Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

cơ sở văn hóa cuối kì b nmtiểu luận học phần cơ sở văn hóa việt nam đặc điểm văn hóa làng việt truyền thống

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.34 MB, 25 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>HỌC VI N BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUY N </b>ỆỀ

<b>---oOo--- </b>

<b>TIỂU LU N </b>Ậ

<b>HỌC PHẦN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM </b>

<b>Đề tài: </b>

<b>ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA LÀNG VIỆT TRUYỀN THỐNG </b>

Sinh viên: Nguy n H ng Hễồạnh MSSV: 2057080025

Lớp tín ch TT01002_K40.1 ỉ:

Lớp: Quan hệ công chúng chuyên nghiệp K40 Giảng viên: Nguy n Thị Mỹ Linh ễ

<b>Hà N</b>ội, tháng 03 năm 2022.

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>MỤC LỤC </b>

MỞ ĐẦU ... 3

1. Lý do chọn đề tài ... 3

2. Tổng quan nghiên cứu... 4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 5

4. Mục tiêu nghiên cứu ... 5

5. Phương pháp nghiên cứu ... 6

1.3.4. Chức năng văn hóa ... 9

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LÀNG VIỆT TRUYỀN THỐNG ... 9

2.1. Cơ cấu hành chính và diện mạo văn hoá ... 9

2.2. Hoạt động kinh tế của làng ... 14

2.2.1. Tính cộng đồng trong hoạt động kinh tế làng ... 14

2.2.2. Tính chất trao đổi hàng hóa trong hoạt động kinh tế làng ... 15

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

2.3. Tín ngưỡng thờ Thành Hồng làng ... 16

2.3.1. Khái qt về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng ... 16

2.3.2. Các nghi lễ thực hành ... 17

2.3.3. Giá trị của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ... 18

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG VIỆT TRUYỀN THỐNG ... 20

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền ... 20

3.2. Phát triển kinh tế du lịch của làng ... 21

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>MỞ ĐẦU </b>

<b>1. Lý do chọn đề tài </b>

Nhắc đến làng quê Việt Nam là nhắc đến cội nguồn của những nét đẹp lịch sử. Đối với những thế hệ người Việt sinh ra và lớn nên tại vùng nông thôn, làng không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn của họ; làng còn chứa đựng cả một bầu trời tuổi thơ. Trong xã hội hiện đại ngày nay, quá trình đơ thị hóa đang dần len lỏi vào từng ngóc ngách của vùng nơng thơn thì bức tranh làng quê vẫn giữ nguyên vẹn nét đẹp cổ kính nên thơ vượt thời gian, giống như bản chất vốn có của nó từ ngàn đời. Làng quê được coi là nơi n bình, an tồn và ấm cúng. Đó là nơi mà mỗi chúng ta ln muốn tìm về dù cho đi tru du thật xa nơi thiên hạ xa xơi. Bởi làng là nơi hình thành nhiều mối quan hệ có giá trị và dù thời gian có trơi đi thì những mối quan hệ đó vẫn mãi tồn tại. Đó chính là quan hệ gia đình, quan hệ hàng xóm láng giềng,...Cũng vì lẽ đó mà chữ “làng” ln gắn liền với chữ “quê”.

Mỗi ngôi làng đều mang những bản sắc riêng. Đó là đặc trưng trong diện mạo và cấu trúc của một làng để phân biệt làng này với làng khác. Ngồi ra, đó cịn là toàn bộ đời sống tinh thần của làng với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động, cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tơn giáo cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng. Khi Việt Nam đang trên đà hội nhập thì làng vẫn chứa đựng những giá trị văn hóa mang đầy tính sáng tạo và kế thừa trong suốt chiều dài lịch sử. Tất cả những giá trị văn hóa đó tạo nên sức mạnh cho sự phát triển của làng ngày nay.

Xuất phát từ mong muốn giữ gìn bản sắc văn hóa độc đáo của làng Việt, em hy vọng những nét đẹp của làng từ ngàn năm sẽ không bị phai nhạt và lãng quên. Em nhận thấy rằng việc nghiên cứu về đặc điểm của làng Việt là một điều cần thiết trong việc xây dựng tư tưởng yêu quê hương, làng xã cho người dân Việt Nam dù họ sinh ra ở vùng nơng thơn hay thành thị. Chính vì lí do đó em đã lựa chọn đề tài “Đặc điểm của làng Việt truyền thống” là đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần môn Cơ sở văn hóa này của mình.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>2. Tổng quan nghiên cứu </b>

Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về chủ đề làng quê Việt Nam. Có thể kể đến một số nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài như sau:

<b>Cuốn sách “Nếp Cũ Làng Xóm Việt Nam” - </b> của tác giả Toan Ánh, xuất bản năm 2015 giới thiệu tới người đọc phần nào cuộc sống làng xóm Việt Nam thời xưa, nét sinh hoạt của làng xóm Việt Nam, các phong tục tế tự của người dân trong làng.

Luận văn thạc sĩ “Tính tự quản của làng Việt Nam truyền thống đồng bằng sông Hồng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Vân (2015) đã trình bày đặc trưng của làng Việt Nam truyền thống, nêu lên khái niệm tự quản và cơ sở hình thành tính tự quản của làng đồng bằng sông Hồng, chỉ ra ưu điểm và hạn chế của tính tự quản của làng đồng bằng sơng Hồng. Trình bày khái quát về kinh tế thị trường ở Việt Nam. Làm rõ nét đặc trưng tính tự quản của làng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.

Đề tài “Yếu tố kinh tế văn hoá cổ truyền của một làng Việt Trung du <b></b>

-Bắc Bộ (làng Phương Độ xã Xuân Phương huyện Phú Bình tỉnh Thái <b>--</b>

-Nguyên)” của tác giả Trần Thị Thái Hà ( 2002) nghiên cứu thực trạng sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công để nhấn mạnh yếu tố kinh tế truyền thống của làng và quan hệ dịng họ, xóm ngõ và những phong tục tập quán đẹp đẽ của làng Phương Độ xưa và nay.

Cuốn sách “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của tác giả Bùi Văn Vượng biên soạn (2002) nhằm mục đích giới thiệu tới bạn đọc về một số làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta như làng nghề Đúc đồng, làng nghề Kim hoàn, làng nghề Rèn, làng nghề Gốm, làng nghề Chạm khắc đá, làng nghề Dệt tơ, làng nghề Dệt chiếu, làng nghề Quạt giấy, làng nghề Mây tre đan, làng nghề làm trống,...từ đó làm nổi bật nét đẹp lao động của làng quê, cũng như giữ gìn những giá trị văn hóa phi vật thể mà khơng một loại máy móc hiện đại nào có thể tạo ra.

Đề tài “Hương ước làng xã người Việt từ truyền thống đến hiện đại” của tác giả Đinh Khắc Thuân (2013) so sánh hương ước cổ truyền và hương

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

ước hiện đại từ đó nêu lên vai trị của hương ước trong đời sống văn hóa của làng Việt. Tác giả chỉ ra rằng hương ước xưa là công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quản lí làng xã trong khi đó hương ước mới ngày nay góp phần bảo lưu và phát huy truyền thống tốt đẹp vốn bị biến đổi bởi sự thay đổi làng xã trước công cuộc công nghiệp hóa, đơ thị hóa nơng thơn.

Luận văn “Lệ làng truyền thống trong quá trình hình thành ý thức pháp luật của nông dân Việt Nam hiện nay” của tác giả Đặng Thị Mai Hương (2014) chỉ ra mối tương quan giữa lệ làng và pháp luật của nhà nước trong các vấn đề đời sống. Nêu ra chức năng, tầm quan trọng của lệ làng trong thời kỳ đổi mới và tác động của nó trong việc hình thành ý thức pháp luật cho nông dân nước ta hiện nay. Đề xuất một số phương hướng để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng.

Trên đây là tổng quan nghiên cứu về vấn đề liên quan đến chủ đề làng Việt Nam. Các đề tài đã đưa ra một cái nhìn khách quan về đặc điểm làng Việt Nam, nêu lên những giá trị hết sức ý nghĩa từ làng cũng như đã nêu ra một số giải pháp nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa làng Việt.

<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu </b>

• Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm văn hóa làng Việt truyền thống.

• Phạm vi nghiên cứu: Làng quê nói chung trong phạm vi không gian nước Việt Nam.

<b>4. Mục tiêu nghiên cứu </b>

Tiểu luận cung cấp những hiểu biết nhất định về đặc điểm làng Việt truyền thống từ đó mang đến cho người đọc những góc nhìn mới mẻ về những giá trị văn hóa mà làng quê Việt Nam đem lại. Trên nền tảng đó, bài tiểu luận này khơi gợi lòng yêu mến, tự hào về quê hương đất nước Việt Nam cũng như chính ngơi làng của mỗi người sinh ra. Từ đó, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm bảo vệ nét đẹp truyền thông của làng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>5. Phương pháp nghiên cứu </b>

• Phương pháp đọc và chắt lọc nguồn thơng tin

• Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu có sẵn tại các trang thơng tin chính thống như Google Scholar, thư viện số của các trường đại học, giáo trình, báo chí,...

• Phương pháp thống kê, tổng hợp, đánh giá và đưa ra nhận định trên nền tảng là cơ sở thông tin thu thập được

<b>6. Cấu trúc đề tài </b>

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bài tiểu luận gồm có ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Lý luận chung về làng Việt

Chương 2: Đặc điểm làng Việt truyền thống

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng Việt truyền thống

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>NỘI DUNG </b>

<b>CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÀNG VIỆT </b>

<b>1.1. Khái niệm </b>

Làng là một tổ chức xã hội của cư dân nông nghiệp, được hình thành trong một giai đoạn lịch sử nhất định trên cơ sở cộng cư của các gia đình, các dịng họ có cùng huyết thống hoặc khơng cùng huyết thống, có sở hữu chung về một số tư liệu sản xuất cơ bản như: Ruộng đất, sông hồ, đồng cỏ, núi đổi...đồng thời cư dân cùng làng có phong tục, tập quán chung và vị thần thánh chung để tôn thờ. Các thành viên trong làng có quan hệ gắn bó với nhau về vật chất cũng như tinh thần.

Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ”

<b>1.2. Phân loại </b>

Làng có nhiều cách phân loại và tên gọi khác nhau.

• Nếu dựa vào tính chất của q trình lao động người ta có thể phân chia làng thành làng nghề, làng thuần nông, làng thủ công, làng bán nông bán công, làng bán nông bán thương, làng vạn chài,...

• Nếu căn cứ vào điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và quy mô của các cộng đồng dân cư ở các vùng văn hóa khác nhau, chúng ta cũng có thể phân chia làng xã thành những đơn vị xã hội khác nhau với những tên gọi như: làng, bản, bn, phum sóc…

• Nếu dựa vào thế đất để phân loại thì có nhiều dạng như làng đất trũng, làng ven biển, làng trên đảo,...

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>1.3. Chức năng của làng </b>

Làng không chỉ là một đơn vị cư trú, làng còn là một tổ chức xã hội ở địa phương. Chức năng của làng không tách rời đời sống và quyền lợi của nhân dân. Bộ máy cai quản làng xã là đại diện của chính quyền trung ương ở địa phương, có chức năng tổ chức, quản lý mọi mặt hoạt động của làng xã.

<b>1.3.1. Chức năng giữ gìn trật tự, an ninh </b>

Mỗi làng sẽ có một địa bàn quản lý. Nó giống như ranh giới của mỗi làng. Chức năng giữ gìn trật tự, an ninh của làng có nhiệm vụ hướng dẫn và buộc mọi thành viên làng xã hoặc những người từ nơi khác đến phải tuân thủ những quy định của làng để ra. Việc này giúp cho làng ln được coi là chốn an tồn và yên bình.

Làng là một trong những đơn vị xã hội cấu thành nên nhà Nước vì thế có thể coi làng là một nhà Nước thu nhỏ. Nếu như nhà Nước có luật pháp thì làng cũng có những luật lệ riêng. Khi nhắc đến luật lệ, quy tắc người ta thường liên tưởng đến sự sự khơ khan, cứng nhắc, khó hiểu. Thế nhưng, mỗi một luật lệ sinh ra đều có mục đích. Nó được hình thành dựa trên lợi ích của người dân trong làng, cho sự phát triển chung của tồn xã hội. Khơng chỉ vậy, nó cịn biểu hiện của sự văn minh và trí tuệ của người dân.

<b>1.3.2. Chức năng hành chính </b>

Thời xưa chức năng hành chính của làng thực hiện thu thuế, thu tơ, bắt phu, bắt lính theo lệnh của triều đình.

Thời nay, chúng vẫn đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong đời sống nhân dân. Ví dụ như giải quyết các thủ tục hành chính: cơng chứng giấy tờ, đăng ký tạm trú tạm vắng,... Ngồi ra, chức năng này cịn giúp giải quyết, xử phạt các vi phạm hành chính.

<b>1.3.3. Chức năng kinh tế </b>

Làng có tỉ lệ người lao động tự do cao. Họ thường làm nghề thủ cơng, bn bán hoặc làm nơng nghiệp. Vì làng gắn liền với vùng nông thôn nên chức năng chính trong hoạt động kinh tế ở làng là nông - lâm - ngư. Hiện nay, do

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

ảnh hưởng của quá trình đơ thị hố, làng cịn có chức năng khác như công nghiệp, thủ công nghiệp, thể thao, du lịch,…Hoạt động kinh tế nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên chung của dân làng, hoặc phân chia lại ruộng đất công của làng xã theo qui định trong Hương ước và giữ gìn mơi trường sản xuất, mơi trường sống của người dân trong sạch, trật tự.

<b>1.3.4. Chức năng văn hóa </b>

Làng chứa đựng nhiều nội dung văn hóa có giá trị từ kiến trúc, địa danh đến tín ngưỡng, tơn giáo, lễ hội, và các phiên chợ,...Đời sống tinh thần tại làng có phong cách rất khác biệt so với nơi đơ thị. Có nhiều thứ chỉ có thể thực hiện được tại làng q mà khơng thể tìm được nơi thành thị. Ví dụ như các lễ hội dân gian. Các lễ hội đều được diễn ra trong một không gian linh thiêng như đình, chùa, đền, miếu... những địa danh này chỉ có ở làng quê.

<b>CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LÀNG VIỆT TRUYỀN THỐNG </b>

<b>2.1. Cơ cấu hành chính và diện mạo văn hố 2.1.1. Cơ cấu hành chính </b>

Cơ cấu hành chính của làng Việt truyền thống có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử nhưng nhìn chung làng Việt truyền thống được tổ chức bởi 3 nhóm tầng lớp chính bao gồm tầng lớp kỳ dịch, tầng lớp kỳ mục và dân cư.

<b>2.1.1.1. Tầng lớp kỳ dịch </b>

Tầng lớp kỳ dịch hay còn được gọi là lý dịch là diện mạo hành chính của làng. Kỳ dịch do hội đồng kỳ mục cử ra, thực thi quyết định của hội đồng kỳ mục. Bộ phận lý dịch bao gồm:

Lý trưởng (xã trưởng): là người có thứ bậc cao nhất nhóm kì dịch ở cấp xã, đảm đương nhiều cơng việc của cấp xã. Họ thay mặt làng xã để giao dịch với chính quyền phong kiến cấp trên. Lý trưởng có con dấu quan trọng. Mỗi văn bản hành chính đối nội , đối ngoại hay với cơ quan cấp trên phải có dấu lý trưởng mới có giá trị quản lý. Lý trưởng nắm được tình hình chung các sự việc đang diễn ra trong làng, theo sát để đôn thúc, nhắc nhở nơng dân trong làng xã làm trịn bổn phận của nhà Nước đưa ra, bao gồm nộp thuế, đi phu, đi lính. Họ sử hữu quyền lực cao nhưng kèm theo đó cũng là tinh thần trách nhiệm cao.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>Phó lý: là trợ thủ đắc lực của lý trưởng. Số lượng lý trưởng chỉ có một </b>

nhưng số lượng phó lý dựa vào số làng của xã đó. Nhiệm vụ của phó lý là sẽ giám sát mọi hoạt động cụ thể của nơng dân trong làng xã và cũng có thể thay mặt lý trưởng giải quyết các công việc của làng

Hương trưởng: là người phụ trách việc công ích của làng xã, có trách nhiệm cùng phó lý trực tiếp lấy phu và trực tiếp tổ chức, điều khiển công việc nơi công cộng.

Khán thủ: hay còn gọi là xã tuần, trương tuần là người chuyên trách giữ gìn an ninh, trật tự của làng xã. Đó là người trực tiếp tổ chức đội tuần định của làng.

Cơ cấu trên của tầng lớp kỳ dịch là cơ cấu phổ biến trong bộ máy quản lý làng xã. Tuy nhiên, cơ cấu đó cũng có những biển đổi nhất định theo yêu cầu của từng làng xã.

2.1.1.2. Tầng lớp kỳ mục

Tầng lớp kỳ mục hay còn được gọi là Hội đồng kỳ mục là tầng lớp có quyền lực cao hơn cả kỳ dịch. Bộ phận này có quyền bàn bạc và quyết định mọi cơng việc của làng như sửa đổi và bổ sung hương ước phân bổ thuế, sưu dịch, lính tráng, bầu cử tổng lý và thi hành khoán ước phân cấp công điền, sử dụng quỹ làng, bàn việc tu sửa, xây dựng đình chùa, trường học, tổ chức đình đám, khao vọng, quan hệ với các làng khác,.v.v..

Tầng lớp kỳ mục do Tiên chỉ và Thứ chỉ đứng đầu. Họ thường là người là người có phẩm hàm hay học vị, chức tước cao nhất trước khi về hưu. Một số làng cịn có nhóm Kỳ lão - những người cao tuổi nhất hay cịn gọi là già làng, tuy khơng tham gia trực tiếp vào cơng việc nhưng họ giữ vai trị tư vấn cho hội đồng kỳ mục. Bởi họ là các bậc cha chú, các bậc tiền bối, những người đi trước hiện thân cho sự trải đời, kinh nghiệm.

2.1.1.3. Dân cư

Dân cư đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo dựng nên văn hóa làng. Bởi nếu một ngơi làng khơng có dân cư thì ngơi làng đó sẽ khơng được đặt tên,

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

kiến tạo và phát triển. Dân cư trong làng thường có hai loại là dân chính cư và dân ngụ cư.

<b>• Dân chính cư là dân sống lâu đời ở làng, được làng công nhận và được </b>

hưởng nhiều quyền lợi. (cư là ở, chính là chính thức) • Dân ngụ cư là dân ở nơi khác đến. (cư là ở, ngụ là nhờ)

Trong xã hội phong kiến cổ hủ thời xưa, dân ngụ cư chịu thiệt thòi hơn rất nhiều so với dân chính cư. Họ khơng được tham gia bất kỳ hoạt động gì trong làng, cũng như không được hưởng quyền lợi như tham gia tế lễ, chia ruộng,…Những người ngụ cư này không được sống trong địa phận của làng. Họ phải sống ở những nơi đất chưa có chủ, thường là ở rìa sơng, ven bãi, thậm chí bị dân chính cư khinh rẻ, coi thường. Tuy nhiên, dân ngụ cư vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như dân chính cư. Dân ngụ cư muốn trở thành dân chính cư phải cư trú ở làng từ ba đời trở lên, phải có chút điền sản (ruộng đất ở làng).

Dân cư trở thành nhân tố chủ chốt, giữ vai trị khơng thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của làng bởi họ vừa là lực lượng đông đảo nhất quyết định diện mạo văn hoá của làng, họ đồng thời vừa thế hiện sâu sắc nhất tâm lý và lối sống của người dân Việt Nam. Trong làng xã Việt Nam xưa, người nông dân có sự trân trọng sâu đậm với làng xóm quê hương. Họ yêu đất, yêu làng bằng một tình u máu thịt, thậm chí có người thà li nơng chứ khơng thể li hương. Nhưng chính họ cũng mang sẵn trong minh một định kiến nghiệt ngã đó là khi dân chính cư ln nhìn dân ngụ cư bằng con mắt nghi ngờ, xoi mói. Định kiến đó vốn phát triển từ góc nhìn phiến diện của người nông dân ở các làng quê Việt Nam. Việc đối xử khắt khe với dân ngụ cư là một hình thức đảm bảo sự ổn định cơ cấu dân cư của làng. Tuy nhiên, cách cư xử này quá tiêu cực.

<b>2.1.2. Đặc trưng văn hóa làng Việt truyền thống </b>

2.1.2.1. Tính cộng đồng

Tính cộng đồng là sự liên kết, tương tác, hỗ trợ giữa các thành viên trong làng với nhau. Mỗi người dân đều là một cá nhân sống trong tập thể lớn là làng xã. Vì thế, người dân cần tuân thủ những quy tắc chung đã được đa số dân làng thống nhất, chấp nhận và thực hiện chúng hàng ngày một cách tình nguyện. Họ coi đó như thói quen, khn mẫu. Sự đồng nhất trong hành vi, tư tưởng nảy sinh ra tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau “lá lành đùm lá rách” hay tình

</div>

×