Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Hoàn thiện chuỗi cung ứng xuất khẩu vải thiều việt nam sang thị trường eu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 80 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI</b>

<b>BÁO CÁO TỔNG KẾTĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC</b>

<b>Hoàn thiện chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Namsang thị trường EU.</b>

<b>Hà Nội - 2024</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI</b>

<b>BÁO CÁO TỔNG KẾTĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC</b>

<b>Hoàn thiện chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Namsang thị trường EU.</b>

<b>Sinh viên thực hiện: Trịnh Thu Hương - K57LQ1Trần Khánh Duy -K57LQ1Giáo viên hướng dẫn: ThS. Doãn Nguyên Minh</b>

<b>Hà Nội - 2024</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>MỤC LỤC</b>

<b>PHẦN MỞ ĐẦU... 1</b>

<b>1. Tính cấp thiết của đề tài... 1</b>

<b>2. Tổng quan các công trình nghiên cứu...2</b>

<b>3. Mục tiêu nghiên cứu...6</b>

<b>4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...6</b>

<b>5. Phương pháp nghiên cứu...7</b>

<b>6. Bố cục đề tài... 8</b>

<b>CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀCHUNG VỀ NÔNG SẢN...9</b>

<b>1.1. Lý thuyết về chuỗi cung ứng...9</b>

1.1.1. Khái niệm chuỗi chuỗi cung ứng... 9

1.1.2. Mục tiêu của chuỗi cung ứng... 11

1.1.3. Thành phần và mối quan hệ hợp tác của chuỗi cung ứng...12

1.1.4. Phân loại chuỗi cung ứng... 15

<b>1.2. Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành hàng nông sản...17</b>

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm hàng hóa nơng sản...17

1.2.3. Cấu trúc và đặc trưng chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu...19

<b>1.3. Kinh nghiệm phát triển chuỗi cung ứng xuất khẩu nông sản của một số nướctrên thế giới...21</b>

1.3.1. Kinh nghiệm phát triển chuỗi cung ứng nơng sản an tồn của Pháp... 21

1.3.2. Kinh nghiệm mở rộng thị trường thơng qua việc hồn thiện kênh phân phối hàng hóa... 23

1.3.3. Bài học cho Việt Nam... 24

<b>CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG VẢI THIỀU XUẤT KHẨU ỞVIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU... 27</b>

<b>2.1. Tổng quan về ngành nông sản và sản phẩm vải thiều ở Việt Nam... 27</b>

2.1.1. Ngành nông sản Việt Nam:... 27

2.1.2. Sản phẩm vải thiều ở Việt Nam:... 27

2.1.3. Tình hình sản xuất vải thiều ở Việt Nam... 29

<b>2.2. Tình hình xuất khẩu của sản phẩm vải thiều Việt Nam sang thị trường EU.. 32</b>

2.2.1. Tổng quan thị trường nhập khẩu vải thiều của các nước EU... 32

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

2.2.2. Các quy định liên quan đến xuất khẩu vải thiều sang thị trường EU...34

2.2.3. Tình hình xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường EU...37

<b>2.3. Phân tích chuỗi cung ứng vải thiều Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU 41</b> 2.3.1. Mơ hình chuỗi cung ứng vải thiều xuất khẩu sang thị trường EU... 41

2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng vải thiều Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU... 46

<b>2.4. Đánh giá chuỗi cung ứng vải thiều Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU. 49</b> 2.4.1. Những kết quả đã đạt được...49

2.4.2. Những vấn đề cần hồn thiện...52

<b>CHƯƠNG III: HỒN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG VẢI THIỀU VIỆT NAMXUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG EU... 56</b>

<b>3.1. Mục tiêu, phương hướng, quan điểm hoạt động sản xuất và xuất khẩu vảithiều Việt Nam sang thị trường EU... 56</b>

3.1.1. Mục tiêu hoạt động sản xuất và xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường

<b>3.2. Đề xuất hoàn thiện chuỗi cung ứng vải thiều Việt Nam xuất khẩu sang EU...60</b>

3.2.1. Hoàn thiện các khâu trong chuỗi cung ứng vải thiều xuất khẩu ở Việt Nam... 62

3.2.2. Hoàn thiện mối liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi... 65

<b>3.3. Kiến nghị với cơ quan nhà nước... 67</b>

3.3.1. Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến thương mại vải thiều...67

3.3.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng...68

3.3.4. Hỗ trợ tài chính cho các chủ thể trong chuỗi cung ứng...68

3.3.5. Bảo hộ thương hiệu vải thiều quốc gia... 69

<b>KẾT LUẬN...71</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ</b>

<b>Hình 1.1: Sơ đồ các thành viên của chuỗi cung ứng...12</b>

<b>Hình 1.2: Cấu trúc chuỗi cung ứng nơng sản xuất khẩu... 19</b>

<b>Hình 2.1: Diện tích trồng vải thiều trên tồn tỉnh Bắc Giang ... 31</b>

<b>Bảng 2.1: Bảng thể hiện sản lượng và kim ngạch xuất khẩu vải thiều của tình BắcGiang giai đoạn 2019-2023...38</b>

<b>Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện sản lượng và kim ngạch xuất khảu vải thiều Bắc Gianggiai đoạn 2019-2023... 38</b>

<b>Hình 2.3: Quá trình vải thiều thu hoạch đến khi xuất khẩu sang EU...41</b>

<b>Hình 2.4: Mơ hình chuỗi cung ứng vải thiều xuất khẩu phức tạp...42</b>

<b>Hình 3.1: Mơ hình xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang châu Âu...61</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT</b>

AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực thương mại tự do ASEAN

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài</b>

Trong chính sách kinh tế của mình, Đảng và Nhà nước ta nhiều lần khẳng định "coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại" và coi đó là một trong ba chương trình kinh tế lớn phải thực hiện. Với đặc điểm là một nước nông nghiệp, 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực này, Việt Nam đã xác định nông sản là mặt hàng xuất khẩu và xuất khẩu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân sách và thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm qua, xuất khẩu nơng sản của Việt Nam có giá trị ln đạt ở mức cao, giúp cho GDP và tổng giá trị hàng hóa của Việt Nam tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy nông sản Việt Nam ngày càng khẳng định và chiếm được một vị trí nhất định trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, khi thị trường nông sản Việt Nam tham gia hội nhập vào kinh tế thế giới, nhất là Châu Âu sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cho việc hoạt động sản xuất nông sản Việt Nam.

Có thể nói, vải thiều đóng vai trị vô cùng quan trọng tới nền nông nghiệp, kinh tế và cuộc sống của người nông dân Việt Nam. Sản lượng vải thiều được trồng ở Việt Nam tập trung chủ yếu tại một số tỉnh phía Bắc như Hưng Yên, Bắc Giang, Hải Dương… Trong đó, Bắc Giang được coi là “thủ phủ của vải thiều” với loại vải chất lượng trồng tập trung tại vùng Lục Ngạn. Theo thống kê vào năm 2022, diện tích vải thiều tồn tỉnh Bắc Giang là 28.300 ha, sản lượng ước đạt 199.5000 tấn. Trong đó vải chín sớm sản lượng ước 61.000 tấn, vải thiều chính vụ sản lượng ước đạt 138.500 tấn. Sản lượng vải thiều xuất khẩu đạt khoảng 80 nghìn tấn (chiếm 38,07% tổng sản lượng). Kim ngạch xuất khẩu đạt 115,9 triệu USD, đạt 94,13% so năm 2021, trong đó, kim ngạch xuất khẩu từ vải thiều đạt 75,4 triệu USD, còn lại là kim ngạch xuất khẩu từ dịch vụ phụ trợ. Theo đánh giá của lãnh đạo tỉnh Bắc Giang, vụ vải thiều năm 2022 được mùa, được giá, tiêu thụ thuận lợi.

Hoạt động xuất khẩu vải thiều của Việt Nam sang thị trường EU trong thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực, với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh mẽ. Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần vào thành công này là sự phát triển của hệ thống chuỗi cung ứng. Hệ thống chuỗi cung ứng phục vụ xuất khẩu vải thiều đã được đầu tư, nâng cấp, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển, lưu trữ, bảo quản và phân phối sản phẩm. Điều này đã giúp giảm thiểu rủi ro, chi phí trong q trình xuất khẩu, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hệ thống chuỗi cung ứng phục vụ xuất khẩu vải thiều sang thị trường EU vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như: chi phí vận chuyển cao, sản xuất chưa đồng bộ. Điều này dẫn đến chi phí xuất khẩu tăng cao, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm vải thiều Việt Nam. Để tiếp tục

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

phát triển hoạt động xuất khẩu vải thiều sang thị trường EU, cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống chuỗi cung ứng.

Đối với công tác sản xuất trong nước thì ngành nơng nghiệp tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Những vấn đề mắc phải trong bối cảnh hiện nay lần lượt là việc xác định nông sản trong vùng dịch, thiếu lao động duy trì sản xuất, ngồi ra cước phí vận tải, chi phí cầu đường tăng cũng đang cản trở lưu thông nông sản. Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện đứng thứ 25 trong số các nước cung ứng rau quả vào thị trường EU, với thị phần khiêm tốn 1%. Việt Nam xuất siêu 2,03 tỷ USD sang thị trường EU, tăng 15,25% so với tháng đầu năm 2021 và tăng 3,13% so với 2020. Hơn nữa trái cây Việt Nam có nhiều triển vọng xuất khẩu sang thị trường EU vì sự đa dạng và mới lạ có sức hấp dẫn. Vì vậy mà cơng tác đẩy mạnh xuất khẩu vải thiều sang thị trường EU không phải trường hợp ngoại lệ.

Hiện nay, 20% đến 30% nông sản vải trong nước được áp dụng trong công nghệ chế biến xuất khẩu để nâng cao giá trị mặt hàng nông sản vải. Tuy nhiên, công nghệ chế biến còn chưa tương xứng với tốc độ phát triển của ngành nơng nghiệp, do đó các sản phẩm được sản xuất xuất khẩu dưới dạng thô nên giá trị gia tăng vẫn thấp hơn những nước khác.

<i><b>Với những lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Hoàn thiện chuỗi cung ứng xuất</b></i>

<i><b>khẩu nông sản vải thiều Việt Nam sang thị trường EU” là cấp thiết cả về cả lý luận và</b></i>

thực tiễn để phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời hoàn thiện chuỗi cung ứng chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm khác biệt và làm tăng lợi nhuận.

<b>2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu2.1. Tài liệu trong nước</b>

Trong thời gian qua, đã có một số bài viết, bài nghiên cứu liên quan đến đề tài. Cụ thể như sau:

<i>Phạm Hồng Linh (2019): Với đề tài “Phân tích tiềm năng xuất khẩu hàng nông</i>

<i>sản của Việt Nam sang thị trường liên minh Châu Âu (EU)” đã đưa ra những kết luận và</i>

giải pháp nhằm giúp cho việc xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường EU đạt mức tiềm năng. Cụ thể:

EU là thị trường lớn thứ hai đối với ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Dù vị thế cạnh tranh của Việt Nam ở EU còn nhiều hạn chế, song tiềm năng xuất khẩu hàng nơng sản của Việt Nam tiếp tục có xu hướng tăng và giá trị xuất khẩu có thể tăng khoảng 30-40% trong thời gian tới. Các yếu tố như sự phát triển của thị trường tài chính, tự do

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

thương mại, sự sẵn sàng về công nghệ, tự do lao động có mối tương quan cùng chiều với tiềm năng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU. Cùng với đó, nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Châu Âu như: nâng cao hiệu quả và tính ổn định của thị trường tài chính, đưa tài chính Việt Nam đến gần hơn với các quy định, tiêu chuẩn quốc tế...

<i>Nghiên cứu “Thị trường trái vải của Úc và các giải pháp xúc tiến xuất khẩu trái</i>

<i>vải của Việt Nam vào thị trường này” (2015) của Tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại Úc đã</i>

nghiên cứu về tình hình sản xuất và xuất khẩu vải của Việt Nam và các nước trên thế giới. Từ những số liệu, thông tin cụ thể trong nghiên cứu, ta thấy được Việt Nam là một trong ba nước đứng đầu thế giới về sản lượng vải. Tuy nhiên, vì chủ yếu xuất khẩu qua cửa khẩu phụ và lối mở biên giới nên Việt Nam không nằm trong danh sách các nước xuất khẩu vải đứng đầu thế giới. Nghiên cứu cũng đã thống kê số liệu để làm rõ hơn về tình hình trồng và tiêu thụ vải, thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Đến nay, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu vải chủ yếu của Việt Nam, ngồi ra cịn có Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc và các nước EU... Hiện tại, việc xuất khẩu vẫn cịn đang khá khó khăn. Và để mở rộng hơn thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang các nước, Nhà nước và các công ty sản xuất phải phương hướng nhằm tăng cường sản xuất, đảm bảo, đáp ứng nhu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, những phương pháp ấy bảo quản nhằm nâng cao lượng vải vẫn chưa thật sự khả quan vì chi phí đầu tư cho cơng nghệ mà tác giả đề xuất đắt đỏ, tốn kém nên không nhiều người sản xuất có thể chi trả để mua máy móc, thiết bị phục vụ cho việc sản xuất theo phương pháp đó.

<i>Lê Như Nhung (2018)“Một số ý kiến về hồn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu</i>

<i>mặt hàng rau quả ở Việt Nam”, đề tài đã tìm hiểu những nguyên nhân và hạn chế khả</i>

năng xuất khẩu rau quả cho thấy ngoài lý do biến động thị trường xuất khẩu truyền thống thì một nguyên nhân quan trọng là chưa có giải pháp hữu hiệu thúc đẩy xuất khẩu rau quả. Đồng thời đề tài đã tập trung nghiên cứu những chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu rau quả ở Việt Nam. Tuy nhiên đề tài vẫn chưa làm rõ về nguyên nhân hạn chế còn tồn tại trong việc thúc đẩy xuất khẩu rau quả ở Việt Nam.

<i>Nguyễn Thị Thúy Hồng (2019), “Chính sách thúc đẩy hàng hóa của Việt Nam vào</i>

<i>thị trường EU trong điều kiện tham gia WTO”, Luận án tiến sĩ, Khoa Kinh tế đối ngoại,</i>

Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Đề tài đã chỉ ra những quan điểm lý luận về chính sách thúc đẩy hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia WTO, phân tích đúng và hiện trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU. Từ đó đề xuất một số giải pháp và quan điểm hồn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

hóa của Việt Nam sang thị trường EU. Tuy nhiên, luận án còn nhiều hạn chế về nguyên nhân của những tồn tại trong công tác hồn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU trong điều kiện tham gia WTO.

<i>Lê Phương Chi (2007), “Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ cho vải thiều Lục</i>

<i>Ngạn”. Tác giả đưa ra những đặc điểm của ngành vải thiều, tình hình sản xuất và tiêu thụ</i>

vải thiều giai đoạn 2002-2006 và các giải pháp để mở rộng thị trường tiêu thụ thương mại cho vải thiều Lục Ngạn như tăng cường hoạt động xuất khẩu (mới chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc, Lào, Campuchia), đa dạng hóa sản phẩm chế biến, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước. Tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu và đưa ra giải pháp cho vải thiều ở Lục Ngạn, nhưng chưa đề cập đến nguồn cung cấp vải khác. Đồng thời, do tại thời điểm nghiên cứu, phương pháp trồng vải theo tiêu chuẩn VietGAP mới đang được triển khai áp dụng nên tác giả chưa phân tích và đề xuất thị trường cho sản phẩm vải thiều với chất lượng đạt chuẩn hơn so với phương pháp trồng tự phát.

<i>Vũ Đăng Minh (2013), “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng vải</i>

<i>thiều ở Hải Dương”. Tác giả đưa ra cái nhìn chung về chuỗi cung ứng vải thiều Hải</i>

Dương chủ yếu là thị trường nội địa và thị trường Trung Quốc và đối tượng nghiên cứu trong khu vực Hải Dương. Tác giả đưa ra chuỗi cung ứng cho vải thiều Việt Nam ở mức độ đơn giản gồm các mắt xích: hộ nơng dân, thương lái, doanh nghiệp chế biến, sản xuất, đại lý, nhà bán lẻ. Mắt xích hộ nơng dân mới dừng lại ở các hộ trồng theo phương pháp cũ, chưa phân tích đến các hộ trồng tham gia canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.

<i>Vũ Đình Tơn, Nguyễn Thị Thu Huyền (2008), “Hoạt động của các tác nhân trong</i>

<i>ngành vải thiều Thanh Hà”. Bài viết của các tác giả đã phân tích hoạt động của các tác</i>

nhân tham gia trong ngành hàng vải thiều, tuy nhiên mới ở khu vực huyện Thanh Hà. Đồng thời, bài nghiên cứu mới chỉ nêu ra đặc điểm nổi bật của các tác nhân chính như hộ sản xuất, hộ thu gom, cơ sở chế biến ở giai đoạn 2006 - 2008 theo hướng tiêu thụ ở thị trường trong nước, chưa đề cập đến mối quan hệ giữa các tác nhân và hoạt động của các tác nhân khi tham gia vào quá trình xuất khẩu.

<b>2.2. Tài liệu ngoài nước</b>

<i>Yulin Long (2021), “Export competitiveness of agricultural products and</i>

<i>agricultural sustainability in China”. Trong nghiên cứu đã chỉ ra khả năng cạnh tranh của</i>

sản phẩm nông nghiệp của một quốc gia không chỉ liên quan đến khả năng xuất khẩu nơng sản mà cịn liên quan đến tính bền vững của ngành nông nghiệp. Làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm nông nghiệp của một quốc gia đồng thời duy trì tính bền vững của ngành nơng nghiệp là một vấn đề cấp bách. Nghiên cứu đã

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

phân tích các số liệu, giá trị trung bình của chỉ số RCA đối với sáu sản phẩm công nghiệp tại thị trường Trung Quốc trong giai đoạn 1994 - 2013. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn chưa làm rõ được những hạn chế và đưa ra giải pháp cụ thể đối với ngành hàng.

<i>Shozo Sakata và Fumie Takanashi (2018), “Vietnam’s Lychee and Dragon Fruit</i>

<i>Exports to China: Studies of the Production and Value Chain”. Nghiên cứu đã xem xét</i>

khá cụ thể và toàn diện về thực trạng xuất khẩu trái cây tươi, đặc biệt là trái vải và thanh long, từ Việt Nam sang Trung Quốc. Bài viết cũng đã phân phân tích những đặc điểm của chuỗi giá trị từ các nhà sản xuất đến các doanh nghiệp Trung Quốc. Ngoài ra, nghiên cứu đã nêu ra được việc người nông dân phải đối mặt với những rủi ro về mức độ thu mua khó lường trước của các thương nhân Trung Quốc. Đặc điểm thị trường, sản lượng tiêu thụ cùng các số liệu về quả vải thiều tại tỉnh Bắc Giang và quả thanh long tại tỉnh Tiền Giang đều đã được phân tích cụ thể cùng những chính sách của địa phương.

Những đề tài nghiên cứu trên ngồi đưa ra vai trị quan trọng của xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất nhập khẩu nơng sản, cịn chỉ ra thực trạng của xuất nhập khẩu Việt Nam trong từng thời kỳ nghiên cứu. Đề tài cũng đã chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm của các Chính sách mà Nhà nước đã và đang thực hiện, đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện những ưu, khuyết điểm ấy để phát triển, mở rộng hơn nữa phạm vi xuất nhập khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc xung đột giữa các nước trên thế giới cộng hưởng với những tác động của đại dịch Covid-19 đã khiến nền kinh tế thế giới nói chung và nói riêng những nước phát triển đối mặt với nhiều khó khăn và những phương pháp trên cũng cần phải có sự thay đổi để đáp ứng với xu thế hiện nay.

<b>2.1.3. Khoảng trống nghiên cứu</b>

Qua việc tìm hiểu những mơ hình liên quan đến đề tài cả trong và ngoài nước, ta

<i>có thể thấy rằng, đề tài “Hồn thiện chuỗi cung ứng xuất khẩu nông sản vải thiều ở Việt</i>

<i>Nam sang thị trường EU” là một đề tài khơng hồn tồn mới. Đã có rất nhiều nghiên cứu</i>

và tài liệu về chuỗi cung ứng xuất khẩu nơng sản nói chung và vải thiều nói riêng, đồng thời phương pháp nghiên cứu và các mơ hình được sử dụng cũng rất đa dạng.

Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra được thực trạng chung của ngành vải thiều: tình hình sản xuất, tình hình xuất khẩu, khẳng định EU là thị trường tiềm năng với nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam. Ngoài ra, các nghiên cứu đã đưa ra nhiều giải pháp như: nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, tăng cường xúc tiến thương mại, hồn thiện chính sách,...

Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại thường mang tính tổng quan, chưa tập trung vào từng loại nông sản cụ thể. Các nghiên cứu đã khẳng định tiềm năng xuất khẩu nông

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

sản Việt Nam sang EU là lớn, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể về tiềm năng của từng loại nông sản. Cần nghiên cứu chi tiết tiềm năng của từng loại nông sản dựa trên nhu cầu thị trường EU, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam và các rào cản thương mại. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chưa chú trọng đến việc hoàn thiện chuỗi cung ứng xuất khẩu nông sản sang EU. Cần nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh của chuỗi cung ứng xuất khẩu nông sản sang EU. Ngồi ra, các nghiên cứu cũng cịn một số hạn chế như: Khả năng áp dụng vào thực tiễn còn thấp, thiếu sự phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.

<i><b>Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu chúng em quyết định chọn đề tài “Hồn thiện</b></i>

<i><b>chuỗi cung ứng xuất khẩu nơng sản vải thiều Việt Nam sang thị trường EU” để tìm</b></i>

hiểu, nghiên cứu và đưa ra những định hướng, phương pháp mới cho ngành xuất khẩu nông sản tại Việt Nam.

<b>3. Mục tiêu nghiên cứu</b>

<small></small> <i>Mục tiêu chung: Hoàn thiện hệ thống chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu</i>

của Việt Nam sang thị trường EU đồng bộ, hiệu quả. <small></small> <i>Mục tiêu cụ thể:</i>

<small></small> Hệ thống lý luận liên quan đến chuỗi cung ứng xuất khẩu vải thiều của Việt Nam.

<small></small> Phân tích hiện trạng chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu vải thiều của Việt Nam sang thị trường EU. Tìm hiểu về những thành cơng, hạn chế và ngun nhân thành cơng hạn chế đó.

<small></small> Đề xuất, kiến nghị những giải pháp để hoàn thiện chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường EU.

<b>4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4.1. Đối tượng nghiên cứu:</b>

Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường châu Âu.

<b>4.2. Phạm vi nghiên cứu:</b>

<small></small> <i>Phạm vi không gian: Hoạt động xuất khẩu sản phẩm vải thiều của Việt Nam sang</i>

thị trường EU.

<small></small> <i>Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng số liệu nghiên cứu về thực trạng chuỗi cung ứng</i>

xuất khẩu vải thiều Việt Nam từ năm 2019 đến nay. Các giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng xuất khẩu vải thiều Việt Nam

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<small></small> <i>Phạm vi nội dung: Hệ thống chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu sẽ tập</i>

trung vào nội dung cơ sở hạ tầng, khung thể chế chính sách, và các doanh nghiệp cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng vải thiều xuất khẩu ở Việt Nam.

<b>5. Phương pháp nghiên cứu5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu</b>

Đề tài chủ yếu sử dụng từ nhiều nguồn dữ liệu thứ cấp. Với các số liệu thống kê về xuất khẩu vải thiều sang thị trường châu Âu, dữ liệu được rà soát và đối chiếu từ các báo cáo chính thức của Tổng cục thống kê, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại. Với các tài liệu nghiên cứu về logistics và chuỗi cung ứng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường châu Âu, dữ liệu được tìm kiếm trên: Bộ Cơng thương, Viện Chiến lược và chính sách Cơng Thương, Tổng cục Thống kê…; Sách và các tư liệu xuất khẩu nơng sản…Mục đích thu thập các dữ liệu thứ cấp là phục vụ cho q trình phân tích, đánh giá thực trạng của việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm vải thiều Việt Nam

<b>5.2. Phương pháp xử lý dữ liệu</b>

<small></small> <i>Phương pháp biểu đồ, bảng biểu</i>

Là phương pháp sử dụng các sơ đồ hình vẽ, các đồ thị về cơ cấu thị trường, cơ cấu sản phẩm, mặt hàng. Về bảng biểu gồm có bảng kết quả hoạt động xuất khẩu vải thiều qua các năm 2019 - 2023.

<small></small> <i>Phương pháp so sánh</i>

Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so sánh là quy mô, hiệu quả, tốc độ phát triển, thị phần của các năm trước so với năm sau. Trên cơ sở so sánh để đưa ra kết luận những yếu tố nào tăng, giảm hay không đổi qua các năm. Sử dụng phương pháp này để phân tích được sự biến động của hoạt động xuất khẩu qua từng giai đoạn hay từng thời kỳ.

<small></small> <i>Phương pháp phân tích cơ bản</i>

Là sự kiểm định những yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu dựa trên nguồn dữ liệu đã có và sử dụng kết quả của các phương pháp khác.-Phương pháp phân tích tổng hợpSau khi thu thập số liệu, xử lý, phân tích dữ liệu tiến hành phân tích tổng hợp đưa ra được các kết luận từ đó quan sát và rút ra những kết luận và vấn đề về thực trạng thúc đẩy xuất khẩu vải thiều sang thị trường EU.

<b>5.3. Phương pháp tổng hợp tài liệu</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Thu thập dữ liệu từ các nguồn tài nguyên sẵn có, phương pháp tổng hợp tài liệu giúp xác định được các vấn đề tồn tại trong chuỗi cung ứng, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để hoàn thiện chuỗi cung ứng, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị của vải thiều Việt Nam tại thị trường EU.

<b>5.4. Phương pháp thống kê</b>

Để làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng hoạt động trong chuỗi cung ứng vải thiều Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU và đem lại cái nhìn tổng quan từ những số liệu đã tổng hợp.

<b>5.5. Phương pháp diễn giải, quy nạp</b>

Phương pháp diễn giải quy nạp có thể được sử dụng để rút ra các kết luận chung về thực trạng chuỗi cung ứng, các vấn đề tồn tại và các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng, dựa trên các dữ liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau, bao gồm: dữ liệu từ các nghiên cứu đã được công bố và dữ liệu từ khảo sát.

<b>6. Bố cục đề tài</b>

Ngoài phần mở đầu, kết luận Đề tài được bố cục làm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng.

Chương II: Thực trạng chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường EU.

Chương III: Hoàn thiện chuỗi cung ứng phục vụ hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường EU.

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<b>CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀCHUNG VỀ NÔNG SẢN</b>

<b>1.1. Lý thuyết về chuỗi cung ứng</b>

<b>1.1.1. Khái niệm chuỗi chuỗi cung ứng</b>

Ngày nay cạnh tranh một cách thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào đều đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp khi đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng cần phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quản sản phẩm hoàn thành và những điều mà người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng thực sự yêu cầu (ví dụ như có nhiều doanh nghiệp có thể khơng biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng mà khách hàng sử dụng). Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt ở thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư, và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó. Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trong công nghệ truyền thông và vận tải (ví dụ: truyền thơng di động, Internet và phân phối hàng qua đêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó.

Vậy chuỗi cung ứng là gì? Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, nhưng chưa có một định nghĩa nào được coi là chuẩn. Sau đây là một số định nghĩa về chuỗi cung ứng đã được đưa ra:

Theo PGS.TS An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2021), “Chuỗi cung ứng là tập hợp các doanh nghiệp hoặc tổ chức tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các quá trình tạo ra, duy trì và phân phối một loại sản phẩm nào đó cho thị trường.”

“Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ ngun liệu thơ cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng” (Introduction to Supply Chain Management – Ganeshan & Harrison).

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

“Chuỗi cung ứng là hệ thống các cơng cụ để chuyển hóa ngun liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối” (The evolution of Supply Chain Management Model and Practice – Lee & Billington).

Theo Hiệp hội Chuỗi cung ứng định nghĩa: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới toàn cầu được sử dụng để chuyển hóa nguyên liệu thành sản phẩm và dịch vụ giao đến khách hàng hàng hàng cuối cuối cùng thơng qua dịng dịng chảy thơng tin, phân phối và tiền mặt”

Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà cịn cơng ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó. Những chức năng này bao gồm, nhưng không bị hạn chế, phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.

Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở.

Cùng với sự phát triển của sản xuất, của công nghệ thơng tin, thì dây chuyền cung ứng này càng phức tạp, vai trị của cơng nghệ thơng tin trong quản trị dây chuyền cung ứng ngày càng lớn. Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức của chuỗi cung ứng, có một số thì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều. Với ý tưởng chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp. Về mặt lý thuyết, chuỗi cung ứng hoạt động như một đơn vị cạnh tranh riêng biệt và cố hữu, thực hiện những việc mà nhiều doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp hội nhập dọc cố gắng đạt được và đã thất bại trong việc thực hiện mục tiêu này. Điểm khác biệt chính là các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng hoàn toàn tự do trong

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

việc quyết định thâm nhập hoặc rời khỏi mối quan hệ chuỗi nếu quan hệ này không cịn đem lại lợi ích cho họ; đó chính là tổ chức thị trường tự do nhằm giúp đỡ chuỗi cung ứng vận hành một cách hiệu quả hơn các khối liên kết dọc.

<b>1.1.2. Mục tiêu của chuỗi cung ứng</b>

Theo Giáo trình Quản trị Chuỗi cung ứng (2021), Mục tiêu tối thượng của SCM là tối đa hóa tồn bộ giá trị (Value) chuỗi cung ứng. Đối với hầu hết các chuỗi cung ứng, giá trị của chuỗi tạo ra có liên quan mật thiết đến lợi nhuận chuỗi cung ứng (Supply chain surplus) tạo ra. Giá trị hay lợi nhuận của một chuỗi cung ứng chỉ có được từ nguồn thu nhập duy nhất là dòng tiền mặt của khách hàng. Giá trị này được tạo ra từ sự chênh lệch giữa doanh thu bán sản phẩm và chi phí trong tồn bộ chuỗi cung ứng sản phẩm. Cũng là khoản chênh lệch giữa giá trị sản phẩm mà khách hàng mua gọi là giá trị khách hàng (Customer value) với tổng chi phí phát sinh trong chuỗi để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Theo quan điểm của Chopra thì giá trị chuỗi cung ứng được tính theo công thức dưới đây:

<b>Giá trị chuỗi cung ứng = Giá trị khách hàng – Chi phí chuỗi cung ứng</b>

Nói cách khác, toàn bộ ý tưởng của SCM là cung cấp các giá trị tối đa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, đồng thời đem lại lợi nhuận lớn nhất cho các thành viên trong chuỗi cung ứng. Trong một chuỗi cung ứng, chỉ có một nguồn lợi nhuận duy nhất thu được từ hoạt động bán sản phẩm ở đầu ra khi mà NTD chấp nhận mua sản phẩm. Tất cả các khoản chi trả giữa những tổ chức hay cá nhân hợp tác với nhau trong chuỗi chỉ là những khoản trao đổi.

Giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung ứng dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận được chia sẻ xuyên suốt chuỗi. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công của chuỗi cung ứng càng lớn. Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo lường dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lượng lợi nhuận ở mỗi giai đoạn riêng lẻ. Vì vậy, trọng tâm khơng chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vận dụng cách tiếp cận hệ thống vào chuỗi cung ứng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

Những lợi ích chính của việc theo đuổi chuỗi cung ứng có thể được tóm lược như sau: Một chuỗi cung ứng giúp công ty và các đối tác trong chuỗi cung ứng tạo ra những khác biệt rõ rệt so với đối thủ cạnh trạnh. Lợi ích này cịn được phân chia trên hai lĩnh vực cụ thể: hiệu quả tài chính và lợi thế cạnh trạnh.

<i>Hiệu quả tài chính: chuỗi cung ứng giúp các đối tác trong đó tăng lợi nhuận và thu</i>

hút bên liên quan bằng cách tập trung trực tiếp vào nguồn lực thực sự của doanh thu và lợi nhuận-chính là khách hàng.

<i>Lợi thế cạnh tranh: Ngồi lợi ích về hiệu quả tài chính, việc xây dựng quan hệ mật</i>

thiết với khách hàng có thể cải thiện rõ ràng vị thế cạnh tranh. Các công ty ngày nay đang cảm thấy bị thu hẹp bởi các công ty lớn như Wal-Mart và hoạt động sản xuất, phân phối dựa trên chi phí thấp, lợi thế nhờ quy mô.

<b>1.1.3. Thành phần và mối quan hệ hợp tác của chuỗi cung ứng</b>

<i>1.1.3.1. Thành phần của chuỗi cung ứng</i>

Các thành viên cơ bản (trực tiếp) của chuỗi bao gồm các nhóm: Nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối bán buôn, nhà bán lẻ. Hỗ trợ cho các công ty này là các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển, kho bãi, thiết kế sản phẩm, tư vấn thủ tục hải quan, dịch vụ cơng nghệ thơng tin…

<i><b>Hình 1.1: Sơ đồ các thành viên của chuỗi cung ứng</b></i>

<i>(Nguồn: Người viết tự tổng hợp)</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<i>a. Nhà cung cấp: Là các tổ chức cung cấp các yếu tố đầu vào như hàng hóa, nguyên</i>

liệu, bán thành phẩm, dịch vụ cho các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và tập trung vào 2 nhóm chính:

<small></small> Nhà cung cấp nguyên liệu thô là những nguồn cung cấp đầu tiên của các nguyên liệu tự nhiên, bắt đầu bằng việc lấy từ dưới lòng đất như quặng sắt, dầu mỏ, gỗ và các sản phẩm nơng nghiệp. Chúng có thể là các cơ sở khai khoáng cung cấp nguyên liệu cho ngành cơng nghiệp luyện kim, hoặc có thể là các trang trại hoặc địa điểm đánh bắt hải sản cung cấp nguyên liệu cho ngành thực phẩm chế biến. Ngoài ra, các nguồn dầu cũng cung cấp nguyên liệu cho ngành cơng nghiệp hóa chất và sản xuất hạt nhựa.

<small></small> Nhà cung cấp bán thành phẩm thực hiện quá trình chuyển đổi ngun liệu thơ thành các sản phẩm cuối cùng. Ví dụ, từ quặng sắt, các cơng ty sản xuất thép tạo ra các sản phẩm như thép trịn, thép thanh và thép tấm với kích thước và tính chất khác nhau để đáp ứng nhu cầu trong lĩnh vực xây dựng hoặc công nghiệp chế tạo. Các nhà máy sản xuất bột giấy từ cây đay để phục vụ cho ngành cơng nghiệp giấy in và đóng gói. Nơng hộ cung cấp sữa bị tươi từ trang trại cho các nhà máy chế biến sữa.

<i>b. Nhà sản xuất: Là các tổ chức hoặc doanh nghiệp chịu trách nhiệm tạo ra sản phẩm</i>

trong chuỗi cung ứng. Họ sử dụng nguyên liệu và sản phẩm từ các công ty khác để sản xuất các sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng, giúp đảm bảo rằng người tiêu dùng cuối cùng có thể tiếp cận và sử dụng chúng một cách thuận tiện.

<small></small> Các sản phẩm hoặc thành phẩm này có thể là hàng hóa vật lý như hộp sữa tươi tiệt trùng, chai nước giải khát có ga, lon nước ép trái cây, điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng. Chúng cũng có thể là dịch vụ như âm nhạc, phim truyền hình, phần mềm xử lý dữ liệu hoặc thiết kế cơng trình nếu nhà sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất dịch vụ. Quá trình sản xuất có thể được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau tùy thuộc vào loại sản phẩm và đặc điểm của ngành công nghiệp chế tạo. Các giai đoạn này có thể bao gồm việc sản xuất linh kiện và sản xuất thành phẩm hoặc dịch vụ, tùy thuộc vào cách tổ chức và phân chia công việc trong chuỗi cung ứng.

<i>c. Nhà phân phối, còn được gọi là doanh nghiệp bán buôn, chịu trách nhiệm cho việc</i>

duy trì và phân phối hàng hóa trong chuỗi cung ứng. Các nhà bán buôn mua sản phẩm từ các nhà sản xuất với số lượng lớn và sau đó bán chúng lại cho các nhà bán lẻ hoặc các doanh nghiệp khác để sử dụng trong hoạt động kinh doanh của họ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<small></small> Đối với nhà sản xuất, nhà bán bn đóng vai trị quan trọng trong việc điều phối và duy trì cân bằng giữa cung cầu trên thị trường bằng cách lưu trữ sản phẩm và thực hiện các hoạt động để tìm kiếm và phục vụ khách hàng.

<small></small> Đối với nhà bán lẻ, nhà bán buôn thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong việc lưu trữ sản phẩm và tổ chức chúng để đáp ứng yêu cầu của mạng lưới bán lẻ rộng rãi, đảm bảo sản phẩm sẵn sàng tại đúng thời điểm và địa điểm cần thiết.

<i>d. Nhà bán lẻ là các doanh nghiệp chịu trách nhiệm chia sẻ sản phẩm và bán chúng</i>

cho người tiêu dùng cuối cùng. Thông thường, nhà bán lẻ mua hàng hóa từ nhà bán bn hoặc mua trực tiếp từ nhà sản xuất để sau đó bán cho khách hàng cuối cùng. <small></small> Mua sắm của người tiêu dùng cuối cùng có những đặc điểm như số lượng sản

phẩm mua thường ít, danh mục sản phẩm phong phú và phức tạp, và thường xuyên mua sắm trong khoảng thời gian ngắn hoặc dài trong tuần, tháng hoặc năm.

<small></small> Các doanh nghiệp bán lẻ phối hợp nhiều yếu tố để thu hút khách hàng, bao gồm việc cung cấp đa dạng sản phẩm, thiết lập giá cả hợp lý, tạo tiện nghi và thoải mái trong quá trình mua sắm tại các điểm bán hàng của họ.

<i>e. Nhà cung cấp dịch vụ là một nhóm các đối tác chuyên cung cấp các dịch vụ hỗ trợ</i>

trong chuỗi cung ứng và họ đóng vai trị gián tiếp. Các doanh nghiệp dịch vụ này cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau cho các thành viên chính trong chuỗi cung ứng.

<small></small> Những công ty cung cấp dịch vụ đóng góp vào chuỗi cung ứng bằng cách cung cấp lợi ích thực sự thơng qua các cách hỗ trợ như giúp cho các thành viên trong chuỗi có thể mua sản phẩm ở vị trí cần thiết, tạo điều kiện cho việc giao tiếp hiệu quả giữa người mua và người bán, mở rộng thị trường đến xa xôi, giúp tiết kiệm chi phí trong vận tải cả trong nước và quốc tế, cũng như giúp doanh nghiệp phục vụ khách hàng một cách hiệu quả với tổng chi phí thấp nhất có thể.

<small></small> Nhờ sở hữu năng lực chuyên môn cao cùng với tài sản và thiết bị đặc thù, họ có thể cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả hơn so với việc các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, bán lẻ hoặc người tiêu dùng tự thực hiện, và điều này thường được thực hiện với mức giá hợp lý.

<i>f. Khách hàng: Khách hàng đóng vai trị quan trọng nhất trong chuỗi cung ứng, vì</i>

nếu khơng có khách hàng, thì khơng có lý do cho tồn tại của chuỗi cung ứng và các hoạt động kinh doanh liên quan. Mục tiêu cốt lõi của mọi chuỗi cung ứng là đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong quá trình tạo ra lợi nhuận cho chính họ. Các hoạt động trong chuỗi cung ứng bắt đầu với việc khách hàng, người tiêu dùng cuối

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

cùng, đặt hàng, và chúng kết thúc khi họ nhận được sản phẩm và thực hiện thanh toán theo giá trị của đơn đặt hàng.

<i>1.1.3.2. Mối quan hệ hợp tác trong chuỗi cung ứng</i>

Theo cơng trình nghiên cứu của Togar và Sridharan về sự hợp tác chuỗi cung ứng có 3 kiểu hợp tác:

<i>Hợp tác theo chiều dọc (Vertical Collaboration): Xảy ra khi tồn tại hai hoặc nhiều</i>

hơn các tổ chức, chẳng hạn như nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà chuyên chở và nhà bán lẻ chia sẻ trách nhiệm, nguồn lực và thông tin nhằm phục vụ cho các tổ chức có liên quan tương tự như người tiêu dùng cuối cùng. Một chuỗi dọc hoàn toàn kết nối nhà cung cấp đầu tiên theo nhiều cách đến khách hàng cuối cùng. Liên kết dọc xảy ra khi một nhân tố trung tâm gia tăng vai trò ảnh hưởng đến các nhân tố khác trong nhiều lớp khác nhau. Liên kết dọc luôn luôn hướng vào các mối quan hệ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp đầu tiên và giữa nhà sản xuất với khách hàng cuối cùng.

<i>Hợp tác theo chiều ngang (Horizontal Collaboration): Xảy ra khi có hai hoặc nhiều</i>

hơn các tổ chức không liên quan và cạnh tranh nhau, nhưng hợp tác với nhau nhằm chia sẻ các thông tin hoặc nguồn lực như liên kết các trung tâm phân phối. Hay nói một cách khác, hợp tác ngang là hợp tác giữa các tác nhân trong cùng một công đoạn nhằm giảm chi phí và tăng giá bán sản phẩm.

<i>Hợp tác đa chiều (Lateral Collaboration): Nhằm mục đích có được sự linh hoạt</i>

nhiều hơn thông qua việc cạnh tranh và chia sẻ năng lực trong cả đặc trưng của hợp tác chiều dọc và hợp tác chiều ngang.

<b>1.1.4. Phân loại chuỗi cung ứng</b>

<i>1.1.4.1. Theo đặc tính của sản phẩm</i>

Theo Taylor (2004) có thể chia chuỗi cung ứng thành hai loại:

<i>− Chuỗi có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovative Supply Chain): Đây là chuỗi cung</i>

ứng dành cho các sản phẩm có sự thay đổi liên tục trên thị trường (ví dụ như các loại chip, phần mềm tin học, đồ gỗ...). Đặc điểm nổi bật của loại chuỗi này là luồng thông tin được chia sẻ tốt, thời gian đáp ứng rất nhanh, tốc độ quay chuỗi lớn, vòng đời sản phẩm ngắn, và mức độ tồn kho ít.

<i>− Chuỗi có sản phẩm mang tính chức năng (Functional Supply Chain): Các sản phẩm</i>

trong chuỗi này có đặc tính ít thay đổi, nhu cầu thị trường ít biến động (như lương thực, thực phẩm, sản phẩm nơng nghiệp...). Để tăng tính hiệu suất hoạt động của chuỗi, nên tìm

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

cách giảm chi phí trong sản xuất, vận chuyển và giao dịch. Quản lý chuỗi cung ứng chú trọng tới việc giảm tồn kho, và tăng chia sẻ thông tin giữa các thành viên với nhau. (Taylor, 2004)

<i>1.1.4.2. Theo cách thức đưa sản phẩm ra thị trường</i>

<i>− Chuỗi đẩy (Push Supply Chain): Sản phẩm được sản xuất dạng tồn kho, sản xuất song</i>

song với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Các Nhà quản lý cố gắng đẩy sản phẩm ra khỏi khối của mình đến cơng đoạn tiếp theo trong kênh phân phối. Đến lượt các công đoạn này lại cố gắng đẩy nó về phía gần khách hàng hơn. Quyền lực nằm trong tay nhà cung cấp, họ có nhiều vị thế trong đàm phán về giá cả, đặc biệt đối với các sản phẩm mới. Khách hàng khơng có nhiều cơ hội chọn lựa.

<i>− Chuỗi kéo (Pull Supply Chain): Sản phẩm xuất phát từ nhu cầu của khách hàng trên thị</i>

trường, họ tìm kiếm các nhà sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu của họ. Các nhà sản xuất lại đi tìm kiếm những nhà thầu phụ, hoặc nhà cung cấp khác có đủ năng lực để giúp họ hồn thành thương vụ và q trình cứ thế lặp lại, chuỗi cung ứng được hình thành. Khách hàng có cơ hội chọn lựa những nhà cung cấp mà họ cảm nhận giá trị sản phẩm là tốt nhất.

<i>1.1.4.3 Theo hoạt động của chuỗi cung ứng</i>

<i>- Chuỗi cung ứng tinh gọn: Loại chuỗi cung ứng này tập trung vào các sản phẩm tiêu</i>

chuẩn và các thị trường hiện tại và khả năng cung ứng thị trường để họ sẽ tiến hành các hoạt động dẫn đến tinh gọn toàn bộ hoạt động trong chuỗi cung ứng. Các quy trình quan trọng nhất trong loại chuỗi cung ứng này là quản lý lượng sản xuất, quá trình logistics và quản lý mối quan hệ nhà cung cấp cũng như quá trình mua sắm. Trong loại chuỗi cung ứng này, các điểm tách (decoupling point) và các hoạt động hoãn lại (postponement) sẽ được đặt ở đoạn càng cuối của chuỗi cung ứng càng nhiều càng tốt. Trong ngành công nghiệp ô tô, các công ty như VW, Renault, Tata Motors và Hyundai đã có chuỗi cung ứng như vậy.

<i>- Chuỗi cung ứng định hướng khách hàng: Loại chuỗi cung ứng này tập trung vào các sảnphẩm tương đối sáng tạo và theo Tan và cộng sự, (1999) nó có thể tùy chỉnh và xuất hiện</i>

tại một số thị trường mới. Trong phạm năng lực, họ sẽ tập trung nguồn lực vào các hoạt động bán hàng và tiếp thị. Các quy trình quan trọng nhất đối với loại chuỗi cung ứng này là quản lý mối quan hệ và dịch vụ khách hàng, phát triển sản phẩm và thương mại hóa sản phẩm. Điểm tách (decoupling point) và các hoạt động hoãn lại (postponement) sẽ được đặt ở giữa chuỗi cung ứng. Trong ngành công nghiệp ô tô, các cơng ty như Daimler, BMW và Audi đã có chuỗi cung ứng như vậy.

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

<i>- Chuỗi cung ứng cải tiến: Loại chuỗi cung ứng này xét đến các loại sản phẩm sáng tạo</i>

nhất tại các thị trường mới nhất. Về mặt năng lực, họ sẽ đầu tư hầu hết các nguồn lực và khả năng của mình vào hoạt động nghiên cứu và phát triển hoạt động. Các quá trình quan trọng nhất cho loại chuỗi cung ứng này là phát triển và thương mại hóa sản phẩm, và quản lý dịch vụ và mối quan hệ với khách hàng. Điểm tách (decoupling point) và các hoạt động hoãn lại (postponement) càng được đặt sát ở giai đoạn đầu của chuỗi cung ứng càng nhiều càng tốt. Trong ngành công nghiệp ô tô, các công ty như xe thương mại của Daimler, phân chia Hybrid của Toyota, BMW, và Porsche đã có chuỗi cung ứng như vậy.

<b>1.2. Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành hàng nông sản1.2.1. Khái niệm và đặc điểm hàng hóa nơng sản</b>

<i>1.2.1.1 Khái niệm hàng hóa nơng sản</i>

Nơng sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thơng qua gây trồng và phát triển của cây trồng. Sản phẩm nơng nghiệp bao gồm nhiều nhóm hàng thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm và ma túy bất hợp pháp (thuốc lá, cần sa), các sản phẩm độc đáo đặc thù. Ngày nay, nơng sản cịn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất.

Hàng hóa nơng sản (cash crops) là khái niệm dùng để chỉ các loại nông sản mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thị trường. Ngược với nơng sản hàng hóa là nơng sản phục vụ cho mục đích tự sản, tự tiêu.

Hàng nông sản bao gồm một vi phạm khá rộng các loại hàng hố có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:

<small></small> Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản: lúa gạo, lúa mì, bột mì, sữa, động vật tươi sống (trừ cá và các sản phẩm từ cá), cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,....) <small></small> Các sản phẩm phái sinh: bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,...

<small></small> Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bơng xơ, da động vật thô và nhiều sản phẩm khác....

Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản thường được chia làm hai nhóm, gồm nơng sản nhiệt đới và nhóm cịn lại. Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bơng và

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

nhóm có sợi khác như đay, lanh, những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nơng sản khác) được xếp vào nhóm nơng sản nhiệt đới. Trên thực tế, nhóm nơng sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển.

<i>1.2.1.2. Đặc điểm hàng hóa nơng sản</i>

Nơng sản bao gồm những sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất của người dân ở mỗi quốc gia, đây là sản phẩm của ngành nông nghiệp mà bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Do vậy, nông sản mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nơng nghiệp:

<i><b>Một là, tính thời vụ:</b></i>

Q trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ nơng sản ln mang tính thời vụ bởi các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định. Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện tự nhiên khí hậu làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, tạo nên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất. Vào khoảng thời gian chính vụ, nơng sản thường dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá rẻ, ngược lại, khi trái vụ thì nơng sản khan hiếm, chất lượng khơng đều nhau và giá bán thường cao.

<i><b>Hai là, nông sản phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên</b></i>

Nông sản chịu tác động lớn từ điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu và thời tiết. Đa phần các nông sản đều rất nhạy cảm với các nhân tố ngoại cảnh, do vậy, mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt, ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên khơng thuận lợi như nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc bão lụt sẽ gây sụt giảm về năng suất và sản lượng cây trồng.

<i><b>Ba là, chất lượng nông sản ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu</b></i>

Chất lượng nông sản ln là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định mua hàng. Tại các quốc gia phát triển, đối với hoạt động nhập khẩu nông sản, ngày càng có nhiều yêu cầu khắt khe đặt ra về chất lượng, vệ sinh ATTP, kiểm dịch, xuất xứ,... của loại hàng hóa này. Ngun nhân chính là do chất lượng của nơng sản sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng. Vì vậy, khi đời sống người dân được nâng lên thì chất lượng nông sản cũng cần được cải thiện tương ứng.

<i><b>Bốn là, nơng sản có tính đa dạng</b></i>

Nơng sản có đặc điểm đa dạng cả về chủng loại và chất lượng, bởi nông sản được sản xuất từ các địa phương khác nhau với các nhân tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

vùng, mỗi hộ dân, mỗi trang trại có phương thức sản xuất khác nhau với các giống nông sản khác nhau cho nên chủng loại cũng khác nhau, nông sản rất dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chất... do đó, chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trường không bảo đảm về độ ẩm, nhiệt độ, nông sản sẽ bị hư hỏng, giảm chất lượng.

<b>1.2.3. Cấu trúc và đặc trưng chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu</b>

<i>1.2.3.1. Cấu trúc chuỗi cung ứng nơng sản xuất khẩu</i>

<i><b>Hình 1.2: Cấu trúc chuỗi chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu</b></i>

<i>(Nguồn: Nông sản Việt Nam nhìn từ góc độ Chuỗi cung ứng - PGS.TS An Thị ThanhNhàn)</i>

Chuỗi cung ứng ngành hàng nông sản xuất khẩu mang đầy đủ cấu trúc của một chuỗi cung ứng phức tạp, bao gồm các thành tố sau:

<i>a. Người nuôi trồng</i>

Người nuôi trồng là người tạo ra nông sản xuất khẩu, bằng cách chăm sóc, quản lý, và trồng trọt cây trồng, đảm bảo chất lượng và sản lượng. Ngoài ra, họ cũng phải tuân thủ các quy chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm của quốc gia nhập khẩu. Người ni trồng cịn đóng vai trị trong việc bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội trong các khu vực nông thôn. Họ cũng phải phối hợp trong chuỗi cung ứng phức tạp, đảm bảo rằng sản phẩm được thu mua, chế biến, và xuất khẩu một cách hiệu quả.

<i>b. Người chế biến/sơ chế</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Người chế biến là người biến đổi nông sản từ dạng nguyên liệu thành sản phẩm hoàn chỉnh và sẵn sàng xuất khẩu. Vai trò của họ bao gồm chế biến, bảo quản, và tạo giá trị cho nông sản. Họ thường tiến hành các cơng đoạn như lựa chọn, sơ chế, đóng gói, và chế biến nơng sản để đảm bảo chất lượng và tuân thủ các quy chuẩn chất lượng và an tồn thực phẩm quốc tế.

Người chế biến cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng giá trị của nông sản thông qua việc sáng tạo trong quá trình chế biến và đóng gói. Điều này giúp tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế và tối ưu hóa giá trị thương mại.

<i>c. Người xuất khẩu</i>

Người xuất khẩu là người đóng vai trị quan trọng trong việc nắm bắt thị trường quốc tế. Họ phải xác định nhu cầu của khách hàng, quản lý nguồn cung cấp, đảm bảo tuân thủ quy chuẩn chất lượng, quản lý vận chuyển, thủ tục xuất khẩu, và thực hiện hoạt động tiếp thị. Điều này giúp đưa nông sản từ nơi sản xuất đến thị trường quốc tế một cách hiệu quả và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

<i>d. Người bán buôn/bán lẻ</i>

Người bán buôn và bán lẻ trong chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu đóng vai trị quan trọng trong việc đưa nơng sản từ nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Họ đóng vai trị quan trọng trong việc quản lý kho, đảm bảo chất lượng, tạo thị trường địa phương, thúc đẩy tiếp thị, và tạo cầu nối giữa các giai đoạn khác trong chuỗi cung ứng. Vai trị này giúp đảm bảo rằng nơng sản xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng, đồng thời tạo giá trị thêm cho sản phẩm trong quá trình phân phối.

<i>e. Người sản xuất</i>

Người sản xuất là nguồn gốc của mọi hoạt động, chịu trách nhiệm quan trọng trong việc tạo ra nông sản xuất khẩu. Vai trị của họ khơng chỉ giới hạn ở việc trồng trọt và nuôi dưỡng cây trồng hoặc thú nuôi, mà còn bao gồm việc tuân thủ quy chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm, quản lý tài nguyên môi trường một cách bền vững, và thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội trong cộng đồng nông dân. Họ cũng phải hợp tác với các đối tác trong chuỗi cung ứng để đảm bảo rằng nông sản được thu mua, chế biến và xuất khẩu một cách hiệu quả. Vai trò của người sản xuất là quan trọng để đảm bảo nông sản xuất khẩu đáp ứng được yêu cầu của thị trường quốc tế và góp phần vào phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

<i>f. Tiêu dùng cuối cùng</i>

Người tiêu dùng cuối đóng vai trị quyết định trong việc hình thành và thúc đẩy thị trường quốc tế. Vai trò của họ quan trọng bởi họ tạo nhu cầu cho các sản phẩm nông sản

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

và ảnh hưởng đến quyết định về giá trị và chất lượng của những sản phẩm này. Sự lựa chọn của người tiêu dùng và sự ủng hộ của họ đối với các nông sản nhập khẩu có thể thúc đẩy hoặc định hình thị trường, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và xuất khẩu nông sản trong tương lai.

<i>1.2.3.2. Đặc trưng chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu tại Việt Nam</i>

<i>Chuỗi cung ứng nơng sản có thể được phân loại vào Chuỗi có sản phẩm mang tính</i>

<i>chức năng (Functional Supply Chain), vì nơng sản là những sản phẩm có đặc tính ít thay</i>

đổi, nhu cầu thị trường ít biến động. Chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu là một chuỗi khá phức tạp với sự xuất hiện của người nuôi trồng (nhà sản xuất), người chế biến, người xuất khẩu, người bán buôn/bán lẻ, khách hàng cuối cùng.

Chuỗi cung ứng nông sản của nước ta gặp một tình trạng đó là “lên nhanh xuống chậm” và hàng hoá đi từ sản xuất đến tiêu thụ lẻ phải qua nhiều khâu trung gian, cộng với chiết khấu cao vô lý khi gửi hàng vào một số siêu thị diễn ra nhiều năm nay nhưng chưa được khắc phục. Điều cần nói thêm là những vấn đề này ít được các cơ quan quản lý ngành công thương ở trung ương và các địa phương, Hiệp hội bán lẻ, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, Cục Quản lý cạnh tranh lên tiếng chia sẻ, làm trọng tài và can thiệp.

Ngoài ra, chuỗi cung ứng nông sản cũng tồn động những vấn đề khác như: sự bất ổn trong hệ thống sản xuất hàng nông sản; khơng đảm bảo các u cầu an tồn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc; hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, nhiều khâu trung gian; khủng hoảng thừa nông sản trong cung cầu dẫn đến sự trồi sụt về giá nông sản khi người người nông dân được mùa; hiện tượng một phần người tiêu dùng quay lưng với các hàng nông sản trong nước, và địa phương; việc áp dụng công nghệ khoa học chưa đáp ứng các yêu cầu sản xuất và bảo quản, lưu trữ hàng hóa… dẫn đến hàng hóa sản xuất ra nhiều nơi không tiêu thụ được, thu nhập người nông dân khơng được đảm bảo, hàng hóa rẻ, chất lượng cao không đến được tay người tiêu dùng, bị thương lái hoặc các khâu phân phối

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Nhờ vào các vùng đất phì nhiêu rộng lớn, áp dụng kỹ thuật hiện đại và trợ cấp của Liên minh châu Âu, nền nông nghiệp của Pháp hiện đứng thứ 6 thế giới về sản lượng và đứng đầu Liên minh châu Âu. Thậm chí, xuất khẩu nơng sản của nước này đứng thứ 2 thế giới, chỉ xếp sau Mỹ, đứng đầu châu Âu. Hàng năm, Pháp xuất siêu khoảng 6,6 tỷ USD hàng nơng sản (gồm lúa mì, rượu nho, các sản phẩm thịt và sữa). Năng suất lao động nông nghiệp cao, công nghiệp chế biến thực phẩm rất phát triển, chiếm xấp xỉ 3,5% GDP (MOFA, 2018).

Xây dựng các chuỗi cung ứng mang lại hiệu quả luôn được xem là một trong những chủ trương hàng đầu được Chính phủ Pháp quan tâm. Chuỗi cung ứng ngắn hàng nơng sản tại Pháp được hình thành với đặc trưng cơ bản là chỉ duy trì tối đa một đơn vị trung gian trong chuỗi cung ứng, nhằm kết nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Quy trình xây dựng và vận hành chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tại Pháp hiện nay bao gồm các giai đoạn sau:

Giai đoạn tiền khởi động - xây dựng ý tưởng chuỗi cung ứng ngắn.Với ý tưởng giúp người sản xuất có cơ hội giới thiệu sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng, bán các sản phẩm mang đặc trưng văn hóa địa phương, gắn kết với các chương trình truyền thơng xây dựng hình ảnh,… chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp địa phương kết nối các hộ nông dân sản xuất và bán sản phẩm tại các cửa hàng và siêu thị của vùng.

Giai đoạn khởi nghiệp - xây dựng các bộ quy tắc, quản lý vận hành chuỗi. Các hộ nông dân sản xuất nhỏ tham gia chuỗi cung ứng ngắn, với cam kết tuân thủ các quy định như: (1) Các sản phẩm tham gia chuỗi phải là các sản phẩm nông nghiệp của vùng; (2) Các sản phẩm của chuỗi được bán tại các cửa hàng của vùng. Khoảng cách từ các trang trại sản xuất đến điểm bán hàng từ 20km-50km; (3) Các hộ nông dân được chủ động các hoạt động sản xuất của mình; (4) Đơn vị quản lý chuỗi chịu trách nhiệm lập ra quy trình về tổ chức và vận hành chuỗi; (5) Thiết lập website quản lý bán hàng, theo đó các sản phẩm được quản lý theo mã vạch tương ứng với các hộ nông dân tham gia sản xuất; (6) Theo quy định của chuỗi, các sản phẩm được nhập từ các nhà sản xuất khác nhau song mức giá đều được thống nhất, ghi cùng mức giá trên mỗi sản phẩm. Điều này tránh được sự cạnh tranh không cần thiết giữa các hộ sản xuất; (7) Các hộ nông dân chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm của mình đến các cửa hàng của chuỗi; (8) Mức phí áp dụng trong từng thời điểm đối với các sản phẩm được chiết khấu tính trên doanh thu bán sản phẩm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

Giai đoạn trưởng thành - đánh giá những thành công, hạn chế của chuỗi cung ứng. Định kỳ họp đánh giá những thành công, hạn chế và đưa ra những điều chỉnh về nguyên tắc hoạt động của chuỗi được định kỳ tổ chức trong khoảng thời gian từ 4 đến 6 tuần. Tham gia họp định kỳ bao gồm 3 nhóm là truyền thơng, quản lý lao động và việc làm, nhóm giám sát và kiểm tra chất lượng sản phẩm.

Như vậy, sau một thời gian áp dụng chuỗi cung ứng ngắn đối với hàng nông sản, đã mang lại một số kết quả, đó là khung khổ luật về chuỗi cung ứng ngắn hàng nông sản, thực phẩm được hoàn thiện, làm cơ sở để các cơ quan chức năng tổ chức tập huấn, hỗ trợ các hợp tác xã, hộ nông dân nhỏ sản xuất các sản phẩm đáp ứng cho chuỗi cung ứng ngắn. Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm địa phương trở thành một trong những ưu tiên của Chính phủ Pháp trong việc thực hiện Chương trình phát triển nơng thơn giai đoạn 2014-2020.

<b>1.3.2. Kinh nghiệm mở rộng thị trường thông qua việc hồn thiện kênh phânphối hàng hóa</b>

Thái Lan xây dựng kho nông sản tại các thị trường nhập khẩu nhằm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, hiểu rõ và nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường. Các kho ngoại quan này được xây dựng ở quốc gia có vị trí địa lý trung tâm, thuận tiện xuất khẩu đi các nước lân cận hoặc có thể xuất ngay tại nước đó. Hiện nay, Thái Lan đã xây nhà máy đánh bóng gạo và kho chứa trái cây tại Pháp để xuất khẩu sang Hà Lan, Đức. Các doanh nghiệp xuất khẩu nước sau khi thu mua trong nước là vận chuyển sang kho ngoại quan, khi thấy thị trường Pháp hoặc các nước châu Âu có nhu cầu sẽ đáp ứng kịp thời hơn.

Một cách phân phối nông sản hiệu quả nữa của Thái Lan là thông qua Chợ trung tâm mua bán nông sản (Taladd Thai) tại thị trường nội địa. Tất cả nông sản của 76 tỉnh thành của Thái Lan đều được đưa về đây để tiêu dùng và xuất khẩu. Talaad Thai được biết đến như là cửa ngõ xuất khẩu nông sản của Thái Lan. Từ Talaad Thái ra cảng biển, sân bay rất thuận tiện và các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu cũng rất phong phú và hiệu quả. Trung tâm Dịch vụ xuất khẩu nông sản một cửa (POSSEC) đáp ứng mọi thủ tục cho xuất hàng ngay tại Talaad Thai từ hoàn tất thủ tục hải quan, nhận giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), chứng nhận kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn vệ sinh đến những dịch vụ chiếu xạ, kho vận đóng gói, thơng tin tư vấn về thị trường, luật lệ…

Ngoài ra, Thái Lan là đất nước có lượng khách du lịch hàng năm lớn nên các nhà kinh doanh nông sản đã tận dụng lợi thế này để xuất khẩu tại chỗ với kim ngạch đáng kể.

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

Mặt khác đây cũng là một hình thức tiếp thị, quảng bá thương hiệu nơng sản Thái Lan có hiệu quả.

<b>1.3.3. Bài học cho Việt Nam</b>

Phát huy thành tựu đã có, tiếp tục các cơng việc đang làm để góp phần làm tốt hơn công việc xây dựng và phát triển các chuỗi cung ứng. Vận dụng kinh nghiệm của Pháp để phát triển các chuỗi cung ứng nơng sản an tồn; bài học của Thái Lan về việc mở rộng thị trường thông qua hoàn thiện hệ thống kênh phân phối. Đồng thời, cần dựa vào đòi hỏi của thực tiễn, khai thác cơ hội, khắc phục hạn chế, để phát triển tốt hơn các chuỗi cung ứng nông sản. Bản chất là vận dụng sâu hơn các nội dung còn yếu hoặc thiếu trong khung nghiên cứu, cụ thể là cần thực thi các nhóm giải pháp chính sau:

<i>Một là</i><b>, tiến hành phân vùng kinh tế, gồm cả phân vùng nông nghiệp, theo bối cảnh</b>

hội nhập, để chỉ ra cơ cấu sản phẩm chun mơn hóa của đất nước, từ đó xác định các chuỗi cung ứng toàn cầu cần phát triển để góp phần cải thiện mạng lưới thương mại quốc tế cho nông sản của nước ta.

Một nước chỉ hội nhập thành công vào FTA khi vừa khai thác được nhiều nhất sự hỗ trợ từ bên ngồi, vừa đóng góp được nhiều vào phát triển kinh tế của FTA. Với nước con đang phát triển như Việt Nam, để tiến nhanh trên con đường “Cơng nghiệp hóa bắt kịp”, cần khai thác tốt các lợi thế - nhất là về nông nghiệp, để cân đối cán cân xuất nhập khẩu. Để biết nên xuất khẩu nông sản nào, từ đâu và tới đâu, với quy mô và chất lượng thế nào - Việt Nam cần phân vùng kinh tế, nhất là phân vùng nông nghiệp. Lấy bối cảnh đáp ứng các nhu cầu xuất khẩu - hàng phi nông sản, nhưng tập trung vào nông sản, cho các nước theo các cam kết mới nhất theo các FTA. Dựa vào khác biệt địa lý, cơ cấu đối tác thương mại, thị hiếu tiêu dùng và cơ cấu nông sản nhập khẩu, chỉ ra nên xuất sản phẩm gì sang nước nào trong từng FTA. Với 14 FTA đã có hiệu lực với 55 đối tác; chắc chắn rằng: Việt Nam khơng chỉ có 8 mặt hàng “nơng nghiệp tỷ USD”, mà còn nhiều hơn, với giá trị kim ngạch không chỉ vài tỷ USD/nông sản. Giúp xác định được các chuỗi cung ứng toàn cầu cần phát triển, với nhiều chuỗi cung ứng tồn cầu về nơng sản, từ đó tạo ra nhiều thay đổi về các mặt hàng, hướng đi và quy mô của chúng.

<i>Hai là, từ các chuỗi cung ứng tồn cầu cho nơng sản được phân bổ, các vùng phát</i>

triển các vùng chuyên canh cấp quốc gia; từ các khả năng còn lại, phát triển các vùng chuyên canh cấp vùng, nhằm phát triển các chuỗi cung ứng tầm quốc gia.

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

Đất nước chỉ phát triển nhanh nhất, mạnh nhất khi mọi vùng đều phát huy được thế mạnh, không phải đầu tư vào việc sản xuất các sản phẩm mà khơng có lợi thế. Do đó, sau khi xác định các chuỗi cung ứng nơng sản tồn cầu cần có; dùng các khả năng nổi bật trong cơ cấu khả năng của cả nước, chỉ ra các vùng chun mơn hóa chính, có liên quan. Từ đó, chỉ ra các khả năng phát triển cịn lại của từng vùng - trong đó trội hơn là các khả năng chính. Để khai thác tốt các khả năng chính, cần dựa vào dự báo về nhu cầu nông sản nội địa, xác định các vùng nơng nghiệp chun mơn hóa cấp quốc gia trong mỗi vùng. Khi được phê duyệt, đó sẽ là các nơng sản chun mơn hóa, được dùng làm cơ sở để xây dựng và phát triển các chuỗi cung ứng nông sản tầm quốc gia, dùng để trao đổi qua lại giữa các vùng. Trên thực tế, đó phần lớn là các nông sản đạt tiêu chuẩn “5 sao” hoặc “4 sao” trong Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) của Chính phủ. Ngồi ra, nhiều đặc sản q hiếm, nếu được đầu tư công nghệ cao sẽ đủ sức chun mơn hóa theo vùng, như ni hươu lấy nhung, ni cá sấu lấy da, ni sị huyết, đồi mồi, chim yến; hoặc phát triển để thay thế nông sản nhập khẩu, nhất là để làm thức ăn chăn ni... Nhờ đó, sẽ có nhiều chuỗi cung ứng nơng sản tầm quốc gia, tạo ra nguồn cung nông sản chất lượng, giúp cải thiện đáng kể nền nông nghiệp theo hướng có hiệu quả cao.

<i>Ba là, từng vùng căn cứ vào các đầu mối tiêu thụ nông sản cuối cùng, cụ thể, tiến</i>

hành cải thiện giống, đổi mới quy trình sản xuất, chế biến; hồn thiện thể chế thương mại, giải quyết nhanh, thỏa đáng các vi phạm.

Bên cạnh đó, cần tiến hành nhiều giải pháp phối hợp, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, tiến tới thương mại bền vững, cụ thể cần: Hình thành “Văn hóa Thương mại” mới phù hợp với hội nhập, như xây dựng quan điểm “win-win” trong kinh doanh, sửa đổi các luật: Đất đai, Kinh doanh theo chuẩn mực quốc tế. Cho phép tài trợ cao và đồng thời phạt nặng các vi phạm hợp đồng để củng cố niềm tin trong các mơ hình sản xuất nơng nghiệp mới; chuyển sang quản lý theo vùng kinh tế - xã hội, và theo chuỗi cung ứng.

Triển khai cải tạo đất, áp dụng “tứ hóa” và cơng nghệ sinh học 4.0 để mở rộng các vùng ni trồng, thực hiện chun mơn hóa sâu trong nông nghiệp.Tăng cường liên kết cả trong nước và với nước ngoài, để nâng tầm cho các chuỗi cung ứng, hướng tới tạo ra chuỗi cung ứng đối trọng xứng tầm với các chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Hướng tới quan hệ thương mại bình đẳng và chủ động hơn trong thương mại quốc tế; đưa các nông sản chế biến như Sữa TH, Sữa Vinamilk thành các thương hiệu mạnh. Tiếp tục thúc đẩy và cải thiện nền nông nghiệp, tăng cường bảo vệ các loài gen quý hiếm, nghiên cứu nhập nội các loại giống vật nuôi, cây trồng chất lượng cao, kể cả biến đổi gen.

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

Phát triển các trung tâm “hậu cần” cho nông nghiệp, nhất là về giống, phụ liệu chăn nuôi, chiếu xạ phục vụ xuất khẩu, đưa chợ đầu mối về các vùng chuyên canh. Mở các lớp, khóa đào tạo, biên soạn sách hướng dẫn về tổ chức nông nghiệp hiện đại, các quy trình sản xuất, kinh doanh nơng sản theo chuẩn mực quốc tế. Khảo sát, hội thảo, học tập nước bạn, xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động thương mại để củng cố niềm tin, tránh việc làm nhiễu loạn tín hiệu thị trường...

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<b>CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG VẢI THIỀU XUẤT KHẨU ỞVIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU</b>

<b>2.1. Tổng quan về ngành nông sản và sản phẩm vải thiều ở Việt Nam2.1.1. Ngành nông sản Việt Nam:</b>

Từ trước đến nay, ngành nơng nghiệp của Việt Nam nói chung và ngành nơng sản Việt Nam nói riêng vẫn đang đóng vai trị là vệ đỡ của nền kinh tế.

Hiện nay, cả nước có 5 khu vực sản xuất nơng nghiệp chủ yếu, thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông sản ngày càng mở rộng. Khu vực châu Á vẫn chiếm thị phần xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 46,5% tổng kim ngạch. Tiếp đến là các thị trường: Mỹ (27%), châu Âu (10,1%), châu Phi (1,7%) và châu Đại Dương (1,3%). 4 thị trường xuất khẩu chính của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam là: Mỹ (24,6%), Trung Quốc (22,6%), Nhật Bản (6,6%) và Hàn Quốc (4,9%). Bên cạnh đó, cơ cấu các mặt hàng nơng sản xuất khẩu ngày càng phong phú và đạt kim ngạch cao như mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ, rau quả, hạt điều,...

Việc bảo quản các sản phẩm nơng sản có một số đặc thù như: dễ hư hỏng, tính thời vụ và theo mùa, cần bảo quản ở nhiệt độ thấp, nhiệt độ cho mặt hàng nông sản khác nhau cần được kiểm soát khác nhau tùy từng giai đoạn. Do đó, đặc điểm logistics phục vụ hàng nơng sản địi hỏi một q trình tích hợp từ khâu sản xuất, thu hoạch, chế biến, đóng gói, lưu trữ, vận chuyển, và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, hoạt động Logistics phục vụ nơng sản gặp phải những khó khăn nhất định.

<b>2.1.2. Sản phẩm vải thiều ở Việt Nam:</b>

Cây vải là một loại cây có nguồn gốc từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Đây là một loại cây ăn quả lâu năm, mỗi năm chỉ có một mùa thu hoạch. Từ lúc gieo trồng đến khi được thu hoạch có thể thương mại hóa phải mất từ sáu đến bảy năm. Có hơn 25 loại giống cây khác nhau cho quả có đường kính từ 2,5cm đến 3,5cm. Trong q trình trồng, để đạt năng suất cao, người nơng dân phải chăm sóc thường xuyên, cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cây trồng, chống lại các tác nhân gây hại từ môi trường như sâu bệnh, chim, dơi,... đặc biệt trong giai đoạn cây ra hoa, quả và sau khi thu hoạch. Do vậy, trên thế giới, cây vải không chỉ được trồng ở khu vực phía Bắc Việt Nam mà cịn có ở các vùng khí hậu nhiệt đới khác như Trung Quốc (chủ yếu ở các tỉnh Quảng Đông, tỉnh Phúc Kiến, tỉnh Quảng Tây và tỉnh Hải Nam),

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

Malaysia, Ấn Độ, Bangladesh, Australia, khu vực đảo Madagascar và Mỹ (bang Florida, Hawaii).

<i>(Nguồn: Internet)</i>

Giống như các loại quả khác, trong điều kiện thơng thường, quả vải có thời gian sử dụng rất ngắn, do vậy để kéo dài thời gian, quả vải cần được bảo quản lạnh hoặc sử dụng phương pháp chế biến vải tươi như sấy khơ, đóng hộp... vừa đa dạng hóa các dịng sản phẩm từ vải, vừa kéo dài thời gian sử dụng.

Ở Việt Nam, hai tỉnh Hải Dương, Bắc Giang có diện tích trồng vải thiều lớn nhất cả nước. Theo các tài liệu lịch sử, cây vải đã xuất hiện ở nước ta cách đây khoảng 2000 năm trong thời kỳ phong kiến Bắc thuộc, được trồng ở Giao Chỉ (khu vực miền Bắc nước ta hiện nay). Tuy nhiên vải thiều Thanh Hà mới bắt đầu xuất hiện cách đây khoảng 200 năm. Khi ơng Hồng Văn Cơm (tự Phúc Thành, quê ở xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương) đi phục vụ tại một nhà hàng ăn ở Hải Phịng, tình cờ được nếm thử vị vải ở Thiều Châu (Trung Quốc) do các vị khách người Hoa mang sang. Thấy vị vải ngọt, ngon, ông Hoàng Văn Cơm đã đem 6 hạt về trồng, nhưng chỉ được một cây, cây vải cho quả có vỏ sần đỏ tía cùi trắng dày, ngọt, hạt nhỏ hơn hẳn các loại vải khác hạt to và chua hơn. Sau đó, ơng Hồng Văn Cơm đã đem chiết cành và nhân rộng số lượng cây vải trồng được ở huyện Thanh Hà. Thanh hà có vùng thổ nhưỡng hàng năm năm được bồi đắp phù sa kết hợp với khí hậu thuận lợi, nên vải thiều Thanh Hà ln luôn ngọt, ngon hơn vải ở các vùng khác. Từ vùng Thanh Hà, cây vải thiều đã được nhân giống trồng ở các huyện Chí Linh (Hải Dương), Đơng Triều (Quảng Ninh), Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế (Bắc Giang). Trong khi Thanh Hà là quê hương hương của vải thiều thì Lục Ngạn lại là nơi trồng vải thiều nhiều nhất và cho cho sản lượng vải thiều hàng năm lớn nhất ở Việt Nam. Ngày 25/05/2007, Cục Sở hữu Trí Tuệ đã cấp Chứng nhận bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho vải thiều Thanh Hà. Đến 25/06/2003, vải thiều Lục Ngạn cũng được cấp Chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý bởi Cục sở hữu Trí Tuệ. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang, đến

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

tháng 11/2017, vải thiều Lục Ngạn đã được cấp chứng nhận bảo hộ ở bảy quốc gia khác trên thế giới: Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Australia, Mỹ. Từ đó giúp nâng cao thương hiệu vải thiều Thanh Hà, vải thiều Lục Ngạn trên thị trường quốc tế và nội địa.

Mùa thu hoạch vải thiều diễn ra vào khoảng thời gian tháng năm, tháng sáu và tháng bảy hàng năm phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Mỗi mùa chia làm hai đợt thu hoạch: vải chín sớm (khoảng từ tháng năm đến tháng sáu) chủ yếu tiêu thụ thị trường nội địa và vải chính vụ chủ yếu để xuất khẩu. Thời gian thu hoạch kéo dài khoảng một tháng. Vì vải chín rất nhanh và thường chín cùng lúc nên mùa thu hoạch cũng là mùa bận rộn nhất trong năm của người trồng vải.

Dòng sản phẩm vải thiều nước ta chia làm hai loại chính: vải thiều tươi và các sản phẩm vải đã qua chế biến. Các sản phẩm chế biến gồm vải sấy khô, cùi đông lạnh, vải tươi đóng hộp, nước ép vải, làm nguyên liệu cho sản xuất bánh kẹo, nước giải khát, rượu vang. Trong đó, vải thiều tươi vẫn được thị trường ưa chuộng nhất chiếm 80%, tiếp đó là vải sấy khơ chiếm khoảng từ 15% đến 20%, các dòng sản phẩm còn lại chỉ chiếm một phần rất nhỏ khoảng 3% tổng sản lượng (Sở Cơng Thương, 2018, Báo cáo tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều 2018).

<b>2.1.3. Tình hình sản xuất vải thiều ở Việt Nam</b>

Ở nước ta, tỉnh Bắc Giang có vùng sản xuất vải thiều lớn nhất, gấp khoảng ba lần diện tích trồng của tỉnh Hải Dương. Có thể chia các vùng trồng vải nước ta chia thành ba loại: khu vực trồng theo phương thức canh tác cũ, khu vực trồng đạt tiêu chuẩn VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) và khu vực trồng đạt tiêu chuẩn GlobalGAP (Global Good Agricultural Practices). Mỗi loại khu vực trồng tiếp cận tới các thị trường khác nhau.

<i>Thứ nhất, khu vực trồng theo phương thức canh tác cũ là diện tích vải được trồng</i>

theo diện tích canh tác cũ và kinh nghiệm của người trồng từ trước đến nay mà không theo bất kỳ phương pháp đạt chuẩn nào khác. Ví dụ, có sâu bệnh thì phun thuốc trừ sâu.

<i>Thứ hai, tiêu chuẩn GlobalGAP:</i>

GlobalGAP là một bộ tiêu chuẩn quốc tế chứng nhận việc thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practice). Với mục tiêu tiên quyết tạo nên nền nơng nghiệp an tồn và bền vững toàn cầu, các tiêu chuẩn GlobalGAP được xây dựng nhằm chuẩn hóa quy trình sản xuất nơng nghiệp trong 3 lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản.

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

Để đạt chứng nhận GlobalGAP người sản xuất phải chứng minh các sản phẩm của mình được canh tác tuân thủ các tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn GlobalGAP. Đối với người tiêu dùng và đại lý bán lẻ, giấy chứng nhận GlobalGAP là sự đảm bảo rằng sản phẩm đã đạt được mức độ an toàn và chất lượng được chấp nhận, đồng thời phải đảm bảo sự canh tác nông nghiệp bền vững nghĩa là tôn trọng sức khỏe, an toàn và phúc lợi cho người sản xuất, môi trường và kể cả vấn đề chăm sóc cho động vật. Nếu khơng đảm bảo những điều cơ bản trên thì trang trại sẽ khơng được chứng nhận theo bộ tiêu chuẩn GlobalGAP.

Lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP trong quy trình sản xuất như:

Đối với nhà sản xuất: Tiêu chuẩn GlobalGAP giúp nhà sản xuất gia tăng giá trị sản phẩm vì nó tương ứng với một bộ tiêu chuẩn quốc tế, ngồi ra cịn giúp mở rộng thị trường, đa dạng hoá khách hàng trong và ngoài nước; giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm khi được chứng nhận theo tiêu chuẩn GlobalGAP; gây dựng được niềm tin với khách hàng trong loại hình kinh doanh thương mại điện tử (B2B); …

Đối với người tiêu dùng: Người tiêu dùng được tiếp cận nguồn thực phẩm sạch, chất lượng; đảm bảo sức khỏe với các loại thực phẩm đảm bảo theo tiêu chuẩn quốc tế; có thể dễ dàng truy xuất nguồn gốc sản xuất của các sản phẩm đạt chuẩn GlobalGAP.

<i>Thứ ba, tiêu chuẩn VietGAP:</i>

VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) có nghĩa là Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành đối với từng sản phẩm, nhóm sản phẩm thuỷ sản, trồng trọt, chăn ni. VietGAP là những ngun tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn, nâng 70 cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản xuất.

Lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong quy trình sản xuất:

Đối với người tiêu dùng: Người tiêu dùng được sử dụng những sản phẩm có chất lượng tốt, an tồn với sức khỏe của họ; từ đó, góp phần tạo nên thế hệ người dùng thơng thái, có thể xác định được đâu là những sản phẩm chất lượng.

Đối với người sản xuất: Người sản xuất có thể kiểm sốt được tốt chất lượng nguồn vào như nước, đất, phân bón, thuốc trừ sâu... giúp họ phản ứng kịp thời ngay khi có vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm trong bất kỳ khâu sản xuất nào, giúp tạo ra nguồn sản phẩm uy tín, chất lượng cao.

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

Tỉnh Hải Dương hiện có khoảng 8.880 ha vải, phân bố chủ yếu ở huyện Thanh Hà (khoảng 3.250 ha) và thành phố Chí Linh (khoảng 3.400 ha). Trong đó, diện tích vải thiều sớm chiếm 30%, diện tích cịn lại là vải thiều chính vụ. Cơ bản diện tích sản xuất vải thiều trên địa bàn tỉnh Hải Dương được sản xuất theo quy trình an tồn. Trong đó, có 52 vùng trồng với diện tích 610 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Đến nay, tỉnh Hải Dương đã được cấp và duy trì 203 mã số vùng trồng xuất khẩu sang Mỹ, Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan. Có 13 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Mỹ và Thái Lan.

Dưới đây là bảng tổng hợp về diện tích vải thiều Việt Nam giai giai đoạn 2019 -2023 do người viết tự tổng hợp, dựa theo số liệu công bố của Sở Công Thương Bắc Giang. Do Bắc Giang là khu vực sản xuất vải thiều chính của cả nước.

<i><b>Hình 2.1. Diện tích trồng vải thiều trên toàn tỉnh Bắc Giang</b></i>

<i>(Nguồn: Người viết tự tổng hợp)</i>

Nhìn chung, về tổng diện tích trồng vải thiều trên tồn tỉnh khơng có nhiều thay đổi. Từ năm 2019-2023, tỉnh Bắc Giang vẫn duy trì diện tích trên 28.000ha. Khơng những vậy, diện tích trồng vải theo tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap vẫn duy trì tăng hàng năm. Đây là dấu hiệu tích cực cho ngành hoa quả nói chung và vải thiều nói riêng. Vì việc gia tăng chất lượng sản phẩm giúp cho người dân có thể thu lại lợi nhuận cao và ổn định hơn trước. Đồng thời đem lại hình ảnh tốt đối với người tiêu dùng nước ngoài về vải thiều Việt Nam.

Năm 2020 là năm hứng chịu đại dịch Covid-19 nặng nề nhất nên diện tích trồng vải khơng có gì thay đổi, chỉ duy trì so với năm 2019. Tổng diện tích trồng vải trên tồn

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

tình đạt hơn 28.100 ha. Lý do cho việc diện tích khơng tăng lên là do chưa tìm được đầu ra cho quả vải trong điều kiện dịch bệnh. Trung Quốc là quốc gia nhập khẩu phần lớn vải thiều từ Việt Nam. Nhưng trong năm 2020, do thời tiết thuận lợi, vụ quả vải của Trung Quốc thu hoạch sớm hơn khoảng 15 ngày so với mọi năm, cùng với sản lượng cũng tăng 11,3% so với năm 2019. Năm 2021 vẫn tiếp tục chịu nhiều ảnh hưởng của dịch bệnh vì Covid-19 trên thế giới và trong nước vẫn diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, việc phân phối cũng không q khó khăn vì tỉnh Bắc Giang đã chủ động nhiều phương án, kịch bản tiêu thụ vải thiều. Hàng loạt giải pháp đã được áp dụng để thúc đẩy tiêu thụ vải thiều. Trong đó hướng đi 4.0 đang được chú trọng. Vải thiều Bắc Giang đã được niêm yết và bán trên hàng loạt sàn thương mại điện tử như Voso.vn, Shopee, Tiki, Postmart…

Theo báo cáo của UBND tỉnh Bắc Giang, năm 2022, tình hình thời tiết khá thuận lợi nên cây vải thiều ra hoa, đậu quả với tỷ lệ từ 70 - 90%. Diện tích vải thiều tồn tỉnh duy trì 28.300 ha, sản lượng ước đạt 180 nghìn tấn, giảm khoảng 40.000 tấn so với năm 2021. Trong đó, vải chín sớm 6.750 ha, sản lượng ước đạt 60 nghìn tấn; vải thiều chính vụ diện tích 21.250 ha, sản lượng ước đạt 120 nghìn tấn. Do tình hình kinh tế Việt Nam mới ổn định sau dịch, diện tích trồng vải vẫn tiếp tục được duy trì trên 28.000 ha, nhưng chất lượng đã được cải thiện nhiều. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn cho biết, năm 2020 thời tiết thuận lợi, rét kéo dài, mưa đều nên vải thiều sinh trưởng và phát triển tốt; cùng với việc kiểm soát chặt chẽ các mã vùng trồng nên chất lượng vải thiều Bắc Giang năm này đạt cao nhất từ trước đến nay.

Chỉ tính riêng tỉnh Bắc Giang trong năm 2023, tồn tỉnh có 29,7 nghìn hecta trồng vải thiều. Sản lượng ước đạt hơn 180.000 tấn, tăng khoảng 20.000 tấn so với năm ngối. Trong đó, diện tích trồng vải đạt tiêu chuẩn VietGAP là 15.600 ha với sản lượng ước đạt 115.000 tấn; đạt tiêu chuẩn GlobalGAP là 215 ha với sản lượng khoảng 2.500 tấn. Lượng vải thiều dự kiến xuất khẩu sang thị trường Mỹ năm nay của Bắc Giang là 1.500 tấn. Hiện Bắc Giang đã có 17 mã số vùng trồng được Mỹ cấp mã số với diện tích 205 ha.

<b>2.2. Tình hình xuất khẩu của sản phẩm vải thiều Việt Nam sang thị trường EU2.2.1. Tổng quan thị trường nhập khẩu vải thiều của các nước EU</b>

<i>2.2.1.1. Khái quát chung về EU</i>

Theo Báo cáo của Cơ quan Môi trường, châu Âu là một châu lục duy nhất trên thế giới nằm gần hoàn toàn trong miền ôn đới (từ 36 độ đến 71 độ vĩ tuyến Bắc). Do đó, hầu

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

hết các vùng của châu Âu có khí hậu ơn đới hoặc cận nhiệt; chỉ có miền bờ biển và các đảo phía cực Bắc có khí hậu lạnh giá, đó là vùng khí hậu hàn đới (chiếm khoảng 6% diện tích tồn châu). Mùa hè của châu Âu nóng hơn, bão dữ dội và những đợt khô hạn kéo dài, thời tiết khắc nghiệt gây thiếu nước đã thay đổi điều kiện trồng trọt đối với một số cây trồng ở châu Âu, mùa đơng ơn hịa có lợi, nhưng thiếu nước trong những tháng mùa hè vẫn là một thách thức. Điều này đã tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, thu nhập của châu lục này.

Do vậy thời tiết tại vùng các nước châu Âu không phù hợp để trồng các loại cây nhiệt đới, nên sản xuất các loại trái cây nhiệt đới tại châu Âu cịn rất nhiều hạn chế, chỉ một số ít chuối, dừa được sản xuất tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, phần lớn các loại hoa quả nhiệt đới, đặc biệt là các loại đặc sản từ các nước đều phải nhập khẩu. Và tất nhiên vải thiều và các sản phẩm từ quả vải trong nước thì không đủ để cung cấp cho nhu cầu người dân. Vậy nên thị trường vải thiều châu Âu phải nhập khẩu lượng lớn từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan… và phần nhỏ từ Việt Nam.

<i>2.2.1.2. Nhu cầu nhập khẩu vải thiều ở châu Âu</i>

Nhu cầu tiêu thụ nông sản nói chung và vải nói riêng ở thị trường châu Âu ngày càng tăng cao. Việc kiến thức về dinh dưỡng ngày càng được đề cao, nhu cầu sử dụng những loại đồ ăn, trái cây tươi càng lớn. Vải cũng khơng phải là một ngoại lệ, vì trong quả vải có nhiều vitamin và khống chất thiết yếu cho cơ thể con người như vitamin C, B6, Kali, Magie...Khơng chỉ vải mà hoa quả nói chung đều có xu hướng tăng lên trong vài năm gần đây, cả về số lượng và sự đa dạng. Nhu cầu tăng cao đi cùng với đó là những yêu cầu khắt khe trong quá trình sản xuất cũng như chất lượng thành phẩm. Tuy đã có lơ vải thiều đầu tiên xuất sang châu Âu, nhưng số lượng vải thiều của Việt Nam đủ tiêu chuẩn để có thể xuất khẩu vẫn cịn thấp, khơng đáng kể so với các nước xuất khẩu khác như Trung Quốc, Thái Lan.

Hơn nữa, vải là một loại quả có tính thời vụ, nên thường chỉ sản xuất một vụ vào mùa hè. Nên khó để cạnh tranh với các loại quả khác như táo, chuối… Do đó, số lượng các nước nhập khẩu vải cũng chưa thực sự nhiều. Có thể thấy, vải thiều vẫn chưa chiếm được nhiều sự chú ý của người tiêu dùng châu Âu

Với việc được miễn giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong EVFTA, cơ hội xuất khẩu vải thiều của Việt Nam cũng trở nên rộng mở hơn. Trong khi nhiều nước cạnh tranh xuất khẩu vải như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia vẫn chưa có được thỏa thuận này, với mức sản lượng sản xuất hàng năm lớn, đây chính là tiền đề để tăng mức xuất khẩu vải thiều sang châu Âu hơn nữa.

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

Trong top 10 nước nhập khẩu vải thiều, có đến 4 nước thuộc châu Âu với sản lượng lớn (100-300 triệu USD). Hầu hết vải thiều nhập khẩu sang thị trường EU đều nhằm phục vụ cho mục đích tiêu thụ. Với việc nhu cầu đối với vải thiều ngày càng tăng ở Pháp và các nước trong khu vực EU, sản lượng nhập khẩu vải càng được kì vọng sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Do đó, lượng nhập khẩu sang thị trường châu Âu cũng như mức tiêu thụ nội địa cũng được kì vọng sẽ tăng trưởng trong những năm tới.

<b>2.2.2. Các quy định liên quan đến xuất khẩu vải thiều sang thị trường EU</b>

Người tiêu dùng châu Âu ngày càng chú trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống nên những yêu cầu, quy định về chất lượng sản phẩm cũng trở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết. Vải tươi muốn nhập khẩu vào thị trường EU phải phù hợp với các tiêu chuẩn tiếp thị chung với mặt hàng rau quả tươi bao gồm những yêu cầu tối thiểu về mặt chất lượng. Sản phẩm phải nguyên vẹn, sạch sẽ và lành lặn, (gần như) không bị sâu hại, hư hỏng, vỏ ướt bất thường, bên trong bị nẫu, thối và trong tình trạng chịu được vận chuyển và bốc xếp. Những tiêu chuẩn này phù hợp với những tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (CODEX) đối với quả vải. Quả vải đã phát triển đầy đủ và trưởng thành để chịu được vận chuyển và đảm bảo giữ được tình trạng tốt khi đến nơi.

<small></small> <i><b>Quy định về chất lượng quả vải</b></i>

Quả vải được xếp loại theo ba tiêu chuẩn về chất lượng: “Loại hảo hạng” là những sản phẩm với chất lượng tốt nhất. Vải thuộc loại này phải có hình dáng và màu sắc điển hình của giống hay chủng loại. Ngồi ra, quả vải phải khơng có khuyết tật, trừ những vết trầy xước rất nhẹ trên bề mặt và không ảnh hưởng đến hình thái chung của sản phẩm, đến chất lượng, đến việc duy trì chất lượng và cách trình bày trong bao bì sản phẩm. Vải loại I có chất lượng tốt và chỉ có những khuyết tật rất nhỏ (khuyết tật về hình dáng, màu sắc hay ở vỏ nhưng tổng diện tích khơng q 0,25mm2). Vải loại II là loại vải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu để nhập khẩu vào thị trường EU nhưng không đủ điều kiện để chất lượng cao hơn như loại I hay loại hảo hạng. Tuy nhiên, thị trường cho sản phẩm vải loại II rất hạn chế. Vải loại II có thể có những khuyết tật ví dụ như ở vỏ nhưng tổng diện tích khơng q 0,5mm2.

<small></small> <i><b>Những quy định về xuất xứ</b></i>

Đối với nhóm sản phẩm rau củ quả, sản phẩm xuất khẩu sang EU phải đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm cao, đạt các tiêu chuẩn chứng nhận đang áp dụng rộng rãi tại EU như GlobalGap…EU có xu hướng yêu cầu đạt nhiều loại tiêu chuẩn như hữu cơ, fair-trade, 4C, Rainforest Alliance, BRC…

</div>

×