh điều hòa các mối quan hệ trong xã hội khi có sự xung đột và đấu tranh giai cấp càng ngày gay gắt và quyết liệt; điều tiết được xã hội cũng như bảo vệ được các lợi ích chung trong xã hội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">- Chức năng nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nước, phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởi điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát triển của nó.
+ Chức năng của nhà nước trước hết phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ phát triển của nó. Thực tế cho thấy, nhà nước phải làm gì, làm như thế nào, điều đó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước, vì vậy, các nhà nước khác nhau có thể có chức năng khác nhau. Trong một nhà nước cụ thể, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, số lượng chức năng, tầm quan trọng của mỗi chức năng, nội dung, cách thức thực hiện từng chức năng cũng có thể khác nhau. Đồng thời chức năng của nhà nước cũng phụ thuộc vào bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước. Tuy nhiên, chức năng của nhà nước cũng là sự thể hiện bản chất của nhà nước, thông qua những hoạt động của nhà nước, bản chất của nhà nước được thể hiện một cách đầy đủ, rõ nét nhất.
+ Các nhà nước có thể có nhiều chức năng, các chức năng đó có liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, việc thực hiện chức năng này thường có ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng khác. Chẳng hạn, nhà nước chỉ có thể thực hiện tốt việc tổ chức và quản lý kinh tế khi thực hiện tốt hoạt động bảo vệ Tổ quốc, tương tự các hoạt động về mặt xã hội như phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bảo trợ xã hội... chỉ có thể thực hiện tốt khi thực hiện có hiệu quả hoạt động tổ chức và quản lý kinh tế. - Chức năng nhà nước được thực hiện thơng qua các hình thức cơ bản là xây dựng
pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật.
+ Đời sống xã hội vốn vơ cùng đa dạng, phức tạp, vì vậy, để tổ chức và quản lý các mặt của đời sống xã hội, cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, xác định rõ
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">những việc được làm, không được làm, phải làm cho các cá nhân, tổ chức. Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật được từng bước hình thành và hoàn thiện. Khi thực hiện các chức năng nhà nước ở từng lĩnh vực khác nhau, cần thiết phải có quy định chung, thống nhất để đảm bảo cho các mặt hoạt động của nhà nước được đồng bộ, nhịp nhàng và hiệu quả trên cả nước.
+ Pháp luật sau khi được ban hành nó thường khơng thể tự đi vào đời sống. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân, tổ chức trong xã hội không tự thực hiện được các quy định trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, nhà nước phải tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm tổ chức cho các chủ thể trong xã hội thực hiện các quy định trong pháp luật (chẳng hạn, nhà nước tiến hành phổ biến pháp luật cho người dân, giải thích, tuyên truyền, động viên, khuyến khích tính tích cực của họ, tháo gp những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật..). Có như vậy, những mong muốn, u cầu, địi hỏi của nhà nước mới có thể được thực hiện một cách có hiệu quả.
+ Trong quá trình thực hiện pháp luật, vì những lí do khác nhau, việc vi phạm pháp luật là khó tránh khỏi. Khi đó, nhà nước phải thực hiện các hoạt động nhằm xử lý người vi phạm, giáo dục cải tạo họ cũng như răn đe phòng ngừa chung nhằm bảo đảm tính tơn nghiêm của pháp luật, bảo đảm các yêu cầu của nhà nước được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác.
+ Để thực hiện chức năng nhà nước, có hai phương pháp cơ bản là giáo dục, thuyết phục và cưpng chế. Giáo dục, thuyết phục là việc nhà nước sử dụng các biện pháp tác động lên ý thức con người, làm cho họ biết, hiểu, tự giác, chủ động, tích cực thực hiện các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước. Cưpng chế là việc nhà nước bắt buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước. Các biện pháp cưpng chế nhà nước rất đa dạng, trong đó người bị cưpng chế luôn phải gánh chịu sự bất lợi nào đó, có thể là bất lợi về thân thể, về tài sản, thậm chí cả tính mạng của họ...
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Trong khoa học pháp lý hiện nay có nhiều cách phân loại chức năng của nhà nước:
- Các chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ với các cá nhân, tổ chức trong nước, chẳng hạn chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng trấn áp, chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Các chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ với các quốc gia, dân tộc khác, chẳng hạn chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược, chức năng phòng thủ, bảo vệ đất nước, chức năng thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế.
Theo đó, tương ứng mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội là một chức năng của nhà nước:
- Chức năng kinh tế: Đây là chức năng của mọi nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng này nhằm củng cố và bảo vệ cơ sở tồn tại của nhà nước, ổn định và phát triển kinh tế.
- Chức năng xã hội: Đó là tồn bộ hoạt động của nhà nước trong việc tổ chức và quản lý các vấn đề xã hội của đời sống như vấn đề về môi trường, giáo dục, y tế, lao động, việc làm, thu nhập của người dân, phòng chống thiên tai... Đây là các hoạt động góp phần củng cố và bảo vệ lợi ích chung của tồn xã hội, bảo đảm sự ổn
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">định, phát triển an toàn và hài hoà của toàn xã hội.
- Chức năng trấn áp: Trong điều kiện có đấu tranh giai cấp, chức năng trấn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị là rất cần thiết nhằm bảo vệ sự tồn tại vững chắc của nhà nước, bảo vệ lợi ích về mọi mặt của giai cấp thống trị.
- Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược: Đây là chức năng đặc trưng của các nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở về trước. Các nhà nước đó thực hiện chức năng này nhằm xâm chiếm và mở rộng lãnh thổ, bóc lột nhân dân cũng như áp đặt sự nô dịch đối với các dân tộc khác.
- Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội: Đây là chức năng của các nhà nước nói chung. Thực hiện chức năng này, nhà nước phải sử dụng nhiều biện pháp, nhất là các biện pháp pháp lí nhằm phịng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, đảm bảo ổn định, trật tự xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. - Chức năng bảo vệ đất nước: Đây là chức năng của mọi nhà nước. Trước đây, nhiều nhà nước thường phát động chiến tranh xâm lược nước khác, ngày nay, nhiều nhà nước vẫn tìm cách áp đặt ý chí của mình đối với nước khác. Trong điều kiện đó, các nhà nước phải thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ đất nước, chống lại các cuộc chiến nanh xâm lược cũng như các ảnh hưởng tiêu cực khác từ bên ngoài. - Chức năng quan hệ với các nước khác: Các nhà nước thực hiện chức năng này nhằm thiết lập các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hố... với các quốc gia khác để trước hết phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục... trong nước, qua đó có thể cùng nhau giải quyết những vấn đề có tính chất quốc tế.
Ngồi các cách phân loại nêu trên, chức năng nhà nước còn có thể được phân loại theo những căn cứ khác. Ví dụ, dựa vào bản chất của nhà nước, chức năng của nhà nước được phân chia thành các chức năng thể hiện tính giai cấp và các chức năng thể hiện tính xã hội; dựa vào mục đích thực hiện, chức năng của nhà nước được chia thành chức năng cai trị và chức năng phục vụ; dựa vào hình thức thực hiện, chức năng của nhà nước được chia thành chức năng lập pháp, chức năng hành
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">pháp, chức năng tư pháp...
Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng phù hợp với cơ sở kinh tế - xã hội của nó, đồng thời bản chất của mỗi kiểu nhà nước lại là yếu tố quan trọng quyết định các chức năng nhà nước. Qua các kiểu nhà nước, chức năng của nhà nước có sự phát triển thể hiện ở sự tăng thêm về số lượng, sự mở rộng về nội dung và sự đa dạng hơn về phương thức thực hiện. Sự phát triển của các chức năng nhà nước là một tất yếu khách quan phù hợp với sự vận động phát triển của đời sống xã hội. Cụ thể:
<i>-<b>Về số lượng chức năng của nhà nước: Có thể nói, các nhà nước đều có chức</b></i>
năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng bảo vệ đất nước... Tuy nhiên, có những chức năng chỉ xuất hiện ở những nhà nước hiện đại, cịn ở các nhà nước chủ nơ và phong kiến chưa có chức năng đó mà đó mới chỉ là những hoạt động lẻ tẻ, chưa phải là mặt hoạt động cơ bản, chủ yếu của nhà nước.
Ví dụ: tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường... chỉ trở thành những mặt hoạt động chủ yếu của các nhà nước hiện đại. Tương tự, chức năng thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước khác chưa có ở nhà nước chủ nô, phong kiến, tuy nhiên đây lại là chức năng quan họng của các nhà nước hiện đại. Để phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục... hay giải quyết những vấn đề có tính chất quốc tế, các nhà nước cần thiết phải tham gia quan hệ với các nhà nước khác. Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử của đất nước, chế độ chính trị xã hội của từng nước mà chức năng này có biểu hiện khác nhau, về quy mơ có thể là quan hệ hợp tác song phương hoặc đa phương, về nội dung có thể là hợp tác ở một hoặc nhiều lĩnh vực... Các nhà nước chủ nô, phong kiến cũng có một số hoạt động bang giao với các nhà nước khác, tuy nhiên đây là những hoạt động không cơ bản, không thường xuyên, việc thực hiện những hoạt động này chỉ có tính nhất thời, nhằm giải quyết những vụ việc cụ thể. Sự phát triển đa dạng, phức tạp trên mọi mặt của đời sống xã hội có thể khiến nhà nước cịn phải thực hiện thêm một số chức năng khác, chẳng hạn chống biến đổi khí hậu,
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">chống chủ nghĩa khủng bố...
+ Sự thay đổi về số lượng chức năng nhà nước còn thể hiện ở việc mất đi chức năng nào đó của nhà nước. Chẳng hạn, tiến hành chiến tranh xâm lược là chức năng của nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản nhưng nhà nước xã hội chủ nghĩa khơng cịn có chức năng này. Với bản chất tốt đẹp của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn mong muốn xây dựng một xã hội tự do, bình đẳng khơng có áp bức bóc lột nên các nước xã hội chủ nghĩa luôn muốn thiết lập các quan hệ hữu hảo với các dân tộc khác. Như vậy, việc mất đi những chức năng có tác động tiêu cực tới tiến trình phát triển của xã hội cũng là biểu hiện sự phát triển của chức năng nhà nước.
<i>-<b>Về nội dung của mỗi chức năng: Cùng với sự phát triển ngày một phức tạp</b></i>
của đời sống xã hội thi nội dung mỗi chức năng của nhà nước cũng ngày một đa dạng, phong phú phù hợp với nhiều vấn đề mới phát sinh mà nhà nước phải giải quyết.
<b>Cụ thể: nội dung chức năng kinh tế của các nhà nước thường bao gồm việc củng cố,</b>
bảo vệ quan hệ sản xuất, quản lý các hoạt động kinh tế... Tuy nhiên các kiểu nhà nước khác nhau thì các hoạt động này cũng khác nhau.
+ <b>Với nhà nước tư sản</b>, hoạt động tổ chức quản lý kinh tế trở nên rất đa dạng, phức tạp, được nhà nước rất coi trọng. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nhà nước tư sản dùng chính sách thuế khóa tác động đến các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây, nhà nước tư sản đã can thiệp sâu vào quá trình kinh tế, đưa ra chính sách kinh tế ở tầm vĩ mơ nhằm tránh cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa bị rơi vào các cuộc khủng hoảng. Nhà nước tư sản đã sử dụng các đòn bẩy kinh tế, các chính sách thuế khố để điều tiết nền kinh tế. Có thể nói, chức năng kinh tế của nhà nước tư sản thực hiện ngày càng phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội hiện đại, tạo ra nguồn của cải vật chất khổng lồ cho nhân loại.
+ <b>Với nhà nước xã hội chủ nghĩa</b>, chức năng kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt. Theo V. I. Lênin, sự thành công của chủ nghĩa xã hội được quyết định bởi năng suất
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">lao động, của cải vật chất ngày một nhiều, đời sống vật chất của người dân ngày một nâng cao. Để thực hiện chức năng này, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải củng cố, bảo vệ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phải tiến hành việc quốc hữu hố xí nghiệp, đất đai của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ, quy định những tư liệu sản xuất quan trọng đều thuộc sở hữu toàn dân và thực hiện các biện pháp cưpng chế nghiêm khắc đối với mọi hành vi xâm hại tới chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt nhà nước xã hội chủ nghĩa thay mặt cho nhân dân quản lý những tư liệu sản xuất quan trọng nhất, trực tiếp tiến hành việc tổ chức quản lý sản xuất, phân công lao động và phân phối sản phẩm xã hội nhằm phát triển một nền kinh tế cân đối và toàn diện, đảm bảo ngày càng nâng cao mức sống của người dân.
Tương tự, đối với chức năng xã hội của nhà nước, phạm vi hoạt động của nhà nước cũng ngày càng mở rộng hơn, nhà nước tiến hành ngày càng nhiều hơn những hoạt động vì sự phát triển chung của cộng đồng.
<i><b>- Về phương thức thực hiện chức năng của nhà nước: Các nhà nước đều thực</b></i>
hiện chức năng của mình thơng qua các phương thức là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, các nhà nước thường kết hợp giữa giáo dục thuyết phục với cưpng chế.
<b>+ Nhà nước tư sản ra đời trong bối cảnh chế độ phong kiến suy tàn, phương thức sản</b>
xuất phong kiến trở thành trở lực cho sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình vận động và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhiều hạn chế của nó dần dần được bộc lộ. Do cạnh tranh làm giàu, giai cấp tư sản khơng từ một thủ đoạn nào để bóc lột sức lao động của người công nhân. Từ chỗ tin tưởng vào tương lai trong xã hội mới, những người lao động đã sớm nhận thấy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản, họ tiến hành nhiều cuộc đấu tranh đòi giai cấp tư sản cải thiện cuộc sống cho họ. Trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, nhà nước tư sản đã sử dụng lực lượng vũ trang để thẳng tay đàn áp phong trào công nhân. Cùng với việc sử dụng bạo lực để trấn áp, nhà nước tư sản cịn ban hành pháp luật trong đó có nhiều đạo luật chống phong trào cơng nhân, đặt đảng cộng sản ra ngồi vịng pháp luật với mục đích làm
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">tan rã và triệt tiêu sự đấu tranh của những người lao động. Những năm gần đây, phong trào đấu tranh của công nhân cũng có sự thay đổi về cách thức và mục tiêu. Nhà nước tư sản vẫn thực hiện chức năng trấn áp nhưng có sự thay đổi thích hợp.
+ Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, phương thức thực hiện chức năng nhà nước ngày càng dân chủ, rất tiến bộ, tôn trọng quyền con người. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, cưpng chế vẫn còn rất cần thiết, tuy nhiên nó được thực hiện trên cơ sở tơn trọng và bảo vệ các quyền, các giá trị con người. Bên cạnh việc sử dụng lực lượng vũ trang, nhà nước cũng sử dụng pháp luật với việc quy định biện pháp cưpng chế nghiêm khắc đối với mọi hành vi chống phá, gây tổn hại đến sự tồn tại của chính quyền cách mạng. Tuy nhiên, nhà nước rất coi trọng biện pháp giáo dục, thuyết phục. Theo Lênin, trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, dù thế nào cũng trước hết phải thuyết phục, sau đó mới cưpng chế. Nhà nước luôn coi trọng việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện. Hoạt động xây dựng pháp luật được thực hiện đảm bảo nguyên tắc khách quan, khoa học, dân chủ..., nhờ đó đã tạo ra hệ thống pháp luật đáp ứng tốt việc thực hiện chức năng nhà nước. Đồng thời nhà nước cũng rất chú trọng việc phổ biến, giáo dục, giải thích pháp luật cho người dân, từ đó động viên, khuyến khích tính tích cực của họ trong việc đáp ứng các yêu cầu thực hiện chức năng nhà nước. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan thực hiện và bảo vệ pháp luật hoạt động rất nhanh chóng, khách quan, công minh, đúng pháp luật.
<i><b>- Về xu hướng vận động phát triển của chức năng nhà nước:</b></i>
+ Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây, chức năng của nhà nước có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhà nước chuyển dần từ chủ yếu thực hiện chức năng “cai trị” sang thực hiện chức năng “phục vụ”. Trong các nhà nước chủ nô, phong kiến và nhà nước tư sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở về trước, chức năng chủ yếu của nhà nước là phục vụ lợi ích giai cấp thống trị, nơ dịch áp bức nhân dân. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển mạnh mẽ, trở thành đối trọng với hệ thống tư bản chủ nghĩa, mặt khác, phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới, phong trào đấu tranh của công nhân ở các nước tư bản cũng ngày càng phát triển
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">mạnh mẽ buộc chính quyền của giai cấp tư sản phải có sự thay đổi rất đáng kể trong việc thực hiện chức năng của mình.
+ Ngày nay, các nhà nước hiện đại trở thành tổ chức phục vụ nhân dân, nhà nước ra đời, tồn tại là để phục vụ lợi ích về mọi mặt cho nhân dân. Các chức năng của nhà nước đều hướng đến việc chăm lo cho cuộc sống của nhân dân, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, các quyền con người được thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ. (1)Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội không phải bằng những mệnh lệnh dựa trên ý chí chủ quan của mình mà bằng các quy định pháp luật dựa trên sự đồng thuận xã hội.(2) Nhà nước khơng chỉ đơn thuần là người quản lí mà còn là người gợi ý, hướng dẫn, định hướng, dẫn dắt các hoạt động kinh tế - xã hội, cung cấp thông tin, tạo sự kết nối trong xã hội..., nói cách khác, nhà nước trở thành người kiến tạo phát triển.
+ Đe phục vụ tốt nhất cho nhân dân, nhà nước phải thực hiện nhiều hoạt động như hoạch định các mục tiêu phát triển xã hội, lựa chọn các ưu tiên phát triển của đất nước; ban hành cơ chế, chính sách và xây dựng bộ máy nhân lực; tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của xã hội; tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, đảm bảo cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội phát huy mọi tiềm năng phát triển; điều tiết các quan hệ xã hội, giải quyết các mâu thuẫn và xung đột xã hội; ứng phó thảm họa, khủng hoảng, giúp đp, hỗ trợ người dân khi họ gặp khó khăn; bảo đảm ổn định và trật tự, an toàn xã hội…
Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng vẫn có sự phân cơng, phối hợp và kiểm sốt giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng tựu chung lại giữa chúng có mối liên hệ với nhau. Sự thống nhất và kiểm soát quyền lực nằm ngay trong sự phân công và phân nhiệm, tức là phân quyền. Cho dù việc tổ chức nhà nước theo mơ hình
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">phân quyền nào đi chăng nữa, thì hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực lập pháp, thậm chí lập pháp là nhu cầu của hành pháp. Đó là một quy luật của việc tổ chức quyền lực nhà nước thời hiện đại, mà chúng ta trong việc tiếp thu các kinh nghiệm của các nước trên thế giới khơng thể bỏ qua, đó là biểu hiện sự thống nhất của quyền lực, nhưng vẫn có sự phân chia quyền lực tồn tại trong đó.
- Tư tưởng tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc này có từ thời cổ đại Hy Lạp do Arixtốt (384-322 TCN) đề xướng: Theo ông, thể chế chính trị là trật tự làm cơ sở để phân bổ chính quyền nhà nước. Thể chế chính trị điều hành và quản lý xã hội trên 3 phương diện: lập pháp, hành pháp và tư pháp - đó chính là sự bàn luận, sự chỉ huy và sự xét xử (Hiến pháp Aten).
- Đến thời kỳ cận đại, tư tưởng phân quyền gắn liền với tên tuổi của nhà triết học Anh là J.Lốccơ (1632-1704) và nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp S.Môngtétxkiơ (1689 - 1775)
+ J.Lốccơ cho rằng: phân quyền là “tất yếu kĩ thuật” của những thể chế chính trị tự do. Nghĩa là trong điều kiện lịch sử đương thời, theo ông quyền lực phải được phân chia thành 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp (QHQT). Theo ông, dạng nhà nước tốt nhất chính là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn riêng đủ cần thiết để thực hiện chức năng của mình.
+ S.Môngtétxkiơ: Tiếp biến tư tưởng phân quyền của J.Lốccơ; ông đã xây dựng nên học thuyết phân quyền với mục đích tạo dựng được thể chế chính trị tự do, bảo đảm tự do chính trị cho các cơng dân.
+ Tư tưởng về tự do chính trị gắn bó chặt chẽ với sự tự do của công dân và sự tự do của cơng dân chỉ có được khi pháp luật được tuân thủ nghiêm ngặt. Để đạt được mục tiêu đó theo các ơng phải có sự phân quyền: Quyền lực tối cao được phân chia thành 3 quyền lập pháp, tư pháp, hành pháp - sao cho 3 quyền này hạn chế lẫn nhau: Quyền lập pháp là biểu hiện ý chí chung của quốc gia, hồn tồn thuộc về
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">Nghị viện (cơ quan đại diện của nhân dân, được lập ra qua phổ thông đầu phiếu). Quyền hành pháp là việc thực hiện, thi hành luật pháp được thiết lập bởi lập pháp và nó thuộc về Chính phủ. Quyền tư pháp thuộc về tịa án (có sự tham gia của đại biểu nhân dân), nhằm giải quyết bất đồng, đụng độ giữa các cá nhân.
- Lý luận này phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chuẩn bị cho cách mạng tư sản: Nó phản ánh nhu cầu của giai cấp tư sản muốn giảm dần quyền lực của các thế lực phong kiến đương thời, để dần dần thâu tóm quyền lực về tay mình. Trên quan điểm khách quan, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử - cụ thể; nguyên tắc phân quyền của S.Môngtétxkiơ là một bước tiến bộ của lịch sử so với chế độ phong kiến chuyên chế, nhờ đó mà thiết chế dân chủ tư sản được hình thành.
- Ưu điểm quan trọng nhất của học thuyết tam quyền phân lập việc phân chia quyền lực này là vừa hạn chế sự chuyên quyền, độc đoán trong thực hiện quyền lực nhà nước vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân. Tuy vậy sự phân chia quyền lực ở nhà nước tư sản không những không làm ảnh hưởng đến việc thống nhất quyền lực mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất quyền lực nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tuy độc lập với nhau nhưng đều nằm trong một thể chế thống nhất là quyền lực nhà nước.
- Một số ý kiến thường cho rằng tổ chức quyền lực nhà nước tư sản rời rạc khơng có sự thống nhất. Lập luận này còn được củng cố bằng nhận định rằng xã hội tư bản được tổ chức dựa trên các giai tầng, giai cấp có những quyền và lợi ích khơng thống nhất thậm chí cịn mâu thuẫn với nhau… Việc hiểu và nhận thức như vậy có lẽ là quá đơn giản. Trong một xã hội dân chủ lẽ đương nhiên khơng thể có sự thống nhất một cách giản đơn mọi quyền và lợi ích mọi nhóm người, mọi giai tầng khác nhau. Việc thực hiện tốt các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp đã tạo nên sự thống nhất quyền lực nhà nước. Sự thống nhất này nằm ngay trong sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp theo quy định của Hiến pháp. Trọng tâm của vấn đề phân quyền là chính phủ, chủ thể có nhân lực, có tài sản và ngân sách phải chịu trách nhiệm chính cho sự phát triển và tàn lụi của quốc gia. Có ba loại chính phủ phải chịu trách nhiệm tương ứng với ba loại phân quyền, tạo nên ba
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">mơ hình tổ chức nhà nước hiện đại:
+ Phân quyền mềm dẻo: Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước một Quốc hội - một hình thức kiểm sốt quyền lực nhà nước của nhà nước tổ chức theo chế độ đại nghị kể cả của chế độ đại nghị quân chủ như Anh quốc lẫn chế độ cộng hòa đại nghị của Italia, CH Liên bang Đức… Đặc điểm mô hình kiểm sốt quyền lực nằm ở chỗ, giữa Chính phủ - hành pháp và Quốc hội – lập pháp, khơng những phải chịu trách nhiệm lẫn nhau, mà cịn có thể can thiệp sang nhau, như việc Chính phủ có quyền trình dự án luật và Quốc hội có quyền giám sát và lật đổ Chính phủ..
+ Phân quyền cứng rắn: Chính phủ khơng chịu trách nhiệm trước Quốc hội, mà phải chịu trách nhiệm trước nhân dân - một hình thức kiểm sốt quyền lực nhà nước của các nhà nước tổ chức theo chế độ tổng thống. Mơ hình của loại hình là Cộng hòa Tổng thống Mỹ quốc với đặc điểm, nhân dân bầu ra Quốc hội – lập pháp, nhân dân bầu ra hành pháp. Sự phân quyền cứng rắn này nằm ở chỗ giữa Quốc hội và Chính phủ không những đều do dân bầu ra, chúng không chịu trách nhiệm lẫn nhau, mà còn thể hiện ở chỗ Chính phủ- hành pháp khơng được trình dự án luật trước Quốc hội – lập pháp;
+ Phân quyền hỗn hợp: Chính phủ - cơ quan hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Tổng thống - người đứng đầu nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước cử tri - một hình thức khác của sự kiểm sốt và phân chia quyền lực nhà nước. Mơ hình của chế độ này là Pháp quốc, mà sau này được nhiều nhà nước tổ chức theo sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã. Đặc điểm của mơ hình này nằm ở chỗ vừa có dấu ấn của chế độ đại nghị vừa có dấu ấn của chế độ tổng thống. Tổng thống người đứng đầu nhà nước có quyền trực tiếp lãnh đạo hành pháp – Chính phủ, nhưng Chính phủ này khác với Chính phủ của chế độ tổng thống phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội - lập pháp.
- Phân loại phân quyền: Hiện nay, quan niệm về phân chia quyền lực nước không chỉ giới hạn ở việc phân quyền theo chiều ngang (lập pháp, hành pháp, tư pháp...). Lý luận và thực tiễn cho thấy rằng sự phân chia quyền lực của nhà nước còn diễn ra theo chiều dọc, giữa nhà nước liên ban với nhà nước thành viên, giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền với nhau.
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><i>+ Phân quyền theo chiều ngang: quyền lực nhà nước phân chia thành ba nhánh: lập</i>
pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền đó được trao cho những cơ quan nhà nước khác nhau đảm nhiệm. Quyền lập pháp trao cho nghị viện, quyền hành pháp trao cho cho chính phủ, quyền tư pháp cho hệ thống các cơ quan xét xử. Như vậy hoạt động của các cơ quan quyền lực cơng có sự chun mơn hố, mỗi cơ quan chỉ hoạt động nhằm thực hiện chức năng riêng của mình, khơng làm ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan khác. Quyền lực giữa các cơ quan quyền lực cân bằng, khơng có loại quyền lực nào vượt trội hơn thậm chí chúng có thể kiềm chế, đối trọng và kiểm soát lẫn nhau trong quá trình hoạt động theo nguyên tắc “quyền lực ngăn cản quyền lực” nhắm ngăn cản sự lộng quyền và lạm quyền trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, chúng cũng phải đồng thời phối hợp với nhau trong một số hoạt động nhất định để đảm bảo sự thống nhất của quyền lực tối cao này.
<i>+ Theo chiều dọc, quyền lực nhà nước được phân chia giữa nhà nước liên bang với</i>
nhà nước thành viên, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương. Việc phân chia quyền lực như vậy nhắm khắc phục tình trạng chuyên chế, khi quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay một người hoặc một cơ quan. Việc phân chia như vậy cũng có nghĩa là phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho các hệ thống cơ quan khác nhau, nhờ đó mà tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn hoặc tranh giành quyền lực giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau. Do đó, việc phân chia như vậy không những không làm ảnh hưởng mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất quyền lực. Phân quyền dọc gồm phân quyền theo lãnh thổ và phân quyền theo chuyên môn.
● Lý luận này gắn với tên tuổi của nhà tư tưởng Pháp J.J.Rútxơ (1712 - 1778). Ơng cho rằng, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chỉ là sự biểu hiện quyền lực tối thượng của nhân dân. Cơ quan đại diện cho quyền lực đặc biệt là Đại hội đồng. Mọi công dân đều tham gia quản lý nhà nước; kiểm soát hoạt động của đại biểu và đại hội đồng bằng một “khế ước chung” và họ có quyền hủy bỏ “khế ước chung” đó
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">nếu hợp đồng bị vi phạm.
● Nhìn chung, nguyên tắc này gắn với tư tưởng cho rằng, quyền lực nhà nước gắn bó với chủ thể khơng thể phân chia - đó là nhân dân. Quyền lực nhân dân được thể hiện và thực hiện tập trung thống nhất vào một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, đó là nghị viện, mọi cơ quan quyền lực nhà nước khác đều do cơ quan quyền lực nhà nước này (nghị viện) thành lập, giao nhiệm vụ và chịu sự giám sát của nó.
● Sự thống nhất không những không đối lập với việc phân chia, phân nhiệm mà ngược lại đòi hỏi phân chia rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, khi đó mới có thể tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn hoặc tranh giành quyền lực của nhau, từ đó các hệ thống cơ quan mới có sự phối hợp, hỗ trợ để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà không cản trở lẫn nhau. Một khi từng cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ kéo theo sự hoạt động nhịp nhàng, khoa học, thống nhất của bộ máy nhà nước.
● Phân loại tập quyền:
○ Tập quyền tuyệt đối: Đây có thể gọi là hình thức cơ quan nhà nước trung ương tối cao trực tiếp bổ nhiệm và chỉ đạo mọi hoạt động ở địa phương, nguyên thủ quốc gia (hoàng đế, tổng thống) hoặc thủ tướng chính phủ bổ nhiệm/bãi nhiệm tất cả các chức vụ cao cấp (trưởng, cấp phó và các chức vụ cao cấp khác) của các cơ quan đầu não ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương (thường đến cấp huyện và tương đương, cấp xã, công xã và tương đương thường thực hiện chế độ tự quản). Mọi hoạt động của chính quyền địa phương đều theo mệnh lệnh từ một trung tâm duy nhất ở trung ương. Đây là mơ hình tập quyền tuyệt đối. Đây là mơ hình chính quyền của hầu hết các quốc gia thời cổ đại (chủ nô và phong kiến giai đoạn nhà nước trung ương tập quyền.
○ Tập quyền có phân chia trách nhiệm: Xét một cách cụ thể thì khơng một ơng vua/ hồng đế nào có thể tự mình cai quản mọi vấn đề trong một quốc gia, dù nhỏ. Các vị vua thường vẫn phải cử các quan lại, tướng lĩnh thay mặt mình để vỗ về dân chúng, giữ yên bờ cõi. Mỗi quan lại, tướng lĩnh lúc đó được ủy quyền thực hiện
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">lệnh của vua/hoàng đế. Nhưng trong chế độ tập quyền thì những quyền hạn này có thể bị vua lấy đi bất cứ lúc nào. Đó là bản chất của nhà nước chuyên chế, một dạng cổ điển của chế độ tập quyền có phân chia trách nhiệm. Chế độ tập quyền có phân chia trách nhiệm được thực hiện thơng qua các hình thức phân cơng, phân cấp, ủy quyền. Theo mơ hình này, ngun thủ quốc gia (hồng đế, tổng thống) hoặc thủ tướng chính phủ chỉ trực tiếp bổ nhiệm/bãi nhiệm các cấp trưởng và phó của các cơ quan đầu não ở trung ương và của các cấp chính quyền địa phương, tức là chỉ bổ nhiệm/ bãi nhiệm các chức vụ lãnh đạo cấp dưới trực tiếp, và các cấp này được trao quyền bổ nhiệm/ bãi nhiệm cho cấp dưới tiếp theo. Trong hoạt động các cấp chính quyền địa phương được chính quyền trung ương (bao gồm cả cơ quan cao nhất và các cơ quan đầu não quản lý ngành) phân công, phân cấp, ủy quyền thực hiện những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong những phạm vi nhất định và chịu trách nhiệm trong những phạm vi đó. Nhiệm vụ của chính quyền địa phương theo mơ hình này là thực hiện các chức năng quản lý chung hay quản lý trên một số lĩnh vực nhất định
● Hiện nay một số học giả tư sản thường tuyên truyền, nhà nước tư sản hiện đại là nhà nước pháp quyền và lí luận phân quyền là cơ sở của quan niệm về nhà nước pháp quyền. Họ cho rằng, đó là cách thức tổ chức nhà nước dân chủ hợp lý, hiệu quả nhất và thường áp đặt giá trị đó cho các quốc gia, dân tộc khác. Trên quan điểm khách quan, phát triển và lịch sử - cụ thể và ở giác độ bản chất giai cấp mà xét thì chúng ta có thể thấy rằng: Hiện tượng phân quyền ở các nước tư bản hiện nay không mang ý nghĩa phân chia quyền lực cho các giai cấp như thời điểm S.Mơngtexkiơ nghiên cứu, mà nó chỉ mang ý nghĩa kĩ thuật pháp lý (như là sự phân định chức năng, thẩm quyền nhằm tạo cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo quyền lực thuộc về giai cấp, tầng lớp nào đó). Trên thực tế, cho dù là các học giả tư sản có tuyên bố phân quyền, thì xét đến cùng, đó cũng là cơ chế để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp tư sản và dù đó là Nhà nước pháp quyền thì pháp luật
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">trước hết vẫn phản ánh ý chí và lợi ích của giai cấp tư sản độc quyền. Trong Hiến pháp Mỹ 1787, những người sáng lập ra Hiến pháp Mỹ vẫn nhận thức được rằng: “cây” quyền lực là thống nhất và “cây” đó là chủ thể của các “nhánh” lập pháp, tư pháp, hành pháp.
● Giới lý luận Mácxít quan niệm rằng: Nếu hiểu bản chất của vấn đề “quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền” thì ở đây khơng có sự phân chia nào cả (vì tất cả quyền lực đều hướng đến mục đích duy trì thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền). Nếu hiểu từ giác độ “phân công lao động theo chuyên môn trong cơ chế nhà nước” (theo quan niệm của Mác - Ăngghen) thì nội dung thực chất của nó là sự phân định chức năng, thẩm quyền của các tổ chức cơ bản trong bộ máy nhà nước.
● Ở nước ta, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
<i>hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng đã khẳng định: “Nhà nước ta là nhà</i>
<i>nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Đảng Cộngsản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân cơng,phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp”.</i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">● Chính trị Vương Quốc Anh là một nền dân chủ nghị viện, vận hành theo chế độ quân chủ lập hiến. Nữ hồng hoặc Vua là ngun thủ quốc gia, cịn Thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu Chính phủ.
● Đây là hệ thống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực cho xứ Scotland, xứ Wales, và Bắc Ireland. Chế độ quân chủ là thiết chế lâu đời nhất trong hệ thống chính quyền Vương quốc Anh, có lịch sử hàng nghìn năm ● Về các Đảng phái chính trị: Vương quốc Anh có 3 chính Đảng chính, gồm:
○ Cơng Đảng - hiện nay đang cầm quyền ○ Đảng Bảo Thủ
○ Đảng Dân chủ tự do
Tổng quát: Nước Anh nằm dưới quyền cai trị của Vua hoặc Nữ hoàng (tức nhánh hành pháp) nhưng quyền lực chính trị thực sự lại thuộc về nhánh lập pháp (tức là Nghị viện).
<b>b. Sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước Vương quốc Anhb.1. Hoàng gia</b>
● Về nguyên tắc, Nữ hoàng hoặc Vua là nguyên thủ quốc gia Anh - nước có nền dân chủ nhưng lại duy trì hình thức nhà nước theo chế độ quân chủ lập hiến ● Về hình thức, Nữ hồng hoặc Vua là vị chủ thể của toàn bộ cơ chế quốc gia
(sovereignty), là nguồn gốc của công lý (fount of justice), và là chủ sở hữu của tất cả những gì trên nước Anh trừ những thứ được ghi rõ thuộc cá nhân, chủ sở hữu khác
Vua hoặc Nữ hoàng khơng chỉ đứng đầu lãnh đạo nước Anh mà cịn là người đứng đầu 54 nước độc lập và 16 quốc gia nằm trong khối thịnh vượng chung Anh. Vai trò to lớn là vậy, tuy nhiên chủ yếu là về mặt nghi lễ. Nữ hoàng hoặc Vua nắm giữ quyền lực và địa vị tối thượng, bà có mọi đặc quyền mà khơng thể ai cũng có:
● Có quyền tham gia dự thảo các dự luật, thành lập cũng như giải tán quốc hội ● Là chủ trên danh nghĩa của rừng biển, đất đai, muông thú hoang trên khắp
nước Anh
● Là người duy nhất lái xe không cần bằng, cơng dung khơng cần hộ chiếu vì là người cấp hộ chiếu cho thần dân
● Là người có thể bổ nhiệm cũng như tước bỏ hầu hết mọi chức vụ nhà nước (thủ tướng, các bộ trưởng, các bộ ngành của Anh, kể cả Sở thuế)
Mặt khác, nguyên thủ quốc gia vẫn chịu sự kiểm soát quyền lực của Quốc hội (theo các thỏa thuận từ nhiều thế kỷ trước). Ngân sách quốc gia hằng năm đều phải do nguyên thủ trình bày trước Quốc hội, và khi Quốc hội thơng qua thì mới thành luật. Nghị viện (Quốc hội) có những quyền hạn rất lớn như vậy, đã hạn chế tới mức tối đa quyền hạn của Hoàng gia, làm cho ngai vàng trở thành hư vị. Dù đã có ý kiến về việc bãi bỏ Hồng gia, uy tín của họ trong lịng dân chúng Anh vẫn còn rất lớn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><b>b.2. Hệ thống cơ quan lập pháp</b>
● Cơ quan lập pháp của nước Anh là Nghị viện, đây là cơ quan lập pháp duy nhất của Vương Quốc theo học thuyết chủ quyền tối cao Nghị viện (tuy nhiên, những câu hỏi về vấn đề chủ quyền tối cao cũng đã được đặt ra vì vấn đề gia nhập Liên minh Châu Âu); người đứng đầu Nghị Viện là Vua hoặc Nữ hoàng Anh - có quyền giải tán nghị viện nếu Thủ tướng đề nghị. Hồng gia là một phần khơng thể tách rời của Nghị viện (như “Crown-in-Parliament”) và trên lý thuyết được Hồng gia trao cho quyền họp nhóm và soạn thảo luật.
● Nghị viện Anh bao gồm 2 viện (lưpng viện): Thượng nghị viện và Hạ nghị viện. Nghị viện có quyền xây dựng luật mới, thay thế các luật hiện hành, chuyển các hiệp ước thành luật, hay bãi bỏ các hiệp ước đã có. Tuy vậy, một điều luật của Nghị viện không thể trở thành luật cho tới khi nó được Hồng gia ký phê chuẩn (được gọi là phê chuẩn của Hồng gia), dù khơng một điều luật nào của Nghị viện từng bị hoàng gia bác bỏ từ thời Nữ hoàng Anne năm 1708. ● Nghị viện cũng là cơ quan duy nhất có quyền kiểm soát hoạt động của ngành
hành pháp và nền hành chính: tất cả các Bộ trưởng đều chịu trách nhiệm tập thể trước Nghị viện về tổng thể chính sách của Chính phủ, và từng Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm cá nhân về cơng việc nội bộ của mình. Các bộ trưởng thuộc các Nội các có thể bị bãi nhiệm nếu hoạt động của họ không được Nghị viện tán thành.
<b>b.3. Hệ thống cơ quan hành pháp</b>
● Cơ quan hành pháp là Chính phủ. Chính phủ thực thi quyền lực của mình trên cơ sở các đạo luật do Nghị Viện ban hành.
● Mọi sự thực thi quyền hành pháp của Chính phủ, Thủ tướng và các Bộ trưởng phải tuân theo nguyên tắc “Hành chính phải hợp pháp” - có nghĩa là nó phải phù hợp với các đạo luật do Nghị viện ban hành và các án lệ với tính chất là các luật bất thành văn.
● Chính phủ Anh Quốc bao gồm các bộ ngành, đứng đầu là Bộ trưởng, thường cũng là thành viên của Nội các (được coi là trung tâm của Chính phủ, thường
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">có từ 20 đến 23 Bộ trưởng quan trọng nhất). Các quyết định của Bộ trưởng phải được thực thi bởi một bộ máy thường trực, trung lập về khuynh hướng chính trị, gọi là cơ chế dịch vụ công.
● Dưới các bộ là các chính quyền địa phương
<b>b.4. Hệ thống cơ quan tư pháp</b>
● Cơ quan tư pháp là hệ thống tòa án - các cơ quan độc lập trong cơ chế quyền lực nhà nước, thực hiện chức năng xét xử
● Hệ thống tòa án được chia thành Tòa án Trung ương và các tòa án địa phương. Đặc trưng nhất của hệ thống tịa án Anh quốc là khơng chia thành các tịa án hình sự, tịa án dân sự, tịa án hành chính.
○ Các tịa địa phương gồm có: Tịa hịa giải, Tòa án vùng (quận) và các Tòa án khác
○ Tồ án trung ương: là Tịa án tối cao được thành lập vào năm 1873. Hiện nay Tòa án này được tổ chức và hoạt động theo luật về tối án tối cao năm 1925 và năm 1970. Tòa án này được chia thành 3 bộ phận: Tòa kháng án, Tịa nhà vua và Tịa tối cao.
● Nước Anh có các tịa án có nhiệm vụ xem xét các vụ án dân sự, hình sự; đặc biệt phải kể đến là Tịa án tối cao (The Supreme Court) trong đó, cơ quan xét xử cao nhất là Thượng nghị viện, đóng vai trị là Tịa phúc thẩm tối cao. Thượng nghị viện cũng là cơ quan xét xử các quan chức cao cấp của nhà nước từ Bộ trưởng đến Thủ tướng (lãnh đạo của đảng chính trị có nhiều nghị sĩ nhất) và cả nhà Vua. Các thẩm phán của Tòa án tối cao Anh đều do nhà vua bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng chính phủ hoặc của Chủ tịch Thượng nghị viện
<b>c. Ưu điểm và nhược điểm của mơ hình nhà nước</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">- Cộng hịa Pháp theo chế độ dân chủ đại nghị bán tổng thống nhất thể, có truyền thống dân chủ mạnh mẽ. Hiến pháp của Đệ Ngũ Cộng hòa được phê chuẩn trong trưng cầu dân ý vào ngày 4 tháng 10 năm 1958 đã tăng cường quyền lực của nhánh Hành pháp so với Nghị viện, với quy định “Chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thơng qua người đại diện của mình và thơng qua trưng cầu ý dân”. Như vậy việc thực hiện quyền lực Nhà nước bắt nguồn từ ý chí của nhân dân.
- Quyền lực lập pháp của Thượng viện bị hạn chế; trong trường hợp có bất đồng giữa hai viện, Quốc hội sẽ có tiếng nói quyết định. Chính phủ có ảnh hưởng mạnh đến định hình chương trình nghị sự của Nghị viện.
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">Tổng quát:
- Dù cùng áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” trong việc tổ chức quyền lực nhà nước, khác với Anh, bộ máy nhà nước Pháp đảm bảo sự phân lập giữa các nhánh quyền lực và ln có sự kiềm chế, đối trọng, ràng buộc lẫn nhau. Trên thực tế, quyền lực có xu hướng ngả về phía hành pháp và Tổng thống luôn nắm nhiều ưu thế hơn so với Nghị viện, đặc biệt là khi Đảng của Tổng thống chiếm đa số ghế trong Nghị viện.
- Nhà nước thực hiện phân chia quyền lực thông qua đơn vị hành chính: vùng, tỉnh và xã - đáp ứng nguyện vọng của cơng dân muốn tự mình quản lý các cơng việc của địa phương. Mỗi đơn vị hành chính (gọi là cộng đồng lãnh thổ) ở từng cấp (vùng, tỉnh và xã) là một pháp nhân và đều có quy chế như nhau, Nhà nước đảm bảo cho việc phân quyền được thực hiện và kiểm tra các cộng đồng lãnh thổ để bảo vệ quyền lợi của cộng đồng quốc gia cũng như của nhân dân, chống lại những lạm dụng của chính quyền địa phương.
<b>b. Sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước Cộng hòa Phápb.1. Hệ thống cơ quan hành pháp</b>
- Quyền hành pháp chịu trách nhiệm đảm bảo thi hành pháp luật và điều hành chính sách quốc gia. Để thực hiện quyền này, cơ quan hành pháp có quyền lập quy, quản lý hành chính nhà nước và qn đội. Tại Cộng hịa Pháp, các quyền
</div>