Tải bản đầy đủ (.doc) (195 trang)

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐÔ THỊ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.13 MB, 195 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOBỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI</b>

NGUYỄN ĐỨC LỢI

<b>GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG</b>

<b>TRONG GIAI ĐOẠN THI CƠNG XÂY DỰNG CƠNG TRÌNHTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG</b>

<b>LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI</b>

NGUYỄN ĐỨC LỢI

<b>GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG</b>

<b>TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNHTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHỊNG</b>

Chun ngành: Quản lý xây dựng Mã số: 9580302

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1. PGS.TS Đinh Tuấn Hải 2. TS Tạ Văn Phấn

HÀ NỘI, NĂM 2020

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI CAM ĐOAN</b>

Tác giả xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của bản thân tác giả. Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận án là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.

<b>Tác giả luận án</b>

<b> Nguyễn Đức Lợi</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>LỜI CẢM ƠN</b>

Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Đinh Tuấn Hải và TS. Tạ Văn Phấn đã luôn quan tâm, dành thời gian và công sức để hướng dẫn, lắng nghe để đưa ra những góp ý, định hướng, hỗ trợ, động viên tác giả hoàn thành luận án này. …

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

1. Tính cấp thiết của đề tài...1

2. Mục tiêu nghiên cứu...3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3 3.2 Phạm vi nghiên cứu 3 4. Nội dung nghiên cứu...3

5. Phương pháp nghiên cứu...4

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài...5

6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5 6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5 7. Bố cục của luận án...5

CHƯƠNG 1...TỔNG QUAN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 7 1.1 Giới thiệu chung về năng suất và năng suất lao động...7

1.1.1 Khái niệm năng suất và năng suất lao động 7 1.1.2 Nguồn gốc của năng suất và năng suất lao động 10 1.1.3 Tầm quan trọng của năng suất lao động 12 1.1.4 Những ghi nhận về năng suất lao động trong nền kinh tế quốc dân 13 1.1.5 Năng suất lao động trong xây dựng tại Việt Nam 16 1.2 Các nghiên cứu về năng suất lao động trong xây dựng...22

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 22 1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 23 1.2.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu về năng suất lao động 23 1.3 Phân tích tổng quan và định hướng nghiên cứu...26 1.3.1 Xác định khoảng trống nghiên cứu 26

1.3.2 Định hướng nghiên cứu cho luận án 26 1.3.3 Các nhiệm vụ thực hiện của luận án 26

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG...28 2.1 Cơ sở khoa học về năng suất lao động và năng suất lao động trong thi cơng xây dựng cơng trình...28 2.1.1 Phân loại năng suất lao động 28

2.1.2 Các chỉ tiêu tính tốn năng suất lao động 29

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 33 2.1.4 Đo lường và đánh giá năng suất lao động 41

2.2 Cơ sở pháp lý về năng suất lao động...48 2.2.1 Các quy định luật pháp về năng suất lao động 48

2.2.2 Tiêu chuẩn và quy chuẩn về năng suất lao động 48

2.2.3 Các quy định của thành phố Hải Phòng về năng suất lao động 49 2.3 Cơ sở thực tiễn về năng suất lao động trong xây dựng...49 2.3.1 Thực tiễn về năng suất lao động trong xây dựng tại các nước phát triển

2.3.2 Thực tiễn về năng suất lao động trong xây dựng tại các nước giống Việt

2.3.3 Thực tiễn về năng suất lao động trong xây dựng tại Việt Nam 54 2.4 Phương pháp nghiên cứu...56 2.5 Kết luận chương 2...56 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG...58 3.1 Thống kê chung về năng suất lao động trên Thế giới và Việt Nam...58 3.1.1 Thống kê năng suất lao động trên thế giới 58

3.1.2 Thống kê năng suất lao động tại Việt Nam 60

3.1.3 Thống kê năng suất lao động tại thành phố Hải Phòng 61

3.2 Đo lường năng suất lao động trong thi cơng xây dựng tại Hải Phịng...63 3.2.1 Đặc điểm các cơng trường xây dựng tại Hải Phịng 63

3.2.2 Phương pháp đo lường năng suất lao động 65 3.2.3 Thực nghiệm đo lường thực tế71

3.2.4 Phân tích và tổng kết các kết quả đo lường năng suất lao động 72 3.3 Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động trong thi công xây dựng tại Hải Phòng...77 3.3.1 Đối tượng điều tra khảo sát 77

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

3.3.4 Phân tích và tổng kết các kết quả điều tra khảo sát 81

3.4 Đánh giá thực trạng năng suất lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng ở Hải Phòng...100 3.4.1 Đánh giá chung về thực trạng năng suất lao động 100

3.4.2 Những mặt tích cực trong thực trạng năng suất lao động 106 3.4.3 Những mặt hạn chế trong thực trạng năng suất lao động 108

3.5 Phân tích các nguyên nhân của thực trạng năng suất lao động...114 3.5.1 Nguyên nhân xuất phát từ người lao động 114

3.5.2 Nguyên nhân xuất phát từ các doanh nghiệp xây dựng 116 3.5.3 Nguyên nhân từ phía cơ quan quản lý nhà nước 117

3.5.4 Nguyên nhân từ mơi trường bên ngồi 117 3.5.5 Các ngun nhân khác 119

3.6 Kết luận chương 3...120 CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG THI CƠNG XÂY DỰNG TẠI HẢI PHỊNG...121 4.1. Quan điểm đề xuất...121 4.1.1. Nâng cao năng suất lao động đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật 121

4.1.2. Nâng cao năng suất lao động là trách nhiệm của tất cả các bên trong dự

4.1.3. Kết hợp các giải pháp tăng năng suất lao động 122

4.1.4. Kế hoạch chi phí cho mục tiêu cải thiện năng suất lao động 122 4.2 Nhóm giải pháp hồn thiện cơ chế, chính sách về NSLĐ ngành xây dựng

4.2.1 Tạo lập môi trường thể chế thúc đẩy tăng NSLĐ ngành xây dựng 123

4.2.2 Xây dựng quy định riêng về NSLĐ 124

4.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ từ cơ quan quản lý nhà nước...125 4.4 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động...127 4.4.1 Đào tạo, tập huấn nâng cao chất lượng nguồn lao động 127

4.4.2 Cải thiện điều kiện làm việc, điều kiện sống của người lao động 129 4.4.3 Xây dựng chế độ chính sách hỗ trợ người lao động 130

4.5 Nhóm giải pháp với doanh nghiệp xây dựng...132 4.5.1 Nâng cao trình độ và khả năng tổ chức quản lý lao động của doanh

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

CHƯƠNG 5. ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP VÀO THỰC TẾ THI CƠNG XÂY DỰNG CƠNG TRÌNH TẠI HẢI PHÒNG...140

5.1. Định hướng áp dụng các giải pháp vào thực tế thi công xây dựng công

<b><small>5.2.1. Giải pháp 1: Thay đổi cơ chế chính sách liên quan tới NSLĐ5.2.1.1. Giới thiệu chung1405.2.2.2. Thực tế áp dụng giải pháp1405.2.3.3. Đánh giá tính khả thi của giải pháp dụng1405.2.2. Giải pháp 2: Anh Hải sẽ hướng dẫn cách làm sau khi xong giải pháp 15.2.3. Giải pháp 3: Lợi sẽ viết</small></b> 5.3. Một số đề xuất trong việc áp dụng các giải pháp đề xuất...148

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...150

I. Những kết quả đạt được của luận án...150

II. Một số kiến nghị...151

III. Những hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo...152

DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH ĐÃ CƠNG BỐ...154

TÀI LIỆU THAM KHẢO...155

PHỤ LỤC...1

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH</b>

Hình 1.1. NSLĐ của người Việt Nam giai đoạn 2011-2017 14 Hình 1.2. NSLĐ của Việt Nam so với các nước trong khu vực năm

Hình 1.4. Biểu đồ thể hiện NSLĐ của các lĩnh vực ngành Xây dựng 19 Hình 2.1. Phân loại NSLĐ và chỉ tiêu tính NSLĐ 32 Hình 2.2. Sơ đồ nghiên cứu thực trạng NSLĐ trong thi cơng xây

Hình 3.1. Top 10 thị trường xây dựng thế giới năm 2017 58 Hình 3.2. Biểu đồ tăng trưởng thực GDP và giá trị xây dựng toàn

Biểu đồ 3.1. Cơ cấu tham gia đối tượng khảo sát 77 Biểu đồ 3.2. Phân loại người trả lời theo số năm kinh nghiệm 78 Hình 4.1. Mơ hình quản lý lao động trong các dự án xây dựng tại

Hải Phòng

133

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

Bảng 3.3. GDP phân theo ngành kinh tế của Hải Phòng 61

Bảng 3.7. Kết quả khảo sát công tác gia công lắp dựng ván khuôn cho dầm sàn

Bảng 3.8. Kết quả khảo sát công tác gia công lắp dựng cốt thép 74 Bảng 3.9. Kết quả khảo sát công tác đổ bê tông 76 Bảng 3.10. Xếp hạng các nhân tố về nhân lực (Bản thân người lao

động) theo quan điểm của CNXD

Bảng 3.11. Xếp hạng các nhân tố về nhân lực (Bản thân người lao động) theo quan điểm của KSXD

Bảng 3.12. Xếp hạng các nhân tố tạo động lực cho người lao động theo quan điểm của CNXD

Bảng 3.13 - Xếp hạng các nhân tố tạo động lực cho người lao động theo quan điểm của KSXD

Bảng 3.14. Xếp hạng các nhân tố công nghệ, tính chất cơng việc theo quan điểm của CNXD

Bảng 3.15. Xếp hạng các nhân tố cơng nghệ, tính chất cơng việc theo quan điểm của KSXD

Bảng 3.16. Xếp hạng các nhân tố tổ chức và quản lý sản xuất theo quan điểm của CNXD

Bảng 3.17. Xếp hạng các nhân tố tổ chức và quản lý sản xuất theo quan điểm của KSXD

Bảng 3.18. Xếp hạng các nhân tố thời gian làm việc theo quan 94

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Bảng 3.26. Xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động theo quan điểm của CNXD

Bảng 3.27. Xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lao động theo quan điểm của KSXD

Bảng 5.1. Danh mục giải pháp ưu tiên áp dụng vào thực tiễn thi cơng xây dựng tại TP Hải Phịng

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

CNXD Công nhân xây dựng

TQM Hệ thống quản lý chất lượng toàn diện

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>PHẦN MỞ ĐẦU</b>

<b>1. Tính cấp thiết của đề tài</b>

Phát triển được hiểu như một quá trình nhiều mặt liên quan đến việc tái tổ chức và tái định hướng toàn bộ hệ thống kinh tế và xã hội (Todaro, M., 1998). Một nền kinh tế phát triển được thể hiện bằng nhiều chỉ số khác nhau như: tăng trưởng GDP, chỉ số phát triển con người (HDI), thu nhập bình quân đầu người,… Trong đó, năng suất lao động (NSLĐ) được coi là một chỉ số chắc chắn để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Việc tăng NSLĐ có ý nghĩa quan trọng đối với mọi quốc gia, nhằm củng cố vị trí của quốc gia đó trên trường quốc tế. Đối với doanh nghiệp, tăng NSLĐ làm cho giá thành sản xuất sản phẩm giảm, sẽ tạo ra lợi nhuận lớn hơn và mở ra thêm cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp.

Trong thời gian gần đây, vấn đề NSLĐ được đặt ra như một nhân tố chính quyết định sức cạnh tranh với các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới trên nhiều lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên, NSLĐ ở Việt Nam vẫn bị đánh giá là còn thấp so với các quốc gia trong khu vực Đơng Nam Á; trong đó, ngành Xây dựng được đánh giá là một trong ba ngành thuộc nhóm có NSLĐ thấp nhất khu vực.

Ở Việt Nam, ngành công nghiệp Xây dựng giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp xây dựng là ngành sản xuất vật chất lớn nhất của nền kinh tế quốc dân và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong xã hội. Những năm gần đây, NSLĐ của ngành Xây dựng đã có những cải thiện nhưng vẫn rất thấp so với nhiều ngành kinh tế

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

khác. Theo số liệu Niên giám thống kê năm 2015 [ii], NSLĐ ngành Xây dựng trong 5 năm giai đoạn 2011-2015 tương đối thấp, xếp ở vị trí 15 trên 20 ngành kinh tế so sánh. Những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng NSLĐ ngành Xây dựng cịn thấp do: Trình độ phát triển, ứng dụng khoa học và cơng nghệ cịn thấp; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chưa đổi mới kịp thời, đa số công nhân xây dựng không được đào tạo bài bản, đội ngũ kỹ sư công trường làm việc chưa thực sự chuyên nghiệp; năng lực tổ chức và quản lý của nhiều nhà thầu trong nước còn hạn chế; thu nhập của người lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn thấp... Hiện nay, trên cả nước nói chung và tại Hải Phịng nói riêng, tốc độ phát triển ngành xây dựng diễn ra mạnh mẽ. Nhiều loại hình dự án được thực hiện với quy mơ và nguốn vốn lớn. Có thể kể tới dự án đốt rác phát điện công nghệ cao tại huyện Thủy Nguyên với tổng mức đầu tư 200 triệu USD, dự án Khu du lịch quốc tế Đồi Rồng, dự án khu du lịch Đồ Sơn có tổng mức đầu tư lên đến 8.193 tỷ đồng, các dự án hạ tầng kỹ thuật giao thông,.... Điều này đã khiến các nhà quản lý mong muốn hơn bao giờ hết nâng cao NSLĐ ngành Xây dựng nhằm nâng cao chất lượng, cải thiện tiến độ, giảm chi phí cho các dự án tại Hải Phòng.

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và nhận thức tầm quan trọng của vấn đề NSLĐ trong ngành Xây dựng, nghiên cứu sinh nhận thấy việc nghiên cứu nhằm cải thiện, nâng cao NSLĐ trong giai đoạn thi cơng xây dựng cơng

<b>trình là rất cần thiết. Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: "Giải pháp nâng caonăng suất lao động trong giai đoạn thi cơng xây dựng cơng trình tạithành phố Hải Phòng" làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình. Kết</b>

quả thu được sẽ góp phần cải thiện, nâng cao NSLĐ trên các công trường xây dựng, đồng nghĩa với việc đảm bảo hiệu quả đầu tư, mang lại thành công cho các dự án xây dựng nhà cao tầng tại Hải Phòng trong thời gian tới.

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<b>2. Mục tiêu nghiên cứu</b>

Xác định thực trạng NSLĐ; xác định, phân loại, xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trong thi công xây dựng (TCXD) nhà cao tầng tại thành phố Hải Phịng. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao NSLĐ trong TCXD các cơng trình nhà cao tầng tại thành phố Hải Phòng trong thời gian tới.

<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu</b>

<i><b>3.1 Đối tượng nghiên cứu</b></i>

Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề NSLĐ của người lao động trong TCXD cơng trình tại thành phố Hải Phịng, trong đó tập trung nghiên cứu về thực trạng NSLĐ và các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trong TCXD các cơng trình nhà cao tầng.

<i><b>3.2 Phạm vi nghiên cứu</b></i>

<i>- Phạm vi về nội dung:</i>

Luận án nghiên cứu đánh giá thực trạng NSLĐ, xác định, phân nhóm và xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trong thi công xây dựng nhà cao tầng tại thành phố Hải Phịng.

<i>- Phạm vi về khơng gian:</i>

Thực trạng NSLĐ và các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trong TCXD nhà cao tầng tại thành phố Hải Phòng.

<i>- Phạm vi về thời gian:</i>

Luận án sử dụng các số liệu thu thập được trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay và định hướng xây dựng và phát triển thành phố Hải Phịng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

<b>4. Nội dung nghiên cứu</b>

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung của luận án tập

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

trung giải quyết các vấn đề sau:

- Đánh giá tổng quan các nghiên cứu về NSLĐ trong xây dựng ở trong và

<b>- Xác định, xếp hạng mức độ ảnh hưởng; xây dựng mơ hình hồi quy đánh</b>

giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trong TCXD nhà cao tầng tại thành phố Hải Phòng.

<b>- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao NSLĐ trong TCXD nhà cao tầng</b>

tại thành phố Hải Phòng trong thời gian tới.

<b>5. Phương pháp nghiên cứu</b>

Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu mang tính định tính và định lượng. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm:

<i>- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Phương pháp được sử dụng</i>

để phân tích dữ liệu từ các nguồn tài liệu là các bài báo khoa học từ các tạp chí, báo cáo khoa học, kết quả nghiên cứu của các tác giả đã cơng bố; từ đó hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn cần nghiên cứu cho đề tài.

<i>- Phương pháp kế thừa: Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã kế</i>

thừa kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu ở trong và ngồi nước đã được cơng bố.

<i>- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm hiện trường: Để đo lường, đánh giá</i>

thực trạng NSLĐ trong TCXD cơng trình nhà cao tầng tại Hải Phịng.

<i>- Phương pháp điều tra, khảo sát: Thơng qua phiếu khảo sát được gửi tới</i>

các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức và cá nhân có liên quan đến lĩnh

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

vực TCXD nhà cao tầng (công nhân xây dựng, nhà thầu thi công, quản lý Nhà nước về hoạt động xây dựng, chủ đầu tư, các nhà thầu tư vấn khác như khảo sát, thiết kế, lập dự toán…) để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ và xếp hạng, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến NSLĐ trong TCXD nhà cao tầng.

<i>- Phương pháp chuyên gia: Trong luận án này tác giả sử dụng phương pháp</i>

chuyên gia để kiểm tra tính phù hợp của thang đo, câu hỏi điều tra trong quá trình xây dựng bảng hỏi đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến NSLĐ trong TCXD nhà cao tầng.

<b>6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài</b>

<i><b>6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài</b></i>

Luận án góp phần bổ sung và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý, xây dựng cơ sở khoa học về NSLĐ trong xây dựng nói chung và trong giai đoạn thi cơng xây dựng cơng trình nói riêng.

<i><b>6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài</b></i>

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo; là nguồn tài liệu phục vụ để các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo nhằm nâng cao NSLĐ trong thi công xây dựng. Đồng thời cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho tổ chức, cá nhân có liên quan và cho nghiên cứu khoa học.

<b>7. Bố cục của luận án</b>

Luận án gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và tài liệu tham khảo. Trong đó, phần nội dung bao gồm 5 chương:

Chương 1. Tổng quan về năng suất lao động trong xây dựng.

Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng suất lao động trong xây dựng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

Chương 3. Thực trạng năng suất lao động trong thi công xây dựng tại Hải Phòng.

Chương 4. Đề xuất giải pháp nâng cao năng suất lao động trong thi công xây dựng tại Hải Phòng.

Chương 5. Áp dụng các giải pháp vào thực tế thi cơng xây dựng cơng trình tại Hải Phòng.

<b>TRONG XÂY DỰNG</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<b>1.1 Giới thiệu chung về năng suất và năng suất lao động</b>

<i><b>1.1.1 Khái niệm năng suất và năng suất lao động</b></i>

<i>1.1.1.1 Khái niệm năng suất</i>

Năng suất (NS) được hiểu là mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra. Trong đó, đầu vào là các nguồn lực được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ như: lao động, tiền vốn, nguyên vật liệu, năng lượng... Đầu ra là hàng hoá được sản xuất ra hoặc những dịch vụ được cung cấp, có thể được biểu hiện dưới dạng đơn vị hiện vật hoặc dưới dạng giá trị bằng tiền. Việc lựa chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mơ hình đánh giá NS khác nhau. Hiện nay có nhiều quan điểm, cách định nghĩa khác nhau về NS:

- Theo từ điển Oxford [II]: NS là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó.

- Theo từ điển Kinh tế học hiện đại của MIT [47]: NS là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng. Tăng NS xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động. Cần thiết phải đo NS bằng đầu ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được NS của nguồn vốn và lao động.

- Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) [II]: NS là tỷ số giữa đầu ra với tổng các yếu tố đầu vào. NS là kết quả cuối cùng của quá trình xã hội phức tạp gồm: khoa học, nghiên cứu và phát triển, giáo dục, công nghệ, năng lực

<i>sản xuất và tổ chức lao động. </i>

- Theo Uỷ ban Năng suất thuộc Hội đồng Năng suất chi nhánh Châu Âu [IV]: NS là một trạng thái tư duy. Đó là phong cách nhằm tìm kiếm sự cải thiện khơng ngừng những gì đang tồn tại; đó là sự khẳng định rằng người ta có thể làm cho hơm nay tốt hơn hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay; hơn thế nữa, nó địi hỏi những nỗ lực khơng ngừng để thích ứng các hoạt động kinh tế với những điều kiện luôn luôn thay đổi và việc áp dụng các lý

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

thuyết và phương pháp mới; nó là niềm tin vững chắc về sự tiến bộ của nhân loại.

- Theo Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) [II]: NS là mối liên hệ giữa đầu ra với số lượng nguồn lực hay đầu vào như lao động, vật liệu, máy móc, năng lượng... dùng để sản xuất”.

- Theo Bộ Lao động của Mỹ [II]: NS là chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế trong việc biến đầu vào thành đầu ra.

- Theo Trung tâm Năng suất Nhật Bản (JPC) [II]: NS là đại lượng đo bằng tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, nhưng đầu ra luôn được đo bằng giá trị tăng thêm.

- Theo các nhà kinh tế New Zeland [1V]: NS là khả năng của nền kinh tế trong việc biến đầu vào thành đầu ra.

- Trung tâm Năng suất Việt Nam [i] định nghĩa: NS là mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình hành đầu ra đó.

Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về NS của các tổ chức và các nhà nghiên cứu, nhưng tựu chung có thể hiểu NS là thuật ngữ dùng để đánh giá hiệu quả đầu ra từ quá trình hoạt động sản xuất của một chủ thể (mỗi quốc gia, doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân,.. ) khi sử dụng những đầu vào nhất định. Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng tổng sản phẩm quốc nội đối với quốc gia, địa phương và giá trị tăng thêm đối với ngành, doanh nghiệp. NS có thể tính cho nền kinh tế, địa phương, ngành, doanh nghiệp, hay từng hoạt động…

<i>1.1.1.2 Khái niệm năng suất lao động</i>

Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó.

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

- Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, là

<i>lượng lao động tạo ra đầu ra đó. NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm</i>

sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm.

<i>- Theo C.Mác [I]: NSLĐ là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích. NSLĐ</i>

thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một đơn vị

<i>thời gian nhất định. </i>

NSLĐ phản ánh tính hiệu quả của việc sử dụng lao động, phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra (sản phẩm) và đầu vào (lao động), được đo bằng thời gian làm việc hay chính là phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất.

- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) [III]: NSLĐ là tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào, trong đó đầu ra được tính bằng GDP (Tổng sản phẩm trong nước) hoặc GVA (Tổng giá trị gia tăng), đầu vào thường được tính bằng: giờ công lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang làm việc.

- Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) [v], trong Báo cáo Cộng đồng kinh tế các nước Đông Nam Á năm 2012 đưa ra khái niệm: NSLĐ là sản phẩm đầu ra được tạo ra trên một đơn vị sản phẩm lao động làm việc trong một thời kỳ (có thể tính theo số người hoặc số giờ lao động).

<i>1.1.1.3 Khái niệm về năng suất và NSLĐ trong xây dựng</i>

- Theo C.Thiyagu và M.Dheenadhayalan [1E] năng suất (NS) có thể được xác định theo nhiều cách, trong xây dựng, NS thường được hiểu là NSLĐ, đó là các đơn vị cơng việc được sản xuất mỗi giờ. Tại một địa điểm dự án: NSLĐ = Lượng đầu ra / Chi phí lao động.

- Lưu Trường Văn [V] định nghĩa: NSLĐ là đại lượng so sánh giữa giá trị tài nguyên sử dụng (đầu vào) và giá trị sản phẩm đạt được (đầu ra). Trong

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

thi công xây dựng đầu vào bao gồm: vật tư, nhân công, máy thi công, phương thức quản lý, phương thức thi công.

- Nguyễn Bá Vỵ và Bùi Văn Yêm [VI] định nghĩa: NSLĐ là số lượng sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian lao động (trong 1 giờ công, 1 ngày cơng hoặc 1 ca làm việc). Cũng có thể hiểu NSLĐ là số lượng lao động hao phí (giờ cơng, ngày công) để tạo ra một đơn vị sản phẩm.

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu NSLĐ là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, NSLĐ là hiệu quả của hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian, được biểu hiện bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra được một sản phẩm.

<i><b>1.1.2 Nguồn gốc của năng suất và năng suất lao động </b></i>

Năm 1776 thuật ngữ Năng suất được xuất hiện lần đầu tiên khi Adam Smith chỉ ra rằng sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động hoặc khả năng sản xuất của lao động. Ý nghĩa của khái niệm NS chỉ được một số nhà kinh tế biết đến cho đến cuối thế kỷ 18 khi công nhân được thay thế bằng máy móc. Khái niệm NS hồn tồn khác biệt với sản lượng. Thuật ngữ sản lượng (hay giá trị sản xuất) chỉ ra khối lượng hàng hoá được sản xuất. Sản lượng có thể được thể hiện bằng số lượng, giá trị hoặc bằng tiền hay bất kỳ hình thức nào khác. NS luôn xem xét giá trị sản xuất trong mối quan hệ với việc sử dụng các nguồn lực lao động, nguyên vật liệu, không gian hoặc tiền được sử dụng để đạt được giá trị sản suất đó.

Thuật ngữ NS được sử dụng thường xuyên hơn vào những năm 70 của thế kỷ 19 trong những bài luận về kinh tế học. NS được định nghĩa là tỷ số giữa đầu ra trên đầu vào (Năng suất = Đầu ra / Đầu vào). Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của NS là phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào. Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được hiểu khác nhau theo sự

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

thay đổi của môi trường kinh tế xã hội. Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả. Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất kinh doanh hoặc giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hóa tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp vĩ mô, người ta thường sử dụng GDP (Tổng giá trị sản phẩm quốc nội) là đầu ra để tính NS. Đầu vào được tính dựa trên các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như: lao động, nguyên vật liệu, tiền vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý. Trong giai đoạn này, người ta nhấn mạnh đến các yếu tố đầu vào và đặc biệt là lao động được sử dụng để sản xuất một khối lượng hàng hoá nhất định ở phân xưởng. Năng suất thời kỳ này được hiểu là NSLĐ. Trong bối cảnh này, Adam Smith và Frederick Taylor tập trung vào sự phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hoá phương pháp làm việc tốt nhất nhằm cải tiến NS, các công cụ kỹ thuật đã được phát triển nhằm nâng cao NSLĐ phù hợp với nhu cầu của hệ thống sản xuất hàng loạt vào nửa đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, NSLĐ chỉ ra mối quan hệ giữa đầu ra đạt được và lao động đầu vào nhưng khơng có nghĩa là nó chỉ phụ thuộc vào yếu tố lao động mà còn ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như công nghệ, phương pháp làm việc, hệ thống quản lý. Lợi ích đích thực của NS và ý nghĩa đầy đủ của nó chỉ được nhận biết sau chiến tranh thế giới thứ hai cùng với sự thay đổi về điều kiện kinh tế -xã hội. Ở Việt Nam cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu NS đồng nghĩa với NSLĐ, nhưng thực tế, ý nghĩa của NS mang tính tồn diện hơn.

Với mục đích làm rõ tầm quan trọng của NS trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, các tổ chức Năng suất đã được thành lập ở Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn độ và nhiều nước trên thế giới. Năm 1961, APO (Tổ chức Năng suất Châu Á) được thành lập. Tại Việt Nam, Viện Năng suất Việt Nam (VNPI) được thành lập năm 1997, là cơ quan nghiên cứu, kiến nghị chính sách và các giải pháp nâng cao NS quốc gia.

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

<i><b>1.1.3 Tầm quan trọng của năng suất lao động</b></i>

NSLĐ có ý nghĩa rất lớn với sự phát triển của xã hội loài người, đây được coi là động cơ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, nó là cơ sở quan trọng cho các quyết định ở tầm vi mô và vĩ mô. Tầm quan trọng của NSLĐ được thể hiện ở các khía cạnh:

- Tăng NSLĐ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia, tăng NSLĐ quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của đất nước, là chỉ số được đem ra để so sánh giữa các quốc gia. Một nền kinh tế có NSLĐ cao nghĩa là nền kinh tế đó có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ hơn với cùng một lượng nguyên liệu (yếu tố đầu vào); hoặc sản xuất ra số lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương với lượng nguyên liệu (yếu tố đầu vào) ít hơn.

- NSLĐ ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Đối với người lao động, tăng NSLĐ dẫn tới lương sẽ được trả cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn. Đối với doanh nghiệp, tăng NSLĐ làm cho giá thành sản xuất ra sản phẩm giảm, tạo ra lợi nhuận lớn hơn và mở ra thêm cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp. Đối với Chính phủ, tăng NSLĐ sẽ giúp tăng nguồn thu từ thuế để tái đầu tư.

- Đối với Việt Nam, NSLĐ của nước ta thấp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thu nhập quốc dân tính trên đầu người hàng năm rất thấp so với các nước trên thế giới. Những năm gần đây, NSLĐ nước ta cũng đã được cải thiện, phần nào thu hẹp được khoảng cách tương đối với các nước trong khu vực, nhưng trên thực tế NSLĐ của Việt Nam vẫn đang ở gần cuối trong khu vực.

- Đối với ngành Xây dựng, cụ thể là các DNXD, tăng NSLĐ là một trong những chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh và là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DNXD, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, điều đó được thể hiện: (1) Tăng NSLĐ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNXD, nâng

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra đối với các DN trong nền kinh tế thị trường . Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp DNXD có khả năng trúng thầu cao, chất lượng sản phẩm được cải thiện, giảm được chi phí, tăng lợi nhuận và uy tín của DN. (2) Tăng NSLĐ sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNXD. NSLĐ tăng thì hao phí để sản xuất ra một đơn vị khối lượng công tác xây lắp giảm, khi đó có thể giảm số lao động làm việc để tiết kiệm được quỹ lương hoặc có thể rút ngắn thời gian thi cơng để tiết kiệm các chi phí gián tiếp. (3) NSLĐ được cải thiện sẽ giúp DNXD tăng quy mô sản xuất và mở rộng lĩnh vực hoạt động của DN. (4) NSLĐ của DNXD tăng góp phần quan trọng làm gia tăng giá trị trong lĩnh vực xây dựng và tăng giá trị của cả nền kinh tế quốc dân .

<i><b>1.1.4 Những ghi nhận về năng suất lao động trong nền kinh tế quốc dân </b></i>

Cùng với quá trình đổi mới mạnh mẽ và phát triển kinh tế, NSLĐ của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, khoảng cách tương đối về NSLĐ với các nước ASEAN đang được thu hẹp dần. NSLĐ là một chỉ số chính của thị trường lao động, phản ánh tăng trưởng kinh tế bền vững, khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong sử dụng lao động của mỗi quốc gia. Tăng NSLĐ đang ngày càng đóng vai trị quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Minh chứng là yếu tố này đã đóng góp khoảng 89% tăng trưởng GDP năm 2017, cao hơn khá nhiều so với mức 66.3% giai đoạn 1990-2000 và 61.9% giai đoạn 2000-2012. Nếu không tăng nhanh NSLĐ, Việt Nam không thể nâng cao tốc độ tăng trưởng GDP.

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Đơn vị tính: Triệu đồng/lao động/năm Hình 1.1. NSLĐ của người Việt Nam giai đoạn 2011-2017

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2018) Theo Tổng cục Thống kê về thống kê tình hình kinh tế - xã hội năm 2017, GDP cả nước tăng 6.81%, mức cao nhất kể từ năm 2011. Quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007.9 nghìn tỷ đồng, tương ứng hơn 220 tỷ USD. GDP bình qn đầu người ước tính đạt 53.5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016. NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2017 ước tính đạt 93.2 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 4.159 USD/lao động). Tính theo giá so sánh năm 2010, NSLĐ toàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2011-2017 tăng 4.7%/năm. Cụ thể, NSLĐ xã hội của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2011-2017 lần lượt là: 55.2 triệu đồng/lao động; 63.1 triệu đồng/lao động; 68.7 triệu đồng/lao động; 74.7 triệu đồng/lao động; 79.4 triệu đồng/lao động; 84.5 triệu đồng/lao động; 93.2 triệu đồng/lao động [vi] [vii].

Tuy nhiên, Việt Nam hiện tại vẫn đang có một khoảng cách lớn về NSLĐ giữa các ngành, cũng như khi so sánh với các nước khác trong cùng khu vực.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<b> Bảng 1.1. Năng suất lao động của Việt Nam so với các nước ASEAN-6</b> Hình 1.2. NSLĐ của Việt Nam so với các nước trong khu vực năm 2016

Nguồn: Ngân hàng thế giới (2016) Thống kê đã đưa ra cảnh báo chênh lệch về NSLĐ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực tiếp tục gia tăng, cụ thể theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới mức NSLĐ của Singapore và Việt Nam tăng từ 115.087 USD năm

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

2006 lên 131.333 USD năm 2016; tương tự, của Malaysia từ 39.806 USD lên 46.190 USD; Thái Lan từ 14.591 USD lên 17.208 USD; Indonesia từ 10.100 USD lên 13.496 USD; Philippines từ 6.691 USD lên 7.561 USD; Lào từ 220 USD lên 1.422 USD [i’]. NSLĐ của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và so với yêu cầu phát triển. Khoảng cách NSLĐ của Việt Nam với các nước trong khu vực vẫn còn ở mức cao, so với Singapore năm 2016 là 14,3 lần; với Maylaysia 5,7 lần, với Thái Lan 2,7 lần . Báo cáo của Ngân hàng Thế giới tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam cũng cho thấy, trong 5 năm qua, dù đạt mức tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận, nhưng NSLĐ yếu là vấn đề rất quan ngại với Việt Nam. Tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam đạt trung bình 4%/năm, ở cùng giai đoạn phát triển như Việt Nam, Trung Quốc đạt tốc độ 7%, Hàn Quốc là 5%. Mức tăng trưởng NSLĐ trên sẽ khó giúp Việt Nam đạt tăng trưởng nhanh và bền vững .

Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng chậm của NSLĐ Việt Nam là do: Quy mô kinh tế của nước ta còn nhỏ, xuất phát điểm thấp; cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch; lao động trong nông nghiệp và lao động khu vực phi chính thức cịn chiếm tỷ lệ cao, trong khi NSLĐ ngành nông nghiệp và khu vực phi chính thức ở nước ta thấp. Máy móc, thiết bị và quy trình cơng nghệ cịn lạc hậu; chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng yêu cầu. Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập, tăng trưởng chủ yếu dựa vào đóng góp của yếu tố vốn và lao động, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cịn thấp. Ngồi ra, cịn một số rào cản khó khăn về cải cách thể chế và thủ tục hành chính chậm được khắc phục.

<i><b>1.1.5 Năng suất lao động trong xây dựng tại Việt Nam</b></i>

Theo cách tính NSLĐ ngành Xây dựng hiện hành của Tổng cục Thống kê thì các số liệu được cơng bố chưa phản ánh hết thực trạng NSLĐ của tất cả

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do ngành Xây dựng quản lý như sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng, tư vấn xây dựng bởi các lĩnh vực này đang được tính là thành phần của các ngành khác. Theo quy định hiện hành tại Quyết định số 10/2007/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Quyết định số 337/2007/QĐ – BKHĐT của Bộ Kế hoạch và đầu tư thì sản xuất VLXD, cơ khí xây dựng đang được tính trong ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo; cịn các hoạt động tư vấn xây dựng đang được tính trong ngành hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ. Như vậy với cách tính hiện hành thì giá trị NSLĐ ngành Xây dựng chính là NSLĐ của lĩnh vực xây lắp (TCXD cơng trình, cung ứng, lắp đặt thiết bị cơng trình để cải tạo, sửa chữa, xây mới các cơng trình xây dựng chun ngành dân dụng; giao thơng; công nghiệp; nông nghiệp và phát triển nông thôn; hạ tầng kỹ thuật; an ninh và quốc phịng).

Hình 1.3. So sánh giá trị bình quân của tất cả các ngành so với ngành xây dựng

Số liệu Niên giám thống kê năm 2015 [ii] cho thấy, NSLĐ của ngành Xây dựng trong giai đoạn 2010-2015 tương đối thấp, xếp ở vị trí 15 trong 20

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

ngành kinh tế so sánh.

Mức độ cơng nghiệp hóa trong xây dựng cơng trình cịn nhiều hạn chế, ở mức độ trung bình trong khu vực. Hệ thống quản trị doanh nghiệp, quản lý chất lượng cơng trình xây dựng chưa được chú trọng đã có tác động khơng nhỏ đến NSLĐ. Trên thực tế, NSLĐ của ngành Xây dựng vẫn rất thấp, chỉ bằng 85% của các đơn vị trong khối ngành sản xuất công nghiệp; tốc độ phát triển chậm (khoảng 10%), trong khi tốc độ phát triển của các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất cơng nghiệp khác bình quân khoảng 16%. Một trong những nguyên nhân của vấn đề này là do doanh nghiệp xây dựng vẫn yếu và thiếu về máy móc, thiết bị. Bên cạnh việc không đủ khả năng sở hữu những thiết bị lớn thì nhiều doanh nghiệp xây dựng vẫn thiếu những thiết bị nhỏ, thiết bị cầm tay phục vụ cho người công nhân trong việc nâng cao NSLĐ.

Về chất lượng lao động ngành Xây dựng: Theo Niên giám thống kê 2015 [8], tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong ngành Xây dựng rất thấp (khoảng 15%/tổng số lao động làm việc trong ngành). Nhìn chung, đội ngũ cơng nhân trực tiếp lao động tạo ra các sản phẩm vật chất của ngành Xây dựng còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Số lượng lao động có trình độ trung cấp nghề và công nhân kỹ thuật được đào tạo có xu hướng giảm; đội ngũ thợ bậc cao, lành nghề có tuổi đời ngày càng cao và chậm được bổ sung. Tỷ lệ lao động thủ công, lao động có tính thời vụ chưa qua đào tạo cịn nhiều, thiếu chun mơn, tính chun nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp chưa cao. Đây là một hạn chế rất lớn và ảnh hưởng đến NSLĐ ngành Xây dựng.

Về chính sách tiền lương, thu nhập của người lao động trong ngành Xây dựng: Thu nhập bình quân tháng trong các doanh nghiệp của ngành Xây dựng theo Niên giám thống kê 2015 [ii] là rất thấp so với các ngành khác (xếp theo thứ tự ở vị trí 14/18 ngành so sánh). Việc chi trả tiền lương cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

người lao động tại các DNXD còn bất cập, chưa thực sự gắn với NSLĐ, hiệu quả sản xuất kinh doanh. Với mức thu nhập dành cho người lao động trong ngành Xây dựng còn thấp, đây cũng là cản trở rất lớn tới động lực tăng NS của người lao động ngành Xây dựng.

<b>Năng suất lao động trong các lĩnh vực khác của ngành Xây dựng:Bảng 1.2. Tổng hợp năng suất lao động các lĩnh vực khác của ngành</b>

Hình 1.4. Biểu đồ thể hiện NSLĐ của các lĩnh vực ngành Xây dựng Có thể nhận thấy rằng, NSLĐ trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do ngành xây dựng quản lý còn tương đối thấp. Trong đó lĩnh vực cơ khí xây dựng có NSLĐ thấp hơn so với lĩnh vực sản xuất VLXD và lĩnh vực tư

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

vấn xây dựng. Mức tăng NSLĐ của các lĩnh vực trong giai đoạn là không cao và không ổn định.

<i><b>Lĩnh vực vật liệu xây dựng:</b></i>

Giá thành của một cơng trình xây dựng thường bao gồm 60÷70% chi phí vật liệu, 10÷20% chi phí nhân cơng, 10÷20% chi phí máy xây dựng trong đó thép chiếm tới 60-70% và xi măng chiếm 10-15% trong cơ cấu VLXD. Lĩnh vực có bước phát triển vượt bậc là công nghiệp VLXD, nhờ định hướng đúng đắn, các DN đã tập trung đầu tư công nghệ hiện đại, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng các sản phẩm có chất lượng và hàm lượng KHCN cao, thay thế nhập khẩu, hướng mạnh xuất khẩu. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, các chủng loại sản phẩm VLXD chủ yếu đã cơ bản thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng trong nước; đồng thời một số sản phẩm VLXD đã tham gia vào thị trường xuất khẩu (xi măng, gạch ốp lát, kính xây dựng, đá ốp lát, vơi…).

<i><b>Lĩnh vực cơ khí xây dựng:</b></i>

Hiện nay, trang thiết bị cơ khí xây dựng nói chung và máy móc thiết bị phục vụ TCXD cơng trình nói riêng cịn cũ, lạc hậu. Phần lớn thiết bị đã qua nhiều năm sử dụng, lạc hậu về kỹ thuật, công nghệ và thiếu phụ tùng thay thế nên các DN thường chỉ dừng lại ở mức là nhà thầu phụ cho các gói thầu thơng thường do thiếu vốn, gặp khó khăn cho nguồn vốn đầu tư phát triển.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), hiện Việt Nam có khoảng 150.000 nhà thầu xây dựng, trong đó có khoảng 2.000 nhà thầu cỡ lớn và vừa, nên nhu cầu về máy móc xây dựng sẽ rất lớn. Tuy nhiên, trừ một vài DN sản xuất thiết bị nâng và ô tô tải nặng theo nhu cầu của thị trường, thị trường máy xây dựng vẫn còn bỏ trống. Gần như 100% máy xây dựng của Việt Nam là nhập ngoại. Theo thống kê nước ta có kim ngạch

<i><b>nhập khẩu máy xây dựng vào khoảng 300-400 tỷ USD/năm, với số lượng</b></i>

vào khoảng 12.000-15.000 chiếc, và chủ yếu là máy xúc

<i><b>đào. Trong đó, 95% là máy cũ đã qua sử dụng. Ngun nhân chính là vì khả</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

năng tài chính của các DN Việt Nam chưa mạnh và mức giá của máy cũ chỉ bằng 1/4 so với máy mới. Một số nước, có lượng máy xây dựng nhập khẩu lớn vào Việt Nam có thể kể đến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Tuy nhiên, việc sử dụng máy cũ cũng có những nhược điểm như thủ tục rườm rà, thường xảy ra hỏng hóc và hiệu suất làm việc khơng bằng những thiết bị mới.

Bên cạnh đó, việc quy định máy móc đã qua sử dụng nhập khẩu về Việt Nam phải đảm bảo có chất lượng cịn lại từ 80% trở lên, thời gian đã qua sử dụng không được vượt quá từ 3 -15 năm tùy từng chủng loại nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn về chất lượng của máy cũ nhập khẩu đã gây ra những tác động không nhỏ tới thi trường này do việc đánh giá kiểm định như thế nào để xác định máy có chất lượng cịn lại từ 80% trở lên là rất khó.

<i><b>Lĩnh vực tư vấn xây dựng: </b></i>

Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng - chủ đầu tư - tổ chức việc khảo sát thiết kế, xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sắm thiết bị đầu tư, đấu thầu xây lắp cơng trình, giám sát TCXD, nghiệm thu cơng việc hồn thành. Tư vấn xây dựng chất lượng cơng trình xây dựng có nhiệm vụ chính là giúp chủ đầu tư giám sát về chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và mơi trường trong TCXD cơng trình theo nhiệm vụ thỏa thuận với chủ đầu tư trong hợp đồng kinh tế. Chủ thể tư vấn không trực tiếp làm ra sản phẩm cơng trình xây dựng, nhưng lại là một nhân tố quan trọng quyết định việc kiểm soát chất lượng của một cơng trình xây dựng. Năng lực về khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, kiểm định chất lượng cơng trình, quản lý dự án cịn nhiều hạn chế , chưa đáp ứng được với những dự án, cơng trình xây dựng phức tạp, chưa áp dụng rộng rãi cơng nghệ thơng tin trong q trình thực hiện và quản lý. Hiện nay vẫn cịn có những dự án có lập các phân tích tài chính nhưng độ tin cậy khơng cao, tính khả thi, hiệu quả kinh tế kỹ thuật khơng cao. Bên cạnh đó, lĩnh vực tư vấn chưa áp dụng nhiều về tiến bộ của KHCN mới như ứng dụng thơng tin cơng trình BIM trong thiết kế, trong lập

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

dự toán, lập dự án đầu tư, quản lý dự án,… cũng chưa hình thành được mối quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan với nhau.

<b>1.2 Các nghiên cứu về năng suất lao động trong xây dựng</b>

<i><b>1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới</b></i>

Vấn đề NSLĐ trong xây dựng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm nghiên cứu với nhiều cơng trình, bài báo đã được cơng bố trên các tạp chí uy tín trong lĩnh vực xây dựng, quản lý xây dựng. Các nghiên cứu về NSLĐ XD được thực hiện ở các cấp độ: cấp độ ngành xây dựng, cấp độ dự án xây dựng và cấp độ hoạt động. Các nghiên cứu tập trung vào sáu lĩnh vực nghiên cứu chính, bao gồm: (1) các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ XD; (2) mơ hình hóa và đánh giá NSLĐ XD; (3) phương pháp và công nghệ để cải tiến NSLĐ XD; (4) các xu hướng và so sánh NSLĐ XD; (5) ảnh hưởng của thay đổi / biến đổi đối với NSLĐ XD; và (6) NSLĐ XD cơ bản.

<b>Nghiên cứu về NSLĐ XD ở cấp độ ngành:</b>

Đã có nhiều nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ XD ở cấp độ ngành được thực hiện. Phương pháp chung được các nhà nghiên cứu sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ XD (Rojas và Aramvareekul, 2003 [2E]; Kazaz và Ulubeyli, 2007 [3E]; Rivas và cộng sự, 2011 [4E]) bao gồm ba các bước: (1) nghiên cứu tài liệu được để xác định các nhân tố cần được xem xét; (2) xây dựng bảng câu hỏi và sử dụng để khảo sát công nhân lành nghề (quản đốc, thợ thủ công, và người trợ giúp) và nhân viên cấp trung (hành chính, kho hàng, kiểm sốt chất lượng và giám sát viên) để tạo điều kiện xác định các nhân tố khác; và (3) tổ chức các cuộc họp nhóm tập trung và các cuộc phỏng vấn cá nhân với các chuyên gia trong ngành, các nhà quản lý dự án và các nhà ước tính để xác minh những phát hiện.

Một số nghiên cứu khác về NSLĐ xây dựng trên thế giới cụ thể xem tại Phụ

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

lục 1.

<i><b>1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam</b></i>

Tại Việt Nam, NSLĐ đã được nghiên cứu áp dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật. Trong lĩnh vực kinh tế, một số nghiên cứu cụ thể xem tại Phụ lục 2A.

Trong ngành Xây dựng, theo xu thế phát triển chung của thế giới và thực tiễn địi hỏi trình độ quản lý xây dựng ngày càng phải được nâng lên thì những năm gần đây vấn đề NSLĐ, cải thiện và nâng cao NSLĐ trong ngành Xây dựng đã được các nhà quản lý quan tâm và đánh giá đúng mức. Đã có nhiều cơng trình khoa học, đề tài nghiên cứu về vấn đề NSLĐ trong xây dựng. Cụ thể xem tại Phụ lục 2B.

<i><b>1.2.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu về năng suất lao động</b></i>

Qua các nghiên cứu trên Thế giới về NSLĐ đã được tìm hiểu tại mục 1.3.1 có thể tổng kết các vấn đề sau:

(1) Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về NSLĐ trong xây dựng được thực hiện. Trong đó có những nghiên cứu về lĩnh vực xây dựng nói chung, nhưng cũng có những nghiên cứu đi vào cụ thể từng lĩnh vực chun mơn hoặc một loại dự án điển hình: dự án xây dựng cơng trình dân dụng, cơng trình cơng nghiệp, dự án xây dựng xanh, dự án xây dựng nhà cao tầng, dự án xây dựng cơng trình xử lý nước, dự án xây dựng nhà máy điện...

(2) Có nhiều nghiên cứu xác định được các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến NSLĐ, làm giảm NSLĐ trong xây dựng. Từ đó giúp cho các nhà quản lý xây dựng có những giải pháp nhằm hạn chế những yếu tố tác động tiêu cực, đồng thời có những giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao NSLĐ áp dụng cho dự án.

(3) Các nghiên cứu về NSLĐ trong xây dựng có đối tượng rất đa dạng, có những nghiên cứu đánh giá về vai trò ảnh hưởng của người lao động, có

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

những nghiên cứu về vai trò của việc quản lý (quản lý dự án, quản lý cơng trường, quản lý lao động, vai trị và trách nhiệm của tư vấn giám sát,...), có nghiên cứu về vai trị của cơng nghệ (máy móc, thiết bị, vật liệu xây dựng,...) trong việc cải thiện NSLĐ xây dựng. Trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của người lao động nói chung đến việc cải thiện NSLĐ, có nghiên cứu về NSLĐ của các công nhân xây dựng chuyên nghiệp, có nghiên cứu về NSLĐ của các thợ thủ công. Hoặc cùng nghiên cứu về ảnh hưởng của người lao động, việc sử dụng hiệu quả lao động nhằm nâng cao NSLĐ xây dựng, có những nghiên cứu tìm hiểu dưới góc độ tác động của người quản lý, có nghiên cứu tìm hiểu dưới góc độ nhận thức của người lao động, có nghiên cứu dưới góc độ kỹ năng, động lực làm việc của người lao động... (4) Cùng sự phát triển và ảnh hưởng rộng rãi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 lên các lĩnh vực, việc ứng dụng công nghệ vào các nghiên cứu về NSLĐ trong xây dựng đã được một số nghiên cứu áp dụng. Một số nghiên cứu trình bày về việc áp dụng máy quay video kết hợp máy tính điện tử để giám sát hoạt động sản xuất, đo lường, phân tích NSLĐ.

(5) Để ước lượng, dự báo NSLĐ, trong một số nghiên cứu các tác giả đã đề cập và sử dụng các mơ hình hiện đại (mơ hình mạng thần kinh nhân tạo (NN), mơ hình mạng thần kinh suy luận xác suất (PINN), mơ hình nhân tố định tính, mơ hình mơ phỏng sự kiện rời rạc).

(6) Có nhiều phương pháp, kỹ thuật được các nhà nghiên cứu sử dụng để phân tích, đánh giá NSLĐ trong xây dựng: phương pháp phân tích thống kê, phương pháp tiếp cận dựa trên số liệu mạng thần kinh (neural network), phương pháp Bayesian chuẩn, phương pháp Early Stopping, phương pháp động lực hệ thống, kỹ thuật sử dụng máy quay phim,...

(7) Kết quả từ các nghiên cứu trên thế giới rất hữu ích cho các nhà quản lý dự án áp dụng vào thực tế và các nhà nghiên cứu dùng làm tiền đề để phát triển các nghiên cứu tiếp sau.

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

<b>Tại Việt Nam, các nghiên cứu về NSLĐ đã đạt được những thành công và</b>

hạn chế nhất định là:

(1) Những năm gần đây, các nghiên cứu về NSLĐ tại Việt Nam đã bắt đầu được quan tâm. Ngày càng có nhiều đề tài, luận án, luận văn thực hiện về vấn đề này. Kết quả từ các nghiên cứu này giúp nâng cao cơ sở khoa học về vấn đề NSLĐ nói chung và NSLĐ trong ngành Xây dựng nói riêng.

(2) Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về NSLĐ nhưng việc áp dụng hiệu quả nhằm nâng cao NSLĐ tại các dự án là chưa cao. Và cho dù cần một thời gian nữa để các nghiên cứu cải thiện NSLĐ trong xây dựng có thể đi vào thực tế thì các nghiên cứu từ mục 1.3.2 cũng góp phần làm thay đổi nhận thức của các nhà quản lý dự án, các kỹ sư làm việc trên công trường, cũng như các cán bộ từ các đơn vị liên quan trong dự án.

(3) Các nghiên cứu tại Việt Nam đã kế thừa kinh nghiệm, kết quả từ các nghiên cứu về NSLĐ trên thế giới. Điều này thể hiện qua việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu, góc độ nghiên cứu và sử dụng các công cụ phần mềm hỗ trợ đã được thực hiện từ các nghiên cứu trên thế giới.

(4) Ở Việt Nam, các nghiên cứu về NSLĐ trong ngành Xây dựng chưa thật nhiều và mới chỉ dừng lại ở một số luận văn thạc sỹ và một số bài báo được tổng kết từ các kết quả nghiên cứu của các luận văn đó. Một số luận án nghiên cứu về NSLĐ được thực hiện ở các ngành khác như kinh tế, nông nghiệp,...

(5) Các nghiên cứu về NSLĐ tại Việt Nam phần lớn có mục tiêu hướng đến nhằm đánh giá thực trạng NSLĐ; phân tích, nhận dạng các yếu tác động đến NSLĐ; một số nghiên cứu đề xuất giải pháp cải thiện NSLĐ trên góc độ quản lý.

(6) Khi nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tác động đến NSLĐ, phần lớn các nghiên cứu đề cập đến các yếu tố tác động tiêu cực, tức là có ảnh hưởng làm giảm NSLĐ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

<b>1.3 Phân tích tổng quan và định hướng nghiên cứu</b>

<i><b>1.3.1 Xác định khoảng trống nghiên cứu </b></i>

Các vấn đề thiếu vắng trong các nghiên cứu về NSLĐ trong ngành Xây dựng tại Việt Nam:

- Phần lớn các nghiên cứu về NSLĐ ngành, phạm vi nghiên cứu nhìn chung cịn rộng, chủ yếu tìm hiểu dưới góc độ quản lý.

- Phần lớn các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê dựa trên các số liệu thống kê để phân tích, đánh giá NSLĐ.

- Việc nghiên cứu về NSLĐ trong thi công xây dựng tại hiện trường mới chỉ dừng lại ở việc nhận diện các yếu tố tác động đến NSLĐ.

<i><b>1.3.2 Định hướng nghiên cứu cho luận án</b></i>

Luận án được thực hiện với mong muốn đạt được các kết quả sau:

- Tổng hợp các cơ sở khoa học và lý luận về NSLĐ trong xây dựng nói chung và trong giai đoạn thi cơng xây dựng cơng trình nói riêng.

- Đánh giá thực trạng NSLĐ trên các công trường xây dựng, các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trên các công trường xây dựng nhà cao tầng tại thành phố Hải Phòng.

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NSLĐ trong giai đoạn thi công xây dựng công trình, áp dụng cho các cơng trình xây dựng tại thành phố Hải Phòng.

<i><b>1.3.3 Các nhiệm vụ thực hiện của luận án</b></i>

- Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu tổng quan về NSLĐ trong thi công xây dựng.

- Nhiệm vụ 2: Tổng kết, tìm hiểu cơ sở khoa học và lý luận về NSLĐ trong xây dựng, lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng cho luận án.

- Nhiệm vụ 3: Điều tra, khảo sát thực tế để xác định được NSLĐ trên các

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

công trường xây dựng, các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ trên các công trường xây dựng nhà cao tầng tại Hải Phịng.

- Nhiệm vụ 4: Phân tích, đánh giá thực trạng NSLĐ trong giai đoạn thi công xây dựng cơng trình với sự hỗ trợ của phương pháp phân tích đánh giá được lựa chọn.

- Nhiệm vụ 5: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NSLĐ trong giai đoạn thi cơng xây dựng cơng trình, áp dụng cho các cơng trình xây dựng nhà cao tầng tại Hải Phòng.

<b>1.4 Kết luận chương 1</b>

Vấn đề NSLĐ trong xây dựng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như các nhân tố ảnh hưởng, phương pháp và công nghệ cải tiến NSLĐ xây dựng, xu hướng và so sánh NSLĐ… Tại Việt Nam, các nghiên cứu về NSLĐ áp dụng nhiều trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu về NSLĐ trong ngành xây dựng chưa được nhiều, việc áp dụng hiệu quả nhằm nâng cao NSLĐ tại các dự án là chưa cao. Chương 1 của luận án đã tổng quan về NSLĐ trong xây dựng, trong đó làm rõ các vấn đề về nguồn gốc, tầm quan trọng của NSLĐ, các quan điểm về năng suất lao động, các nghiên cứu trên thế giới về NSLĐ. Xác định được các vấn đề còn thiếu vắng trong các nghiên cứu NSLĐ trong ngành Xây dựng tại Việt Nam, tác giả đã đưa ra định hướng nghiên cứu cho luận án, xác định các nhiệm vụ cần thực hiện trong luận án.

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

<b>CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNGSUẤT LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG</b>

<b>2.1 Cơ sở khoa học về năng suất lao động và năng suất lao động trongthi cơng xây dựng cơng trình</b>

<i><b>2.1.1 Phân loại năng suất lao động</b></i>

NSLĐ chia làm hai loại: NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội.

<i>2.1.2.1. Năng suất lao động cá nhân</i>

Là sức sản xuất của cá nhân người lao động, được đo bằng tỷ số giữa khối lượng công việc hoàn thành hoặc số lượng sản phẩm với thời gian lao động hao phí để sản xuất ra số sản phẩm đó.

Lao động sống là sức lực của con người bỏ ra ngay trong quá trình sản xuất. NSLĐ cá nhân là thước đo tính hiệu quả lao động sống, thường được biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động.

NSLĐ cá nhân có vai trị rất lớn trong quá trình sản xuất. Việc tăng hay giảm NSLĐ cá nhân phần lớn quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp đều chấp nhận trả công theo NSLĐ cá nhân hay mức độ thực hiện của từng cá nhân từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn sống của người lao động.

<i>2.1.2.2. Năng suất lao động xã hội</i>

NSLĐ xã hội là sức sản xuất của doanh nghiệp hoặc của toàn xã hội. NSLĐ xã hội được đo bằng tỷ số giữa đầu ra của doanh nghiệp hoặc của xã hội với số lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.

NSLĐ xã hội có cả sự tiêu hao của lao động sống và lao động quá khứ. Lao

</div>

×