Tải bản đầy đủ (.doc) (49 trang)

đề tài '''' quan điểm của chủ nghĩa mác - lênin về vấn đề mâu thuẫn và sự vận dụng quan điểm này trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay ''''

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (307.06 KB, 49 trang )



Đề tài " Quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin về vấn đề mâu thuẫn và sự vận
dụng quan điểm này trong sự nghiệp
đổi mới đất nước hiện nay "
1
MỤC LỤC
TRANG
MỤC LỤC 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………….………… 40 10
LỜI NÓI ĐẦU 11
CHƯƠNG I 13
2
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN VỀ VẤN ĐỀ MÂU
THUẪN 13
I.Vị trí của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn)
13
II.Nội dung quy luật 13
1.Một số khái niệm 14
2.Tính chất chung của mâu thuẫn 15
3.Quá trình vận động của mâu thuẫn 20
III.Ý nghĩa phương pháp luận 24
CHƯƠNGII 25
SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 25
I.Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa 25
1.Kinh tế thị trường và những đặc điểm 25
2.Chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị
trường là một một tất yếu khách quan ở nước ta 26


3.Vận dụng việc kết hợp các mặt đối lập của mâu thuẫn trong phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 28
Trong chủ trương đổi mới mà Đảng ta đề ra, có thể nhận thấy rõ việc
xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có yếu tố kinh
tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn. Đặc biệt là phải biết kết hợp có
hiệu quả giữa kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế phi xã hội chủ
nghĩa, kết hợp giữa thị trường và kế hoạch, xây dựng một nền kinh tế
thị trường năng động, tự chủ 28
 Trước hết, cần phải thấy rõ vai trò của việc kết hợp giữa kinh tế xã
hội chủ nghĩa và kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, cụ thể hơn là duy trì cả
hình thức sở hữu tư nhân lẫn hình thức sở hữu nhà nước về tư liệu sản
xuất. Bởi vì hình thức sở hữu tư nhân tồn tại trong điều kiện lực
lượng sản xuất của đất nước với trình độ thấp kém như một tất yếu
khách quan và đóng vai trò tích cực không nhỏ đối với sự phát triển
kinh tế đất nước. Chính việc thực hiện một mô hình kinh tế đa dạng,
nhiều thành phần kinh tế (trong đó bao gồm cả những thành phần
kinh tế đối lập nhau) đã thúc đẩy cho nền kinh tế đất nước phát triển
năng động hơn 28
Bài học Liên Xô và các nước Đông Âu đã cho chúng ta thấy những
giá trị tích cực của chủ nghĩa tư bản về khoa học kĩ thuật, kinh tế…
3
Vì thế, chính sách mở cửa, hợp tác kinh tế với nước ngoài, kể cả các
nước tư bản chủ nghĩa là một xu thế tất yếu. Chúng ta hiểu rằng, cần
phải lấy chính chủ nghĩa tư bản để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa, lấy những mặt tích cực của chủ nghĩa tư bản để làm lợi cho
chủ nghĩa xã hội 29
Từ đó, vận dụng tư tưởng biện chứng về kết hợp các mặt đối lập,
Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đó là phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần dựa trên chế độ sở hữu đa dạng, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội

chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành phần này, mỗi thành phần
kinh tế có một vị trí trong nền kinh tế thống nhất và có một vai trò
nhất định trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Bởi vì thông qua các thành phần kinh tế
khác nhau, chúng ta sẽ khai thác được tiềm năng to lớn của chúng
(trái ngược hẳn với nền kinh tế thuần nhất về mặt sở hữu trước đây)!
29
Tuy nhiên, khi khẳng định tầm quan trọng của một nền kinh tế đa
thành phần ở nước ta, điều đó không hoàn toàn có nghĩa là chúng ta
coi mọi thành phần kinh tế đều có vai trò như nhau. Bởi vì, mặc dù
coi mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế đa thành phần ở nước ta
đầu có một vị trí, vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân, Đảng
ta vẫn khẳng định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, và kinh
tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể phải trở thành nền tảng của
kinh tế đất nước. Đây là nhân tố thể hiện tính định hướng xã hội chủ
nghĩa trong nền kinh tế thời kì quá độ ở nước ta. Rõ ràng bên cạnh
việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, ta không được phép coi nhẹ
vai trò của kinh tế nhà nước. Bởi vì, nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã
hội chính là kinh tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể. Duy trì vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần
không chỉ là một hướng đi đúng đắn, giúp củng cố sức mạnh nền kinh
tế của chế độ xã hội chủ nghĩa; mà còn giúp phân biệt giữa nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: một bên là do
nhà nước điều tiết quản lí, một bên là sở hữu tư nhân tư bản chiếm vị
trí chủ đạo 29
Một điểm cần lưu ý đó là, khi chúng ta kết hợp các nền kinh tế nhiều
thành phần, kết hợp giữa công hữu và tư hữu, giữa kinh tế nhà nước
và kinh tế tư nhân trong một nền kinh tế đa thành phần, điều đó
không thể quan niệm giản đơn rằng đã là nền kinh tế đa thành phần
thì các thành phần kinh tế đều có vai trò, vị trí và được đối xử như

nhau. Cũng không thể quan niệm rằng vì lực lượng sản xuất của nước
4
ta còn ở trình độ thấp kém, thủ công, nửa cơ khí là phổ biến thì chưa
nên củng cố và phát triển kinh tế nhà nước. Bởi làm như vậy sẽ không
còn vai trò của nhân tố chủ quan, không có cái gọi là định hướng xã
hội chủ nghĩa nữa. Do đó, muốn thực hiện định hướng xã hội chủ
nghĩa thì không thể không có những biện pháp tích cực, chủ động đối
với thành phần kinh tế nhà nước, cũng như chủ động đối với thành
phần kinh tế nhà nước, cũng như chủ động chủ động hướng bộ phận
sản xuất nhỏ cá thể vào con đường làm ăn tập thể một cách phù hợp
nhất. Không được tuyệt đối hóa sự đối lập giữa kinh tế nhà nước với
kinh tế tư nhân, phủ nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân bên cạnh kinh
tế nhà nước, cũng như kết hợp một cách vô nguyên tắc hai thành phần
kinh tế này trong đường lối phát triển đất nước. Đặc biệt, Đại hội VI
của Đảng ta cũng nêu ra yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa như một bài học kinh nghiệm về đổi mới và cũng là vấn đề có
tính nguyên tắc của quá trình đổi mới! 30
Như vậy, trong điều kiện thế và lực ngày càng lớn mạnh của nước ta,
cùng với xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới cho phép Đảng ta
phát triển tư tưởng biện chứng của V.I.Lê-nin (quy luật mâu thuẫn),
chủ động mở rộng hợp tác kinh tế để thực hiện quá trình chuyển giao
công nghệ, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đảng ta đã chủ động hợp tác kinh tế với các nước, kể cả các
nước tư bản chủ nghĩa, bên cạnh việc trong nước cho phép và khuyến
khích tư bản tư nhân phát triển, mở rộng và phát triển kinh tế tư bản
nhà nước. Đây là bằng chứng cho thấy sự mềm dẻo, linh hoạt trong tư
duy kinh tế của Đảng ta 31
 Bên cạnh đó, ta còn thấy vai trò của việc kết hợp giữa thị trường và
kế hoạch trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 31

Trong đổi mới kinh tế, gắn liền với việc xây dựng một nền kinh tế đa
dạng hóa về sở hữu, đa thành phần kinh tế là vấn đề xây dựng cơ chế
thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là hai mặt của nền
kinh tế thị trường: việc tồn tại một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần tất yếu làm nảy sinh yêu cầu về sự điều tiết của cơ chế thị
trường. Đồng thời cơ chế thị trường ra đời sẽ phát huy tác dụng của
nó tới hoạt động của các thành phần kinh tế. 31
Như vậy, để thực hiện tốt nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì
lại đòi hỏi phải có một cơ chế kinh tế thích hợp và được biểu hiện
bằng một cơ chế quản lí cụ thể. Cơ chế kinh tế phù hợp với một nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tất yếu phải là cơ chế thị trường.
5
Bởi lẽ chỉ có cơ chế thị trường mới đảm bảo cho nền kinh tế vận động
trong quỹ đạo của sự tuân thủ quy luật giá trị, quy luật cung - cầu.
Nhờ cơ chế thị trường, với sự tác động của quy luật cung – cầu, quy
luật giá trị, các sản phẩm hàng hóa luôn được lưu thông từ nơi sản
xuất thông qua thị trường tới người tiêu dùng. Qua thị trường, sản
xuất có điều kiện phát triển. Người sản xuất sẽ sản xuất ra nhiều mặt
hàng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, còn người tiêu dùng sẽ có
nhiều sự lựa chọn cho mình hơn: từ đó, nề kinh tế trở nên năng động
hơn. Ngược lại, nếu không có thị trường, không tuân theo cơ chế thị
trường thì nền kinh tế hàng hóa sẽ không thể phát triển được, quan hệ
giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần sẽ không thể tránh khỏi bị bóp méo, mất đi tính khách quan của
nó. Có thể khẳng định cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế khách quan
của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, của nền sản xuất và trao
đổi hàng hóa 32
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, bản thân cơ chế thị trường cũng có cả
mặt tiêu cực. Có những lúc, những nơi, kinh tế thị trường không
những không làm cho người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược

lại, còn làm tha hoá bản chất con người, biến con người thành gã nô
lệ sùng bái đồng tiền hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh
và lợi ích cá nhân, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm, văn hoá, đạo đức,
luân lí,… Bên cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường cũng
có nhiều khuyết tật, gây ra những tác động xấu. Đơn giản ví dụ như:
tệ nạn thương mại hoá trường học, xem nhẹ truyền thống tôn sư trọng
đạo Quan hệ hàng hoá - tiền tệ làm sôi động thị trường nhưng cũng
làm xói mòn nhân cách và phẩm chất con người. Ngoài ra, đi kèm với
kinh tế thị trường là hàng loạt các tệ nạn xã hội dễ đưa đến sự rối
loạn, khủng hoảng cho gia đình - hạt nhân, tế bào của xã hội. Nạn cờ
bạc, rượu chè, mại dâm,…là những căn bệnh trầm kha không dễ bề
khắc phục trong thời đại kinh tế thị trường. Đặc biệt là, sự tồn tại một
cơ chế thị trường tương ứng với nền sản xuất hàng hóa nhỏ có xu
hướng phá vỡ tính kế hoạch của nền kinh tế quốc dân. Thật không sai
khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu dùng không
cẩn thận sẽ bị đứt tay 32
Như thế, để đảm bảo tính kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, bắt buộc
ta phải tìm cách hạn chế, xóa bỏ mặt trái của cơ chế thị trường. Điều
này không có nghĩa là chúng ta lại rơi vào nhận thức sai lầm cố hữu
trước đây là tuyệt đối hóa sự đối lập giữa thị trường và kế hoạch
(chính nhận thức sai lầm đó đã đưa chúng ta tới với sự trì trệ của nền
6
kinh tế, gây ra hậu quả tiêu cực đối với sự phát triển sản xuất của
nước ta ở giai đoạn đó). Bởi vì mặc dù giữa thị trường và kế hoạch
có nhưng biểu hiện tác động ngược nhau lên nền kinh tế, song không
vì thế chúng không có sự thống nhất với nhau: Trong chủ nghĩa tư
bản vẫn có tính kế hoạch cũng như trong chủ nghĩa xã hội cần có thị
trường 33
Thực tế những năm đổi mới kinh tế vừa qua ở nước ta đã chứng tỏ,
việc thực hiện kết hợp các mặt đối lập giữa tư hữu và công hữu, thị

trường và kế hoạch trên cơ sở đảm bảo vai trò chủ đạo của thành phần
kinh tế nhà nước, đảm bảo tính kế hoạch ở tầm chiến lược ở tầm
chiến lược, vĩ mô là một giải pháp đúng đắn, nó đã đáp ứng được đòi
hỏi to lớn của sự phát triển nền kinh tế hiện đại 34
II.Vận dụngquy luật mâu thuẫn trong hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 34
Trên thực tế, công cuộc đổi mới của nước ta cũng chịu sự tác động, chi phối đáng kể của
những biến đổi quốc tế và xu hướng khách quan đó. Vì thế, vấn đề hội nhập quốc tế và
khu vực trong công cuộc đổi mới của nước ta trở nên tất yếu. Trong điều kiện quốc tế
hóa nền kinh tế thế giới, có cả sự hợp tác và cạnh tranh, cả sự phụ thuộc, nương tựa và
sự đối lập, đấu tranh lẫn nhau; trong điều kiện vai trò của trí tuệ, của tri thức khoa học
ngày càng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đòi hởi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
muốn phát triển cần phải điều chỉnh chiến lược phát triển sao cho phù hợp, đúng đắn.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đổi mới. Nhưng sự đổi mới phải phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh của dân tộc và thời đại. Và chỉ có đổi mới đúng đắn, thực
hiện quá trình hội nhập quốc tế theo tinh thần kết hợp biện chứng mới đưa đất nước
tiến kịp các nước tiên tiến, đi tới thịnh vượng, văn minh 35
Bởi vì, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cho thấy việc
xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội theo kiểu đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa tư bản đã
trở nên lỗi thời. Chính sự sụp đổ đó đã buộc các Đảng cộng sản cầm quyền phải nhìn
nhận lại về chính chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện đại. Đối với chủ nghĩa tư
bản, sự điều chỉnh về các vấn đề xã hội cũng như những sức mạnh vốn có của nó về mặt
khoa học và công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức quản lí lẫn xã hội, là những thực tế
không thể bác bỏ. Vì thế, giờ đây, thay vì có những tư duy theo kiểu siêu hình, tuyệt đối
hóa giữa hai mặt đối lập là tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, thì cần phải có cái
nhìn biện chứng hơn, mềm dẻo hơn về chủ nghĩa tư bản. Phải có thái độ khách quan,
chấp nhận thực tế về những giá trị tích cực của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Để từ đó có
khả năng, trong những trường hợp cụ thể, biết hợp tác với chủ nghĩa tư bản nhằm khai
tác tốt mặt tích cực của nó, làm lợi cho chủ nghĩa xã hội 35
Với những giá trị tích cực của mình, toàn cầu hóa cho phép chúng ta có thể khai thác
trong quá trình hội nhập để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Song toàn cầu hóa

cũng có hai mặt trái ngược của nó. Toàn cầu hóa tạo cơ hội để các nước trên thế giới,
nhất là các nước đang phát triển có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mình; tạo
điều kiện thuận lợi cho mỗi quốc gia có thể khai thác hiệu quả nguồn lực trong nước và
quốc tế. Tuy nhiên, toàn cầu hóa lại đặt các nước vào những thử thách, nguy cơ khôn
lường; cũng có thể làm cho một nước vốn đã nghèo càng nghèo đi. Nghĩa là toàn cầu hóa
7
có khả năng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, gia tăng tình trạng bất bình đẳng
giữa các nước phát triển và đang phát triển; nó còn tạo nguy cơ đánh mất bản sắc dân
tộc, mất độc lập chủ quyền quốc gia. Điều đó hoàn toàn là mối nguy có thể xảy ra trong
quá trình hội nhập quốc tế của các nước đang phát triển, trong đó có nước ta 36
Thực tế đó buộc chúng ta phải chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp với chủ nghĩa tư bản
trên cơ sở đảm bảo những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa nhất định để một mặt hạn chế
tác động tiêu cực của toàn cầu hóa; mặt khác, tận dụng được mặt tích cực của quá trình
này. Nếu chúng ta không thực hiện kết hợp với các nước tư bản chủ nghĩa thì như thế là
đi ngược lại xu thế quốc tế hiện nay. Như thế sẽ tự cô lập mình, không đón nhận được
thời cơ thuận lợi từ xu thế này, đưa đất tới chỗ suy yếu, thậm chí dẫn tới sụp đổ cả chế
độ. Nhưng nếu chúng ta lại không chủ động kết hợp một cách tự giác theo đúng nguyên
tắc xã hội chủ nghĩa của mình, thì cũng sẽ đưa chế độ, đưa dân tộc tới chỗ nguy hiểm, bị
đồng hóa, xâm lấn và cuối cùng bị tiêu diệt. Do đó, yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải
làm sao để qua việc kết hợp giữa hai mặt đối lập là xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
có thể tận dụng được tối đa thời cơ thuận lợi, đồng thời hạn chế tối đa nguy cơ tiêu cực,
góp phần thúc đẩy nhanh quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 36
Nhiệm vụ cốt lõi của việc đổi mới chính là sử dụng phương pháp mềm dẻo, linh hoạt
trong việc khai thác những điểm chung, tương đồng giữa các mặt đối lập, trên cơ sở
nắm vững nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, Đảng ta với chủ trương
mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đã thể hiện được tư duy biện chứng và khả năng giải
quyết thực tiễn mềm dẻo, linh hoạt của mình. 37
Trong thời kì đổi mới, Đảng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở trên tinh thần
Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, theo nguyên tắc
bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và các bên đều có lợi. Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc

tế của nước ta chính là tạo thêm nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp với nội lực trong nước
để tạo thành sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, đứng trước nguy cơ nảy sinh từ mặt
trái của toàn cầu hóa, Đảng ta khẳng định phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Bởi
vì, độc lập tự chủ về kinh tế chính là nền tảng cho sự độc lập tự chủ về mọi mặt, đặc biệt
là về chính trị 37
Nhằm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong
quá trình thực hiện hội nhập quốc tế, hợp tác với các nước trên thế giới, trong đó có các
nước tư bản chủ nghĩa, phải luôn giữ vững nguyên tắc: hợp tác, hội nhập phải bảo đảm
lợi ích dân tộc chân chính, lợi ích của chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trong quá trình hội nhập,
chúng ta vừa chủ động hợp tác với các nước trên thế giới, vừa đề cao cảnh giác đối với
những thế lực thù địch bên ngoài, những kẻ có âm mưu phá hoại chế độ chủ nghĩa xã
hội, chống phá nhà nước Việt Nam, 38
Bên cạnh đó, khi kết hợp nguồn nội lực và ngoại lực, giữa trong nước và quốc tế, Đảng
ta còn khẳng định phải phát huy cao độ nguồn nội lực, trong nước. Nguồn nội lực phải
được xem là yếu tố quyết định, là cơ sở để khai thác có hiệu quả nguồn lực bên ngoài.
(Ví dụ điển hình là cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”)
Muốn thế, phải xây dựng được một nền kinh tế tự chủ, vững mạnh, có sức cạnh tranh
cao trên thế giới; cùng với đó là phải có một nền khoa học, công nghệ tiên tiến để có
thể có sự bình đẳng trong quá trình hợp tác, trao đổi về kinh tế cũng như công nghệ với
bên ngoài. Điều đó càng chứng tỏ sự cần thiết phải xây dựng cho được nền kinh tế độc
lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 38
8
Như vậy, có thể thấy, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đáp ứng đòi hỏi
khách quan của toàn cầu hóa, Đảng ta đã vận dụng linh hoạt, có nguyên tắc tư tưởng
biện chứng về kết hợp giữa hai mặt đối lập. Từ đó, quá trình đổi mới của nước ta, cụ thể
hơn là công cuộc hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực đã đạt được những thành công
quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước ngày một phát triển mà vẫn định
hướng xã hội chủ nghĩa 39
III.Những vấn đề đặt ra khi vận dụng tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn trong quá

trình đổi mới đất nước hiện nay 39
1.Xây dựng nhận thức đúng đắn về kết hợp các mặt đối lập trong quá
trình đổi mới 39
Điều này là thực sự cần thiết. Bởi lẽ thực tế trong xã hội vẫn còn những nhận thức chưa
đúng đắn về mâu thuẫn nói chung, về các mặt đối lập nói riêng. Quan niệm về mâu
thuẫn thường là những xích mích cá nhân, là sự trái ngược, đối lập nhau giữa hai vật cụ
thể. Vì những cách hiểu phiến diện đó mà người ta coi mâu thuẫn là một cái gì đó xấu
xa, đáng phải loại trừ 39
Tuy nhiên, như đã bàn ở chương I, các mặt đối lập phải là những yếu tố, những thuộc
tính,… trái ngược nhau về bản chất, có khuynh hướng phủ định, bài trừ lẫn nhau; đồng
thời cũng có mối liên hệ ràng buộc thống nhất với nhau, quy định lẫn nhau. Nói cách
khác các mặt đối lập vừa đấu tranh, vừa thống nhất, vừa chuyển hóa cho nhau. Và dĩ
nhiên chúng ta không thể coi tất cả mọi mặt, mọi yếu tố nảy sinh trong xã hội đều là mặt
đối lập thực sự được. Chính vì thế, khi tiến hành việc kết hợp các mặt đối lập, ta phải
xem xét mặt đối lập đó có thực sự đối lập nhau không. Để từ đó, ta phải kết hợp một
cách linh hoạt, không máy móc, siêu hình, phiến diện 39
Ví dụ như sự kết hợp giữa kinh tế thị trường và kinh tế kế hoạch, giữa tư bản chủ nghĩa
và xã hội chủ nghĩa,… Chúng ta không được biệt lập hoàn toàn hai mặt đối lập. Cần
thấy được sự thống nhất của chúng để kết hợp lại, thấy được những mặt tích cực để
khai thác tối đa, cũng như không được có sự phân biệt, đối xử giữa các ngành kinh tế tư
nhân với kinh tế nhà nước,… 40
Như vậy, trước yêu cầu của cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh
tế làm trọng tâm, đòi hỏi chúng ta phải hiểu một cách chính xác, không phiến diện, nhận
thức đúng đắn hơn nữa về các mặt đối lập cũng như việc kết hợp chúng 40
2.Quán triệt phương pháp luận kết hợp các mặt đối lập 40
Phương pháp luận biện chứng của sự kết hợp các mặt đối lập ở đây là:
trên cơ sở những điểm chung giữa những mặt, nhân tố xã hội với tư
cách là những mặt đối lập của nhau, việc kết hợp chúng lại trong một
chỉnh thể để nhằm mục đích hướng cuộc đấu tranh của chúng đem lại
lợi ích cho chủ thể. Điều đó có nghĩa là: kết hợp các mặt đối lập

không phải thủ tiêu cuộc đấu tranh của chúng mà là tạo điều kiện cho
chúng đấu tranh trong một hình thức cụ thể. Bởi vì, theo Lê-nin: sự
phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập 40
Vận dụng vào thực tiễn, khi kết hợp các mặt đối lập trong đổi mới đất
nước, phải kết hợp có nguyên tắc giữa chúng. Ví dụ: khi kết hợp giữa
9
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội để phát triển đất nước, cần phải
luôn nhớ rằng, dù là thống nhất và bổ sung cho nhau, nhưng bản chất
giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn là trái ngược nhau. Do
đó, phải luôn thận trọng: lợi dụng những mặt tích cực của chủ nghĩa
tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, hợp tác với tư bản trong giới
hạn, khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội. Cần phải thực hiện tốt công tác
kiểm kê, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế của các nhà tư bản; cần phải
có giải pháp đưa ra đối với tình trạng trốn thuế, làm hàng giả, cạnh
tranh không lành mạnh, cũng như cả việc đối xử thô bạo của tư bản
nước ngoài đối với lao động Việt Nam,… Đặc biệt, khi Việt Nam đã
gia nhập WTO, bên cạnh những thay đổi chúng ta cần phải có để đáp
ứng cho yêu cầu hội nhập, ta còn cần phải chú ý để có những giải
pháp đúng đắn trước những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường,
bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền 41
Đặc biệt, chúng ta phải có bộ luật hoàn thiện, phù hợp với thông lệ
quốc tế, nhưng đồng thời vẫn phải duy trì cho phù hợp với đặc thù
nước ta, có thể đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa 41
3.Vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong quá trình xây dựng kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 41
4.Vấn đề chống “diễn biến hòa bình” trong quá trình hội nhập quốc tế
43
5.Vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế 43
IV.Những định hướng cơ bản của Việt Nam trong quá trình đổi mới 44

1.Về kinh tế 44
2.Về văn hóa – xã hội 45
3.Về quốc phòng, an ninh 46
4.Về đối ngoại 46
 KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………….………… 40
10
LỜI NÓI ĐẦU
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã
hội và cả tư duy của con người. Nó tồn tại trong các sự vật, là điều kiện
cho sự vật tồn tại và thúc đẩy sự vật phát triển.
Mâu thuẫn phổ biến là vậy, nhưng không phải ai cũng có cái nhìn
đúng đắn về mâu thuẫn. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề
này, song quan niệm biện chứng về mâu thuẫn là đầy đủ và chính xác
nhất. Theo đó, mâu thuẫn là một hiện tượng tất yếu khách quan, mang
tính phổ biến và đa dạng, phong phú. Triết học Mác – Lê-nin cũng chỉ
ra rằng: mâu thuẫn được tạo nên bởi các mặt đối lập, đây là những thành
phần vừa đấu tranh, vừa thống nhất với nhau lại vừa chuyển hóa cho
nhau, giúp cho sự vật tồn tại và phát triển. Đặc biệt, V.I.Lê-nin nhấn
mạnh tới sự thống nhất của các mặt đối lập, từ đó cho chúng ta cái nhìn
toàn diện hơn về mâu thuẫn, cũng như việc vận dụng quan niệm biện
chứng về vấn đề này một cách linh hoạt trong sự nghiệp xây dựng, phát
triển và đổi mới đất nước.
Thực tế cho thấy, từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế
quốc tế, kinh tế khu vực. Đó là một đường lối đúng đắn, tuy nhiên,
trong quá trình đổi mới, chúng ta đã gặp không ít khó khăn. Nguyên
nhân là do trong xã hội vẫn còn tồn tại những quan niệm không đúng
về mâu thuẫn, về các mặt đối lập, coi đó là hiện tượng bất bình thường

cần phải loại trừ; hoặc có những sai lầm cực đoan, không chú trọng tới
11
bản chất trái ngược của các mặt đối lập và kết hợp không có nguyên tắc
giữa chúng, dẫn tới nguy cơ chệch hướng, như nguy cơ “diễn biến hòa
bình”, Vì thế, việc giải quyết mâu thuẫn trở nên khó khăn, làm ảnh
hưởng tới việc kết hợp các mặt đối lập một cách đúng đắn nhằm đem lại
những lợi ích thiết thực trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay.
Từ thực tế đó, đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng một cách sáng
tạo, linh hoạt quan niệm biện chứng về mâu thuẫn, biết kết hợp các mặt
đối lập đúng đắn trong công cuộc đổi mới đất nước, nhằm thúc đẩy nền
kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước yêu cầu thực tế đó, nên em chọn đề tài: Quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lê-nin về vấn đề mâu thuẫn và sự vận dụng quan điểm
này trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay làm đề tài tiểu luận.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ nhận thức còn hạn chế,
nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế em rất mong
nhận được ý kiến đóng góp từ thầy và các bạn để bài viết được hoàn
thiện hơn.
Qua bài viết, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS
Trần Nguyên Ký – người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu
luận này!
Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh ngày 06/11/2010
12
Chương I
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN
VỀ VẤN ĐỀ MÂU THUẪN
I. Vị trí của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập (Quy luật mâu thuẫn)
Bàn về quy luật này, V.I.Lê-nin khẳng định: “Có thể định nghĩa vắn

tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập.
Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi
hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”
1
. Như vậy,
quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là “hạt nhân” của
phép biện chứng.
Đây là một trong những quy luật cơ bản của phép biện chứng về
nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển. Theo đó, những mâu
thuẫn khách quan, vốn có của sự vật chính là nguồn gốc, động lực cơ
bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển.
II. Nội dung quy luật
Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng
những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu
thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
1
V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr.240.
13
lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự
mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới.
1. Một số khái niệm
• Mâu thuẫn
Mâu thuẫn của thế giới khách quan đã được rất nhiều nhà triết học
trong lịch sử bàn đến. Chẳng hạn, thuyết âm dương ngũ hành của Trung
Hoa đã đề cập tới các mâu thuẫn Âm – Dương, mâu thuẫn giữa các yếu
tố bản nguyên Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Hêraclít cũng nhấn mạnh mâu thuẫn của các hiện tượng, quá trình khách
quan. Hêghen đề cập tới mâu thuẫn của tư duy.
Quan niệm siêu hình định nghĩa: mâu thuẫn là cái đối lập phản
logic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa

các mặt đối lập. Nói chung, các quan niệm trên đều đã mô tả mâu thuẫn
khách quan nhưng khái niệm mâu thuẫn còn nặng về hình thức mà chưa
đi sâu vào nội dung biện chứng của các mặt đối lập.
Đến quan niệm biện chứng về mâu thuẫn, ta đã có một khái niệm
tổng quát và chính xác nhất: mâu thuẫn là mối liên hệ thống nhất, đấu
tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng
hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
• Các mặt đối lập
Mặt đối lập chính là nhân tố tạo thành mâu thuẫn. Đây là một phạm
trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những đặc điểm
có khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều
kiện, tiền đề tồn tại của nhau, chúng tồn tại khách quan trong tự nhiên,
xã hội và tư duy.
14
Thí dụ: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử. Ở
đây, ta có thể nhận ra, “điện tích âm” và “điện tích dương” là hai mặt
đối lập, bởi hai thuộc tính “âm” và “dương” trái ngược nhau. Nhưng
chúng lại không thể tách rời nhau. Nếu mất một trong hai thuộc tính
trên, thuộc tính còn lại vô nghĩa, khi đó nguyên tử không thể tồn tại.
Một thí dụ khác về các mặt đối lập, đó là sản xuất và tiêu dùng
trong hoạt động kinh tế của xã hội. Sự trái ngược nhau của hai mặt đối
lập này thể hiện trong đặc điểm của chúng. Sản xuất là hoạt động nhằm
tạo ra hàng hóa; tiêu dùng thì ngược lại: tiêu thụ và sử dụng hàng hóa.
Tuy đối lập, nhưng chúng lại không thể tồn tại nếu thiếu nhau. Nếu
hàng hóa được sản xuất ra mà không có người tiêu thụ, thì những người
sản xuất sẽ bị thua lỗ, hoạt động sản xuất bị trì trệ, từ đó có thể dẫn tới
sự phá sản. Ngược lại, nếu như chỉ có tiêu thụ mà không có sản xuất,
người tiêu dùng không tìm được mặt hàng cần thiết, khi đó nhu cầu về
vật chất, tinh thần của họ không được đáp ứng đầy đủ, có thể làm nảy
sinh nhiều kết quả, tác động tới nhiều đối tượng. Ví dụ, những người bị

nhiễm HIV rất có nhu cầu muốn dùng một loại thuốc đặc trị trong khi
chưa ai sản xuất được. Như thế, nhu cầu tiêu thụ của họ bị kìm hãm, hậu
quả là họ không chữa khỏi được bệnh và sẽ chết.
Sự trái ngược nhau và sự thống nhất không thể tách rời của các mặt
đối lập nêu ở trên được phép biện chứng khái quát thành một quy luật
phổ biến: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, hay quy
luật mâu thuẫn.
2. Tính chất chung của mâu thuẫn
a) Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến
15
Đối lập với các quan điểm cũ, phép biện chứng duy vật khẳng định:
tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thực tại khách quan đều chứa
đựng trong nó mâu thuẫn. Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn là
do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật, hiện tượng quy định.
Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất cứ hiện tượng siêu nhiên
nào, kể cả ý chí con người. Mỗi sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều là
một thể thống nhất các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược
chiều nhau, đối lập nhau. Sự liên hệ, tác động qua lại, đấu tranh chuyển
hóa, bài trừ phủ định lẫn nhau, tạo thành động lực bên trong của mọi
quá trình vận động, phát triển khách quan của chính bản thân sự vật,
hiện tượng.
Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên,
xã hội và tư duy của con người. Khoa học tự nhiên hiện đại chứng minh
rằng thế giới vi mô là sự thống nhất giữa những thực thể có điện tích
trái dấu, giữa hạt và trường, hạt và phản hạt. Trong sinh học có bài tiết
và hấp thụ, di truyền và biến dị, đồng hóa và dị hóa. Xã hội loài người
có những mâu thuẫn phức tạp hơn, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa
các giai cấp đối kháng như chủ nô và nô lệ, địa chủ và nông dân, tư sản
và vô sản. Hoạt động kinh tế mâu thuẫn cũng mang tính phổ biến, chẳng

hạn như cung và cầu, sản xuất và tiêu dùng, tính kế hoạch hóa của từng
xí nghiệp, công ty với tính vô chính phủ của nền kinh tế hàng hóa…
Trong tư duy của con người cũng có những mâu thuẫn như chân lí và
sai lầm, hay như Ăng-ghen: “trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể
thoát khỏi những mâu thuẫn; chẳng hạn như giữa năng lực nhận thức vô
tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy
trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn
16
chế, trong những năng lực nhận thức – mâu thuẫn này được giải quyết
trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta trên
thực tiễn cũng là vô tận – và được giải quyết trong sự đi lên vô tận.”
1
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật mới xuất hiện cho tới khi sự vật kết
thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ có một mà
có thể có nhiều mâu thuẫn, vì sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt
đối lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác hình thành. Theo
Ăng-ghen, sự vận động đơn giản nhất của vật chất cũng là một mâu
thuẫn. Vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao hơn, mâu thuẫn càng rõ
nét hơn. Nó gắn liền với sự vật, xuyên suốt quá trình phát sinh, phát
triển và diệt vong của sự vật. Đó chính là những thuộc tính quy định
tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn.
b) Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú
Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại
mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch
sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn
tại, vận động và phát triển của sự vật. Có nhiều loại mâu thuẫn:
• Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữa các yếu tố cấu thành một sự
vật nhất định. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa mặt đối lập của
sự vật này với mặt đối lập của sự vật khác. Việc phân chia mâu thuẫn

bên trong và mâu thuẫn bên ngoài cần có quan điểm lịch sử cụ thể, tuỳ
phạm vi phân tích.
Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình
vận động và phát triển của sự vật. Còn mâu thuẫn bên ngoài có vai trò
1
C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.173-174.
17
hỗ trợ. Mâu thuẫn bên ngoài tự nó không thể phát huy được vai trò của
mình, mà phải thông qua mâu thuẫn bên trong để phát huy tác dụng nhất
định.
Như vậy, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài có sự tác
động qua lại với nhau. Giải quyết mâu thuẫn này cũng là điều kiện để
giải quyết mâu thuẫn kia.
• Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự
vật, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn
không cơ bản.
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy
định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật. Nó tồn tại gắn liền
với sự vật từ khi sinh ra cho đến khi sự vật kết thúc.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương
diện nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một
mặt nào đó của sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản là cơ sở hình thành và chi phối các mâu thuẫn khác
trong quá trình phát triển của sự vật. Khi mâu thuẫn cơ bản được giải
quyết thì sự vật sẽ thay đổi về chất. Mâu thuẫn không cơ bản bao giờ
cũng tồn tại gắn liền với mâu thuẫn cơ bản, và trong quá trình vận động,
mâu thuẫn cơ bản có thể làm nảy sinh mâu thuẫn không cơ bản.
• Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

Dựa vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của
sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành
mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
18
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn
phát triển của mọi sự vật. Nó có tác dụng quyết định đến các mâu thuẫn
khác tồn tại trong cùng sự vật ở giai đoạn đó.
Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định đối
với quá trình phát triển của sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Trong đó, mâu thuẫn chủ yếu là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn
cơ bản ở một giai đoạn nhất định. Do đó, việc giải quyết mâu thuẫn chủ
yếu chính là từng bước giải quyết mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu cũng có thể chuyển hoá
cho nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
• Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, những tập
đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng,
khuynh hướng xã hội mà lợi ích về cơ bản là nhất trí với nhau.
Phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc xác định phương pháp giải quyết mâu
thuẫn. Mâu thuẫn đối kháng theo nguyên tắc chung chỉ được giải quyết
thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Còn mâu thuẫn không đối kháng,
xu hướng phát triển đặc thù của nó ngày càng dịu đi. Mâu thuẫn này
được giải quyết vẫn phải tuân thủ nguyên tắc là thông qua đấu tranh
nhưng bằng phương pháp hoà bình.
Bên cạnh đó, trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu
thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự
19

biểu hiện của mâu thuẫn. Vì thế, khi xét một mâu thuẫn, ta cần xem nó
thuộc loại mâu thuẫn nào để có cách giải quyết phù hợp và đúng đắn.
3. Quá trình vận động của mâu thuẫn
Như đã nói, mâu thuẫn được tạo nên bởi các mặt đối lập. Do đó,
quá trình vận động của mâu thuẫn chính là sự thống nhất, đấu tranh và
chuyển hóa giữa các mặt đối lập.
a) Sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong cùng một thời điểm cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, và xét
trong một chỉnh thể, phải có sự tồn tại thống nhất của hai mặt đối lập,
chúng ngược chiều nhau và phủ định của nhau, nhưng không thể tách
rời và biệt lập chúng; khi đó chúng mới được gọi là hai mặt đối lập của
mâu thuẫn.
Sự thống nhất đề cập ở đây là sự thống nhất của các mặt đối lập -
khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy
định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn
tại. Hiểu theo cách nào đó, sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao
hàm sự đồng nhất của nó. Theo V.I.Lê-nin: “Sự đồng nhất của các mặt
đối lập (“sự thống nhất” của chúng, nói như vậy có lẽ đúng hơn? Tuy ở
đây sự phân biệt giữa các từ đồng nhất và thống nhất không quan trọng
lắm. Theo một nghĩa nào đó, cả hai đều đúng), đó là sự thừa nhận (sự
tìm ra) những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau, đối lập, trong
tất cả các hiện tượng và quá trình của giới tự nhiên (kể cả tinh thần và
xã hội). Điều kiện của một sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế
giới trong sự “tự vận động” của chúng, trong sự phát triển tự phát của
20
chúng, trong đời sống sinh động của chúng là sự nhận thức chúng với
tính cách là sự thống nhất của các mặt đối lập”
1
.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được dùng để chỉ khuynh hướng

tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập. Hình thức
đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính
chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối
kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất
lạc hậu kìm hãm nó diễn ra quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các
cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới giải
quyết nó một cách căn bản.
b) Mối quan hệ giữa sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt
đối lập trong mâu thuẫn
Nói tới đấu tranh, tức là đấu tranh của hai mặt đối lập trong thể
thống nhất. Thống nhất là sự thống nhất của hai mặt đối lập đang không
ngừng bài trừ nhau, đấu tranh với nhau. Ở đây, có một sự gắn bó chặt
chẽ giữa mặt thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Thống nhất là
điều kiện đấu tranh, muốn đấu tranh thì phải thống nhất, đồng thời
thống nhất là để dẫn tới đấu tranh. Đấu tranh là nội dung bên trong của
thống nhất, còn thống nhất là hình thức chuyển tải đấu tranh. Như vậy,
trong mỗi sự vật, sự thống nhất và sự đấu tranh của hai mặt đối lập
chính là điều kiện để nó tồn tại và phát triển. Nếu như chỉ có đấu tranh
thì sự vật sẽ không có lí do để tồn tại với tư cách là sự vật. Còn nếu chỉ
có sự thống nhất thì sự vật không thể phát triển được. Nói cách khác,
chính mâu thuẫn khách quan là nguồn gốc của sự phát triển.
1
V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981. t.29, tr.379.
21
Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập, dù thống nhất là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa
là chính nó - nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận
biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan - song bản
thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Tính tương đối ở

đây không nên hiểu theo nghĩa đơn thuần về mặt thời gian là chỉ xảy ra
ở một thời điểm cụ thể nào đó, mà phải xét trong từng trường hợp cụ
thể, từng phương diện cụ thể, từng phạm vi không gian, thời gian cụ thể.
Bởi vì, nhìn về tổng thể, đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối.
Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật.
Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như chuyển hoá nhảy vọt về
chất. Lê-nin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang
nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương
đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng
như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”
1
.
c) Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập
Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một
quá trình. Thông thường, khi mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể
hiện rõ xung khắc gay gắt, người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất
nhiên không phải bất kì sự khác nhau nào cũng được coi là mâu thuẫn,
chỉ có những khác nhau cùng tồn tại trong cùng một sự vật nhưng liên
hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên
trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu
của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến
giai đoạn xung đột gay gắt, gặp điều kiện chín muồi, chúng sẽ chuyển
hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu
1
V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr.379-380.
22
thuẫn mới được hình thành và quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai
mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động
và phát triển.
Ở đây, ta cũng không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt

đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản máy móc. Bởi thông
thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:
 Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối
lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong
kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới
là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình
độ cao hơn.
 Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiện tượng nào
cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có
khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá
của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Sự liên
hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn
gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới Chính vì
23
vậy, Lê-nin khẳng định: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các
mặt đối lập.”
1
III. Ý nghĩa phương pháp luận
Trước hết, vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là
nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển, do vậy, trong nhận
thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, không né tránh mâu
thuẫn, tích cực tìm tòi, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt
đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động
và phát triển. V.I.Lê-nin cho rằng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và

sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó…đó là thực chất…của phép
biện chứng”
2
.
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do đó, trong việc nhận
thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức
là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải
quyết phù hợp, biết kết hợp các mặt đối lập một cách linh hoạt, sáng
tạo.Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt
đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều
kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương
pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất!
1
V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr379.
2
V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr378.
24
ChươngII
SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN VÀO
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

I. Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong xây dựng và phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1. Kinh tế thị trường và những đặc điểm
Có hai ý kiến khác nhau về kinh tế thị trường :
Một là xem kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế, lấy
thị trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân
phối các nguồn lực chủ yếu; lấy lợi ích, cung cầu thị trường và mua bán
giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế, là phương thức
tổ chức vận hành kinh tế – xã hội. Kinh tế thị trường là phương thức,

phương tiện, công cụ vận hành nền kinh tế có hiệu quả, tự nó không
mang tính giai cấp – xã hội, không tốt mà cũng không xấu. Tốt hay xấu
là do người sử dụng nó. Theo quan niệm này thì kinh tế thị trường là vật
“trung tính”, là công nghệ sản xuất ai sử dụng cũng được.
Hai là xem kinh tế thị trường là một quan hệ kinh tế - xã hội - chính
trị, nó in đậm dấu ấn của lực lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế
thị trường là một phạm trù kinh tế hoạt động, có chủ thể của quá trình
hoạt động đó, có sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động. Trong
xã hội có giai cấp, chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải
là cái nhân riêng lẻ, mà còn là những tập đoàn, những giai cấp xã hội.
Sự tác động qua lại của các chủ thể hoạt động đó có thể có lợi cho người
này, tầng lớp hay giai cấp này; có hại cho tầng lớp hay giai cấp khác.
25

×