Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Đề tài quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về tôn giáo và vấn đề tôn giáo ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (246.88 KB, 27 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN

<b>KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN</b>

TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

<b>Đề tài</b>

<b>QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ TÔN GIÁOVÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY</b>

Giảng viên hướng dẫn<b>: Th.s Nguyễn Tấn Tài</b>

Sinh viên thực hiện :<b>1.Nguyễn Thành Đạt – 77262.Trương Văn Gia Huy - 90823.Phan Minh Hạ My – 79654.Dương Cao Hải Yến - 32015.Nguyễn Thu Hiền - 09916.Nguyễn Ngọc Mỹ Uyên - 77157.Nguyễn Thị Khánh Linh - 0046</b>

<b> Lớp: POS 351 J</b>

<i><b>Đà Nẵng , tháng 05 năm 2023</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

MỞ ĐẦU

Trong đời sống tinh thần của con người, tơn giáo ln đóng một vai trị nhất định. Tơn giáo là sự tự do tín ngưỡng của mỗi cơng dân. Vấn đề tơn giáo từ lâu đã là một trong những vấn đề nhạy cảm đối với Việt Nam cũng như các nước trên toàn thế giới. Trong lịch sử Việt Nam, vấn đề tơn giáo đã từng bị lợi dụng cho mục đích chính trị, chống phá cách mạng Việt Nam và ngày nay vẫn cịn một số thành phần tìm cách lợi dụng tôn giáo để chống lại Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa nước ta.

Chính vì thế mà mỗi người dân chúng ta cần phải có những sự hiểu biết thấu đáo và chính xác về tơn giáo để khơng bị kẻ gian lợi dụng sự tín ngưỡng tơn giáo vào những mục đích xấu. Để làm rõ vấn đề, nội dung chính của bài tiểu luận là “Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lenin về tôn giáo? Liên hệ vấn đề này với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, đồng thời anh/chị cần phải làm gì để thực hiện tốt vấn đề này?”. Do cịn hạn chế về trình độ, bài viết sẽ khó tránh khỏi những sai sót trong q trình trình bày, vì vậy, em rất mong nhận được sự đánh giá và hướng dẫ của thầy/cô. Em xin trân trọng cảm ơn!

NỘI DUNG

I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN VỀ TƠN GIÁO

<b>1. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo 1.1. Bản chất của tôn giáo </b>

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hoá do con người sáng tạo ra. Tôn giáo hay thánh thần khơng sáng tạo ra con người mà chính con người đã sáng tạo ra tơn giáo vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ. Nhưng, sau khi sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tơn giáo, tuyệt đối hố và phục tùng tơn giáo vô điều kiện. C.Mác: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa.”

Về phương diện thế giới quan, nói chung, các tơn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mac-Lênin và tôn giáo khác nhau về thế giới quan, về cách nhìn nhận thế giới và con người. Trong thực tiễn, hững người cộng sản có lập trường mác xít ln tơn trọng quyền tự do tí ngưỡng, theo hoặc khơng theo tơn giáo của nhân dân, khơng bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tơn giáo của nhân dân.

<b>1.2. Nguồn gốc của tôn giáo</b>

<i>* Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội </i>

Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, trước thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối và bất lực,

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

khơng giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí.

Khi xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng, có áp bức bất cơng, do khơng giải thích được nguồn gốc của sự phân hố giai cấp và áp bức bóc lột bất cơng, tội ác v.v..., cộng với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.

<i>* Nguồn gốc nhận thức</i>

Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thơng qua lăng kính các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tơn giáo chính là sự tuyệt đối hố, sự cường điệu mặt chủ thể của nhân thức con người, biên cái nội dung khách quan thành cải siêu nhiên, thần thái.

<i>* Nguồn gốc tâm lý</i>

Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những lúc ốm đau, bệnh tật, ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một việc lớn, con người cũng dễ tìm đến với tơn giáo. Thậm chí, cả những tình cảm tích cực như tình u, lịng biết ơn, lịng kính trọng đối với những người có cơng với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tơn giáo.

<b>1.3. Tính chất của tơn giáo </b>

<i>* Tính lịch sử của tơn giáo</i>

Tơn giáo có sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội. Khi các điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử thay đổi, tơn giáo cũng có sự thay đổi theo. Trong quá trình vận động của các tơn giáo, chính các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể đã làm cho các tôn giáo bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tơn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.

<i> * Tính quần chúng của tơn giáo</i>

Tính quần chúng của tơn giáo khơng chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ rất đơng đảo (gần 3/4 dân số thế giới), mà cịn thể hiện ở chỗ, các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hoá, tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân. Dù tôn giáo hướng con người vào niềm tin hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó ln ln phản ánh khát vọng của những người lao động về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Mặt khác, nhiều tơn giáo

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, vì vậy, được nhiều người ở các tầng lớp khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quần chúng lao động, tin theo.

<i> * Tinh chính trị của tơn giáo </i>

Tính chất chính trị của tơn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên tơn giáo mang tính chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tơn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tơn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ.

II. TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH GIỮ NƯỚC

<b>2.1)Tôn giáo và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc</b>

Tơn giáo ở Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng trong thời kỳ chiến tranh giữ nước và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Các tôn giáo, bao gồm Phật giáo, Thiên chúa giáo và đạo Cao Đài, đã tham gia và ủng hộ cho cuộc chiến của nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh, tôn giáo đã được sử dụng như một cơng cụ để tăng cường sự đồn kết và khích lệ tinh thần của quân và dân. Nhiều tơn giáo đã đóng góp rất nhiều cho cuộc chiến bằng cách tuyên truyền và cổ vũ cho người dân tham gia chiến tranh. Tôn giáo đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc chiến, đồng thời cũng cho thấy tầm quan trọng của văn hoá và truyền thống dân tộc trong việc chống lại áp bức và xâm lược ngoại quốc. Đặc biệt là Phật giáo, Phật giáo đã giúp đỡ những người lính trong cuộc chiến, cung cấp cho họ thực phẩm, dược phẩm và hỗ trợ tinh thần để đấu tranh vì độc lập và tự do của dân tộc. Những nhà sư Phật giáo cũng đã tổ chức các lễ cầu nguyện cho đất nước Việt Nam và các chiến sĩ trong quân đội. Thiên chúa giáo cũng là một vai trò quan trọng trong việc ủng hộ chiến đấu cho độc lập của Việt Nam. Thiên chúa giáo đã điều hành một số trường học miễn phí cho các trẻ em vùng nơng thơn và giúp đỡ các gia đình cần sự hỗ trợ. Những nhà thầy tín hữu Thiên chúa giáo cũng là những nhà hoạt động xã hội và thường xuyên tham gia các hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân. Thêm vào đó, đạo Cao Đài cũng là một tơn giáo có ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh cho giải phóng dân tộc. Đạo Cao Đài khơng chỉ giữ vai trị là một tơn giáo mà cịn trở thành một phong trào xã hội, có đóng góp quan trọng cho các hoạt động chính trị. Nhiều nhân vật quan trọng của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đều là tín đồ của đạo Cao Đài. Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh giữ nước và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, tơn giáo cũng gặp phải một số thách thức. Các tôn giáo phải đối mặt với sức ép và đe dọa từ chính phủ và quân đội đối với những hoạt động tham gia vào cuộc chiến. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo tôn giáo đã chiến đấu để bảo vệ các quyền lợi và tự do của tôn giáo, một số tôn giáo đã bị người đứng đầu chế độ thực dân bóc lột tài sản và bị xua đuổi, kết quả là người ta đã phải chuyển sang tơn giáo khác hoặc trở thành những người tín đồ bí mật. Ngồi ra, sự gia tăng của các cuộc tấn công và bị bắt giữ đã dẫn đến việc nhiều vị giáo chủ và tín đồ

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

bị giết hoặc bị bắt giữ vă phải đối mặt với những hình phạt nghiím khắc. Phong trăo giải phóng dđn tộc cũng đê sử dụng tôn giâo để tăng cường sự đoăn kết của nhđn dđn trong việc đấu tranh chống lại chế độ thực dđn vă tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phât triển của chủ nghĩa dđn tộc. Nhờ tôn giâo, những cuộc biểu tình vă câc hoạt động đấu tranh đê thu hút được sự ủng hộ từ một số nhóm tơn giâo, giúp cho phong trăo đấu tranh giải phóng dđn tộc của Việt Nam có được những thănh cơng đâng kể. Tóm lại, tơn giâo đê đóng vai trị quan trọng trong thời kỳ chiến tranh giữ nước vă phong trăo giải phóng dđn tộc tại Việt Nam. Tơn giâo đếp tăng cường sự đoăn kết vă khích lệ tinh thần của quđn vă dđn, đồng thời giúp cho cuộc đấu tranh chống lại âp bức vă xđm lược ngoại quốc của Việt Nam có được sự ủng hộ vă cổ vũ từ người dđn. Tuy nhiín, tơn giâo cũng đê trải qua nhiều khó khăn vă thử thâch trong cuộc chiến vă phong trăo giải phóng dđn tộc của Việt Nam.

<b>2.2) Tơn giâo vă sự phđn hóa trong xê hội Việt Nam cũ</b>

Ở Việt Nam cũ, tôn giâo được coi lă một phần không thể thiếu của đời sống xê hội. Tơn giâo có thể góp phần đem lại niềm tin, hy vọng vă tình u thương cho những người đang chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống. Tơn giâo lă một phần không thể thiếu của cuộc sống tinh thần của con người Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh giữ nước, vai trị của tơn giâo đóng vai trị quan trọng, kiến tạo nín tinh thần đoăn kết trong cộng đồng vă truyền đạt sự ý chí đấu tranh cho đất nước đến toăn thể người dđn. Tơn giâo cũng có khả năng đem lại niềm tin văo sự bình n vă hịa bình cho những người dđn sống trong hoăn cảnh chiến tranh vă khủng hoảng.Tuy nhiín, khâc với vai trị đóng góp của tơn giâo trong việc thăng tiến tinh thần đoăn kết, sự xuất hiện của biểu tượng tôn giâo lại lă một yếu tố chia rẽ, phđn hóa xê hội. Nhiều người theo câc tơn giâo khâc nhau đê có thâi độ thù địch với nhau, điều năy khiến cho việc đoăn kết vă đấu tranh chung của người dđn bị ảnh hưởng. Việc tôn giâo được coi lă một phần không thể thiếu của đời sống xê hội cũng đê cản trở việc xđy dựng một xê hội công bằng vă đồng đều. Phđn hóa năy khơng chỉ dẫn đến việc mất sự đồng thuận trong việc đấu tranh giữa câc nhóm tín đồ khâc nhau về quan điểm vă kiến thức, mă cịn góp phần tạo ra sự phđn vđn, nhầm lẫn về mục đích của cuộc chiến. Tình trạng năy đặc biệt nghiím trọng ở câc vùng miền núi, vùng sđu, giữa tín đồ tơn giâo vă giâo dục dđn tộc. Người ta cịn có thể thấy những tranh chấp giữa câc giâo phâi vă phong trăo đấu tranh chống Mỹ trín cơ sở tơn giâo, câc cuộc đụng độ giữa câc gia đình tín đồ tơn giâo khâc nhau vì những lý do khơng liín quan đến phong trăo đấu tranh giữ nước, vă những cuộc đối đầu trực tiếp giữa câc giâo hoăng vă mục sư. Một số khía cạnh của tơn giâo cũng được lợi dụng để lăm nền tảng cho câc hoạt động kích động, gđy rối. Bín cạnh đó, việc câc giâo phâi cạnh tranh với nhau cũ tạo ra sự tranh giănh quyền lực, ảnh hưởng đến sự ổn định của đất nước.Tóm lại, trong thời kỳ chiến tranh giữ nước, sự xuất hiện của tôn giâo đê tạo ra cả những tâc động tích cực vă xấu. Tơn giâo cũng đê trở thănh một trong những nguồn gốc chính của sự phđn hóa trong xê hội Việt Nam cũ.Tuy nhiín, vẫn có sự đóng góp quan trọng của tơn giâo trong việc nđng cao tinh thần đoăn kết, truyền đạt sự ý chí đấu tranh cho đất nước đến toăn thể người dđn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>2.3)Vai trị của tơn giáo trong xã hội</b>

Trong thời kỳ chiến tranh giữ nước, tôn giáo ở Việt Nam có vai trị vơ cùng quan trọng và đa dạng trong xã hội cũ. Tôn giáo là một phần không thể thiếu trong lịch sử và văn hoá của Việt Nam, tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh giai đoạn 1954-1975, tơn giáo đã có sự thay đổi và phát triển đáng kể, , tôn giáo đã phát huy vai trị vơ cùng quan trọng để đối phó với tình hình chiến tranh.Tơn giáo khơng chỉ là nơi để những người tín đồ tìm kiếm sự bình an tinh thần mà cịn có tác dụng trong việc thúc đẩy các hoạt động xã hội khác. Đầu tiên, vai trị của tơn giáo trong xã hội cũ được tăng cường khi chiến tranh làm cho người dân cảm thấy hoang mang, động lòng tin và hy vọng vào tôn giáo. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của các giáo phái và tôn giáo truyền thống tại Việt Nam, đối với những người tơn giáo, tín đồ được dạy cách sống với giá trị và đạo đức để họ có thể đối phó với những khó khăn trong cuộc sống. Tôn giáo thường được sử dụng để kêu gọi người dân tham gia và ủng hộ cuộc chiến tranh, ngay từ những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Người dân có thể được trực tiếp tham gia vào phong trào kháng chiến với những vai trị khác nhau, từ việc cung cấp thơng tin tình báo cho đến việc cung cấp thực phẩm và trang bị cho lính chiến. Các tín đồ cịn phát triển các mạng lưới trợ giúp nhau và tổ chức thu thập tài trợ từ dân chúng cho cuộc chiến.Thứ hai, tơn giáo trong giai đoạn này có tác động sâu sắc đến tình thần quân sự và truyền thống chiến đấu của đội quân đưa vào một chiến thắng lịch sử của người Việt Nam. Quân đội Việt Nam đã xây dựng và giữ vững đức tin rằng họ được bảo vệ bởi một lực lượng vơ hình và lớn hơn, và đó chính là các tơn giáo của đất nước.Thứ ba, tôn giáo được coi là phương tiện kết nối giữa các cộng đồng và dân tộc khác nhau, từ đó thúc đẩy sự hiểu biết giữa các tơn giáo khác nhau trong xã hội. Tôn giáo đã giúp cho người dân việt Nam tăng cường tình đồn kết và sự hướng đến một tương lai tươi sáng. Các tổ chức tơn giáo đã chơi một vai trị quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội. Các tổ chức tôn giáo đã cung cấp các dịch vụ như giáo dục, chăm sóc sức khỏe và trợ giúp cứu trợ cho những người bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Chúng không chỉ đã giúp mang lại hy vọng và tình u thương cho những người khó khăn mà còn giới thiệu các giá trị mà đạo đức tơn giáo. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến trái chiều về tôn giáo trong thời kỳ chiến tranh này. Nhiều người cho rằng tơn giáo cũng góp phần vào sự khích lệ chiến tranh và đơn thuần chỉ bảo vệ lãnh thổ mà không quan tâm đến sự sống cịn của người dân.Trong tổng quan, tơn giáo đã chứng tỏ được vai trị và sức mạnh của mình trong thời kỳ chiến tranh giai đoạn 1954-1975. Tôn giáo khơng chỉ giúp người dân tìm kiếm niềm hy vọng và động lực, mà còn là cầu nối giữa các tôn giáo và giữa các cộng đồng khác nhau trong xã hội. Nói chung, tơn giáo ln là một phần quan trọng không thể thiếu của xã hội Việt Nam.

III.Tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

<b>3.1.Chính sách về tơn giáo của Đảng và Nhà nước:</b>

Bình đẳng, đồn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Những nguyên tắc này được quán triệt và thực hiện nhất quán, có hiệu quả trong mọi thời kỳ cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc, Đảng và Nhà nước ta cũng thường xun thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo

Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo và quyền tự do khơng tín ngưỡng, tơn giáo của nhân dân, hết sức chăm lo đồn kết tơn

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

giáo, hịa hợp dân tộc. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, nghị định về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo và Luật Tín ngưỡng Tơn giáo; qua đó, góp phần củng cố, phát huy được sức mạnh của khối đại đồn kết tồn dân tộc. Những chuyển biến tích cực trong hoạt động của các tôn giáo khẳng định: chính sách tơn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo của Đảng và Nhà nước ta đã đi vào đời sống xã hội, đáp ứng được nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo trong cả nước... Song song đó, cần đẩy mạnh cơng tác tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo, giúp cho cộng đồng hiểu rõ chính sách dân tộc, chính sách tơn trọng tự do tín ngưỡng, tơn giáo của Đảng, Nhà nước ta và thực tế tình hình cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và phát triển

<b>3.2.Tôn giáo và các vấn đề xã hội hiện nay</b>

<b>Các khái niệm liên quan đến hiện tượng tôn giáo mới và một số vấn đề đặt ra trong việc sử dụng khái niệm, thuật ngữ hiện tượng tôn giáo mới</b>

Trong tiếp cận học thuật của thế giới hiện nay, các nhóm tơn giáo thường được gọi một cách phổ biến là “phong trào tôn giáo mới” hoặc “các tơn giáo mới”. Tuy nhiên, tìm một định nghĩa cho khái niệm này rất khó. Các nhà nghiên cứu thay vì đưa ra định nghĩa, thường cố gắng chỉ ra các đặc điểm chung của các nhóm tơn giáo mới. Nhìn chung, các “phong trào tơn giáo mới” có đặc điểm chung là thể hiện sự mới và lạ về niềm tin, thực hành nghi lễ và cách tổ chức cộng đồng tín đồ. Các nhóm này đều có hành vi thờ cúng đối với các đối tượng thiêng cụ thể và có nhiều nhóm đưa ra những tiên tri, đặc biệt là tiên tri về thế giới sau ngày tận thế. Đây cũng là một điểm quan trọng giúp phân biệt chúng với các phong trào Thời đại mới1. Với “các nhóm thờ cúng”, khái niệm ngày càng ít được dùng. Lý do là khái niệm này không đủ rõ về tính mới của các nhóm này, do mới chỉ nói đến hành vi thờ cúng.

Ở khu vực Đơng Á, giới nghiên cứu Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thường sử dụng thuật ngữ “tôn giáo mới”, “tân giáo”, “tân tôn giáo”. Điều này được giải thích, “tơn giáo mới” là đối lập với “tôn giáo truyền thống”, chúng xuất hiện sau tôn giáo truyền thống và có một số hình thái mới và đặc điểm mới. Người ta thường coi những tôn giáo xuất hiện ở thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhất là từ sau Thế chiến II, là tôn giáo mới. Tôn giáo mới ra đời sau, nên thơng thường có quy mơ nhỏ, giáo phái phức tạp; phần lớn tách ra từ các tôn giáo truyền thống có quan hệ về mặt tư tưởng với tôn giáo truyền thống. Khi tách ra trở thành tôn giáo độc lập, các tôn giáo mới thường phê phán, cạnh tranh với tôn giáo truyền thống. Một số tơn giáo mới có thái độ khoan dung hơn, tiếp thu học tập tôn giáo truyền thống để cùng tồn tại và phát triển2.

Ở Việt Nam, trong thập niên 90 thế kỷ XX, nhiều nhà nghiên cứu tán đồng với các nhà quản lý gọi các hiện tượng tôn giáo mới là “đạo lạ”3. Từ đầu thế kỷ XXI, đa số các nhà nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam, nhất là Viện Nghiên cứu Tôn giáo (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Tơn giáo và Tín ngưỡng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), sử dụng thuật ngữ “hiện tượng tôn giáo mới”4. Bên cạnh hai xu hướng nêu trên, cho đến nay, ở nước ta, một bộ phận các nhà nghiên cứu, chủ yếu đào tạo ở Phương Tây, vẫn sử dụng phổ biến thuật ngữ “phong trào tôn giáo mới”5.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Như vậy, phong trào tôn giáo mới hay giáo phái mới, hay tà đạo, tà giáo, đạo lạ… nhằm chỉ các hiện tượng tôn giáo mới6 được phát sinh từ những hoạt động có tính chất tơn giáo hay cả các hoạt động lợi dụng tôn giáo. Viện Nghiên cứu Tôn giáo cũng đã đưa ra thuật ngữ cho các nhóm, phái này là hiện tượng tơn giáo mới7, bởi các hiện tượng này có thể được sinh ra từ những tơn giáo chính danh (đã được Nhà nước cơng nhận), có vay mượn các giáo lý, kinh sách của các tơn giáo đã có; hoặc dung hợp giữa tín ngưỡng bản địa với các giáo lý tơn giáo khác; hoặc là có các giáo lý mới, mang tính chất thần bí, chữa bệnh tâm linh, rèn luyện sức khỏe…

Do vậy, trong bài viết này chúng tôi sử dụng thuật ngữ “hiện tượng tôn giáo mới” để chỉ các nhóm, phái… có tính chất tơn giáo, chưa được công nhận và đăng ký hoạt động, mới nổi tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam xuất hiện từ giữa thế kỷ XX trở lại đây, với lý do khái niệm này dễ được chấp nhận cả trong giới nghiên cứu và quản lý.

<b>Một số đặc điểm các hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam</b>

Các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện ở nước ta hiện nay, ngoại trừ một số hiện tượng tơn giáo mới từ nước ngồi du nhập vào Việt Nam, cịn lại đa số đều có nguồn gốc phát sinh từ trong nước và phần nhiều xuất hiện trong những năm 90 của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.

Các hiện tượng tôn giáo mới này xuất hiện và tập trung nhiều ở các tỉnh, thành phía Bắc, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, hiện tượng tôn giáo mới đã và đang xuất hiện, phát triển ở nhiều địa phương trên cả nước, vùng sâu, vùng xa. Đã có những hiện tượng tôn giáo mới mà người tin theo chỉ là đồng bào dân tộc thiểu số.

Phần lớn những người đề xướng (lập ra) các hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam là phụ nữ và số đông người tin theo cũng là phụ nữ, tập trung vào đối tượng những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.

Hầu hết các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện đều mang mục đích cá nhân của những người sáng lập, thậm chí có biểu hiện nhằm thu lợi bất chính về kinh tế.

Theo thống kê chưa đầy đủ, từ những năm 1980 của thế kỷ trước cho đến nay, tại Việt Nam con số các hiện tượng tôn giáo mới dao động khoảng từ 80 đến 132 loại. Đến thời điểm hiện nay là 71 loại với nguồn gốc và tên gọi khác nhau, trong đó có 27 hiện tượng tơn giáo mới từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam và 44 hiện tượng tơn giáo mới hình thành từ trong nước. 1) Loại từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam như: Thanh Hải Vô Thượng Sư (từ Đài Loan), Tam Thiên thánh hiền (từ Đài Loan), Ơmơtơ giáo (từ Nhật Bản), Vô Vi hay Vô Vi Pháp (từ Pháp), Phật mẫu địa cầu hay Địa Mẫu (từ Trung Quốc), Ôn Baha (từ Ấn Độ) và Soka Gakkai (từ Nhật Bản); 2) Loại hình thành từ trong nước, có nhiều yếu tố của đạo Phật và các tín ngưỡng dân gian. Địa bàn xuất hiện ban đầu tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và một số tỉnh trung du Bắc Bộ, sau đó lan rộng ra cả nước, như: “Lẽ phải” xuất hiện ở Đà Nẵng năm 1986; Long Hoa Di Lặc xuất hiện ở Phú Thọ năm 1988; Tiên Thiên Huỳnh đạo xuất hiện ở Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1981. Từ năm 1990 đến 1995 con số hiện tượng tôn giáo mới tăng nhanh: Long Hoa Di Lặc (1990); Quang Minh tu đức (1990); Đạo Bác Hồ

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

(1992); Đạo Phật thiên (1992); Ngọc Phật Hồ Chí Minh (1993); Quần Tiên (1993); Nghiệp Chướng (1993); Siêu hóa (1994); Quang Minh tu đức (1994); Địa Mẫu (1995); Tiên Thiên (1997); Đạo Tiên (1997); Đạo Con hiền (1997); Chân đất (1998); Quang Minh (1998); Võ đạo Phật tổ Như Lai (1998); Hoa Vàng (1999); Chân tâm bảo vệ di tích (2000)…

Khu vực đồng bằng Bắc Bộ, là nơi tập trung xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới có yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Trong những năm gần đây thì các hiện tượng tôn giáo mới không chỉ phát triển về số lượng mà đều có sự phát triển rộng trên địa bàn các tỉnh, thành trong cả nước, như: Nhóm Long Hoa Di Lặc, Nhóm Thanh Hải Vơ Thượng sư, Nhóm Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Pháp Ln Cơng, Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ (dù mới chỉ xuất hiện tại Việt Nam chưa lâu, song đã phát triển mạnh và hoạt động bất hợp pháp ở nhiều tỉnh, thành phố)…

Các hiện tượng tôn giáo mới cũng thường sử dụng biện pháp đổi tên đạo để dễ thích nghi, như: Đạo Chân Khơng của Lưu Văn Ty lập năm 1991 được sử dụng với các tên khác như: Đạo Siêu hóa; Đạo tâm pháp; Đạo Chân đất…; Đạo Vơ Vi Khoa học huyền bí Phật pháp do Lương Sĩ Bằng lập từ năm 1958 (Canada) mang các tên khác như: Vô vi khoa học huyền bí, Vơ Vi, Vơ Vi pháp; Đạo Ngọc Phật Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị Lương lập năm 1963 ở Hải Phòng, khi hoạt động ở các địa bàn khác đổi tên: Đức Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Quang Minh Hồ Chí Minh, Đạo Bác Hồ, Thánh Minh vì tình dân tộc. Hay Long Hoa Di Lặc cũng có các tên khác như: Long Hoa Tam hội, Long Hoa Chính pháp

Khu vực Tây Nguyên là nơi tập trung nhiều hiện tượng tôn giáo mới có yếu tố Tin lành, Cơng giáo, Phật giáo như: Bơ khắp Brâu, Thanh Hải Vô Thượng sư, Cây Thập giá của Chúa Giêsu Christ, Tâm linh Hồ Chí Minh, Amí Sara, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Tâm linh đạo, Canh Tân Đặc sủng, Đạo Trời Thái Bình, Bửu tịa Tam giáo (Đạo Trời), Trường Sinh học...;

Khu vực Nam Bộ, các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện trong “phong trào các Ông đạo”, Thiên Địa hội, Đạo Nằm, Đạo Đứng… Tuy nhiên, hoạt động của các hiện tượng này vẫn có nét “sinh hoạt đạo” tương đối gần gũi với cuộc sống đời thường, một số trường hợp có nội dung sinh hoạt khác biệt như Đạo Dừa ở Bến Tre, người theo đạo được khun ít tắm rửa, để tóc dài, sống chủ yếu bằng nước dừa và thiền định.

<b>Nguyên nhân ra đời và phát triển các hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam</b>

Một là, Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước, một bộ phận khơng thích nghi được môi trường phát triển kinh tế mới nên đời sống gặp nhiều khó khăn, tâm lý bất an, lo âu trước sự chuyển biến mạnh mẽ của đời sống xã hội đã tìm đến sự trợ giúp của “thần linh mới”.

Hai là, “khoảng trống tâm linh” luôn hiện hữu trong đời sống xã hội, các tôn giáo lớn, tơn giáo truyền thống đã có ở nước ta “khơng cịn/chưa thoả mãn” nhu cầu của một bộ phận tín đồ với những niềm tin/tâm linh cũ và họ có nhu cầu tìm kiếm niềm tin mới. Bất đồng trong đội ngũ lãnh đạo Giáo hội cùng với việc quản đạo có những vấn đề bất hợp lý cũng là nguyên nhân dễ dẫn đến ly khai, hình thành tơn giáo mới.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Ba là, người Việt Nam từ xưa đến nay vẫn giữ trong tâm thức của mình về truyền thống “tam giáo đồng nguyên” đạo nào cũng tốt, do vậy việc xuất hiện các hiện tượng tôn giáo mới dễ được người dân đón nhận.

Bốn là, lợi ích kinh tế và mong muốn có vị thế xã hội của một người (giáo chủ), nhóm người muốn nổi tiếng đã thôi thúc họ thành lập ra hiện tượng tôn giáo mới để khẳng định mình bằng con đường tâm linh.

Ảnh hưởng của các hiện tượng tôn giáo mới đối với xã hội và đối với khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay

Về ảnh hưởng tích cực, một số hiện tượng tôn giáo mới phần nào đáp ứng được nhu cầu tinh thần, bù đắp tâm lý và niềm tin trước những khó khăn trong cuộc sống của một bộ phận người dân; là một trong những phương thức để người tin theo thể hiện tâm tư đối với những bất cập của xã hội, những khó khăn thực tại đang đặt ra với đời sống của họ. Một số hiện tượng tôn giáo mới có những nội dung sinh hoạt tơn vinh những người có cơng với cộng đồng, dân tộc, thể hiện đạo đức “uống nước nhớ nguồn”; một số khác gắn với việc luyện tập tăng cường sức khỏe, kết hợp chữa bệnh bằng các yếu tố “tâm linh” và “bài thuốc” đơn giản, nên có sức “hấp dẫn” đối với những người muốn cải thiện sức khỏe và chữa trị các bệnh hiểm nghèo. Ở một số địa phương có hiện tượng tơn giáo mới cịn là yếu tố góp phần hình thành những cộng đồng dân cư liên kết niềm tin, cố kết cộng đồng tại một địa bàn cư trú nhất định. Tính cố kết đó làm cho các thành viên có thể hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống cũng như đóng góp vào các phong trào chung ở địa phương.

Về ảnh hưởng tiêu cực, hiện tượng tơn giáo mới có những nơi đã gây ra mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn giữa người theo và khơng theo, phương hại đồn kết cộng đồng. Một số hiện tượng tơn giáo mới đã cơng kích tín ngưỡng, tơn giáo truyền thống, hợp pháp, làm nảy sinh các mâu thuẫn. Ở đây, hiện tượng tôn giáo mới đã làm phức tạp hoá nhận thức người dân, khi họ từ sự phân biệt có khi thiếu toàn diện giữa đúng và sai, tốt và xấu, mà ảnh hưởng không tốt trên địa bàn, đến khối đại đồn kết dân tộc.

Một số hiện tượng tơn giáo mới có mối quan hệ chỉ đạo, hỗ trợ về vật chất của thế lực xấu ở nước ngoài, ít nhiều gây rạn nứt khối đại đoàn kết dân tộc, làm cho hệ thống chính trị ở một số cơ sở giảm hiệu lực và uy tín.

Các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề hiện tượng tôn giáo mới, từ vận động, tuyên truyền giáo dục; tăng cường quản lý nhà nước, thậm chí cấm đốn; đến hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội và củng cố, tăng cường hệ thống chính trị cơ sở… Từ đó, các địa phương đã hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng tơn giáo mới, góp phần vào ổn định an ninh trật tự nội vùng. Tuy nhiên, công tác đối với hiện tượng tơn giáo mới cịn gặp nhiều khó khăn do đây là khu vực cịn nghèo, vùng sâu, vùng xa, hệ thống chính trị cơ sở cịn bất cập, trong khi đó hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới ngày càng đa dạng, tinh vi, một số được tổ chức và chỉ đạo từ nước ngoài.

<b>Những kiến nghị về giải pháp đối với công tác quản lý và vận động trong vấn đề hiện tượng tôn giáo mới thời gian tới, góp phần củng cố khối đại đồn kết dân tộc</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Một là, tăng cường công tác nghiên cứu nhận diện, phân loại và đánh giá tác động xã hội để tạo luận cứ khoa học trong xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật đối với các loại hiện tượng tôn giáo mới.

Hai là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phố biến và thống nhất trong giải quyết đối với các hiện tượng tơn giáo mới.

Ba là, cần có định hướng rõ cho việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tơn giáo với tín ngưỡng truyền thống, giữa tơn giáo truyền thống và các hiện tượng tôn giáo mới xâm nhập.

Bốn là, cần phân biệt rõ đâu là hiện tượng tôn giáo mới đơn thuần do nhu cầu tâm linh của người dân, đâu là các hiện tượng tơn giáo mới có biểu hiện trục lợi, phản văn hóa, bị lợi dụng về chính trị.

Năm là, tập trung phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho Nhân dân. Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện cơng bằng xã hội, giúp người nghèo, người có hồn cảnh khó khăn hồ nhập cộng đồng, vươn lên trong cuộc sống. Tiếp tục đầu tư có hiệu quả các chương trình, dự án, mục tiêu quốc gia xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phịng ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện hiệu quả chính sách, pháp luật về dân tộc trên địa bàn, để phát triển nhanh và toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Các hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng về chủng loại với phương thức hoạt động rộng khắp trên các địa bàn khác nhau. Đây là vấn đề cần được sự quan tâm, chung tay của cả hệ thống chính trị, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động những người tin theo và cả những người cốt cán hay đứng đầu của các hiện tượng tôn giáo mới. Một số hiện tượng tơn giáo mới có thể hướng về với các tơn giáo chính thống, nơi mà nó khởi phát, một số khác có thể xem xét cấp phép đăng kí hoạt động nếu chỉ đơn thuần hoạt động tôn giáo và phù hợp với đời sống văn hóa - xã hội của từng vùng, miền.

Thời gian tới, tình hình hiện tượng tơn giáo mới trên địa bàn các tỉnh, thành phố vẫn sẽ còn diễn biến phức tạp, có sự móc nối với các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng tơn giáo, gây mâu thuẫn. Tiếp tục tập trung đông người, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục những người nhẹ dạ cả tin để thực hiện hành vi chống phá chính quyền, đời sống kinh tế của một bộ phận người dân vẫn cịn khó khăn cả về vật chất và tinh thần.

Do vậy, cần có những biện pháp, giải pháp tùy theo từng đặc thù của địa phương. Trước hết, cần nắm chắc quan điểm cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Bởi vậy, công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các tôn giáo phải thực hiện theo phương châm “Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân”. Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các tôn giáo không chỉ bằng lời nói, mà cịn phải thơng qua những hành động cụ thể, nhất là việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>3.3.Vai trị của tơn giáo trong xã hội</b>

<b>Tơn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc</b>

Ở nhiều nơi, tơn giáo đóng vai trị góp phần từng bước nâng cao tính tự quản của cộng đồng, ý thức trách nhiệm cơng dân, góp phần bài trừ các tập tục lạc hậu, tăng cường đoàn kết trong nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào các tôn giáo.Các tổ chức tôn giáo cũng đã chủ động đề xuất và tích cực tham gia các mơ hình phịng, chống và khắc phục thiên tai, các hoạt động chống biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở nhiều địa phương với nhiều mơ hình tốt, cách làm hay đã được thực hiện và nhân rộng, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh về nhận thức, làm thay đổi thái độ, hành vi, thói quen của người dân trong công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. “Chức sắc, chức việc các tơn giáo có vai trị then chốt trong hướng dẫn, vận động, khuyên bảo tín đồ chăm chỉ làm ăn, chấp hành tốt pháp luật, tránh các tệ nạn xã hội, chấp hành các quy định ở địa phương, xây dựng tình làng nghĩa xóm, tơn trọng và đồn kết các tơn giáo, dân tộc. Chính những điều đó đã tạo nên sự ổn định, gắn kết, sức mạnh nội tại trong cộng đồng tôn giáo và làm cho tôn giáo luôn có vị trí nhất định trong đời sống xã hội”.

<b>Cộng đồng các tơn giáo đã đóng góp nguồn lực quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước</b>

Hơn 26 triệu tín đồ các tơn giáo, chiếm 27% dân số Việt Nam là nguồn nhân lực quan trọng có nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với số lượng tín đồ chiếm số lượng khá lớn trên quy mô dân số, đồng bào các tôn giáo là lực lượng sản xuất đông đảo, tham gia vào tất cả các thành phần kinh tế, đã và đang trực tiếp tạo ra của cải vật chất, khơng chỉ phục vụ đời sống gia đình mà còn cùng với các thành phần xã hội khác đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong phong trào thi đua phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, các tín đồ tơn giáo đã đồn kết, giúp đỡ nhau về vốn và kinh nghiệm sản xuất, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất. Thông qua các sinh hoạt tôn giáo, chức sắc, chức việc đã góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đồng bào có đạo biết cách làm giàu, vươn lên thoát nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Kinh tế phát triển, đồng bào có đạo có điều kiện đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và nhiều công trình cơng cộng khác. Bên cạnh đó, các tổ chức tơn giáo cũng đóng góp nguồn lực quan trọng, đồng hành cùng các cấp chính quyền trong cơng tác an sinh xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo.

<b>Các tổ chức tơn giáo góp phần thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước</b>

Với chính sách tơn giáo ngày càng cởi mở, hoạt động quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra rất đa dạng, phong phú. Nhiều đồn của tơn giáo ra nước ngồi dự hội nghị, hội thảo, mở rộng quan hệ quốc tế với các tổ chức tôn giáo quốc tế, tham gia diễn đàn khu vực và quốc tế như: Đối thoại liên tín ngưỡng Á - Âu (ASEM), đối thoại Liên tín ngưỡng khu vực Châu Á Thái Bình Dương…

</div>

×