Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.59 MB, 26 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG
<b>HỌ VÀ TÊN: LÊ VĂN TOÀNMÃ SỐ SINH VIÊN: 2156100053</b>
<b>LỚP: THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI K41</b>
<b>ĐỀ TÀI: THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ</b>
<b>THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNHTRONG ĐẢNG BỘ HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH</b>
Hà Nội, Tháng 6 – Năm 2021
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>MỤC LỤC</b>
<b>MỞ ĐẦU</b>
1. Tính cấp thiết của đề tài………...……..3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………..………...4
3. Kết cấu đề tài………..…………....5
<b>NỘI DUNG<small>Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng ta hiệnnay……….….….6</small></b>
<i><small>1.1 Khái niệm “nguyên tắc”……….….6</small></i>
<i><small>1.2 Khái niệm “tự phê bình”………..…6</small></i>
<i><small>1.3 Bản chất của việc tự phê bình và phê bình………..………7</small></i>
<i><small>1.4 Vai trị của việc tự phê bình và phê bình………..7</small></i>
<i><small>1.5 Phương pháp, hình thức và những yêu cầu để tiến hành tự phê bình và phêbình……….9</small></i>
<b><small>Chương 2: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phêbình…………..………….…...11</small></b>
<i><small>1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tự phê bình và phê bình………..11</small></i>
<i><small>1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngun tắc tự phê bình và phê bình.………15</small></i>
<b><small>Chương 3: Sự nhận thức và vận dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng bộ huyện Nho Quan</small></b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài</b>
Lúc sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Người coi đây là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Mỗi đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Hơn nữa, nếu biết tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người nhấn mạnh: “Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ thường xuyên chứ không phải là giải pháp nhất thời, là vũ khí để rèn luyện đảng viên.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, là điều kiện tiên quyết để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện sự mệnh lịch sử của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp nhuần nhuyễn của chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Nguyên tắc xây dựng Đảng dựa trên hệ thống các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một trong những ngun tắc đó là tự phê bình và phê bình.
Theo Bác Hồ, phê bình là nêu lên những khuyết điểm của đồng chí khác của tổ chức đảng nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục khuyết điểm. Tự phê bình là bản thân tự mình soi rọi mình, tự nghiêm khắc, thật thà nhận, cơng khai nhận trước mặt mọi người khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau là phương pháp giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Thực chất của tự phê bình và phê bình là góp ý giúp đồng chí, đồng nghiệp và tự bản thân kiểm điểm lại xem cái làm được và cái chưa làm được, làm hay hoặc cịn thiếu sót, sai lầm và từ đó phát huy cái tốt, tìm ra biện pháp
3
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">khắc phục sửa chữa cái chưa hay, cái khuyết điểm, sai lầm. Vì vậy, tự phê bình và phê bình góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng, củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, góp phần xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, hồn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
Ngun tắc tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển, là thuộc tính bản chất của một chính đảng cách mạng, là công cụ săc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và củng cố khối đại đồn kết thống nhất trong Đảng. vì vậy, tự phê bình và phê bình ln là việc làm không thể thiếu trong sinh hoạt và hành động của Đảng. Để đảm đương vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo; giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng.
<b>2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu</b>
<i>2.1 Mục đích nghiên cứu</i>
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, nội dung, Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, tiểu luận đi vào tìm hiểu những thực trạng trong việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay và đưa ra những ý nghĩa trong việc thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá
4
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">nhân, chủ nghĩa cơ hội, quan liêu, tham những, lãng phí và mọi hoạt động chia rẽ bè phái.
<i>2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu</i>
Để thực hiện được mục đích trên, tiểu luận tập trung nghiên cứu vào các vấn đề sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay.
- Thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng hiện nay. - Ý nghĩa của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng.
<b>3. Kết cấu đề tài</b>
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu
<b>luận được kết cấu gồm: 3 chương 9 tiết và 28 trang.</b>
5
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>CHƯƠNG 1</b>
<b>CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TỰ PHÊBÌNH VÀ PHÊ BÌNH CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY</b>
<b>1.1 Khái niệm “nguyên tắc”</b>
Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt tồn bộ hoặc một giai đoạn nhất định địi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo. Nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo.
Nguyên tắc là luận điểm gốc của học thuyết nào đó, tư tưởng chỉ đạo của quy tắc hoạt động hay là niềm tin, quan điểm đối với sự vật và chính quan điểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi, đồng thời cũng có thể là nguyên lý cấu trúc hoạt động của bộ máy dụng cụ thiết bị nào đó.
Ngồi ra, ngun tắc có thể là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo.
<b>1.2 Khái niệm “tự phê bình”</b>
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, tự phê bình là thật thà nhận, cơng khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa.
Thật thà tự phê bình chẳng những giúp cho mình sửa chữa, giúp cho mình tiến bộ mà còn giúp cho người khác biết để mà tránh. Một thí dụ: Đảng ta có mấy chục vạn đảng viên. Nếu đồng chí A phạm một điều sai lầm, liền thật thà tự phê bình, thì các đảng viên khác đều biết mà tránh, không phạm sai lầm ấy nữa. Trái lại, nếu đồng chí A khơng thật thà tự phê bình, để cho các đảng viên khác cũng phạm khuyết điểm ấy, thì cả Đảng cộng lại thành mấy chục vạn khuyết
6
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">điểm. Như vậy, đồng chí A chẳng những dối mình, mà lại dối Đảng, là có tội với cách mạng, có tội với Đảng, có tội với Tổ quốc, với nhân dân.
Tự phê bình rồi để sửa chữa, để tiến bộ, cho nên phải thật thà, phải triệt để, mới có kết quả. Nếu chỉ làm cho qua chuyện, chỉ có hình thức thì vơ ích.
<b>1.3 Bản chất của việc tự phê bình và phê bình</b>
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngày nào cũng phải ǎn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm. Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên, chứ khơng phải chờ có khai hội mới tự phê bình, khơng phải khi làm khi khơng.
Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, khơng giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm. Sai lầm ấy sẽ thế nào, dùng cách gì mà sửa chữa và phải kiên quyết sửa chữa.
Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khǎn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì ngun nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình, khơng đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình khơng cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vơ lý. Vì vậy người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết chữa khuyết điểm.
<b>1.4 Vai trị của việc tự phê bình và phê bình</b>
Trong bất kỳ một tổ chức đảng nào, cho dù là tổ chức đảng cấp trên hay tổ chức đảng cấp dưới, bất kỳ một cá nhân đảng viên ở cương vị nào nếu không thấm nhuần tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cũng sẽ phạm phải những sai lầm lớn. Thực tế hiện nay, một số tổ chức đảng và đảng viên đã làm tốt cơng tác tự phê bình và phê bình, trong các cuộc họp đã dám nói
7
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">thẳng, nói thật ưu, khuyết điểm giúp tổ chức đảng và đồng chí mình phát huy, sửa chữa. Song bên cạnh đó, vẫn cịn một số tổ chức đảng chưa phát huy tốt tinh thần phê và tự phê. Trong các cuộc hội nghị, cán bộ, đảng viên khơng dám góp ý kiến, đặc biệt là góp ý cho cấp trên, cho lãnh đạo vì sợ bị trù dập, không được thăng chức, nâng lương...Một số tổ chức đảng và đảng viên khơng góp ý cho tổ chức, cho đồng chí mình ngay trong cuộc họp mà lại đi nói sau lưng có tính chất "kích động", làm mất uy tín người khác. Bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên lợi dụng tinh thần phê và tự phê để chỉ trích, phê phán người khác với thái độ khơng thiện cảm, vì mục đích cá nhân" vạch lá tìm sâu", "chuyện bé xé ra to", làm cho người bị phê bình khơng nhận ra được sai lầm để sửa hoặc có nhận ra họ cũng khó lịng mà sửa được. Bởi vậy, chúng ta học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải bằng hành động thực tế, khơng nên hơ hào, chỉ nói mà khơng làm hoặc nói nhiều làm ít.
Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, là quy luật sinh tồn và phát triển của Đảng. Tự phê bình và phê bình địi hỏi phải có tính Đảng và tính nguyên tắc cao, phải đảm bảo tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường được mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng và quần chúng. Chủ tich Hồ Chí Minh đã tiếp thu, nghiên cứu, vận dụng và bổ sung sáng tạo quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề tự phê bình và phê bình một cách hết sức cụ thể và độc đáo. Chính vì vậy, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thành cơng, xứng đáng và làm trịn vai trị lãnh tụ chính trị của giai cấp và của dân tộc. Ngày nay, khi toàn Đảng đang quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng, chúng ta càng thấm nhuần hơn tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này sẽ giúp chúng ta thực hiện thành cơng Nghị quyết của Đảng, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc tới thắng lợi vẻ vang.
8
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>1.5 Phương pháp, hình thức và những yêu cầu để tiến hành tự phêbình và phê bình </b>
<i>Trước hết, phê bình phải đi đơi với tự phê bình và phê bình phải gắn liền</i>
với sửa chữa, với biểu dương khen thưởng. Nếu chỉ phê bình người khác mà khơng tự phê bình thì chẳng khác nào "thầy thuốc chỉ đi chữa bệnh người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa". Tự phê bình và phê bình phải gắn với sửa chữa, tức là phải chỉ rõ ưu, khuyết điểm và phương hướng để phát huy hoặc khắc phục. Đồng thời phải gắn với động viên, khen thưởng, xử phạt rõ ràng.
<i>Thứ hai, tự phê bình và phê bình phải đạt tới cái đích là làm rõ đúng, bảo</i>
đảm tính khách quan, trung thực, thẳng thắn và chân tình. Tự phê bình cũng như phê bình phải trung thực, khơng nể nang, khơng thêm bớt. Bác nhắc nhở: "Phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng, "trị bệnh cứu người", chớ phê bình lung tung khơng chịu trách nhiệm. Khi phê bình, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau".
<i>Thứ ba, khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ,</i>
cơng khai. Cơng khai phân tích, nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm của mình, đồng chí mình và tổ chức đảng trước hội nghị, phê phán nghiêm khắc tình trạng "ngồi lê đơi mách", "việc gì cũng khơng phê bình trước mặt mà để nói sau lưng". Bác cho rằng: "Kiểu phê bình như vậy là biểu hiện của bệnh "cá nhân"". Tự phê bình và phê bình muốn đạt kết quả cao thì phải được tiến hành trong bầu khơng khí thật dân chủ, bình đẳng. Chỉ có dân chủ rộng rãi thì mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân mới tích cực, chủ động, nói thẳng, nói thật. Song mở rộng dân chủ
9
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">trong tự phê bình và phê bình khơng có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn phê thì phê.
<i>Thứ tư, tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, phê</i>
bình từ trên xuống và từ dưới lên, nhất là từ dưới lên, có như vậy mới đạt hiệu quả cao. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải đảm bảo đúng nguyên tắc, song cách thức tiến hành phải mềm dẻo, khéo léo. Nếu chỉ dùng phương pháp cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc thì rất khó tiếp thu. Phê bình khơng đúng lúc, đúng chỗ, khơng khơn khéo sẽ có tác dụng ngược lại thậm chí cịn gây ra hậu quả khó lường bởi lẽ lời chê như một mồi lửa, lòng tự ái, kiêu căng của con người giống như một kho thuốc súng. Ngày xưa,Trang Tử cũng đã từng nói: Người chê ta phải là thầy ta, người khen ta phải là bạn ta, người nịnh hót ta là kẻ thù của ta.
<i>Thứ năm, người và tổ chức được phê bình phải có thái độ thành khẩn, vui</i>
lịng để sửa đổi, khơng nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc ốn ghét. Hết sức tránh thái độ " giấu bệnh sợ thuốc", bị phê bình thì im lặng, khơng tìm cách sửa đổi. Hồ Chí Minh gọi đó là "thái độ khơng thật thà, khơng đúng đắn" và thái độ đó sẽ dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng, bệnh ngày càng nặng thêm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.
10
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">mặt. Vì thế tự phê bình và phê bình được Hồ Chí Minh xác định là “luật phát triển” của Đảng. Vấn đề tự phê bình và phê bình đã được Hồ Chí Minh đề cập rất sâu sắc trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" và nhiều bài viết cho chuyên mục Sửa đổi lối làm việc của báo Sự thật, trong các bài viết đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng, và trong hầu hết các bài nói, bài viết về xây dựng Đảng. “Nói về Đảng, một Đảng giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hồn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Phê bình là gì và tự phê bình là gì? Đơi khi, Hồ Chí Minh dùng cách gọi "tự kiểm điểm và kiểm điểm" hoặc "tự sửa chữa" và "giúp đồng chí mình sửa chữa", "tự xét và xét đồng chí mình" để nhấn mạnh ý nghĩa của tự phê bình và phê bình trong việc khắc phục khuyết điểm. Nhưng quan niệm về tự phê bình và phê bình có ý nghĩa bao quát rộng hơn. Theo Hồ Chí Minh, "Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của bản thân mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đơi với nhau". Điều đó có nghĩa là tự phê bình và phê bình khơng phải chỉ vạch ra khuyết điểm mà phải nêu cả ưu điểm; nêu ưu điểm trước, vạch khuyết điểm sau; nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm phải đi đôi với nhau, không coi nhẹ ý nghĩa của một mặt nào. Điều đó biểu hiện rõ tính nhân văn và tính khoa học - nét đặc sắc trong quan niệm về tự phê bình và phê bình của Hồ Chí Minh.
Thứ tự, phương pháp tự phê bình và phê bình là: nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của mình trước và nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của đồng chí mình sau; dù là "xét", "kiểm điểm" hay "phê bình" người khác thì người có khuyết điểm đó cũng là đồng chí mình chứ khơng phải kẻ thù hay đối địch. Quan điểm xuất phát của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình là dân chủ và nhân
16
</div>